Lý do - mục đích nghiên cứu Ở nước ta, xu hướng nghiên cứu biến đổi về kinh tế, văn hóa xãhội được các nhà khoa học xã hội chú ý để đánh giá quá trình pháttriển của một cộng đồng hay quá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-LÝ HOÀNG NAM
BIẾN ĐỔI KINH TẾ, VĂN HÓA XÃ HỘI CỦA NGƯỜI CHĂM NINH THUẬN, BÌNH THUẬN (1975 - 2015)
Chuyên ngành: DÂN TỘC HỌC
Mã số: 62.22.70.01 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ DÂN TỘC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2020
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí MinhTrường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHAN XUÂN BIÊN
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
Trang 3DẪN LUẬN
1 Lý do - mục đích nghiên cứu
Ở nước ta, xu hướng nghiên cứu biến đổi về kinh tế, văn hóa xãhội được các nhà khoa học xã hội chú ý để đánh giá quá trình pháttriển của một cộng đồng hay quá trình tộc người của một dân tộc Dântộc Chăm là đối tượng được các nhà khoa học quan tâm, nghiên cứumột cách toàn diện trên nhiều phương diện Tuy nhiên các nghiên cứunày, được tập trung chuyên sâu theo từng lĩnh vực riêng hay chỉ nhìnnhận với giác độ của một không gian cụ thể, mà rất ít có công trìnhnghiên cứu một cách toàn diện
Kinh tế phát triển đã tạo tiền đề cho tình hình văn hóa - xã hội trong vùng Chăm những diện mạo và sắc thái mới Mạng lưới trường
học, trạm y tế ở các xã vùng đồng bào Chăm đều được phủ kín Đờisống văn hóa tinh thần vùng đồng bào Chăm ngày càng được nângcao, các giá trị văn hóa được bảo tồn, khai thác và phát huy
Với những bước ngoặt biến đổi như thế của người Chăm cảnước, mà tập trung là khu vực Nam trung bộ, tác giả chọn đề tài
“Biến đổi kinh tế, văn hóa xã hội của người Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận (1975 - 2015)” làm luận án tiến sĩ khoa học Lịch sử,
chuyên ngành Dân tộc học
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu và nhận diện những đặc điểm về kinh tế, xã hội vàvăn hóa truyền thống của người Chăm qua các giai đoạn
So sánh, làm rõ quá trình biến đổi, cũng như hệ quả của nótrong phát triển xã hội và nhìn sự biến đổi đó còn ở góc độ là sự lựachọn phát triển của chính chủ thể hành động là những con người cụthể trong cộng đồng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là biến đổi các lĩnh vực
kinh tế, văn hóa và xã hội của người Chăm từ 1975 - 2015
- Phạm vi nghiên cứu: phạm vi cộng đồng người Chăm ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận Thời gian nghiên cứu: của đề tài từ
năm 1975 - 2015
Trang 44 Câu hỏi nghiên cứu và giải thuyết nghiên cứu:
- Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự biến đổi kinh tế, văn hóa và
xã hội của người Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận ?
- Dưới tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan của thời
kỳ Đổi mới, đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa tộc người của ngườiChăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận đã và đang biến đổi như thế nào?Mức độ tác động của từng yếu tố đó ảnh hưởng đến sự biến đổi kinh
tế, văn hóa và xã hội của người Chăm ? Yếu tố nào là tác động chủyếu đến sự biến đổi đó?
- Cũng tương tự như vậy, trong bối cảnh biến đổi kinh tế, xã hộichung đó, nét văn hóa tiềm ẩn tạo nên bản sắc văn hóa Chăm có biếnđổi không? Nếu có thì xu hướng biến đổi của nó ra sao?
