Về tình hình ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất pháp luật, có thể nhận thấy rằng những quy định liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và do sức khỏe bị xâm phạm
Trang 1LÊ THANH HOÀNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
Trang 2Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn tận tình và chu đáo của Phó giáo sư, Tiến sĩ Lê Minh Hùng Các thông tin nêu trong Luận văn là trung thực Các ý kiến, quan điểm không thuộc ý tưởng hoặc kết quả tổng hợp của chính bản thân đều được trích dẫn đầy đủ
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực, khách quan của các kết quả nghiên cứu trong Luận văn
Tác giả luận văn
Lê Thanh Hoàng
Trang 4Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về BTTH ngoài hợp đồng
Trang 5
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CHI PHÍ HỢP LÝ VÀ PHẦN THU NHẬP THỰC TẾ BỊ MẤT CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC NGƯỜI BỊ THIỆT HẠI 10 1.1 Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị 10
1.1.1 Bất cập của quy định pháp luật về chi phí chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị 10 1.1.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chi phí cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị 16
1.2 Phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị 17
1.2.1 Bất cập của pháp luật về thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị 17 1.2.2 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị 21
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24 CHƯƠNG 2 CHI PHÍ HỢP LÝ CHO VIỆC CHĂM SÓC NGƯỜI BỊ THIỆT HẠI SAU KHI ĐIỀU TRỊ MÀ NGƯỜI BỊ THIỆT HẠI MẤT KHẢ NĂNG LAO ĐỘNG VÀ CẦN PHẢI CÓ NGƯỜI THƯỜNG XUYÊN CHĂM SÓC 25 2.1 Điều kiện để được bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại sau khi điều trị 25
2.1.1 Thực trạng pháp luật về điều kiện người chăm sóc người bị thiệt hại được bồi thường 25 2.1.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về điều kiện để người chăm sóc người bị thiệt hại được bồi thường 29
2.2 Thời hạn được bồi thường chi phí chăm sóc người bị thiệt hại sau điều trị 31
2.2.1 Thực trạng pháp luật về quy định thời hạn được bồi thường chi phí chăm sóc người bị thiệt hại sau điều trị 31 2.2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quy định thời hạn được bồi thường chi phí chăm sóc người bị thiệt hại sau điều trị 36
Trang 62.3 Số người chăm sóc được bồi thường chi phí chăm sóc người bị thiệt hại sau điều trị 38
2.3.1 Thực trạng pháp luật về số người chăm sóc được bồi thường chi phí chăm sóc người bị thiệt hại sau điều trị 38 2.3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về số người chăm sóc được bồi thường chi phí chăm sóc người bị thiệt hại sau điều trị 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 42 KẾT LUẬN 43 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, điều này đã được ghi nhận trong Hiến pháp của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với quan điểm quyền tự do thân thể là quyền bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ bằng những quy định, chế
tài chặt chẽ, nghiêm khắc nhất Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất cứ hình thức đối
xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”.1
Quy định về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm nói chung và thiệt hại được bồi thường của người chăm sóc người bị thiệt hại nói riêng lần đầu tiên được quy định tại BLDS năm 1995 Đến BLDS năm 2005 về cơ bản nội dung quy định về thiệt hại được bồi thường cho người chăm sóc người bị thiệt hại được quy định tại điểm c khoản 1 điều 509 về cơ bản vẫn giữ y quy định của khoản 3 Điều 613 của BLDS năm 1995, chỉ bỏ đi phần nội dung: “và khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng nếu có” Đến BLDS năm 2015 thì
về cơ bản cũng giữ y nội dung điều 509, tại điểm c khoản 1 điều 590 của BLDS năm
2015 chỉ bổ sung thêm từ “phải” thay cho từ “cần” thay vì: “phải có người thường xuyên chăm sóc” so với quy định: “cần có người thường xuyên chăm sóc” Điều này nhằm xác định rõ hơn yếu tố điều kiện “cần phải có” để người chăm sóc người bị thiệt hại được bồi thường theo quy định của pháp luật, tránh sự tùy tiện trong quá trình áp dụng pháp luật
Về tình hình ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất pháp luật, có thể nhận thấy rằng những quy định liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và do sức khỏe bị xâm phạm nói riêng trong đó có vấn đề “thiệt hại được bồi thường của người chăm sóc người bị thiệt hại” được quy định mang tính chung chung và mang tính định tính và để việc áp dụng pháp luật được thống nhất trên thực tế thì TAND tối cao trên cơ sở thống nhất với các cơ quan có liên quan đã ban hành nhiều Nghị quyết hướng dẫn thi hành những nội dung liên quan đến “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, cụ thể vào năm 2004 TAND Tối cao ban hành Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 28/4/2004 để hướng dẫn về nội dung: “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo quy định của BLDS năm 1995, trong đó có
1
Điều 20 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 8nội dung về: “Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” Năm 2006, TAND Tối cao ban hành Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 (từ đây gọi tắc là Nghị quyết số 03/2006): “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” để thay thế cho Nghị quyết số 01/2004 BLDS năm 2015 đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
