1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà

158 30 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, thái độ cũng được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm trên các chuyên ngành và đối tượng khác nhau như: tâm lí học, y tế công cộng, xã hội học, giá

Trang 1

Lê Hoàng Nhân

THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT

ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI NHÀ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Hoàng Nhân

THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT

ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI NHÀ

Chuyên ngành : Tâm lí học

Mã số : 60310401

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS VÕ THỊ TƯỜNG VY

Thành phố Hồ Chí Minh – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì một công trình nào khác

TP.HCM, ngày 25 tháng 9 năm 2015

Tác giả

Lê Hoàng Nhân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Xin cho tôi được bày tỏ nơi đây lòng biết ơn đến:

TS Võ Thị Tường Vy, người hướng dẫn khoa học, một nhà giáo với sự tận

tâm và bề dày kinh nghiệm, đã tận tình hướng dẫn cho tôi hoàn thành luận văn này

Ban Giám hiệu, các Thầy Cô giáo Khoa Tâm lí học, Phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện

trong suốt thời gian tôi học tập và hoàn thành luận văn

Ban Giám đốc, Phó Trưởng khoa Tâm lí, cùng các anh chị đồng nghiệp tại Bệnh viện Tâm thần Đồng Tháp đã quan tâm, khuyến khích, tạo điều kiện tốt

nhất cho tôi trong quá trình vừa công tác vừa thực hiện luận văn

Trung tâm bảo trợ xã hội Tỉnh Đồng Tháp, các Trạm y tế, các anh chị cộng tác viên phụ trách chương trình tâm thần tại cộng đồng đã nhiệt tình hỗ trợ

cho tôi đến tận nhà của người bệnh để thu thập số liệu phục vụ cho nghiên cứu

Ba mẹ, người thân, bạn bè đã luôn bên cạnh, cùng tôi chia sẻ những khó

khăn, động viên, khích lệ và hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Xin chân thành cám ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ, đồ thị

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC ĐỐI VỚI BỆNH TÂM THẦNPHÂN LIỆT ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI NHÀ 7

1.1 Lược sử tình hình nghiên cứu thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà 7

1.1.1 Trên thế giới 7

1.1.2 Tại Việt Nam 22

1.2 Một số vấn đề lý luận về thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà 27

1.2.1 Những vấn đề lý luận về thái độ 27

1.2.2 Bệnh tâm thần phân liệt (schizophrenia) 31

1.2.3 Chăm sóc cho bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà 38

1.2.4 Thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà 40

1.2.5 Biểu hiện thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà 40

1.2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của người chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt 44

Tiểu kết Chương 1 48

Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 49

2.1 Tổ chức nghiên cứu Error! Bookmark not defined 2.2 Nội dung và các phương pháp nghiên cứu 49

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 49

2.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Error! Bookmark not defined

Trang 6

2.2.3 Phương pháp phỏng vấn 57

2.2.4 Phương pháp quan sát 58

2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu 58

2.3 Khách thể nghiên cứu của đề tài 61

Tiểu kết Chương 2 64

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC ĐỐI VỚI BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI NHÀ 65

3.1 Thực trạng chung về thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân TTPL đang điều trị tại nhà 65

3.2 Thực trạng thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân TTPL đang điều trị tại nhà qua các mặt biểu hiện 67

3.2.1 Mặt nhận thức của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt 67

3.2.2 Mặt xúc cảm của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt 72

3.2.3 Mặt hành vi của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt 75

3.2.4 Tương quan giữa các mặt biểu hiện thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt 78

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của của người chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt tại nhà 81

3.3.1 Một số yếu tố thuộc về người chăm sóc 81

3.3.2 Một số yếu tố thuộc về người bệnh 86

3.3.3 Một số yếu tố thuộc về thông tin truyền thông 86

3.4 Đề xuất biện pháp nhằm giảm thiểu một số biểu hiện thái độ tiêu cực của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt 89

3.4.1 Cơ sở đề xuất biện pháp trên 89

3.4.2 Mục đích, nội dung và cách thực hiện biện pháp đã được đề xuất 91

Tiểu kết Chương 3 93

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Phân bố khách thể tham gia nghiên cứu 61 Bảng 3.1 Thái độ chung của người chăm sóc đối với bệnh nhân TTPL đang

điều trị tại nhà 65 Bảng 3.2 Biểu hiện mặt nhận thức của người chăm sóc đối với bệnh nhân

tâm thần phân liệt 68 Bảng 3.3 Biểu hiện mặt xúc cảm của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm

thần phân liệt 72 Bảng 3.4 Xúc cảm lo lắng trong quá trình chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân

liệt đang điều trị tại nhà 73 Bảng 3.5 Biểu hiện mặt hành vi trong quá trình chăm sóc bệnh nhân tâm thần

phân liệt đang điều trị tại nhà 75 Bảng 3.6 Tương quan giữa các mặtbiểu hiện thái độ của người chăm sóc đối

với bệnh nhân tâm thần phân liệt 79 Bảng 3.7 So sánh 4 câu hỏi giữa 2 mặt nhận thức và hành vi 79 Bảng 3.8 Tương quan và hồi quy dự báo tác động của các yếu tố thuộc về

người chăm sóc đến thái độ 81 Bảng 3.9 Điểm trung bình, độ lệch chuẩn và tương quan các nhu cầu của

người chăm sóc 85 Bảng 3.10 Đánh giá của người chăm sóc về thông tin truyền thông hiện nay 87

Trang 9

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ - HÌNH - BIỂU ĐỒ

Đồ thị 2.1 Phân bố điểm trung bình của mặt nhận thức 55

Đồ thị 2.2 Phân bố điểm trung bình của mặt xúc cảm 55

Đồ thị 2.3 Phân bố điểm trung bình của mặt hành vi 56

Đồ thị 2.4 Phân bố điểm trung bình chung 3 mặt của thái độ 57

Biểu đồ 3.1 Điểm trung bình các mặt biểu hiện thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt 66

Biểu đồ 3.2 Trạng thái xúc cảm của người chăm sóc khi chăm sóc cho bệnh nhân tâm thần phân liệt 74

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ người chăm sóc có hành vi đưa bệnh nhân tâm thần phân liệt đi thầy cúng 78

Biểu đồ 3.4 So sánh thái độ của người chăm sóc với trình độ học vấn 82

Biểu đồ 3.5 So sánh thái độ của người chăm sóc với nơi sống 83

Biểu đồ 3.6 So sánh thái độ của người chăm sóc với hình thức chăm sóc 83

Biểu đồ 3.7 So sánh thái độ của người chăm sóc với trải nghiệm nguy hiểm 84

Biểu đồ 3.8 So sánh thái độ của người chăm sóc với số năm chăm sóc 85

Biểu đồ 3.9 Các kênh thông tin về bệnh tâm thần của người chăm sóc 88

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tâm thần phân liệt (TTPL) là bệnh loạn thần nặng chưa rõ nguyên nhân, có khuynh hướng tiến triển mãn tính, dần dần gây sa sút các mặt hoạt động tâm thần làm cho người bệnh không thể hoà nhập với cuộc sống giađìnhcũng như xã hội Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) bệnh TTPL chiếm tỷ lệ 0,7 - 1% dân số và ước tính toàn cầu có ít nhất 26 triệu người đang sống chung với TTPL năm 2014 [45, tr.4] Hơn 50%

số người bị TTPL không được chăm sóc thích hợp [40]; khoảng 90% các trường hợp không được phát hiện và điều trị sớm bệnh TTPL là ở các nước đang phát triển trong

2012 là 5.889 bệnh trong đó Đồng Tháp mắc mới thêm 130 người [3,tr.178-179], cho thấy tỷ lệ mắc bệnh của tỉnh Đồng Tháp lên tục tăng lên qua các năm

Đến hết năm 2013, Dự án bảo vệ Sức khỏe Tâm thần Cộng đồng và Trẻ em thuộc Chương trình mục tiêu Y tế Quốc gia đã quản lý và theo dõi tại cộng đồng 192.545 bệnh nhân TTPL [48] Hiện nay theo thống kê mới nhất của Viện sức khỏe Tâm thần

và Bệnh viện Tâm thần TW1 tính đến tháng 10/2014 có khoảng 250.000 người mắc bệnh TTPL tại Việt Nam [49]

Đảng và nhà nước ta cũng đã có nhiều chính sách liên quan đến chăm sóc cho người bệnh tâm thần như: Nghị định số 136/2013/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư 115/2012/TTLT-BTC-BLDTBXH, trong đóQuyết định số 1215/QĐ-TTG năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ đã nhấn mạnh tầm quan trọng của gia đình trong vấn đề

chăm sóc và phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần Chủ đề của ngày Sức khỏe

Tâm thần thế giới năm nay (10/10/2014) được Liên đoàn Sức khỏe Tâm thần Thế giới

Trang 11

chọn là “Sống chung với tâm thần phân liệt” [45], trong đó nhấn mạnh đến vai trò của việc chăm sóc bệnh nhân TTPL tại nhà, nhưng thực tế hiện nay việc chăm sóc tại nhà vẫn còn nhiều khó khăn do vẫn còn quan niệm đưa đi “thầy cúng” để trị trước khi đưa đến bệnh viện, hoặc sợ ảnh hưởng đến danh tiếng của gia đình nên che giấu, một số gia đình còn nhốt người bệnh lại, hoặc cảm thấy chán nản rồi bỏ mặc, hắt hủi bệnh nhân, những điều đó đã làm cản trở quá trình chăm sóc và điều trị cho người bệnh tại nhà Vì thế để việc chăm sóc tại nhà đạt hiệu quả tốt thì thiết nghĩ thái độ là một trong

những yếu tố quan trọng cần được quan tâm đầu tiên

Trong những năm gần đây, thái độ cũng được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm trên các chuyên ngành và đối tượng khác nhau như: tâm lí học, y

tế công cộng, xã hội học, giáo dục họctuy nhiên tại Việt Nam hiện nay chúng tôi vẫn chưa tìm thấy có một nghiên cứu nào về thái độ của người chăm sóc đối với người

bệnh TTPL dưới góc độ tâm lí học

Từ những lý do trên, trước nhữngđòi hỏi của thực tiễn, chúng tôi thấy việc

nghiên cứu đề tài “Thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân

liệt đang điều trị tại nhà” là rất cần thiết

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà và những yếu tố tác động đến thái độ của họ Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm giảm thiểu một số biểu hiện thái độ tiêu cực của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà