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Để có nguồn dữ liệu
định tính, bên cạnh nguồn tư liệu thứ cấp, chúng tôi đã xây dựng 300bảng hỏi cơ bản, nhằm tìm hiểu khái quát về đặc trưng và sự biến đổitrong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm ởNinh Thuận và Bình Thuận
- Phương pháp sưu tầm, phân tích tư liệu thư tịch và tài liệu thứ cấp
- Phương pháp thu thập thông tin định tính: là phương pháp
lấy thông tin định tính từ các thành viên trong cộng đồng bằng cáccuộc đối thoại có chủ định
- Phương pháp quan sát tham dự: là phương pháp đặc thù, là
thế mạnh của ngành nhân học - dân tộc học, buộc người nghiên cứuphải có quá trình diền dã lâu dài tại cộng đồng nghiên cứu, tham gianhiều vào quá trình hoạt động của cộng đồng càng nhiều càng tốt
- Phương pháp so sánh Dân tộc học so sánh sự biến đổi về
đời sống kinh tế, văn hóa xã hội của người Chăm qua từng giai đoạnphát triển
6 Những đóng góp mới của luận án
Luận án góp phần làm rõ hơn về góc độ nghiên cứu biến đổi các
sự kiện trọng đại trong đời sống xã hội của quốc gia dân tộc từ năm
1975 - 2015
Trang 5Chứng minh, lý giải những nguyên nhân ảnh hưởng, tác độngđến hóa trình biến đổi của người Chăm đồng thời góp phần minhchứng lý thuyết về biến đổi của ngành Dân tộc học và Nhân học
7 Kết cấu của luận án
Chương 1 Cơ sở lý thuyết và tổng quan về dân tộc ChămChương 2: Biến đối kinh tế của người Chăm từ 1975 - 2015Chương 3: Biến đổi về cấu trúc xã hội và văn hóa tộc người củangười Chăm từ 1975 – 2015
Chương 4: Yếu tố tác động đến biến đổi kinh tế, văn hóa và xã
hội của người Chăm từ 1975 - 2015
Trang 6CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN
VỀ DÂN TỘC CHĂM
1.1 Những khái niệm liên quan đến luận án
1.1.1 Truyền thống: là những “thói quen hay có tính chất quen thuộc
đã được hình thành từ lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác”
1.1.2 Biến đổi
"Biến đổi" là một thuật ngữ không chỉ định hướng giá trị mà thểhiện một sự mô phỏng của một nền văn hóa hay cấu trúc xã hội hiệnhữu; trong xã hội học, phân biệt hai hình thức biến đổi lớn - tiến hóa
và cách mạng; hai hình thức này phụ thuộc vào những yếu tố bêntrong và bên ngoài
1.1.5 Biến đổi kinh tế
Biến đổi kinh tế: là sự tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế.
Biến đổi trong kinh tế được thể hiện ở cơ cấu, thành phần, vùng kinh
tế, chính sách và thể chế kinh tế trong sinh hoạt kinh tế
1.1.6 Biến đổi xã hội
Biến đổi xã hội là một quá trình qua đó những khuôn mẫu của
các hành vi, các mối quan hệ, các thiết chế xã hội và các hệ thốngphân tầng thay đổi qua thời gian Trong quá trình vận động, xã hộichẳng bao giờ tĩnh tại, những biến chuyển về xã hội, chính trị và vănhóa luôn diễn ra không ngừng
1.1.7 Biến đổi văn hóa
Biến đổi văn hóa theo cách hiểu chung nhất gắn với đời sống xã hội, có thể được hiểu, đó là: một quá trình mà sự thay đổi so sánh với
Trang 7một tình trạng văn hóa hoặc một nền văn hóa có trước dưới sự tác động của những nhân tố chính trị - kinh tế - xã hội.