2017 thay thế cho BLDS năm 2005, điều đó cũng đồng nghĩa BLDS năm 2005 đã hết hiệu lực thi hành Tuy nhiên thì Nghị quyết 03/2006 đến nay trên thực tế Tòa án các cấp vẫn phải áp dụng trong thực tiễn xét xử của mình vì chưa có văn bản nào khác để thay thế, đây là một thực tiễn pháp lý đặt ra những vấn đề cần phải giải quyết Trong khi từ năm 2006 đến nay, thời gian đã gần 15 năm, điều kiện kinh tế
xã hội của Việt Nam đã có rất nhiều sự thay đổi, rất nhiều hướng dẫn trong Nghị quyết 03/2006 đã không còn phù hợp với thực tiễn và cần phải có bổ sung, thay thế cho phù hợp với tình hình Đó là lý do mà tác giả chọn đề tài mong đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình nhằm để hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến nội dung: “Thiệt hại được bồi thường của người chăm sóc người bị thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”
chỉ quy định: “chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị Nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại” Đây là quy định khung mang tính chất nền tảng và trên cơ
sở đó các cơ quan áp dụng pháp luật mà cụ thể ở đây là TAND Tối cao cần ban hành văn bản hướng dẫn để có sự thống nhất trong hoạt động áp dụng pháp luật
Nghị quyết 03/2006 hướng dẫn thi hành điều 609 của BLDS năm 2005 có nêu về những nội dung được gọi là “Chi phí hợp lý” Tuy nhiên hướng dẫn này đã không bao quát hết những vấn đề thực tiễn phát sinh và không theo kịp xu hướng phát triển của xã hội, trên nền tảng lý luận của nền kinh tế thị trường và nguyên tắc
đã được Luật quy định đó là: “Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời” theo quy định tại khoản 1 điều 585 của BLDS năm 2015
Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại là rất đa dạng
và phong phú, điều đó tùy thuộc vào đặc điểm nghề nghiệp, vị trí, địa vị xã hội, điều kiện, hoàn cảnh khách quan trong quá trình chăm sóc người bị thiệt hại và cần phải
2
Điều 590 của BLDS năm 2015
Trang 9được xem xét tính toán một cách đầy đủ để phần nào bù đắp những thiệt hại thực tế
do người gây ra thiệt hại đã gây ra cho họ
Ngoài ra thì tình trạng thương tật, mức độ tổn thương, tình trạng sức khỏe, mức độ suy giảm khả năng lao động của người bị thiệt hại mà mức độ, thời gian chăm sóc, số người chăm sóc sẽ khác nhau và điều này chưa được pháp luật quy định cụ thể hoặc chưa phù hợp và đã có sự khác nhau trong quá trình vận dụng pháp luật trên thực tế ở Tòa án các cấp
Ngoài ra, cũng cần có những quy định cụ thể về chi phí đi lại cho người chăm sóc người bị thiệt hại như thế nào cho hợp lý trong điều kiện, hoàn cảnh mới khi mà việc đi lại hiện nay đã có rất nhiều sự lựa chọn và nó còn tùy thuộc vào hoàn cảnh khách quan đó là tình trạng thương tật sức khỏe, mức độ nghiêm trọng của người bị thiệt hại vào thời điểm xảy ra hành vi gây thiệt hại
Tác giả nhận thấy rằng việc nghiên cứu và lựa chọn đề tài: “Thiệt hại được bồi thường của người chăm sóc người có sức khỏe bị xâm phạm” là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay, nhất là đối với chuyên ngành khoa học ứng dụng Việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp cho thực tiễn giải quyết các vụ án liên quan đến bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm sẽ có cách tiếp cận khoa học hơn, hợp lý hơn trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến nội dung này tại Tòa
án các cấp Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài này làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Như trên đã phân tích vấn đề thiệt hại của người chăm sóc người có sức khỏe
bị thiệt hại, hiện nay đang là một trong những nội dung mà trong quá trình vận dụng tại Tòa án đang có nhiều cách hiểu khác nhau do pháp luật chưa có những quy định
cụ thể và còn khá chung chung dẫn đến việc mỗi Tòa án sẽ có cách hiểu và áp dụng khác nhau Điều đó làm cho việc vận dụng pháp luật sẽ trở nên tùy tiện, ảnh hưởng đến tính thống nhất của hệ thống pháp luật và tạo ra dư luận không tốt cho xã hội
Do đó việc nghiên cứu đề tài là thật sự hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Về đề tài bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm thì đã rất nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu khoa học nhiều bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành khác nhau, trong các giáo trình luật học đã được giảng dạy trong các nhà trường
- Giáo trình:
+ Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Pháp luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức, Hội Luật gia Việt
Trang 10Nam, năm 2017 có phần nghiên cứu trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, trong đó
có đề cập đến những kiến thức pháp luật cơ bản về trách nhiệm BTTH liên quan đến thiệt hại về sức khỏe Đây là nền tảng lý luận quan trọng giúp tác giả tiếp cận về lý luận của đề tài
+ Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Sách tình huống Pháp luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức, Hội Luật gia
Việt Nam, năm 2019 Đây là công trình viết về thực tiễn ứng dụng pháp luật liên quan tới các chủ đề của pháp luật hợp đồng và BTTH ngoài hợp đồng tương ứng với các chương trong giáo trình như đã trình bày ở trên Cách tiếp cận từ thực tiễn
để minh họa và bổ sung cho kiến thức lý luận được sử dụng trong sách là nền tảng phương pháp luận và kiến thức lý luận, kinh nghiệm thực tiễn giúp tác giả thực hiện luận văn thuận lợi hơn
- Sách chuyên khảo:
Đỗ Văn Đại (2015), Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS năm 2015,
Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam Đây được xem là một công trình nghiên cứu khoa học có tình chuyên sâu, bao quát và tính thực tiễn cao, ở đó tác giả đã nghiên cứu và đưa ra nhiều luận điểm khác nhau về những quy định mới của BLDS năm 2015 nói chung và nội dung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng Đối với phần nội dung bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì tác giả cũng đã đề cập đến rất nhiều nội dung trong đó có nội dung thiệt hại về vật chất mà ở đó tác giả đã đề cập đến hai nội dung lớn là: “Thời gian trước khi chết” và “Thời hạn hưởng bồi thường”, trong đó tác giả đã đề cập đến các khoản được bồi thường khi sức khỏe bị xâm phạm Tuy nhiên phần nội dung chuyên sâu về chi phí cho người chăm sóc người bị thiệt hại thì chưa được đề cập đến một cách bài bản và có hệ thống
Đỗ Văn Đại (2018), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam – Bản
án và bình luận bản án, (lần thứ tư) – Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam,
Thành phố Hồ Chí Minh Đây là một công trình nghiên cứu chuyên sâu có tính thực tiễn và ứng dụng cao Trên cơ sở những quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về nội dung BTTH ngoài hợp đồng, trong đó có nội dung về BTTH do sức khỏe bị xâm phạm, tác giả lựa chọn những bản án có tính chất điển hình để phân tích những nội dung liên quan đến phần thiệt hại được bồi thường bao gồm cả thiệt hại về vật chất lẫn tinh thần Trong đó thiệt hại về vật chất được xác định như tiền chi phí điều trị, chi phí bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe, chi phí ăn, ở, đi lại tiền công lao động của người bị thiệt hại Ngoài ra tác giả cũng dành nhiều nội dung để phân tích, bình luận
Trang 11các bản án liên quan đến nội dung phần thiệt hại của người chăm sóc người có sức khỏe bị xâm phạm, bao gồm chi phí ăn ở, đi lại Bên cạnh đó tác giả cũng có so sánh, đối chiếu với pháp luật nước ngoài để người đọc có một cái nhìn toàn diện và tổng thể về nội dung BTTH do sức khỏe bị xâm phạm nói chung và thiệt hại được bồi thường của người chăm sóc người có sức khỏe bị xâm phạm nói riêng để có thể đóng góp hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật của nước nhà
Sách chuyên khảo: Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe
và tính mạng của tác giả Phùng Trung Tập (năm 2009), Nxb Tư pháp, Hà Nội: tác
giả cũng đã đề cập đến một cách đầy đủ và toàn diện những quy định của pháp luật liên quan đến nội dung BTTH ngoài hợp đồng, trong đó có bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, tác giả đã phân tích những quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng, những vấn đề còn bất cập và những đề xuất kiến nghị, tuy nhiên về nội dung liên quan đến thiệt hại của người chăm sóc người có sức khỏe bị xâm phạm thì chưa được đề cập đến một cách đầy đủ nhất
- Bài báo, tạp chí:
Trong bài viết: “Những hạn chế và bất cập trong việc xác định thiệt hại khi sức khoẻ bị xâm phạm theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành”của
tác giả Nguyễn Văn Hợi đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, số 14-2011, tác giả
cũng đã phân tích những nội dung còn bất cập của những quy định của pháp luật hiện nay liên quan đến nội dung những thiệt hại được xác định do sức khỏe bị xâm phạm Tuy nhiên về phần nội dung liên quan đến thiệt hại của người chăm sóc người có sức khỏe bị xâm phạm thì chưa được tác giả đề cập đến
Trong bài viết: “Quyền bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể trong pháp luật dân sự” của tác giả Phùng Thị Tuyết Trinh trích từ Kỷ yếu tọa đàm
Trang 12Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Nhà pháp luật Việt – Pháp,
năm 2011: tác giả cũng đã đề cập đến nội dung quyền được bảo đảm về sức khỏe là một trong những quyền liên quan đến nhân thân đã được pháp luật bảo vệ và người
có hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác, ngoài việc có thể phải chịu chế tài của pháp luật hình sự thì còn phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật Tuy nhiên tác giả cũng đã không đi sâu phân tích những thiệt hại cụ thể cần phải được bồi thường
Ngoài ra, còn có một số bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm được đăng tải trên các tạp chí nghiên cứu khoa học khác nhau Tuy nhiên để có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về thiệt hại được bồi thường của người chăm sóc người có sức khỏe bị xâm phạm thì tác giả chưa phát hiện ra
3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong các quy định về BTTH ngoài hợp đồng thì thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là một trong những nội dung quan trọng và mang tính phổ biến nhất vì tính đặc thù của nó và thực tiễn pháp lý, Tòa án cấp cấp thường áp dụng để giải quyết tranh chấp
Trong phạm vi của đề tài với tính chất của chuyên ngành khoa học ứng dụng, tác giả đề cập đến nội dung liên quan đến “thiệt hại được bồi thường của người chăm sóc người bị thiệt hại” Trên cơ sở của những quy định pháp luật và thực tiễn
áp dụng pháp luật mà điển hình là các bản án xét xử của Tòa án các cấp trên phạm
vi cả nước sẽ cho ta có cái nhìn rõ hơn về những ưu điểm cũng như những tồn tại, hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu, từ đó đề xuất những giải pháp để hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến nội dung của đề tài cần nghiên cứu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của đề tài này, tác giả chỉ đề cập đến nội dung liên quan đến