3 Đối tượng nghiên cứu

Thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà

Trang 12

5 Giả thuyết nghiên cứu

5.1 Do nhận thức chưa đầy đủ về bệnh tâm thần phân liệt nên những người chăm sóc còn có những thái độ tiêu cực biểu hiện qua ba thànhtố: nhận thức, xúc cảm và hành vi; trong đó biểu hiện về xúc cảm là thể hiện rõ nhất

5.2 Có nhiều yếu tố tác động đến thái độ của người chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà như: Hình thức chăm sóc, trình độ học vấn, trải nghiệm khi chăm sóc, nhu cầu của người chăm sóc, thông tin truyền thông , trong đó học vấn, trải nghiệm chăm sóc và nhu cầu của người chăm sóc có tác động nhiều nhất đến các mặt biểu hiện của thái độ trên

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà Cụ thể: Làm rõ khái niệm công cụ: “Thái độ”;

“bệnh tâm thần phân liệt”; “chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà”, “Thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà”; Xác định biểu hiện, mức độ, tiêu chí đo và yếu tố tác động đến thái độ được nghiên cứu

6.2 Làm rõ thực trạng thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà, các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ và mối tương quan giữa chúng 6.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm giảm thiểu một số biểu hiện thái độ tiêu cực của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

7.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

- Luận văn tập trung nghiên cứu thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà

- Thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà được xem xét trên 3 mặtbiểu hiện về nhận thức, xúc cảm và hành vi

- Luận văn đề xuất một số biện pháp giảm thiểu một số biểu hiện thái độ tiêu cực của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà (mà

không tiến hành thử nghiệm)

7.2 Giới hạn về khách thể và địa bàn nghiên cứu

Trang 13

- Giới hạn về khách thể nghiên cứu

- Nghiên cứu được thực hiện trên khách thể là những người chăm sóccho bệnh nhân tâm thần phân liệt đang được Bệnh viện Tâm thần Đồng Tháp quản lý theo dõi tại nhà

Người chăm sóc được hiểu là những người đang chăm sóc cho người bệnh TTPL

tại nhà bao gồm: những thành viên trong gia đình, họ hàng, hoặc là những người được

thuê về nhà để chăm sóc cho bệnh nhân TTPL

- Giới hạn về địa bàn nghiên cứuNghiên cứu được thực hiện trên khách thể có

hộ khẩuthường trú tại tỉnh Đồng Tháp

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Những nguyên tắc phương pháp luận

- Tiếp cận hoạt động:

Thông qua hoạt động, những đặc điểm tâm lí của cá nhân hay của nhóm sẽ được hình thành, biểu hiện và phát triển một cách rõ ràng nhất Vì thế, thái độ của người chăm sóc bệnh nhân TTPL được chúng tôi tiến hành nghiên cứu thông qua hoạt động thực tiễn của những người chăm sóc Cách tiếp cận này nhằm nghiên cứu các mặt biểu hiện về nhận thức, xúc cảm và hành vi của thái độ trong hoạt động chăm sóc của người chăm sóc tại nhà

- Tiếp cận hệ thống:

Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc để xây dựng cơ sở lý luận như khái niệm thái độ, mức độ, biểu hiện và những yếu tố ảnh hưởng đến thái độ trong hoạt động chăm sóc Nghiên cứu đề tài (xây dựng bảng hỏi, bình luận thực trạng) cũng được tiến

hành trên cấu trúc đã được xác định

Tiếp cận quan điểm hệ thống để xem xét các yếu tố tác động đến thái độ của người chăm sóc ở nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau một cách hệ thống, để từ đó đề xuất những biện pháp nhằm giảm thiểu một số biểu hiện thái độ tiêu cực của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt

- Tiếp cận thực tiễn

Trang 14

Chủ đề của ngày Sức khỏe Tâm thần thế giới năm nay (10/10/2014) được Liên đoàn Sức khỏe Tâm thần Thế giới chọn là “Sống chung với tâm thần phân liệt” cho thấy bệnh TTPL đang là mối quan tâm của toàn xã hội, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của việc chăm sóc tại nhà, tuy nhiên để việc chăm sóc cho người bệnh được hiệu quả thì thái độ là yếu tố rất quan trọng Vì vậy, việc tìm hiểu mức độ các mặt biểu hiện thái độ, và đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu một số biểu hiện thái độ tiêu cực của người chăm sóc là đáp ứng với yêu cầu thực tiễn đang đề ra

8.2 Các phương pháp nghiên cứu

Đề tài được tiến hành thông qua việc phối hợp đồng bộ một số phương pháp sau:

8.2.1 P hương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu

+ Mục đích:

Tổng quan tình hình nghiên cứutrong nước và ngoài nước về thái độ; thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân TTPL, các yếu tố tác động đến thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân TTPL

Xây dựng một số khái niệm công cụ và các tiêu chí để đo thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân TTPL

+Cách th ực hiện: Đọc các tài liệu, tổng hợp các dữ liệu từ nhiều nguồn khác

nhau, tham khảo một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

8.2.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi

ở Chương 2

Trang 15

8.2.3 Phương pháp quan sát

+ Mục đích: Phương pháp này được thực hiện nhằm ghi nhận một số biểu hiện

về xúc cảm và các hành vi trong quá trình chăm sóc người bệnh tại nhà

+ Cách thực hiện:Người nghiên cứu đến tận nhà để quan sát một số khách thể

trong mẫu nghiên cứu Đồng thời còn kết hợp quan sát ngẫu nhiên ởphòng dịch vụ tại bệnh viện (bệnh nhân ở nhà có cơn tái phát được người nhà đưa đến cấp cứu và nằm điều trị dịch vụ, phòng dịch vụ có 1 thân nhân và 1 người bệnh, việc chăm sóc cũng gần tương tự như ở nhà) vì lý do khi đến tận nhà quan sát không phải lúc nào cũng đúng lúc thấy được người chăm sóc đang chăm sóc cho bệnh nhân, và cũng không thể

ở lại quá lâu để quan sát

Sau khi phỏng vấn giải mã thành văn bản word và bảo mật danh tính của người được phỏng vấn

8.2.5 Phương pháp toán thống kê

Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 để xử lý thống kê như: tính tần số, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình, độ lệch chuẩn, hệ số Cronbach's Alpha, tương quan Pearson, hồi quy tuyến tính làm cơ sở để bình luận số liệu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Trang 16

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU THÁI ĐỘ

CỦANGƯỜI CHĂM SÓC ĐỐI VỚI BỆNH TÂM THẦN

PHÂN LIỆTĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI NHÀ

1.1 L ược sử tình hình nghiên cứu thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà

1.1.1 Trên thế giới

Thái độ (attitude) là một trong những nội dung quan trọng trong Tâm lí học Ngay từ năm 1935, trong cuốn “A Handbook of Social Psychology” Gordon Willard Allport đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu thái độ khi cho rằng, thái độ

là một khái niệm khá rộng và là vấn đề trọng tâm trong tâm lí học xã hội Vì thế từ lâu thái độ đã được nghiên cứu một cách nghiêm túc và khoa học trên cả hai lĩnh vực: lý luận và thực tiễn Có rất nhiều trường phái với nhiều hướng tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu thái độ trên lĩnh vực tâm lí học, có thể kể đến một vài hướng tiếp cận thái

độ như:

* Học thuyết tâm thế và thuyết định vị trong nghiên cứu thái độ [14, tr.321]

Khi nhắc đến các học thuyết nghiên cứu về thái độ của các nhà tâm lí học Xô Viết, sẽ là thiếu sót nếu không kể đến 2 học thuyết là: Học thuyết tâm thế của D.N.Uznatze và Thuyết định vị của V.A.Iadov

Thái độ được hiểu như khái niệm tâm thế trong học thuyết của Uznatze, theo ông tâm thế là trạng thái trọn vẹn của chủ thể sẵn sàng tri giác các sự kiện và thực hiện các hành động theo hướng xác định Tâm thế là cơ sở của tính tích cực có chọn lọc, có định hướng của chủ thể Đó là trạng thái vô thức, xuất hiện khi có sự gặp gỡ của nhu cầu và tình huống thỏa mãn nhu cầu, qui định mọi biểu hiện của tâm lí và hành vi của

cá nhân, giúp cá nhân thích ứng với điều kiện của môi trường Như vậy, Uznatze đã dùng cái vô thức để giải thích hành vi của con người mà chưa tính đến các hình thức hoạt động tâm lí phức tạp, cao cấp khác của con người Mặc dầu Uznatze chưa tính đến sự tác động phức tạp của các yếu tố xã hội trong việc quy định hành vi con người

Trang 17

cũng như vai trò của quá trình lĩnh hội kinh nghiệm xã hội Tuy nhiên, với cách tiếp cận này, Uznatze đã đặt cơ sở cho việc đưa ra khái niệm “Tâm thế xã hội”, giúp cho việc nghiên cứu hiện tượng đó một cách khách quan hơn và góp phần là phương pháp luận khoa học cụ thể cho nhiều lĩnh vực chuyên môn của tâm lí học sau này [dẫn theo

xã hội của cá nhân cũng như sự mâu thuẫn giữa hành vi và thái độ Hạn chế của thuyết định vị là tác giả chưa làm rõ nội hàm khái niệm định vị, cũng như chưa đưa ra được

cơ chế điều chỉnh hành vi bằng những định vị trong tình huống xã hội cụ thể

* Hướng tiếp cận xem quan hệ xã hội là cơ sở của thái độ chủ quan của cá nhân

Nghiên cứu thái độ trên cơ sở các quan hệ xã hội có các tác giả V.N.Miasixev, B.Ph.Lomov [14] Các tác giả theo hướng tiếp cận này cho rằng toàn bộ các quan hệ

xã hội đều phát triển theo các qui luật khách quan của lịch sử, qui định thái độ chủ quan bằng cách này hay cách khác, thể hiện trong các hành động, trải nghiệm, mong muốn, hiểu biết, đánh giá các quá trình xảy ra trong xã hội Xuất phát từ lập trường Mác-xít, các ông đã đề ra học thuyết tâm lí về thái độ chủ quan của cá nhân và cho rằng thái độ chủ quan là thuộc tính tương đối ổn định, phản ánh lập trường của cá nhân với hiện thực khách quan, thể hiện trong mong muốn, đánh giá của cá nhân ấy Sự thay

Trang 18

đổi vị trí khách quan của cá nhân trong xã hội đòi hỏi phải có sự đổi mới thái độ chủ quan của nó Cơ sở của thái độ chủ quan chính là các quan hệ xã hội.Phương thức hình thành nó là thông qua hoạt động và giao tiếp