1.2 Hướng tiếp cận lý thuyết của luận án
1.2.1 Thuyết phát triển của R.I.nglehart
Trên cơ sở vận dụng lý thuyết này, luận án đi sâu tìm hiểu quá trìnhchuyển đổi cơ cấu kinh tế như là tiền đề của sự biến đổi ở người Chăm
1.2.2 Thuyết biến đổi xã hội
Vận dụng lý thuyết này, luận án muốn hướng tới tìm hiểu sựphát triển của xã hội ở cộng đồng người Chăm từ truyền thống đếnbiến đổi hiện nay, nhất là những biến đổi trên quy mô lớn (cộng đồng)đến quy mô nhỏ, cấp độ gia đình, dòng họ
1.2.3 Lý thuyết diễn ngôn
Trong nghiên cứu biến đổi về kinh tế, văn hóa xã hội củangười Chăm, vận dụng lý thuyết diễn ngôn cho phép chúng tôi lý giảiyếu tố tác động chủ yếu đến sự biến đổi của các thành tố kinh tế, vănhóa xã hội là sự tác động của chính sách của đảng và nhà nước, bêncạnh đó các yếu tố tộc người cũng được đề cập đến trong mối quan hệcủa sự biến đổi này
1.3 Tổng quan về dân tộc Chăm tại địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Điều kiện tự nhiên và sự phân bố dân cư
* Điều kiện địa lý tự nhiên
Khu vực Ninh Thuận và Bình Thuận thuộc vùng Duyên hảiNam Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hoà, phía Nam giáp tỉnhĐồng Nam, phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng và phía Đông giáp biểnĐông Địa hình có 3 dạng chính là núi, đồi gò bán sơn địa và đồngbằng ven biển Có khí hậu khô hạn nhất cả nước, điều kiện khí hậunhiệt đới gió mùa điển hình với đặc trưng là khô, nóng, gió nhiều, bốchơi mạnh từ 670 - 1.827 mm Nhiệt độ trung bình năm 27oC Đất đaicủa khu vực Ninh Thuận và Bình Thuận, tổng quỹ đất của 2 tỉnh cóhơn 535,5 nghìn ha
* Sự phân bố dân cư
Dân tộc Chăm là một trong những dân tộc có truyền thống vănhoá lâu đời ở nước ta, với dân số khoảng 161.729 người, sống quần
cư chủ yếu ở các vùng đồng bằng, ven đô thị, ven sông rạch, dọc lộgiao thông và một số ít vùng miền núi thuộc 9 tỉnh, thành phố từ Bình
Trang 8Định trở vào; trong đó 70% dân số người Chăm sống tập trung chủyếu ở các tỉnh Nam Trung bộ, một bộ phận sống rải rác tại các tỉnhNam bộ: Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, An Giang
Các nghề làm gốm, dệt vải của người Chăm hiện nay vừa bảolưu được vốn truyền thống qúy báu, vừa là nguồn thu nhập đối vớimột bộ phận của người Chăm, song do là một nghề thủ công xưa, kỹthuật sản xuất chưa cải tiến, mặt hàng làm ra không đủ sức cạnh tranhvới các sản phẩm công nghiệp hiện đại, đẹp và rẻ hơn
Văn hóa xã hội
Địa bàn cư trú của người Chăm đều tập trung ở đồng bằng, song
do sinh sống gần biển (vùng duyên hải miền Trung) nên văn hóaChăm được hình thành trên cơ sở của những điều kiện này Nhiềudòng họ người Chăm còn giữ tục kiêng một số loài cá biển hoặc trongvật cúng lấy từ biển Nhiều nghĩa trang “Kut” Chăm bên bờ biển, lễcúng Rija Nagar có phần cúng thần vượt biển (Po Tanghauk)
Người Chăm trong quá trình phát triển đã hình thành một nềnvăn hóa phong phú về nội dung và đa dạng về diện mạo Hằng năm, ởmỗi địa phương người Chăm đều có những ngày lễ hội như Katê,Ramưwan, Raya… Xã hội Chăm ngày nay còn tồn tại hai tôn giáochính là Bà La Môn và Hồi giáo, trong Hồi giáo Chăm đã chia thànhhai bộ phận là Chăm Bàni và Chăm Islam
Tiểu kết chương 1
Về lý thuyết: Hệ thống lý thuyết trong nghiên cứu nhân học là