“thiệt hại được bồi thường của người chăm sóc người bị thiệt hại” Trên cơ sở của những quy định pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật của Tòa án các cấp trong hoạt động xét xử, những bài viết, công trình nghiên cứu khoa học của các chuyên gia, học giả hàng đầu trong lĩnh vực pháp luật có uy tín, các tài liệu, giáo trình giảng dạy của các giáo sư tiến sĩ Luật học trên phạm vi cả nước cho ta có cái nhìn rõ hơn về những ưu điểm cũng như những tồn tại, hạn chế bất cập trong quá
Trang 13trình áp dụng pháp luật liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu, từ đó đề xuất những giải pháp để hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến nội dung của đề tài cần nghiên cứu
Về nội dung, tác giả chỉ nghiên cứu về thiệt hại được bồi thường của người chăm sóc người có sức khỏe bị xâm phạm, trong mối quan hệ tổng thể về bồi thường vật chất do sức khỏe bị xâm phạm theo pháp luật Việt Nam, thiệt hại được bồi thường của người chăm sóc người có sức khỏe bị xâm phạm, trong quá trình người bị thiệt hại phải điều trị và sau điều trị và cần phải có người chăm sóc
4 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm giúp cho việc nghiên cứu đề tài đạt được kết quả tốt nhất, tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, cụ thể:
Ở Chương I, tác giả sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu đó là phương pháp phân tích, tổng hợp Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích để làm rõ những quy định của pháp luật liên quan đến nội dung: “Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại” Trong đó tập trung phân tích những quy định của pháp luật hiện nay liên quan đến phần chi phí ăn ở, đi lại cũng như cách tính thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại được bồi thường Bên cạnh đó tác giả đã tổng hợp những bản án, quyết định mà Tòa
án các cấp đã xét xử từ trước đến nay liên quan đến nội dung này, để từ đó chỉ ra những hạn chế bất cập và cần phải có sự sửa đổi, bổ sung hoặc hướng dẫn trong thời gian tới
Ngoài ra tác giả cũng sử dụng phương pháp so sánh nhằm để đối chiếu về cùng một nội dung, một vấn đề mà có sự vận dụng và giải quyết khác nhau giữa các cấp Tòa án trên phạm vi cả nước Từ đó để đi đến kết luận rằng đã không có sự thống nhất về quan điểm, về nhận thức về cùng một vấn đề giữa các cấp Tòa án xuất phát từ việc pháp luật có những quy định chưa rõ ràng Từ đó có những đề xuất, kiến nghị về việc cần thiết phải ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật mới cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay
Phương pháp chứng minh cũng được tác giả vận dụng trên bình diện thực tiễn việc áp dụng pháp luật của các Tòa án các cấp và những gì mà thực tiễn cuộc sống đang diễn ra Từ đó để chứng minh cho nhận định của mình rằng, cuộc sống
đã có rất nhiều sự thay đổi nhưng pháp luật thì chưa được sửa đổi kịp thời cho phù hợp với thực tiễn và cần phải có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình
Trang 14Ở Chương II, tác giả cũng sẽ sử dụng phương pháp phân tích để làm sáng tỏ những quy định của pháp luật về nội hàm của những quy định liên quan đến nội dung “Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại trong trường hợp sau khi điều trị người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc”, nhằm làm rõ những ý tưởng của các nhà làm luật trong việc ban hành các quy định về điều kiện được bồi thường và các khoản được bồi thường của người chăm sóc người có sức khỏe bị thiệt hại mà sau khi điều trị, dẫn đến mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc Ở chương này tác giả cũng sẽ dùng phương pháp chứng minh bằng việc dẫn chứng các bản án mà Tòa án các cấp
đã xét xử về các khoản thiệt hại được bồi thường, cũng như số người chăm sóc được bồi thường, sau khi điều trị Từ đó chỉ ra được giữa những quy định của pháp luật và thực tiễn xét xử đang tồn tại những bất cập và cần phải sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng
Việc nghiên cứu đề tài sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn tổng quan về thiệt hại được bồi thường của người chăm sóc người bị thiệt hại ở góc độ học thuật và có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn Về mặt lý luận cho chúng ta có cái nhìn rõ hơn
về mặt tư duy mà các nhà làm luật đặt ra vấn đề về thiệt hại được bồi thường của người chăm sóc người bị thiệt hại với những khoản thiệt hại mà các nhà làm luật đã
dự liệu và dựa trên những tổng kết thực tiễn trong hoạt động áp dụng pháp luật Từ đó đặt ra vấn đề cấp thiết về việc các cơ quan hướng dẫn áp dụng pháp luật mà cơ quan chủ trì thực hiện đó là TAND tối cao cần ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật mới hoặc sự cần thiết phải lựa chọn và ban hành án lệ để phục vụ cho hoạt động xét xử và có sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật trên phạm vi cả nước
Về mặt thực tiễn việc nghiên cứu đề tài sẽ giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng nhìn thấy được những điểm phù hợp và chưa phù hợp của những quy định của pháp luật, từ đó sẽ có những đề xuất kiến nghị trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật
6 Các vấn đề dự kiến cần giải quyết
Tác giả dự kiến phát triển đề tài thành hai chương, chương một đề cập những nội dung liên quan đến chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị theo pháp luật Việt Nam
Tại chương hai tác giả đề cập đến nội dung chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại trong trường hợp sau khi điều trị người bị thiệt hại mất khả năng