Nghiên cứu về thái độ chủ quan của cá nhân lần đầu tiên được A.Ph.Lazuski đề xuất khi nghiên cứu tính cách Trong các công trình nghiên cứu của mình, Lazuski đã nêu

ra quan niệm về thái độ (chủ quan) của con người với môi trường Theo ông, khía cạnh quan trọng của nhân cách là thái độ của cá nhân đối với môi trường theo nghĩa rộng, bao gồm giới tự nhiên, sản phẩm lao động và những cá nhân khác, các nhóm xã hội và những giá trị tinh thần như khoa học, nghệ thuật, đặc biệt là thái độ của cá nhân với nghề nghiệp, với lao động, với sở hữu, với người khác và với xã hội [16, tr.489, 490] Các thái độ này được ông coi là thái độ chủ đạo khi định nghĩa tính cách và phân loại nhân cách

Dựa trên quan điểm của A.Ph.Lazuski, V.N Miaxisev đã xây dựng nên “học thuyết thái độ nhân cách” Ông cho rằng: “Thái độ dưới dạng chung nhất, là hệ thống trọn vẹn các mối liên hệ cá nhân, có chọn lọc, có ý thức của nhân cách với các khía cạnh khác nhau của hiện thực khách quan Hệ thống này xuất phát từ toàn bộ lịch sử phát triển của con người, nó thể hiện kinh nghiệm cá nhân và qui định hành động và các thể nghiệm của cá nhân từ bên trong” [dẫn theo16, tr.490] Theo V.N Miaxisev hệ thống thái độ được hình thành theo cơ chế chuyển dịch từ ngoài vào trong, thông qua kinh nghiệm tác động qua lại với những người khác trong điều kiện xã hội cụ thể Chính hệ thống thái độ nhân cách quyết định đặc điểm Xúc cảm, việc tri giác hiện thực khách quan cũng như sự phản ứng trong hành vi đối với những tác động từ bên ngoài Trong học thuyết này, ông cũng đã đề cập đến việc phân loại thái độ thành hai loại: tiêu cực (âm tính) và tích cực (dương tính) Các kinh nghiệm âm tính hay dương tính với những người xung quanh là cơ sở để hình thành hệ thống thái độ tương ứng bên trong của nhân cách [dẫn theo10, tr259-260] Mặc dù vậy, học thuyết thái độ nhân cách của V.N Miaxisev vẫn còn những hạn chế như: chưa làm rõ ảnh hưởng qua lại giữa quan hệ xã hội với thái độ chủ quan của cá nhân đối với hiện thực khách quan Bên cạnh đó, ông cũng chưa phân biệt rõ thái độ với các quá trình tâm lí và các thuộc

Trang 19

tính tâm lí khác như nhu cầu, hứng thú, tình cảm, thị hiếu, ý chí, tính cách, sự đánh giá…

Nhà tâm lí học người Nga, B.Ph.Lomov, khi nghiên cứu thái độ chủ quan của cá nhân, đã nhấn mạnh thái độ không chỉ là mối liên hệ khách quan của cá nhân với xung quanh, mà thái độ còn bao hàm cả việc đánh giá, biểu hiện hứng thú cá nhân [16, tr.489] Theo tác giả, khái niệm “thái độ chủ quan của cá nhân” cũng gần giống như các khái niệm “tâm thế”, “ý cá nhân” và “thái độ” Tính chất và động thái của thái độ chủ quan được hình thành ở cá nhân này hay cá nhân khác, suy cho cùng phụ thuộc vào vị trí mà nó chiếm chỗ trong hệ thống các quan hệ xã hội và sự phát triển của nó trong hệ thống này B.Ph.Lomov cho rằng, sự tham gia vào đời sống cộng đồng đã hình thành ở mỗi cá nhân các thái độ chủ quan nhất định và các thái độ chủ quan này

có tính chất nhiều chiều, nhiều tầng và cơ động.Thái độ chủ quan là thuộc tính tương đối ổn định, phản ánh lập trường của cá nhân với hiện thực khách quan, nhưng có sự thay đổi Khi thay đổi vị trí của mình trong xã hội, cá nhân cũng phải có sự đổi mới thái độ chủ quan của mình Nếu điều đó không xảy ra thì có thể nảy sinh xung đột giữa

cá nhân với những người xung quanh hoặc xung đột nội tâm Theo Lomov, mâu thuẫn giữa vị trí xã hội khách quan của cá nhân và thái độ chủ quan của nó đòi hỏi phải đổi mới hoạt động và giao tiếp Hay nói cách khác, thái độ chủ quan của cá nhân không chỉ do bắt nguồn từ “nguyện vọng hay quyết định bên trong” Để có sự thay đổi đó, cá nhân phải tích cực tham gia vào các quá trình xã hội khách quan.Chỉ có như vậy mới bảo đảm sự phát triển thực sự các thái độ chủ quan của cá nhân cũng như sự phù hợp của chúng với các xu hướng phát triển khách quan của nó [16, tr.493, 494]

* Hướng tiếp cận cấu trúc trong nghiên cứu thái độ

Quan điểm thái độ gồm có ba thành phần: nhận thức - xúc cảm, tình cảm - hành

vi do M.Smith (1942) và sau này là Krech, Crutchfield & Ballachey (1962) đưa ra được nhiều nhà tâm lí học thừa nhận như: Breckler, (1984); McGuire, (1985); Rosselli, Skelly & Mackie (1995); Tesser & Martin (1996); Petty, Wegener & Fabrigar, (1997)…

McGuire (1969) cho rằng thành phần tình cảm của thái độ bao gồm xúc cảm, cảm nhận, hoặc những nỗ lực (drives) liên quan đến đối tượng của thái độ trong khi đó

Trang 20

thành phần nhận thức của thái độ lại bao gồm niềm tin, sự đánh giá, hoặc những suy nghĩ có liên quan đến đối tượng thái độ [dẫn theo 12]

Pennington (1986) lại cho rằng: các thành phần cấu trúc của thái độ bao gồm hệ thống niềm tin và hệ thống đánh giá, việc đánh giá một sự vật, hiện tượng theo hướng tích cực hay tiêu cực là do niềm tin của chúng ta về giá trị của sự vật, hiện tượng đó[dẫn theo 12] Hai người có thể có cùng niềm tin, cùng có tiêu chuẩn về giá trị như nhau nhưng lại có thái độ khác nhau Hai người có cùng niềm tin rằng thịt là loại thực phẩm ăn được nhưng hai người lại có sự đánh giá khác nhau về việc ăn thịt và chính vì vậy một trong hai người là người ăn chay trong khi người kia thì không Tương tự như vậy hai người có thể có cùng một thái độ như nhau về một sự vật, hiện tượng nhưng họ lại có niềm tin khác nhau đối với sự vật hiện tượng ấy Ví dụ về một con vật nuôi trong nhà như con chó chẳng hạn chúng ta có thể có cùng sự đánh giá về giá trị của chúng (lợi ích của việc nuôi chó, giá trị tinh thần, giá trị thực phẩm) nhưng một nhóm người

sẽ nghĩ ăn thịt chó cũng như các loại động vật khác, vì vậy việc ăn thịt nó chúng thì không có gì là sai Nhưng người khác lại có thể nghĩ rằng chó giúp chúng ta giữ nhà,

mà giết thịt nó là hành động phi đạo đức, vì vậy phản đối việc ăn thịt chó

Theo tác giả Trần Hiệp các nhà tâm lí học xã hội đã phân biệt và nghiên cứu về 3 mặt của thái độ như sau:

o Nhận thức: là kiến thức của cá nhân về đối tượng của thái độ cho dù kiến thức đó có là đúng hay không đúng, ví dụ thái độ của bạn về hút thuốc lá sẽ bao gồm kiến thức của bạn về thuốc lá

o Xúc cảm, tình cảm: là Xúc cảm, tình cảm của cá nhân đối với đối tượng của thái độ xã hội Tức hút thuốc lá đối với bạn là khó chịu hay dễ chịu, thích hay không thích

o Hành vi: là hành động hay ý định hành động mà bạn sẽ ứng xử với đối tượng Tức là bạn sẽ hút thuốc hay không hút thuốc

* Hướng tiếp cận nghiên cứu thái độ trong mối quan hệ với nhận thức

Các học thuyết theo trường phái nhận thức luận nhấn mạnh vai trò của thành phần nhận thức (quan điểm, kiến thức, niềm tin, ) trong việc giải thích sự hình thành, biến đổi thái độ và đề cao sự thống nhất, tính trọn vẹn và trạng thái cân bằng, ổn định,

Trang 21

hài hoà, nhất quán của thái độ Những hiểu biết, những thông tin mới mẻ mâu thuẫn với tình cảm và hành vi hiện có tất yếu sẽ gây ra những thay đổi về thái độ Có thể kể đến các lý thuyết như: Thuyết bất đồng nhận thức của Leon Festinger, Thuyết cân bằng nhận thức của Heider [dẫn theo 12]

Fritz Heider (1958), nhà tâm lí học người Áo, cho rằng để xác lập trạng thái cân bằng tâm lí giữa nhận thức, tình cảm và hành vi, chủ thể có thể thực hiện một số chiến lược như phớt lờ thông tin, thay đổi hành vi hoặc hạ thấp ý nghĩa của thông tin Lý thuyết cân bằng nhận thức của Heider cho thấy, vai trò to lớn của yếu tố nhận thức, của thông tin trong việc hình thành và thay đổi thái độ Leon Festinger (1957) đưa ra

lý thuyết bất tương đồng "các thành phần nhận thức" Theo ông, các thành phần này bao gồm các cơ sở hiểu biết, thông tin, thái độ hoặc niềm tin về bản thân hoặc môi trường xung quanh mà mỗi cá nhân có được Bất tương đồng là mối quan hệ khi mà từ thành phần này rút ra các nội dung đối lập với thành phần kia Cái gì được rút ra từ thành phần nhận thức là do sự giải thích của cá nhân quyết định Sự bất tương đồng có thể rút ra từ sự thiếu nhất quán, từ kinh nghiệm đã qua của cá nhân hoặc từ các giá trị

và chuẩn mực văn hoá Theo ông, các nguyên lý cơ bản của thuyết bất tương đồng là: 1) Sự bất tương đồng sẽ gây khó chịu về mặt tâm lí, buộc cá nhân phải tìm cách khắc phục để tiến tới trạng thái tương đồng, né tránh các tình huống và các thông tin gây ra

sự bất tương đồng; 2) Cường độ của sự bất tương đồng (hoặc tương đồng) sẽ tăng lên nếu giá trị của các thành phần nhận thức tăng; 3) Cường độ bất tương đồng càng lớn thì áp lực đòi khắc phục nó cũng càng lớn [dẫn theo 12]