cơ sở để tiếp cận, định hướng cho nghiên cứu, nhất là trong nghiêncứu biến đổi, ở trường hợp nghiên cứu Biến đổi kinh tế, xã hội và vănhóa tộc người của người Chăm trong một giai đoạn từ 1975 đến 2015
Trang 9Vận dụng quan điểm lý thuyết này, chúng tôi có cái nhìn toàndiện hơn về các yếu tố ảnh hưởng, tác động đến quá trình biến đổi của
xã hội Chăm trên các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa xã hội
Về tổng quan người Chăm: Người Chăm có nền văn hóa phongphú, đa dạng, với nhiều lễ hội gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp
CHƯƠNG 2:BIẾN ĐỔI KINH TẾ CỦA NGƯỜI CHĂM
TỪ 1975 - 2015 2.1 Biến đổi về sở hữu, sử dụng đất đai
Trước năm 1986, toàn bộ diện tích canh tác thuộc quyền quản
lý của hợp tác xã nông nghiệp, sau năm 1986, mô hình sản xuất cá thể
đã được áp dụng rộng rãi trong quản lý nông nghiệp, nông thôn Đicùng với những thay đổi trong quản lý đất đai, mục đích sử dụng đấtcủa người Chăm cũng có những thay đổi nhất định
Trong thời kỳ giao đất cho hộ sử dụng lâu dài, truyền thống sởhữu tập thể của cộng đồng ở người Chăm cũng được một số địaphương thuộc hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận lưu ý khi giao đất:Cũng như các địa phương khác trong cả nước, ở vùng người Chămnói chung không phục hồi đất chung của các cộng đồng cục bộ nhưruộng kut, ruộng đền tháp, thánh đường Các loại đất này đều thuộcquỹ đất nông nghiệp được giao cho hộ gia đình và cá nhân sử dụngvào mục đích nông nghiệp
Trong thời kỳ kinh tế hộ thị trường, tình trạng sang nhượng, chothuê đất trong nội bộ dân Chăm cũng là vấn đề kinh tế - xã hội khábức xúc ở nhiều làng Chăm: trong phạm vi hai tỉnh Ninh Thuận vàBình Thuận tỉ lệ diện tích đất nông nghiệp phải thuê mướn, chuyểnnhượng trung bình là 14,2% Tình trạng thiếu đất của một số hộ, đặcbiệt là những hộ trẻ mới lập gia đình và hộ thuộc các làng di, định cưtrước 1975
Đồng thời với sự phân hoá về đất đai, giai đoạn kinh tế hộ nàycũng đã có sự phân hoá về xã hội
Trang 102.2 Biến đổi kinh tế nông nghiệp
2.2.1 Biến đổi về trồng trọt
- Từ năm 1975 đến năm 1986: Nông nghiệp truyền thống của
người Chăm bao gồm lúa nước, nương rẫy, hoa màu và chăn nuôi,trong đó chủ lực là canh tác lúa nước dựa trên nền thuỷ lợi đập vàmương tưới tiêu Nền nông nghiệp vẫn mang tính tự cấp, tự túc
- Từ năm 1986 đến 2015: Nông nghiệp được đánh dấu bằng sự
biến đổi của phương thức khai thác nương rẫy Từ tự cấp tự túc, rẫynúi và rẫy ở các động cát ven biển đã được trồng cây hàng hoá, chủyếu là vừng và dưa lấy hạt Do sản xuất hàng hoá đòi hỏi thâm canhtăng vụ, máy móc nông nghiệp, phân hoá học, thuốc trừ sâu, phươngtiện vận chuyển và thu hoạch đã được sử dụng
2.2.2 Biến đổi về chăn nuôi
- Từ năm 1975 đến năm 1986: Cũng như các tộc người khác,
cùng với trồng trọt, chăn nuôi chiếm giữ vai trò quan trọng trong đời
sống người Chăm Gia súc: người Chăm chủ yếu nuôi trâu, bò, dê,
cừu, lợn, những vật nuôi này có khả năng sinh sản tốt và phù hợp vớiđiều kiện môi trường, sinh thái của khu vực Ninh Thuận và Bình
Thuận Gia cầm: Trong đời sống kinh tế của người Chăm thì chăn
nuôi gia cầm như gà, vịt,… trở lên phổ biến và gắn liền với mọi sinhhoạt gia đình, cộng đồng