Trang 15lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc, trong đó tác giả sẽ đề cập đến hai nội dung quan trọng là thời hạn được bồi thường và số người chăm sóc người bị thiệt hại được bồi thường
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn còn được chia thành hai chương:
Chương 1 Chi phí hợp lý và thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc
người bị thiệt hại
Chương 2 Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại sau khi điều
trị mà người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc
Trang 16CHƯƠNG 1 CHI PHÍ HỢP LÝ VÀ PHẦN THU NHẬP THỰC TẾ BỊ MẤT CỦA
NGƯỜI CHĂM SÓC NGƯỜI BỊ THIỆT HẠI
1.1 Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị
1.1.1 Bất cập của quy định pháp luật về chi phí chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị
Đối với người bị thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm họ phải nằm viện để được điều trị, cứu chữa, thời gian đó dài hay ngắn là tùy thuộc vào tình trạng, mức
độ nghiêm trọng của việc sức khỏe bị xâm phạm, có người suốt đời họ phải gắn liền với những ngày tháng nằm viện với sự đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần, thậm chí sau khi điều trị ở bệnh viện khi trở về với gia đình phải tiếp tục điều trị với bao nhiêu tốn kém về công sức tiền của, mà sức khỏe cũng không thể hồi phục được Điều đó không chỉ gây thiệt hại cho chính bản thân họ mà còn cho những người đã trực tiếp chăm sóc họ trong thời gian họ phải nằm viện để điều trị
Do đó pháp luật đã dự liệu và có những quy định để người chăm sóc người
bị thiệt hại sẽ được bồi thường những khoản tiền để bù đắp phần nào những thiệt hại mà họ phải gánh chịu Từ khi BLDS đầu tiên của nước ta đó là BLDS năm
1995 ra đời, những quy định về thiệt hại được bồi thường của người chăm sóc người bị thiệt hại cũng đã được quy định khá chi tiết Điều đó đã tạo hành lang pháp lý cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết các vụ án liên quan đến yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được tiến hành một cách đầy đủ và toàn diện hơn, một phần nào đó đã đáp ứng được yêu cầu thực tiễn cuộc sống đang đặt ra
BLDS 2005 ra đời, phần nào đã đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước trong tình hình mới, nền kinh tế xã hội của Việt Nam đã có những chuyển biến và thay đổi mạnh mẽ, đó là những yếu tố của nền kinh tế thị trường phát triển năng động cùng với nhiều thành phần kinh tế củng phát triển và vận hành theo cơ chế thị trường Từ đó tư duy về pháp luật dân sự cũng thay đổi theo, trong đó có tư duy về BTTH ngoài hợp đồng nói chung và thiệt hại về sức khỏe nói riêng đã có sự thay đổi trong điều kiện của nền kinh tế thị trường mà ở đó khái niệm về hàng hóa,
về giá trị của sức lao động đã có những thay đổi rất nhanh chóng, đó là xu hướng chung của thời đại buộc chúng ta phải thay đổi
Trang 17Tuy nhiên trong quá trình phát triển đó cũng cần phải tính đến những yếu tố đặc thù của Việt Nam về điều kiện kinh tế xã hội, trình độ dân trí, thu nhập của dân
cư, đạo đức, phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa của người Việt Nam và với một nguyên tắc đã được pháp luật quy định là thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ
và kịp thời, trên tinh thần là tính đúng, tính đủ những thiệt hại đã xảy ra trên thực tế
Lần đầu tiên BLDS năm 2005 đã liệt kê các khoản bồi thường mà người chăm sóc người bị thiệt hại được hưởng được quy định một cách khá chi tiết tại điều 590 của BLDS
Và để cụ thể hóa những điều khoản cơ bản đó, TAND Tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2006 để hướng dẫn những quy định về BTTH ngoài hợp đồng nói chung và thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm nói riêng, trong đó có những quy định
về các khoản thiệt hại mà người chăm sóc người bị thiệt hại được bồi thường nói riêng Tuy nhiên thời gian đến nay đã gần 15 năm với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam đã có rất nhiều sự thay đổi thì những nội dung của Nghị quyết số 03/2006
đã không còn phù hợp với thực tế Những quy định này vẫn mang tính cứng nhắc và mang nặng tư tưởng của nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp và có nhiều quy định đã không còn phù hợp với thực tế So với BLDS năm 2005 thì những quy định
về thiệt hại được bồi thường của người chăm sóc người bị thiệt hại của BLDS năm
2015, về cơ bản cũng không có nhiều thay đổi
Điều đó đòi hỏi TAND tối cao sự cấp thiết phải ban hành Nghị quyết mới hướng dẫn điều 590 của BLDS năm 2015 để thay thế cho Nghị quyết 03/2006, về mặt nguyên tắc là đã không còn hiệu lực thi hành, hoặc sự cần thiết có những bản
án mang tính điển hình, mẫu mực và đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của Luật để dùng làm án lệ áp dụng cho hệ thống Tòa án các cấp
BLDS năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 tại điểm
c khoản 1 điều 590 đã quy định: “Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; Nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại”
Đây là những quy định khung chỉ mang tính định tính và còn rất chung chung nên rất dễ dẫn đến việc tùy nghi trong việc áp dụng, điều đó đã dẫn đến một thực tế
là có sự vận dụng khác nhau giữa Tòa án các cấp trên phạm vi cả nước
Hiểu thế nào là hợp lý? lấy tiêu chí nào để quyết định rằng chi phí đó là hợp
lý, hợp lý có phải là phải có toa vé, chứng từ theo quy định của pháp luật hay sự
Trang 18hợp lý theo lý lẽ, sự phù hợp với thực tiễn, xu hướng chung và mọi người đang áp dụng Người này có thể cho rằng đó là hợp lý nhưng người khác thì không và hợp lý hay không thì phải áp dụng vào từng trường hợp khách quan, cụ thể