Festinger nêu ví dụ: nhận thức "tôi biết tôi là người hút thuốc" tương đồng với nhận thức "tôi hài lòng với việc hút thuốc", nhưng bất tương đồng với nhận thức "tôi tin rằng hút thuốc là có hại cho sức khoẻ" Khi xuất hiện sự bất tương đồng này, nếu tôi coi sức khoẻ là quan trọng, thì tôi sẽ cố tìm cách khắc phục nó Các biện pháp khắc phục thường là: 1) Tôi thay đổi hành vi của mình, bỏ hút thuốc lá hoặc tuyên bố "tôi chỉ hút ít thôi"; 2) Tôi có thể thay đổi nhận thức về môi trường như cho rằng, hút thuốc không có hại cho sức khoẻ hoặc chỉ khi nào hút nhiều quá mới có hại; 3) Tôi có thể dung nạp thêm các cơ sở nhận thức nhằm biện bạch cho thành phần nhận thức này hoặc thành phần nhận thức kia, ví dụ "phần lớn bạn bè của tôi cũng đều hút thuốc"

Trang 22

hoặc "tôi tin rằng các bằng chứng về mối quan hệ giữa hút thuốc và bệnh ung thư là chưa đủ sức thuyết phục", hoặc "tôi được biết sự nguy hiểm của việc hút thuốc nhỏ hơn nhiều so với sự nguy hiểm việc lái xe" ; 4) Tôi có thể hạ thấp tầm quan trọng của một trong các thành phần nhận thức, ví dụ, bằng cách tuyên bố: "hút thuốc có hại cho sức khoẻ, điều đó chẳng có ý nghĩa gì đối với tôi Tôi sẵn sàng sống gấp và chết trẻ"

* Hướng tiếp cận hành vi và chức năng trong nghiên cứu thái độ [14]

Một vấn đề tâm lí học rất quan tâm là mối quan hệ giữa thái độ bên trong và hành

vi bên ngoài của con người Hướng tiếp cận này thường tìm thấy trong các nghiên cứu

về thái độ ở Mỹ và một số nước phương Tây Các tác giả theo hướng nghiên cứu này gồm có R.A.Likert, R.T.La Piere, G.P.Allport, M Sherif (1960,1961), M Rokeach (1968), McGuire (1969, M Fishbein và I Ajzen (1972,1975),

Theo Allport, thái độ đóng vai trò quyết định chi phối hành vi của con người:

“thái độ có thể được xem như là nguyên nhân hành vi của người này đối với người khác hoặc một đối tượng khác; khái niệm thái độ còn giúp lý giải hành vi kiên định của một người nào đó”[dẫn theo 14]

Người ta cũng tin rằng có thể dự đoán được hành vi của một người nếu biết thái

độ của người đó, và vì thế các nhà giáo dục học, thần học cũng nghĩ muốn thay đổi hành vi của ai đó phải làm cho họ thay đổi thái độ Nhưng trong một nghiên cứu thực nghiệm, R.T.La Piere đã chứng minh sự không nhất quán giữa thái độ và hành vi, sự phát hiện này của ông được gọi là “nghịch lý La Piere” La Piere cho thấy rằng những

gì chúng ta nói và những gì chúng ta làm (tức là thái độ và hành vi của cá nhân trong cùng một trường hợp) đôi khi lại rất khác nhau

Từ nghiên cứu này của La Piere, nhiều nhà tâm lí đã đi sâu nghiên cứu để lý giải mối quan hệ giữa thái độ và hành vi Có quan điểm ủng hộ, có quan điểm phản đối và

dĩ nhiên có quan điểm thứ thứ ba là quan điểm tổng hợp

Thực tế thì mối quan hệ giữa thái độ và hành vi là mối quan hệ 2 chiều, thái độ cũng tác động và biểu hiện ra hành vi và hành vi cũng góp phần hình thành thái độ Vậy khi nào thái độ quy định hành vi? Có các quan điểm sau: Theo Edward Jones và Harold Sigall (1971) thì khi các yếu tố ảnh hưởng tới thái độ được biểu hiện và hành vi giảm đến mức tối thiểu; còn theo thuyết hành động hợp lý (Theory of reasoned action -

Trang 23

TRA), được phát triển bởi Martin Fishbein và Icek Ajzen (1975, 1980) là khi thái độ xác định hay cụ thể cho một hành vi nhất định nào đó, khi hành động chúng ta ý thức được thái độ của mình Vậy khi nào hành vi quy định thái độ? Các nhà tâm lí học xã hội cũng đưa ra hai cách lý giải thông qua thuyết bất đồng nhận thức của Festinger: khi

ta nhận ra hành vi mâu thuẫn với thái độ, động cơ của việc làm giảm đi tác động khó chịu, sự bất đồng thường gây ra sự thay đổi thái độ; và thuyết tự tri giác của Daryl Bem: học thuyết của ông cho rằng khi thái độ của chúng ta không rõ rang hoặc cường

độ của nó quá yếu, chúng ta sẽ đơn giản là quan sát hành vi của mình và tình huống

mà nó diễn ra rồi suy luận về thái độ của mình

Tiếp cận theo hướng chức năng của thái độ từ những năm 1918 W.I.Thomas và F.Znaninecki là những người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “thái độ” khi nghiên cứu sự thích ứng với môi trường của những người nông dân Ba Lan di cư sang Mỹ Các tác giả này cho rằng chức năng cơ bản của thái độ là chức năng thích nghi cá nhân với môi trường xã hội [14, tr.318] Các lý thuyết chức năng, sau này, được nghiên cứu chủ yếu bởi các nhóm nghiên cứu: Smith, Bruner, White (1956), Katz (1960), Herek (1986), Shavitt (1989) Theo các tác giả thì thái độ của mỗi cá nhân là khác nhau và xuất phát

từ những lợi ích tâm lí của mỗi cá nhân Katz (1960) cho rằng thái độ có chức năng đáp ứng nhu cầu nhận thức, bằng cách hình thành nên một khuôn mẫu tư duy nhất định đối với đối tượng (tổ chức và sắp đặt lại các sự việc, hiện tượng theo một trật tự

có ý nghĩa và có sự ổn định nhất định) Ví dụ như thái độ của một người đối với người bệnh tâm thần có thể xuất phát từ những trải nghiệm trước đó với một người bệnh tâm thần nào đó (từng gặp hay từng bị người bệnh tâm thần đánh) và điều này hình thành

nên một khuôn mẫu tư duy về người bệnh tâm thần (người bệnh tâm thần là kích động,

là quậy phá, là rất đáng sợ, dơ bẩn, hôi hám)

Katz cũng cho rằng thái độ như là một phương tiện (Instrumental function), bằng cách nó giúp cho con người ta điều chỉnh hành vi để làm thế nào có thể tối đa những phần thưởng và tối thiểu sự trừng phạt (một cá nhân có thể có thái độ tiêu cực đối với người đồng tính chỉ nhằm tránh sự trừng phạt từ cha mẹ của họ, do cha mẹ của họ có TĐKT đối với người đồng tính) Herek (1986), gọi chức năng phương tiện này là chức năng vị lợi, mang tính thực dụng (liên quan đến vấn đề chi phí và lợi ích) Đối tượng

Trang 24

của thái độ lại chính là mục đích của chính bản thân cá nhân vì có sự liên kết giữa thưởng và phạt đối với cá nhân đó Smith và cộng sự (1956) thì cho rằng thái độ có chức năng đánh giá đối tượng bằng con đường gián tiếp, thông qua những mối quan hệ của cá nhân và ngược lại Thái độ cũng “đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì lòng tự trọng” (Shavitt, 1989) hay nói cách khác thái độ được hình thành nhằm thỏa mãn chức năng giá trị

* Hướng nghiên cứu các phương pháp đo lường thái độ

Các nghiên cứu thái độ cũng tập trung nhiều vào việc đề xuất các thang đo cho phép đo thái độ một cách khá chính xác Từ những năm 1920 – 1930 đã có rất nhiều phương pháp đo lường thái độ được đưa ra và ngày nay một số phương pháp vẫn đang tiếp tục được sử dụng Vào năm 1925, Bogardus là một trong những người đầu tiên sử dụng phương pháp đo lường định lượng trong lĩnh vực tâm lí học xã hội Ông đã đưa

ra thang đo 7 mức độ với những khoảng cách bằng nhau Ông cho rằng có thể sử dụng thang đo này để xác định thái độ đối với các nhóm chủng tộc hoặc dân tộc Những cải tiến của kỹ thuật này cho phép đo lường thái độ đối với bất cứ một nhóm nào, không chỉ là các nhóm dân tộc mà còn mở rộng ra nhiều lựa chọn khác [dẫn theo 12] Năm

1928, Thurstone đề xuất phương pháp đo lường thái độ trái ngược với thang đo của Bogardus Thurstone phát triển một phương pháp dùng chỉ số thay cho việc chỉ ra chính xác con số khác biệt về thái độ giữa những người trả lời Phương pháp của ông khá phức tạp: Trước tiên, cần phải đưa ra một số lượng lớn (khoảng 100) các trạng thái

ý kiến biểu lộ sự yêu thích, trung tính và không ưa thích về một chủ đề cần quan tâm (ví dụ Thurstone nghiên cứu thái độ đối với nhà thờ, với những người da đen, kiểm soát mức sinh ) Sau đó, người điều tra phải thực hiện nghiên cứu trên một nhóm công chúng nhằm đánh giá và tính tỷ lệ ưa thích hoặc không ưa thích đối với chủ đề nghiên cứu Mỗi một đánh giá được xếp vào một trong 11 thang đo tương ứng, thái độ không quan tâm của người trả lời đối với chủ đề đưa ra và việc xem xét trạng thái ưa thích hay không ưa thích thế nào đối với chủ đề đưa ra [dẫn theo 12] Mặc dù thang đo của Thurstone cung cấp cho ta một thang đo đơn chiều và có thể có độ tin cậy và độ hiệu lực chấp nhận được nhưng phương pháp xây dựng thang đo khá tốn thời gian