- Từ năm 1986 đến năm 2015: việc chăn nuôi đã được coi là
một nguồn lực để phát triển kinh tế, một loại hàng hóa có giá trị khitrao đổi ra bên ngoài Hiện nay, trong các xã của vùng Chăm đang có
xu hướng đẩy mạnh chăn nuôi theo hướng năng suất cao, chi phí thấp,phát triển bền vững Sự chuyển dịch cơ cấu giống, vật nuôi ở vùngChăm trong những năm gần đây đã mang đến những thay đổi về tậpquán chăn nuôi của người dân
2.2.3 Biến đổi trong ngành nghề thủ công
Nghề thủ công truyền thống của Người Chăm ở Ninh Thuận vàBình Thuận có từ lâu đời, với nhiều nghề phổ biến như: làm gốm, dệtthổ cẩm, đan lát, làm xe bò, nung gạch, làm nón, làm bánh tráng, làmchiếu, nghề kim hoàn, nghề đúc đồng, điêu khắc… các nghề này hầunhư hoàn toàn không còn lưu truyền nữa Hiện nay, người Chăm chỉ
Trang 11còn lưu giữ nghề làm gốm và nghề dệt là chính, tạo nên bản sắc vănhóa của người Chăm
2.3 Sự chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế
2.3.1 Sự chuyển dịch trong cơ cấu ngành nghề
- Từ năm 1975 đến năm 1986: Trong hoạt động kinh tế của
người Chăm, nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo, các ngành nghề tronglĩnh vực thương mại dịch vụ hầu như không phát triển
- Từ năm 1986 đến năm 2015: Hoạt động thương mại dịch vụ
của người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận có phần phát triển hơntrước, từ sau khi tách tỉnh (1992), với sự đầu tư của chính quyền, đờisống sống của đồng bào Chăm đã cải thiện về mọi mặt
Các hoạt động thương mại cá thể trong vùng Chăm cũng ngàycàng nhộn nhịp, với các loại hình phục vụ cho đời sống thường nhậtcủa cộng đồng như: cửa hiệu cắt may thời trang theo kiểu hiện đại,các loại hình dịch vụ xe du lịch Do đó, mặc dù xu hướng giảm dần
tỷ trọng trong nông nghiệp và tăng dần tỷ trọng trong thương mại dịch vụ trong hoạt động kinh tế ở vùng Chăm Ninh Thuận và BìnhThuận, nhưng đây là hướng phát triển hợp lý theo định hướng côngnghiệp hóa nông ngiệp, nông thôn
-2.3.2 Sự chuyển dịch trong cơ cấu cây trồng, vật nuôi
Từ năm 1975 đến năm 1986, sự chuyển dịch trong cơ cấu cây
trồng vật nuôi hầu như không rõ nét, đồng bào Chăm ở vùng NinhThuận và Bình Thuận, tập trung chuyên canh nông nghiệp trồng lúa,năng suất không cao, do phụ thuộc vào các đều kiện tự nhiên, chưachủ động được nguồn nước tưới cho sản xuất
Từ sau năm 1986, đặc biệt là từ năm 2004 trở lại đây, chính
quyền hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận đã có nhiều chương trình,
dự án được đầu tư tại vùng đồng bào Chăm, tạo chuyển biến tích cực,nâng cao trình độ sản xuất của đồng bào Chăm, nên năng suất và chấtlượng sản phẩm mỗi năm đều tăng cao, quy mô sản xuất được mởrộng đã hình thành nhiều vùng chuyên canh tập trung
Đối với các cây trồng chính hàng năm, nhờ xây dựng các hồchứa nước và hệ thống tưới tiêu đồng bộ nên tổng diện tích gieo trồngđến năm 2015 đạt 105.638 ha, trong đó vùng đồng bào Chăm chiếm
Trang 12khoảng 1/3 diện tích gieo trồng, các cây trồng chủ lực chủ yếu là: câylúa, cây bắp, cây nho, cây táo
Sản xuất nông nghiệp vùng đồng bào Chăm những năm gần đâyphát triển khá, cả về trồng trọt và chăn nuôi; các hoạt động khuyếnnông, chuyển giao ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất đượcđẩy mạnh