Đây là vấn đề thực tiễn pháp lý đang đặt ra và cần có một quy chuẩn, hay một chuẩn mực nào đó nhất định
Hiện nay Tòa án các cấp vẫn phải áp dụng những hướng dẫn tại Nghị quyết
số 03/2006/ NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 của HĐTP TAND Tối cao về BTTH ngoài hợp đồng để giải quyết các vụ án về bồi thường thiệt hại do sức khỏe
bị xâm phạm, mặc dù trên thực tế đã không còn hiệu lực thi hành
Tại mục 1.3 của phần I của Nghị quyết có quy định chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị, trong đó có:
Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm tiền tàu xe đi lại tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế
Quy định này đã cụ thể hóa những quy định tại điểm c khoản 1 điều 609 của BLDS năm 2005 Tuy nhiên hướng dẫn này đã thiếu tính bao quát và không còn phù hợp với điều kiện về mức sống và điều kiện đi lại hiện nay và trong một số trường hợp khi áp dụng vào từng vụ việc cụ thể thì phát sinh vướng mắc và cần phải
có quan điểm thống nhất Hiện nay việc đi lại rất đa dạng và phong phú về các loại phương tiện di chuyển khác nhau đi liền với đó là giá cả cũng rất khác nhau, đi kèm với đó là chất lượng dịch vụ cũng khác nhau
Việc lựa chọn phương tiện nào để đi lại chăm sóc người có sức khỏe bị thiệt hại nó còn tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh khách quan khi xảy ra việc gây thiệt hại và đi liền với đó là mức độ thương tích, tình trạng bệnh tật, sức khỏe của người
bị gây thiệt hại tại thời điểm bị xâm phạm và suốt cả quá trình điều trị
Trong một số trường hợp việc đi lại, thời gian, quãng đường di chuyển sẽ quyết định rất lớn đến việc cứu chữa và tính mạng của người bị thiệt hại Trong những tình huống nguy nan tính mạng của người bị thiệt hại có thể bị đe dọa bất
cứ lúc nào thì người chăm sóc cho người bị thiệt hại sẽ không có nhiều sự lựa chọn trong việc quyết định phương tiện đi lại, điều cần nhất của họ lúc này là bằng tất cả những gì nhanh nhất có thể và có thể làm bất cứ điều gì để đưa người bị thiệt hại đến bệnh viện để được cứu chữa kịp thời, trong những tình huống như
Trang 19vậy pháp luật cũng cần có những quy định mang tính linh hoạt để có những quyết định hợp tình, hợp lý
Ngoài ra cũng cần phải hiểu đúng về khái niệm tiền tàu xe đi lại, đi lại có phải chỉ là một lần đi từ nhà đến bệnh viện và từ bệnh viện trở về nhà hay không, bởi vì trên thực tế trong quá trình chăm sóc cho người bị thiệt hại thì người chăm sóc cũng cần có nhu cầu đi lại họ không thể suốt ngày chỉ ở bên cạnh người bệnh, việc đi lại là một nhu cầu cần thiết của con người Trên thực tế đã phát sinh những trường hợp có những người bị thương tích hoặc tổn hại sức khỏe rất nặng, nhất là trong các vụ án vi phạm các quy định về an toàn giao thông, các vụ án mà người gây thiệt hại đã có hành vi cố ý tước đoạt sinh mạng của người khác nhưng nạn nhân không chết hoặc các vụ cố ý gây thương tích, thông thường là nạn nhân bị thương tích rất nặng và những tổn thương rất nghiêm trọng và có thể bị cái chết đe dọa bất cứ lúc nào
Trong những trường hợp như vậy việc chữa trị cho họ đòi hỏi mất rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc, đôi khi thời gian nằm viện có thể lên đến hàng tháng trời, và như vậy thì người chăm sóc cho người bị thiệt hại không phải lúc nào cũng cận kề để chăm sóc cho người bị thiệt hại, một phần họ cũng mệt mỏi và cần có thời gian để nghỉ ngơi và cũng phải về với gia đình để chăm sóc cho con cái và giải quyết những công việc khác và sẽ có người khác thay họ Sau đó họ có thể trở lại để chăm sóc cho người bị thiệt hại và những lần “đi lại” như thế, liệu họ có được bồi thường chi phí hay không? Kể cả đối với người chăm sóc người bị thiệt hại thay cho họ?
Theo tác giả thì luật cũng cần quy định bồi thường tiền chi phí đi lại cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong suốt thời gian mà người bị thiệt hại phải nằm viện điều trị, chi phí chuyển viện, chi phí đi tái khám (nếu có), bỡi vì trong khoảng thời gian này người bị thiệt hại cũng rất cần sự giúp đỡ, chăm sóc của người khác Trên thực tế người bị thiệt hại không thể tự chăm sóc cho mình trong tình trạng sức khỏe không đảm bảo và sẽ phát sinh rất nhiều việc mà bản thân họ không thể tự giải quyết được
Cần phải có những quy định như vậy để tránh tình trạng có một số Tòa án chỉ chấp nhận chi phí đi lại cho người chăm sóc chỉ 01 lần đi và về là không thật
sự hợp lý
Hiện nay đa số trường hợp người chăm sóc cho người bị thiệt hại họ sẽ thuê
xe dịch vụ ở bên ngoài hoặc từ bệnh viện để chuyển người bị thiệt hại điều trị ở các tuyến bệnh viện cao hơn và phải trả tiền vận chuyển theo giá dịch vụ của thị trường vận tải Như vậy vấn đề đặt ra là người chăm sóc người bị thiệt hại có được bồi
Trang 20thường tiền chi phí dịch vụ vận chuyển cùng với người bị thiệt hại theo giá thuê phương tiện thực tế hay không, tác giả nghĩ rằng pháp luật cần có những quy định
rõ về nội dung này
Ngoài ra việc Nghị quyết 03/2006 chỉ quy định bồi thường chi phí đi lại cho một trong những ngưởi chăm sóc người bị thiệt hại là cũng chưa thật sự hợp lý Như trên đã phân tích trong một số trường hợp khi người bị thiệt hại về sức khỏe với những chấn thương rất nặng có thể đe dọa đến tính mạng của họ thì không chỉ cần một người đi cùng để chăm sóc họ mà phải là từ hai thậm chí nhiều hơn, như vậy đặt ra vấn đề chỉ một người được bồi thường còn những người khác thì không như vậy thì có hợp lý hay không?