Trang 25

Năm 1932, Likert đã xây dựng thang đo thái độ, có thể yêu cầu khách thể nghiên cứu dựa trên chính thái độ của họ để nghiên cứu Thang đo này đã khắc phục được điểm yếu của thang đo Thurston, đó là tiết kiệm thời gian xây dựng thang đo nhưng vẫn đảm bảo được độ hiệu lực và độ tin cậy của thang đo Hiện nay, thang đo Likert vẫn được

sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu tâm lí học và xã hội học

Miaxisev, V.N lại đưa ra các thông số (hay còn gọi là chiều đo) của thái độ [dẫn theo[10, tr.261], cụ thể như sau:

Các chỉ báo cấp I của thái độ bao gồm:

+ Tính tình thái: Có thể là trung tính hay phân cực Biểu hiện của nó rất đa dạng thể hiện thông qua các phản ứng xúc cảm như “thích - không thích” hay “ủng hộ - phản đối” hoặc được thể hiện trong hành động tích cực của cá nhân có liên quan đến việc khắc phục khó khăn

+ Cường độ: Thông thường cường độ của thái độ mang tính ổn định, tuy nhiên trong quá trình thay đổi thái độ sẽ có sự tăng hoặc giảm cường độ của thái độ Điều cần lưu ý là sự “quá bão hoà thái độ” sẽ dẫn đến sự thay đổi thái độ từ tích cực sang tiêu cực hoặc ngược lại

+ Độ rộng: Là sự phong phú hay nghèo nàn của thái độ Thể hiện ở số lượng các đối tượng hay khía cạnh của hoạt động mà cá nhân có thái độ chủ quan với chúng (mức độ phong phú hay không phong phú về mối quan hệ của cá nhân với xã hội, con người, tự nhiên)

+ Tính bền vững: Đó là sự ổn định của thái độ được thể hiện qua lập trường hoặc tính cứng nhắc của cá nhân

Các chỉ báo cấp II của thái độ bao gồm:

+ Tính chi phối: Hay còn gọi những thái độ chủ đạo có liên quan đến mục đích sống và động cơ chủ đạo của cá nhân Thái độ chủ đạo luôn thể hiện sự mạnh mẽ và

Trang 26

+ Mức độ khái quát hoá: Khi cá nhân làm chủ các tri thức mang tính khái quát, thái độ chủ quan ban đầu do ảnh hưởng của các sự kiện ngẫu nhiên và mang tính tình huống của cá nhân sẽ dần dần được thay thế bằng thái độ chủ quan mang tính khái quát Chính tính khái quát trong thái độ chủ quan của cá nhân sẽ biến tri thức thành niềm tin của họ

+ Tính nguyên tắc: Có liên quan chặt chẽ đến tính khái quát, nó cho thấy thái độ được hình thành như thế nào theo nguyên tắc đạo đức, thẩm mỹ mà cá nhân đã chấp nhận

+ Mức độ tích cực: Chiếm một vị trí quan trọng trong chỉ báo của thái độ Đó là mức độ ảnh hưởng của thái độ đối với tính tích cực của cá nhân Mức độ cao

nhất của tính tích cực là những hành vi có ý nghĩa xã hội

+ Mức độ ý thức: Đề cập đến một khía cạnh quan trọng của thái độ cá nhân, đó là thái độ có ý thức Tính có ý thức là đặc điểm có tính tích hợp của nhân cách đặc trưng cho sự trưởng thành về mặt công dân, đạo đức, tư tưởng của cá nhân, nó liên quan chặt chẽ với ý thức trách nhiệm trước xã hội của họ với tư cách là chủ thể xã hội

Triandis (1964) đã mở rộng phạm vi nghiên cứu về lĩnh vực này Sử dụng phương pháp phân tích yếu tố, ông đã tìm ra 5 mức độc lập tương đối của thái độ đối với phân loại các tầng lớp trong xã hội và ông đã phát triển thang đo có một vài items để đo từng mức độ một [dẫn theo12] Dưới đây là 5 mức độ với các item cho từng mức:

1 Ngưỡng mộ – khâm phục tư tưởng của người này

2 Chấp nhận hôn nhân – yêu người này

3 Chấp nhận tình bạn - ăn uống cùng người này

4 Có khoảng cách xã hội – coi những người này như những người hàng xóm

5 Sự định đoạt tuyệt đối – ra lệnh cho người này

Thang đo này thể hiện sự tiến bộ đáng kể so với những đo lường về khoảng cách

xã hội trước đó

Một trong những phương pháp gây tiếng vang trong giới nghiên cứu là phương pháp “Đường ống giả vờ” (the bogus pipeline) của Edward Jones và Harold Sigall (1971).Nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp này bằng cách chọn ngẫu nhiên hai nhóm tham gia thực nghiệm, sau đó chỉ định một nhóm trả lời phiếu hỏi bằng giấy và

Trang 27

bút; nhóm còn lại sẽ sử dụng máy phát hiện nói dối Trong những lần thực nghiệm sau này, các nhà nghiên cứu đều đưa ra kết luận rằng, những thông tin thu được khi sử dụng phương pháp này là rất khác so với những thông tin thu được khi sử dụng các cách đo thông thường

Crites, Fabrigar và Petty đưa ra thang đo về thái độ nhận thức và thái độ xúc cảm được thực hiện vào năm 1994 [35, tr.242] Trong thang đo này, các tác giả đã xây dựng hai loại thang đo với cùng đối tượng, đó là “con rắn” và “máy hút bụi” Thang đo

số 1, đo thành phần tình cảm, xúc cảm của thái độ đối với con rắn Thang đo số 2, đo thành phần nhận thức của thái độ Các tác giả đã đưa ra kết luận: đa số thái độ đối với con rắn dựa trên Xúc cảm hơn là nhận thức và tổng số điểm của câu 1 sẽ cách khá xa điểm 0 (về phía tiêu cực) so với điểm của câu 2 Bây giờ quay sang yêu cầu người trả lời quay trở lại với các câu hỏi một lần nữa, nhưng thay từ “con rắn” bằng từ “máy hút bụi” Đa số thái độ đối với đồ vật thiết thực như máy hút bụi dựa trên nhận thức nhiều hơn Xúc cảm và điểm của câu 2 sẽ cách xa điểm 0 hơn là tổng số điểm của câu 1 Như vậy, thái độ sẽ dựa trên Xúc cảm nhiều hơn hay dựa trên nhận thức nhiều hơn tuỳ thuộc vào đối tượng của thái độ là ai? Là cái gì?

Bên cạnh việc xây dựng các thang đo thái độ, các tác giả cũng tập trung tìm hiểu

cơ chế hình thành và thay đổi thái độ dựa trên cách tiếp cận mối quan hệ giữa thái độ

và hành vi Các nghiên cứu này chủ yếu được ứng dụng để giải quyết những vấn đề của thực tế như các chiến dịch tuyên truyền, vận động bầu cử, quảng cáo, tiếp thị,… và nhấn mạnh mối quan hệ giữa thái độ và hành vi Nhiều nghiên cứu đã tiếp tục chứng minh rằng, sự thay đổi thái độ không có nghĩa là sẽ dẫn đến thay đổi về hành vi Năm

1969, nhà tâm lí học xã hội A.W Wichker đã đưa ra kết luận: “thái độ của con người hầu như chẳng dự báo gì về hành vi của họ” [14, tr.327]

Có nhiều phương pháp nhằm thay đổi hành vi đã được ứng dụng như “Kỹ thuật lấn từng bước một” (foot-in-the-door technique) của Jonathan Freedman và Scott Fraser (1996) [35, tr.315] Theo các tác giả, nếu bạn muốn người ta đồng ý với lời đề nghị của bạn thì trước tiên hãy đưa ra một lời đề nghị nhỏ mà bạn biết rằng người đó

sẽ đồng ý, sau đó mới đưa ra lời đề nghị lớn hơn.Các tác giả cũng đã đề xuất những cách tiếp cận khác nhau trong việc nghiên cứu sự hình thành và thay đổi thái độ như

Trang 28

cách tiếp cận thay đổi thái độ của Trường Đại học tổng hợp Yale của Mỹ (Yale Attitude Change approach) Cách tiếp cận này phản ánh quan niệm cho rằng, hiệu quả của việc thuyết phục phụ thuộc vào vấn đề “Ai nói gì với ai” (who says what to whom) với hai lý thuyết khá nổi tiếng: Shelly Chaiken’s heuristic-systematic model và Richard Petty and John Cacioppo’s elaboration likelihood model [35, tr.246,247] Hai

lý thuyết này nhấn mạnh: người ta sẽ bị chi phối bởi những vấn đề diễn giả trình bày (ví dụ như logic của vấn đề) và đặc điểm bên ngoài của người đó (ví dụ như người đó

là ai, trình bày trong bao lâu…)

tâm thần phân liệt

- Một số nghiên cứu về thái độ đối với bệnh nhân tâm thần

Năm 1992 tác giả Markku Ojanen của Đại học Tampere, Phần Lan đã nghiên cứu

về “Thái độ đối với bệnh nhân tâm thần”(Attitudes Towards Mental Patients) [35] đã được thực hiện bằng cách sử dụng một bảng câu hỏi được soạn thảo bởi Lehtinen và Väisänen trên 514 người Kết quả cho thấy thái độ nói chung ở mức tích cực, thái độ của những người lớn tuổi và trình độ học vấn thấp thì tiêu cực hơn so với các nhóm khác

Cũng tìm hiểu thái độ đối với bệnh nhân tâm thần, tại Hồng Kông tác giả Lee Chou đã tiến hành khảo sát nhằm để hiểu người dân Hồng Kông nhận thức về bệnh tâm thần, bệnh nhân tâm thần và cơ sở y tế tâm thần như thế nào.Tháng 3 năm

Kee-1994, có tổng cộng 1.043 cuộc phỏng vấn qua điện thoại thành công được tiến hành ra 2.202 số điện thoại hợp lệ Kết quả cho thấy rằng đa số người dân Hồng Kông đã rất quan tâm về sức khỏe tâm thần của họ Kiến thức về sức khỏe tâm thần khá tốt Thái

độ của họ đối với bệnh nhân tâm thần và cơ sở y tế tâm thần khá tiêu cực Không giống như những phát hiện ở Phương Tây trước đó, các quan điểm đối với người bệnh tâm thần và các cơ sở phục hồi chức năng của họ có liên quan với yếu tố kinh tế-xã hội bao gồm cả tuổi tác, trình độ học vấn và thu nhập hộ gia đình [39]