Cùng với trồng trọt chăn nuôi được xác định là ngành sản xuấtchính của đồng bào Chăm, những năm trước đây chăn nuôi heo vànuôi trâu, bò quản canh truyền thống thì những năm gần đây đại bộphận hộ chăn nuôi theo bán thâm canh và chăn nuôi trang trại
Đối với chăn nuôi đã có chiều hướng phát triển theo gia trại vàtrang trại, từng bước khôi phục và ổn định đàn, đa số các hộ đồng bàoChăm đều có chăn nuôi tại gia đình với quy mô nhỏ lẻ, một số giađình mở rộng chăn nuôi tập trung theo kinh tế trang trại
Trong 10 năm qua, các ngành nghề truyền thống như đồ gốm,đan lát, dệt thổ cẩm của đồng bào được duy trì Ủy ban nhân dân tỉnhNinh Thuận và Bình Thuận đã hỗ trợ khôi phục và phát triển các làngnghề truyền thốngnhư nghề gốm, dệt thổ cẩm của đồng bào Chăm Từnguồn vốn đào tạo nghề cho lao động nông thôn, các cơ sở dạy nghềcủa tỉnh và các Trung tâm dạy nghề cấp huyện đã đào tạo nghề chongười lao động
2.4 Phát triển ngành nghề mới
+ Nghề thuốc nam
Nghề thuốc Nam của đồng bào Chăm ở địa phương đã có từ lâuđời Các bài thuốc được lưu giữ và được người Chăm giữ làm bí quyếtgia truyền của từng gia đình, dòng họ
Trước đây, nghề thuốc Nam của người Chăm chủ yếu phục vụcộng đồng, trong những năm sau này, đặc biệt từ năm 1999, số hộngười Chăm đã chủ động đem các bài thuốc gia truyền đi bán ở khắpcác địa phương trong cả nước
+ Một số công việc làm ăn xa cộng đồng:
Đi làm ăn xa ở người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận là đilàm toàn bộ thời gian, thoát lý với địa phương, chỉ trở về nhà vào cácdịp lễ, tết, là một hoạt động đóng góp phụ trợ cho kinh tế gia đình
Trang 13Loại hình đi làm ăn xa được lựa chọn hầu hết là buôn bán, công nhântại các nhà máy, khu công nghiệp, làm thuê trong nông nghiệp ở trongvùng Chăm hoặc khu vực lân cận Các nghề thường được người Chămlựa chọn khi làm ăn xa là: công nhân, nhân viên văn phòng, phụ giúpviệc nhà, gia công hàng thủ công mỹ nghệ…
Những đóng góp kinh tế của người làm ăn xa đối với gia đình
đã mang lại nhiều giá trị Trước hết đó là việc tăng thu nhập để có thểmua sắm vật dụng, nâng cao điều kiện sống hàng ngày Mặt khác,cũng là cơ hội để góp phần nâng cao khả năng, trí thức lao động, điềukiện tiếp nhận thông tin, tăng cường giao lưu tiếp biến các giá trị vănhóa với các dân tộc và vùng miền khác nhau
Tiểu kết chương 2
Hoạt động kinh tế của người Chăm ở Ninh Thuận và BìnhThuận luôn biến đổi Đây là điều hiển nhiên trong tiến trình phát triển
xã hội tộc người, cũng như phát triển đất nước Sự thay đổi này là do
sự tác động của nhiều yếu tố, như chính sách phát triển của Nhà nước,quá trình giao lưu sống cộng cư giữa các tộc người, sự phát triển củakhoa học kỹ thuật… Sự thay đổi này là nhân tố tích cực giúp cộngđồng tộc người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận tiếp tục pháttriển, phù hợp với điều kiện mới trong bối cảnh phát triển chung củađất nước, nhưng nó cũng đem tới những vấn đề đang được “bàn cãi”
là mất dần bản sắc tộc người, đặc biệt các vấn đề liên quan đến trithức tộc người trong hoạt động kinh tế của họ
Qua phân tích quá trình chuyển biến kinh tế của người Chăm ởNinh Thuận và Bình Thuận từ sau năm 1986 đến nay có thể thấy kinh
tế của tộc người này có những biến đổi theo hướng tích cực