Đối với quy định về tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) Vấn đề đặt ra ở đây là thế nào là “Tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương” Hiện nay giá nhà trọ rất đa dạng tùy vào chất lượng, điều kiện phục vụ, có những loại nhà trọ với chi phí rất thấp đi kèm với chất lượng dịch vụ cũng không cao như nhà trọ dành cho công nhân những người lao động nghèo với những điều kiện trang bị tối thiểu nhất, chỉ có thể được trang bị quạt máy và không có máy điều hòa nhiệt độ, liệu rằng người chăm sóc cho người
bị thiệt hại có thể ăn ở và sinh hoạt trong điều kiện như vậy có được không? trong điều kiện cuộc sống hiện nay đã có nhiều thay đổi và đời sống của một đại bộ phận người dân đã được nâng lên đáng kể Quy định như hiện nay là mang tính cào bằng
tế là trong điều kiện người chăm sóc người bị thiệt hại phải làm việc trong môi trường vất vả cực nhọc và độc hại mà phải nghỉ ngơi trong điều kiện không thoải mái và thiếu những tiện nghi cần thiết, điều đó sẽ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của chính bản thân họ
Cách xác định tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình cũng là một nội dung cần xem xét, cách tính giá trung bình được xác định như thế nào, lấy gì làm tiêu chuẩn
Trang 21Trong phần chi phí này văn bản hướng dẫn chỉ đề cập đến tiền tàu xe đi lại, chi phí thuê nhà trọ mà không đề cập gì đến chi phí cho việc ăn uống hàng ngày và những chi phí sinh hoạt khác, chẳng lẽ người chăm sóc người bị thiệt hại không có nhu cầu ăn uống hay sao Đối với một con người nhu cầu đi lại và chổ ngủ chỉ là một phần trong những nhu cầu tối thiểu cần có Tác giả cho rằng Nghị quyết 03/2006 đã không quy định một cách đầy đủ, chi tiết những khoản thiệt hại mà người chăm sóc cho người bị thiệt hại phải bỏ ra Sau đây có thể tham khảo cách vận dụng và áp dụng pháp luật để giải quyết từng vụ việc cụ thể của Tòa án các cấp trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Vụ việc thứ nhất: Trên thực tế có những bản án chỉ xác định một cách chung
chung tiền công cho ngưởi chăm sóc người bị thiệt hại nhưng không nói rõ tiền đó bao gồm những khoản nào, như tại bản án số 44/2007/DSPT ngày 16/4/2007 của TAND
chỉ ghi là tiền công người chăm sóc 10 ngày x 30.000 đ = 300.000đ
Nhận xét: Án tuyên như vậy là không thật sự rõ ràng, cụ thể và không đúng
về mặt thuật ngữ pháp lý, đó phải gọi là bồi thường thiệt hại phần chi phí cho người người chăm sóc người bị thiệt hại và chi phí đó sẽ bao gồm nhiều khoản khác nhau, không đơn thuẩn chỉ là tiền công chăm sóc Ngoài ra mức bồi thường này là quá thấp và hoàn toàn không tương xứng với những gì mà người chăm sóc người bị thiệt hại đã bỏ ra
Vụ việc thứ hai: Tương tự như vậy là tại bản án số 04/2014/DS- ST ngày
Thị Hồng Rạng, Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Văn Cường phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho nguyên đơn với tổng số tiền là 5.394.541đ, trong đó
có 400.000đ “tiền nuôi bệnh”
Nhận xét: Khái niệm“ tiền nuôi bệnh” hoàn toàn không có trong Luật và các
văn bản, thực tế đây là khoản tiền chi phí cho người chăm sóc người bị thiệt hại, do đó việc các Tòa án sử dụng thuật ngữ tiền nuôi bệnh là không chính xác và bản án cũng không nói rõ tiền này là tiền gì đó có thể là tiền tàu xe đi lại, tiền chi phí thuê nhà trọ, tiền ăn uống hay là tiền công lao động cho người chăm sóc người bị thiệt hại?
Án tuyên như vậy là có thiếu sót và ảnh hưởng đến quyền lợi của người chăm sóc người bị thiệt hại
Trong một số trường hợp Tòa án cũng có thể xem xét chấp nhận tiền chi phí chăm sóc cho người bị thiệt hại thông qua hợp đồng thuê người chăm sóc trong
3 Bản án số 44/2007/DSPT ngày 16/4/2007 của TAND tỉnh DAKLAK
4
Bản án số 04/2014/DS-ST ngày 05/3/2014 của TAND Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 22trường hợp do điều kiện khách quan người thân của người bị thiệt hại không thể chăm sóc cho người bị thiệt hại mà cần phải thuê người chăm sóc thì căn cứ vào giá thuê thực tế để bồi thường cho người bị thiệt hại như tình huống sau
Vụ việc thứ ba: bản án số 11/2017/DS-ST ngày 06/09/2017 của TAND
M trong thời gian chị M nhập viện là 4.290.000đ”
Ngoài khoản tiền chi phí nuôi chị M bản án còn chấp nhận khoản tiền thuê
người nuôi, chăm sóc con nhỏ của chị M trong thời gian chị M nhập viện là 4.290.000đ
Nhận xét: án tuyên như vậy là hợp lý phù hợp với thiệt hại thực tế đang xảy
ra mà trên thực tế pháp luật đã không quy định, điều đó cho thấy các Tòa án đã có
sự linh hoạt nhất định trong hoạt động xét xử của mình và điều này là phù hợp với thực tiễn và sẽ được dư luận ủng hộ
Thông thường thì những người thân thuộc trong gia đình sẽ là những người trực tiếp trong việc chăm sóc cho người bị thiệt hại, vì đó là vấn đề của tình cảm, đạo đức xã hội và truyền thống của người Việt Nam ta Tuy nhiên vì những hoàn cảnh khách quan ngoài ý muốn nên họ phải thuê người khác chăm sóc cho người thân của mình và việc pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường đúng với chi phí
mà họ đã thuê người chăm sóc là phù hợp và hoàn toàn có thể chấp nhận được
Ngoài ra Nghị quyết cũng quy định là chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc người bị thiệt hại, tại sao lại khống chế chỉ chi trả tiền bồi thường chi phí cho một trong những người đi chăm sóc người bị thiệt hại, còn những người còn lại thì sao, lý do gì mà họ không được bồi thường?