Năm 2003 tác giả Nazan Aydin cũng nghiên cứu “Thái độ của nhân viên bệnh viện đối với bệnh nhân mắc bệnh tâm thần tại Bệnh viện Thực hành ở Thổ Nhĩ Kỳ” (Attitudes of Hospital Staff Toward Mentally Ill Patients in a Teaching Hospital) [43]

Trang 29

cho kết quả rất bất ngờ mặc dù các học giả, các bác sĩ nội trú, và y tá có đủ kiến thức

về tâm thần phân liệt nhưng tần số của các thái độ tiêu cực của họ đối với các đối tượng bị bệnh tâm thần lại nhiều hơn cho nhân viên bệnh viện khác trong bệnh viện Người ta đã nhận xét rằng sự khác biệt này có thể là kết quả của tác động tiêu cực từ

Năm 2012 tại Bệnh viện Port Moresby, Papua New Guinea, tác giả Maluo Magarucũng tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thái độ và thực hành của người chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt ở Port Moresby” (Knowledge, Attitudes And Practices Of Caregivers of Patients With Schizophrenia In Port Moresby, Papua New Guinea)[41] trên 79 người chăm sóc cho bệnh nhân TTPL, kết quả cho thấy hầu hết những người chăm sóc (75,0%) không biết gì về tâm thần phân liệt trước đây; nhận thức về tâm thần phân liệt chủ yếu từ kinh nghiệm chăm sóc Các ông bố (35,0%) và

bà mẹ (22,5%) là người chăm sóc chính cho các bệnh nhân Hầu hết những người chăm sóc đã chỉ ra rằng các nhân viên y tế đã không cung cấp cho họ đầy đủ kiến thức

về tâm thần phân liệt Họ cho rằng Ma túy (47,5%) và các vấn đề tâm lí xã hội (45,0%)

Trang 30

là hai nguyên nhân chính của tâm thần phân liệt Hầu hết những người chăm sóc bệnh nhân của họ được chấp nhận như là một phần của gia đình và xem đó là trách nhiệm của họ (52,5%) để chăm sóc cho họ, và tốt nhất để quản lý điều trị tại nhà (52,5%); ngoại trừ đang trong trạng thái kích động Vấn đề tài chính là một trong những yếu tố tác động tiêu cực theo dõi các bệnh nhân

Năm 2014 tác giả M Shinde và các cộng sự thuộc đại học Krishna thực hiện đề tài nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành của những người chăm sóc cho bệnh nhân tâm thần phân liệt ở phía tây Maharashtra” ( Knowledge, Attitudes and Practices among Caregivers of Patients with Schizophrenia in Western Maharashtra) [40], một mẫu thuận tiện gồm 50 người chăm sóc đã được lựa chọn, kết quả cho thấy (30%) những người chăm sóc không hiểu biết về tâm thần phân liệt trước đây Các ông bố (24%) và họ hàng (24%) là người chăm sóc chính cho các bệnh nhân Những người chăm sóc được coi là yếu tố quan trọng nhất, nhưng họ cũng hỗ trợ như tư vấn và hỗ trợ gia đình Vấn đề tài chính là một trong những yếu tố tác động tiêu cực đến thái độ trong quá trình chăm sóc bệnh nhân và việc phát triển chiến dịch can thiệp tâm lí-giáo dục là cần thiết

Tóm lại, thái độ, từ lâu đã được nhiều nhà tâm lí học ở nước ngoài quan tâm nghiên cứu Các nghiên cứu về thái độ theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau, mỗi hướng tiếp cận lại có những ưu điểm và hạn chế riêng Xem xét các nghiên cứu lý luận

và thực tiễn, chúng tôi đồng ý với quan điểm nghiên cứu thái độ phải chú trọng đến mối quan hệ giữa cá nhân và môi trường xã hội Các kinh nghiệm âm tính hay dương tính với đối tượng là cơ sở để hình thành hệ thống thái độ tương ứng bên trong của nhân cách và thái độ xuất hiện khi có sự gặp gỡ của nhu cầu và tình huống thỏa mãn nhu cầu, giúp cá nhân thích ứng với điều kiện của môi trường Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đồng ý với các quan điểm của các tác giả cho rằng yếu tố nhận thức đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và thay đổi thái độ Khi xây dựng thang đo các mặt biểu hiện của thái độ cần phối hợp các Thang đo Likert được đánh giá là thang đo đảm bảo độ tin cậy trong nghiên cứu thái độ Bên cạnh đó, khi xây dựng thang đo thái độ, chúng tôi nhận thấy cần lưu ý đến các chiều đo của thái độ cũng như xem xét các mặt

có ý nghĩa chi phối thái độ

Trang 31

Ở nước ngoài các tác giả cũng có quan tâm về thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân TTPL nhưng chủ yếu là tiếp cận theo mô hình KAP của lĩnh vực Y tế công cộng mà chưa thấy có một công trình nào tiếp cận dưới góc độ tâm lí học

1.1.2 Tại Việt Nam

Các công trình nghiên cứu lý luận về thái độ ở Việt Nam chủ yếu được kế thừa những thành tựu tâm lí học của Liên Xô Hầu hết các nghiên cứu đều xuất phát từ quan điểm tâm lí học hoạt động khi nghiên cứu về thái độ trong đó có thể kể đến các tác giả tiêu biểu là Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy, Trần Hiệp, Đỗ Long, Nguyễn Quang

Uẩn, Lê Ngọc Lan, Lê Đức Phúc,

Trong những năm gần đây, tác giả Võ Thị Minh Chí (2004) trong bài viết “Về nghiên cứu thái độ trong nhân cách”, đã nhìn nhận thái độ như là một thuộc tính tâm lí, một mặt tích cực của ý thức cá thể, là mối quan hệ chủ quan với thế giới được phản ánh và được khách quan hoá bởi tâm vận động của con người… khi nghiên cứu về con người, về nhân cách không thể không nghiên cứu thái độ của họ [10, tr254, 255] Tác giả Đào Thị Oanh có bài viết “Một số khía cạnh xung quanh vấn đề phương pháp nghiên cứu thái độ” trên tạp chí Tâm lí học Khi bàn về các phương pháp nghiên cứu thái độ, tác giả có đưa ra một số lưu ý như: thái độ là một thuộc tính của nhân cách; mối quan hệ giữa thái độ và hành vi là mối quan hệ giữa cái tiềm ẩn và cái biểu hiện; thái độ là kết quả của quá trình xã hội hóa; có thể đo đạc được nhưng không toàn diện… Tác giả viện dẫn quan điểm của W.A Scott khi đưa ra một số đặc điểm của thái độ có nội dung thao tác đủ rõ để có thể đo đạc được, đó là: Độ rộng hay tính tích cực độ của thái độ; cường độ của thái độ; tính mâu thuẫn bên trong; tính hàm súc; tính phức hợp nhận thức [21]

Lê Văn Hảo và Larsen (2010) đã cho rằng thái độ là một chủ thể trung tâm trong tâm lí học xã hội Theo các tác giả, giữa thái độ và hành vi không phải lúc nào cũng nhất quán với nhau, trong một số trường hợp thái độ và hành vi có thể có sự thiếu nhất quán Các tác giả cũng đề cập đến các mặt chiếm ưu thế trong sự phát triển thái độ.Với một số người, thái độ được dựa trên những gì mà họ biết (nhận thức) nhưng với các trường hợp khác thì mặt xúc cảm lại đóng vai trò chủ đạo tác động tới các vấn đề nhận

Trang 32

thức Một số thái độ thể hiện hệ giá trị sâu xa của con người và dựa trên các lý lẽ, trí nhớ Một số thái độ khác lại được hình thành từ những trải nghiệm trực tiếp Trong các hành vi mang tính định kiến, con người có thể phát triển với nhiều đối tượng mà không cần có trải nghiệm trực tiếp

Các nghiên cứu thực tiễn về thái độ ở Việt Nam trong những năm gần đây cũng khá phong phú về đối tượng và khách thể đóng góp đáng kể cho mảng nghiên cứu này Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào mảng thái độ học tập trên đối đối tượng là học sinh, sinh viên từ đó rút ra những kết luận làm cơ sở cho công việc nâng cao chất lượng giáo dục Nhiều tác giả nghiên cứu về thái độ học tập của học sinh, sinh viên và bước đầu đã xác định được vai trò, vị trí của thái độ trong hình thành động cơ học, tính tích cực học tập, hứng thú học tập Các tác giả cũng đã cố gắng tìm ra các chỉ báo chi tiết về thái độ học tập, những vấn đề chung của thái độ như: cấu trúc của thái

độ, mối quan hệ của thái độ với các khái niệm khác

Trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã chú trọng nghiên cứu tới vấn đề thái độ trên nhiều đối tượng khác nhau và có nhiều ứng dụng vào hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Như các đề tài về thái độ về SKSS hay HIV/AIDS; thái độ đối với môi trường; thái độ đối với các vấn đề chính trị; thái độ của khách hàng trong nghiên cứu thị trường …

Trong bài viết đăng trên tạp chí Tâm lí học “Thái độ và hành vi của người dân với môi trường” [7, tr.12-16], tác giả Vũ Dũng đã trình bày thái độ và hành vi của người dân đối với môi trường trên cơ sở kết quả của một nghiên cứu thực tiễn tại 3 địa điểm của Hà Nội và Hà Tây Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra rằng: Thái độ có ảnh hưởng lớn đến hành vi của con người đối với môi trường Thái độ với môi trường

sẽ quy định một cách thức nhất định cho hành vi của con người đối với môi trường Thái độ là một mặt cơ bản tạo nên ý thức của con người đối với môi trường Khi thái

độ tích cực thì con người sẽ nhận thức rõ hơn sự cần thiết và trách nhiệm của mình đối với việc bảo vệ môi trường…

Thái độ học tập cũng được nhiều tác giả quan tâm, như năm 2009 tác giả Nguyện Thị Na tiến hành “Tìm hiểu thái độ học tập môn giáo dục học của sinh viên năm thứ hai khoa Hoá Trường ĐHSP Huế” [20] và kết quả cho thấy thái độ có vai trò rất quan

Trang 33

trọng trong quá trình học tập, sinh viên đánh giá cao môn học này trong hệ thống các môn được giảng dạy về mặt thái độ, sinh viên bước đầu đã có thái độ tích cực tuy không cao Phần lớn sinh viên bày tỏ thái độ bình thường đối với môn học, số sinh viên hứng thú với môn GDH chiếm tỷ lệ thấp

Cũng phải kể đến nghiên cứu “Nghiên cứu thái độ tình dục của sinh viên có tiếp xúc với nội dung khiêu dâm trên Internet” của tác giả Đặng Thị Thu Mai năm 2013, kết quả cho thấy sinh viên hiện nay tỏ ra có thái độ lỏng trong tình dục Thái độ đó cũng được biểu hiện trên cả ba mặt: nhận thức, xúc cảm và hành vi Có rất nhiều yếu

tố tác động đến thái độ đối với tình dục của sinh viên[19]

Không thể bỏ qua các nghiên cứu theo hướng thái độ kì thị như đề tài “Thực trạng thái độ kì thị của cán bộ làm công tác truyên truyền đối với người nhiểm HIV/AIDS” năm 2007 của tác giả Đỗ Thị Thanh Hà [11] kết quả cho thấy mặc dù những người đảm nhận trách nhiệm là đưa chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đến với người dân, nhưng đa số cán bộ làm công tác tuyên truyền có thái độ chưa tích cực, trong các thành phần, xúc cảm - tình cảm có mức điểm thấp nhất Mặc dù cả hai thành phần đều có sự tương quan với nhau, nhưng mối tương quan giữa nhận thức

và xúc cảm - tình cảm là mối tương quan yếu, dường như nhận thức ít có ảnh hưởng đến xúc cảm - tình cảm hơn là hành vi

Quan tâm về vấn đề thái độ kì thị, năm 2013 tác giả Đỗ Thị Thanh Hà tiếp tục thực hiện luận án tiến sĩ với tên “TĐKT của cộng đồng dân cư đối với người nhiễm HIV/AIDS”[12] thu được kết quả TĐ rất KT cao nhất, tiếp đến là mặt xúc cảm Nhận thức là mặt có tỷ lệ biểu hiện TĐKT thấp nhất Biểu hiện nhận thức của TĐKT có thể thấy qua các quan niệm sai lầm về người nhiễm HIV/AIDS, những quan niệm này chịu ảnh hưởng bởi những nhìn nhận, phán xét, đánh giá mang tính tiêu cực và bất hợp lý Biểu hiện mặt xúc cảm của TĐKT đối với người nhiễm HIV/AIDS có thể thấy rõ qua các trạng thái Xúc cảm như căng thẳng, khó chịu, thất vọng, khinh bỉ đối với người nhiễm HIV/AIDS Các hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS diễn ra ở nhiều nơi, nhiều lúc

Chương trình nghiên cứu của UNICEF Việt Nam Uỷ ban Dân số, Gia đình và trẻ

em (2009) có nghiên cứu thí điểm về thái độ của cộng đồng đối với hiện tượng tự tử

Trang 34

của thanh thiếu niên tại TP Hải Phòng Trong nghiên cứu này, các tác giả đã đi sâu tìm hiểu thái độ của cộng đồng đối với hiện tượng tự tử của thanh thiếu niên ở Hải Phòng.Bên cạnh đó, nghiên cứu đã làm rõ về những trải nghiệm thực tiễn của thanh thiếu niên ở Hải Phòng, những suy nghĩ và tình cảm của họ trước vấn đề tự tử trong thanh niên hiện nay

Bên cạnh đó, cũng có nhiều nghiên cứu về thái độ tiêu dùng của người dân hay thái độ của người dân đối với một số chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước của Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội – Ban Tuyên giáo Trung ương như: thái độ của người dân với cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; tìm hiểu thái độ của các tầng lớp nhân dân đối với việc thực hiện Pháp lệnh dân số; Pháp lệnh phòng, chống tham nhũng; Việc thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở mức độ mô tả thực trạng thái độ dưới dạng bảng hỏi điều tra dư luận xã hội mà chưa xây dựng được các thang đo thái độ cho từng đối tượng cụ thể cũng như chưa đi sâu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ Tóm lại, các nghiên cứu về lý luận thái độ ở Việt Nam vẫn chưa nhiều, đặc biệt

là những hướng nghiên cứu lý luận mới.Các nghiên cứu thực trạng thái độ ở Việt Nam khá phong phú trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội.Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu được tiếp cận dưới góc độ của xã hội học và nặng về mô tả thực trạng.Cần

có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về thái độ dưới góc độ tâm lí học hơn nữa

tâm thần phân liệt

Ở Việt Nam, thực trạng nghiên cứu về thái độ cũng được nhiều lĩnh vực khác nhau quan tâm như đã trình bày ở phần trên, tuy nhiên cũng giống như trên thế giới các công trình nghiên cứu về thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân TTPL hiện nay còn rất hạn chế, ở nước ta có thể kể đến đề tài “Đánh giá hiệu quả hoạt động chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt tại xã Phú Lâm-Bắc Ninh” năm 2001 của tác giả Hồ Xuân [ dẫn theo15] xem như là nghiên cứu đầu tiên về hoạt động chăm sóc cho bệnh nhân tâm thần Năm 2010 có một công trình nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ xã hội học, y tế công cộng theo mô hình KAP (Knowledge, Attitude, Practice) của tác giả Đinh Quốc Khánh và cộng sự nhằm tìm hiểu “Kiến thức - thái độ - thực hành của

Trang 35

người chămsóc chính người bệnh tâm thần phân liệt tạinhà và một số yếu tố liên quan

ở huyện BìnhXuyên,Vĩnh Phúc”[15], kết quả nghiên cứu này cho thấy người chăm sóc chính có kiến thức, thái độ và thực hành đạt về chăm sóc bệnh nhân TTPL tại nhà chỉ lần lượt là 44%, 53% và 45%, có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức chăm sóc với thực hành chăm sóc Ngoài ra nghiên cứu này còn chỉ ra rằng: tỷ lệ khá cao người chăm sóc không biết các dấu hiệu của bệnh TTPL Kiến thức về chăm sóc của người chăm sóc chính bệnh nhân TTPL đóng vai trò quan trọng đối với việcthực hiện các nội dung chăm sóc bệnh nhân TTPL tại nhà, người chăm sóc có kiến thức tốt

về chăm sóc thì mới đưa bệnh nhân đi khám và lĩnh thuốc định kỳ, cho bệnh nhân uống thuốc đềuvà đúng theo chỉ dẫn, giúpbệnh nhân vệ sinh cá nhân hàng ngày, giúp bệnh nhân tham gia lao động và sinh hoạt xã hội hòa nhập cộng đồng Từ đó, bệnh nhân sẽ hòa nhập cộng đồng và giảm tái phát bệnh tỷ lệ biết được bệnh nhân TTPL cần được giúp vệ sinh cá nhân hàng ngày và giúp bệnh nhân tham gia sinh hoạt xã hội

để hòa nhập cộng đồng là rất thấp Người chăm sóc chỉ quan tâm đến việc cho bệnh nhân TTPL uống thuốc đều và theo chỉ dẫn Do đó, tuyên truyền và hướng dẫn nhằm nâng cao hiểu biết toàn diện về các nội dung chăm sóc ch0 bệnh nhân TTPL là hết sức quan trọng

Như vậy, qua quá trình tìm hiểu chúng tôi nhận thấy tại Việt Nam việc nghiên cứu về thái độ trong chăm sóc cho bệnh nhân TTPL cũng được một số chuyên ngành như xã hội học, y tế công cộng quan tâm, điển hình là một vài nghiên cứu đã trình bày

ở trên, tuy nhiên vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào tìm hiểu về thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân TTPL dưới góc độ tâm lí học Do đó, chúng tôi hy

vọng đề tài “Thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân TTPL đang điều trị

tại nhà” là một sự đóng góp khiêm tốn bước đầu trong việc nghiên cứu về thái độ của

người chăm sóc đối với bệnh nhân TTPL dưới góc độ Tâm lí học nói riêng và ở Việt Nam nói chung

Trang 36

1.2 M ột số vấn đề lý luận về thái độ của người chăm sóc đối với bệnh nhân tâm thần phân liệt đang điều trị tại nhà

1.2.1 Những vấn đề lý luận về thái độ

1.2.1.1 Thái độ là gì?

Thái độ (attitude) là một khái niệm được nhiều nhà khoa học quan tâm tìm hiểu

từ những năm đầu của thế kỉ XX Năm 1935, G.W Allport, trong tác phẩm “A Handbook of Social Psychology”, đã tổng kết được 17 định nghĩa khác nhau về thái

độ Với những cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu lại đưa ra những định nghĩa khác nhau về thái độ và đến nay việc xác định khái niệm này vẫn chưa có sự thống nhất hoàn toàn

H Hiebsch, và M Vorwerg, trong cuốn “Nhập môn tâm lí học xã hội Mác xít”

đề cập đến điểm xuất phát chung khi nghiên cứu thái độ Đó là chức năng của thái độ trong hoạt động hợp tác, hay nói cụ thể hơn, khi nghiên cứu thái độ không chỉ chú ý đến mặt cá nhân mà còn phải chú ý đến cả khía cạnh xã hội Theo hai giáo sư, “Thái

độ là sự sẵn sàng phản ứng, bị qui định và có tính chất bắt buộc nào đó, nảy sinh trong những nhóm nhất định và trong những tình huống cụ thể Về mức độ cũng như nội dung, sự sẵn sàng này phụ thuộc không những vào khách thể hữu quan mà trước hết -

là một hiện tượng tâm lí xã hội – là một khuynh hướng của cá nhân phụ thuộc vào chuẩn mực của nhóm” [dẫn theo12, tr.127]

Trong học thuyết “Tâm thế’, D.N Uznatze, đã nhìn nhận thái độ như một bộ phận cấu thành có tính toàn vẹn của ý thức cá nhân và thừa nhận thái độ mang trong mình ý thức tự giác, tính năng động của một hiện tượng tâm lí thuộc cấp độ ý thức - điều khiển, điều chỉnh hành vi con người Ông quan niệm tâm thế là: “sự mô phỏng trọn vẹn của chủ thể, sự sẵn sàng tri giác các sự kiện và sự xác định hoàn thiện về hướng của hành vi” [dẫn theo 10, tr.267]

Miasixev nghiên cứu thái độ trên cơ sở các quan hệ xã hội Ông cho rằng: “Thái

độ, dưới dạng chung nhất, là hệ thống trọn vẹn các mối liên hệ cá nhân, có chọn lọc,

có ý thức của nhân cách với các khía cạnh khác nhau của hiện thực khách quan Hệ thống này xuất phát từ toàn bộ lịch sử phát triển của con người, nó thể hiện kinh

Trang 37

nghiệm cá nhân và qui định hành động và các thể nghiệm của cá nhân từ bên trong” [dẫn theo16]

V.N.Miaxisep, một nhà tâm lý học Xô Viết, đã cho rằng “Thái độ là điều kiện khái quát bên trong của hệ thống các hành vi của con người …” Còn A.Kossakowski

và J.Lompcher, vào năm 1975 cũng định nghĩa: “Thái độ là thuộc tính tâm lý, bao gồm niềm tin, lý tưởng, hứng thú, thái độ xã hội ”

G.W Allport, đã rút ra kết luận: thái độ không phải là hành vi mà là sự chuẩn bị cho hành vi, là khuynh hướng phản ứng theo một cách nào đó đối với khách thể của thái độ (attitude object) Thuật ngữ “khách thể của thái độ” ở đây bao gồm các đồ vật, người, ý kiến, hoặc tình huống, cả số ít và số nhiều Xem xét thái độ như trạng thái tâm lí và sự có mặt của thái độ chuẩn bị cho cá nhân đi đến một hành động nào đó, G.W Allport, đã đưa ra định nghĩa về thái độ như sau: “Thái độ là trạng thái sẵn sàng

về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động đến các phản ứng của cá nhân với tất cả các khách thể và tình huống mà nó có mối quan hệ” [14, tr.319] Định nghĩa này được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận Mặc dù, chưa đề cập đến yếu tố môi trường xã hội cũng như chưa đề cập đến “tính có ý thức” của thái độ nhưng định nghĩa này đã góp phần quan trọng trong việc giải thích bản chất, nguồn gốc cũng như vai trò của thái độ

Sau này, T.M Newcomb nhà tâm lí học người Mỹ cho rằng: “Thái độ là thiên hướng hành động nhận thức, tư duy, cảm nhận của chủ thể với khách thể liên quan” [14, tr.319] H Fillmore, (1965) cũng quan niệm thái độ là sự sẵn sàng phản ứng và định nghĩa: “Thái độ là sự sẵn sàng phản ứng tích cực hay tiêu cực với đối tượng hay các ký hiệu (biểu tượng) trong môi trường thái độ là sự định hướng của cá nhân đến các khía cạnh khác nhau của môi trường, và là cấu trúc có tính động cơ” [38]

Nhiều nhà tâm lí học xã hội ở Mỹ và các nước phương Tây lại đưa ra định nghĩa “thái độ” như một cách xác định giá trị của khách thể thái độ Khi bàn về lịch sử của khái niệm “thái độ” (attitude), chúng ta không thể không nhắc tới hai nhà tâm lí học người

Mỹ W.I Thomas, và F Znaniecki, (1918), theo hai ông: “Thái độ là định hướng chủ quan của cá nhân như là thành viên cộng đồng đối với giá trị này hay giá trị khác, làm

Trang 38

cho cá nhân có phương pháp hành động này hay hành động khác được xã hội chấp nhận” [dẫn theo 10, tr.279]

Trong từ điển tiếng Việt, Thái độ được định nghĩa là: “Cách nhìn nhận, hành động của cá nhân về một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết Đó là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con người hay một sự việc nào đó” [4]

Knud S.Larsen và Lê Văn Hảo (2010) đưa ra định nghĩa: “Thái độ là một phản ứng mang tính chất đánh giá tích cực hay tiêu cực đối với một đối tượng nào đó (người, sự vật, hiện tượng, ý tưởng…), thể hiện qua suy nghĩ, xúc cảm hay hành vi dự định” [18]

Tác giả Đỗ Thị Thanh Hà cũng đưa ra định nghĩa “Thái độ là sự sẵn sàng phản ứng của chủ thể (cá nhân hoặc nhóm) đối với sự vật hiện tượng và được bộc lộ thông qua các sắc thái khác nhau của nhận thức, xúc cảm và hành vi” [12]

Theo tác giả Nguyễn Khắc Viện “Thái độ là những phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay chống đối như đã có sẵn những cơ cấu tâm lí tạo ra định hướng cho việc ứng phó” [33, tr.356]

Theo Từ điển Tâm lí học do Vũ Dũng chủ biên thì thái độ được hiểu là “Một thiên hướng tương đối ổn định để phản ứng theo một cách thức cụ thể đối với một khách thể có liên quan Thái độ là một sản phẩm phức tạp của các quá trình học tập, lĩnh hội, trải nghiệm, Xúc cảm bao gồm cả những hứng thú, ác cảm, thành kiến, mê tín, quan điểm khoa học và tôn giáo cũng như chính trị” [7, tr.790] Thái độ trong định nghĩa này đã phản ánh được đầy đủ tính đa chiều của thái độ, bên cạnh đó định nghĩa cũng đã chú trọng đến khía cạnh xã hội của thái độ khi cho rằng, thái độ là một sản phẩm của quá trình học tập, lĩnh hội, trải nghiệm

Xem xét và phân tích các khái niệm về thái độ của các tác giả đi trước, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng, nghiên cứu thái độ phải xem xét thái độ trong mối liên

hệ giữa cá nhân với xã hội và phải dựa trên các thành phần cơ bản của thái độ gồm có: nhận thức, xúc cảm – tình cảm và hành vi Thái độ bao giờ cũng được xem xét gắn với một đối tượng hoặc một loạt các đối tượng cụ thể Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử

dụng định nghĩa thái độ như sau: Thái độ là sự sẵn sàng phản ứng của chủ thể (cá

Trang 39

nhân hoặc nhóm) đối với sự vật hiện tượng và được biểu hiện thông qua các mặt nhận thức, xúc cảm và hành vi

Thái độ có các đặc điểm như sau:

- Thái độ là cơ cấu tâm lí qui định trạng thái sẵn sàng phản ứng Thái độ có tính bền vững tương đối, có thể thay đổi khi có những tác động thích hợp.Trong tâm lí học, thái độ đóng vai trò hàng đầu trong việc ra quyết định Nhờ trạng thái sẵn sàng của thái

độ mà con người có thể đưa ra quyết định một cách nhanh chóng

- Thái độ được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm của chủ thể với đối tượng, trên thực tế bất cứ điều gì cũng có thể trở thành đối tượng của thái độ Thái độ phản ánh các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan một cách có chọn lọc, đồng thời là hình thức tác động trở lại của con người đối với hiện thực khách quan

- Thái độ có tính phân cực, bất kỳ một thái độ với đối tượng nào cũng được biểu hiện bằng các khuynh hướng đồng tình hay phản đối, tích cực hay tiêu cực

- Thái độ có các mức độ biểu hiện khác nhau, cùng một khuynh hướng thái độ nhưng mức độ biểu hiện có thể là không giống nhau

Như vậy, trong những tình huống, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể thì thái độ tồn tại như một trạng thái tâm thế chủ quan, chi phối sự quyết định phản ứng của cá nhân đối với đối tượng được biểu hiện ở nhận thức, xúc cảm và hành vi của cá nhân hoặc nhóm

1.2.1.2 Biểu hiện của thái độ

Với định nghĩa thái độ như đã nêu ở trên, chúng tôi xem xét thái độ theo biểu hiện của ba mặt cấu thành thái độ là: nhận thức, xúc cảm và hành vi, cụ thể như sau:

- Nhận thức: thể hiện qua các quan niệm, đánh giá, niềm tin của cá nhân về đối tượng của thái độ Quá trình nhận thức đối tượng cũng chính là quá trình cá nhân tìm tòi, khám phá đối tượng để từ đó cá nhân có một thái độ nhất định với đối tượng Chính vì lẽ đó, nhận thức là một thành phần không thể thiếu của thái độ, nhận thức là điều kiện để hình thành nên xúc cảm và hành vi của chủ thể thái độ

- Xúc cảm: bao gồm các xúc cảm của cá nhân đối với đối tượng của thái độ Nó thể hiện ở sự quan tâm, chú ý, hứng thú, say mê, sợ hãi, yêu hay ghét, vui hay buồn, bình tĩnh hay giận dữ,… của cá nhân trước đối tượng nhất định Trong các thành phần

Trang 40

cấu trúc của thái độ, xúc cảm là thành phần vô cùng quan trọng, kích thích chủ thể hành động và đánh giá hành động của mình

- Hành vi: hành vi là hành động hay sự thể hiện hành động ứng xử của cá nhân với đối tượng của thái độ Hành vi chính là hình thức thể hiện ra bên ngoài, có thể quan sát được của thái độ, tuy nhiên, trong nhiều trường hợp hành vi và thái độ lại không thống nhất, mâu thuẫn với nhau Mối quan hệ giữa thái độ và hành vi là mối quan hệ giữa cái tiềm ẩn và cái biểu hiện

Chúng ta có khả năng ứng xử trong các tình huống tâm lí khác nhau theo một cách thức nhất định phần lớn là nhờ khuôn mẫu các thái độ xã hội mà chúng ta có điều này đóng vai trò tổ chức rất lớn trong đời sống tâm lí của chúng ta Thái độ xã hội hình thành nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người Tổng kết ý kiến của các nghiên cứu có thể thấy thái độ xã hội có một số chức năng cụ thể sau đây:

Chức năng thích nghi: Thái độ của con người thường hướng chúng ta tới các đối tượng có thể giúp đạt được các mục đích kinh tế xã hội của mình Trong đó áp lực của nhóm thường rất lớn làm cho chúng ta có xu hướng thỏa hiệp hoặc a dua bằng cách có một thay đổi để được mọi người ủng hộ hay chấp nhận

Chức năng kiến thức: Nhờ có thái độ mà chúng ta biết cách thức phản ứng xử như thế nào trong các tình huống khác nhau một cách giản đơn, tiết kiệm thời gian và sức lực

Chức năng biểu hiện: Thái độ xã hội là phương tiện giúp con người thoát khỏi các căng thẳng nội tâm và thể hiện mình như một nhân cách

Chức năng bảo vệ: Trong những tình huống xung đột giữa các suy nghĩ, niềm tin

có khi là giữa thái độ và hành vi chúng ta thường tìm cách tự bào chữa, tìm lý do giải thích thậm chí tìm một người nào đó khác đến chịu trách nhiệm thay mình hoặc hợp lý quá hành vi của mình Quá trình này dẫn đến sự thay đổi thái độ tương ứng Thái độ mới có thể giúp chúng ta giảm bớt sự "bất đồng" nội tâm

1.2.2 Bệnh tâm thần phân liệt (schizophrenia)

1.2.2.1 Khái niệm

Bệnh tâm thần là những bệnh do hoạt động của não bộ bị rối loạn mà gây nên

Ngày đăng: 01/01/2021, 12:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w