Trên thực tế trong một số trường hợp do tình hình sức khỏe, thương tích của người bị thiệt hại ở mức rất nghiêm trọng và gần như mọi sinh hoạt cá nhân của họ phải dựa hoàn toàn vào sự chăm sóc của người khác, chưa nói đến hiện nay chất lượng khám chữa bệnh và chất lượng phục vụ bệnh nhân của các cơ sở y tế ở Việt Nam ta vẫn còn rất thấp và rất cần sự phục vụ của người thân và gia đình người bị thiệt hại, từ việc chăm sóc, nuôi dưỡng đến phải liên hệ với các cơ sở điều trị, trong việc làm các thủ tục hành chính trong thời gian nằm viện
1.1.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chi phí cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị
Qua phân tích những nội dung mà BLDS năm 2015 cũng như nghị quyết
03/2006 đã quy định về: “Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại
5
Bản án số 11/2017/DS-ST ngày 06/9/2017 của TAND huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam
Trang 23trong thời gian điều trị” cũng như qua thực tiễn xét xử thông qua các bản án mà
Tòa án các cấp đã xét xử trong thời gian vừa qua, như vừa phân tích, bản thân tác giả xin có những kiến nghị như sau:
Trong thời gian tới khi ban hành nghị quyết mới để thay thế cho NQ 03/2006 TAND Tối cao cần có bổ sung những quy định cụ thể như sau:
Đối với tiền chi phí đi lại: Cần phải quy định cụ thể chi phí đi lại bao gồm những khoản bao gồm: Tiền chi phí đi lại do phải đưa người bị thiệt hại đến nơi cấp cứu dựa trên chi phí thực tế mà người chăm sóc đã chi trả Tùy vào mức độ nghiêm trọng của thương tích cũng như về điều kiện phương tiện đi lại từ nơi xảy ra thiệt hại đến nơi người bị thiệt hại điều trị để quyết định về các khoản chi phí theo thị trường vận tải công cộng hoặc chi phí thực tế cần phải chi trả
Tiền chi phí đi lại khi phải cần thiết di chuyển từ nơi chăm sóc người bị thiệt hại để về nơi sinh sống của người chăm sóc trong trường hợp người bị thiệt hại phải điều trị trong dài ngày và người chăm sóc cần phải về nhà để giải quyết những công việc cá nhân và gia đình
Tiền chi phí đi lại trong thời gian người bị thiệt hại tái khám, tái điều trị bệnh theo yêu cầu của Bác sỹ mà trong trường hợp người bị thiệt hại không thể tự đi mà cần phải có người chăm sóc đi cùng
Tiền chi phí ăn, uống, sinh hoạt hợp lý trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại, tùy vào điều kiện thực tế về chi phí, giá cả sinh hoạt nơi người bị thiệt hại đang điều trị nhưng không quá 150.000 đ/người/ ngày
Tiền chi phí dùng cho việc phải thuê nơi ở(nên bỏ từ chi phí thuê nhà trọ) trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại, tùy vào điều kiện thực tế về chi phí, giá cả sinh hoạt nơi người bị thiệt hại đang điều trị nhưng không quá 300.000 đ/người/ ngày
1.2 Phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị
1.2.1 Bất cập của pháp luật về thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị
Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2006 thì: “Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có thu nhập ổn định thực tế từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất”
Trang 24Bản thân tác giả cho rằng quy định này là chưa đầy đủ vẫn mang nặng tính bao cấp và quá đặt nặng vấn đề người chăm sóc người bị thiệt hại là công chức nhà nước và những ngưởi làm công ăn lương mà không xem xét đến trong nền kinh tế thị trường với sự đa dạng phong phú của các ngành nghề, lĩnh vực, của thị trường lao động, người chăm sóc người bị thiệt hại là những người kinh doanh, là những ông chủ của các doanh nghiệp hoặc những người làm các công việc dịch vụ với thu nhập rất cao và đây là xu hướng chung của thời đại, ví dụ như những người làm dịch vụ môi giới chứng khoán, môi giới bất động sản, dịch vụ tư vấn pháp luật, những người hành nghề luật sự…
Ngoài ra trên thực tế một bộ phận lớn người dân Việt Nam làm việc và tạo ra thu nhập trong các ngành nghề tự do mà không hưởng lương từ ngân sách hoặc từ tiền công lao động Do phải chăm sóc người bị thiệt hại mà bị mất thu nhập thì sẽ được xem xét bồi thường như thế nào, đây cũng là vấn đề phát sinh trên thực tế mà pháp luật chưa quy định Nếu trong trường hợp vì phải chăm sóc cho người bị thiệt hại mà phải bỏ lỡ một hợp đồng, một cơ hội kinh doanh với những khoản lợi nhuận, những khoản thu nhập bị mất hoặc không thể giao hàng đúng hạn cho đối tác hay vi phạm hợp đồng đã ký kết và họ chứng minh được thiệt hại thì có được bồi thường hay không? Đây là điều hoàn toàn có thể xảy ra trên thực tế, vì đa số trường hợp người trực tiếp chăm sóc cho người bị thiệt hại nhất là trong khoảng thời gian từ khi xảy ra việc gây thiệt hại đến khi người bị thiệt hại nhập viện để điều trị, là những người có quan hệ thân thích nhất với người bị thiệt hại như cha mẹ với con cái, ông
bà với con cháu và ngược lại Truyền thống của người Việt Nam ta rất xem trọng tình thương, mối quan hệ huyết thống, tình cảm gia đình, vào thời điểm ranh giới giữa sự sống và cái chết là mong manh, họ không nghĩ điều gì khác ngoài việc kịp thời cứu chữa chăm sóc cho những người thân yêu của mình, chấp nhận bỏ lại sau lưng tất cả những công việc còn dang dỡ, dù việc đó có thể gây thiệt hại cho họ không nhỏ về mặt kinh tế Đây là điều mà pháp luật cũng cần phải xem xét đến
Cần phải thay đổi cách tư duy trong một điều kiện hoàn toàn mới mà ở đó lao động là một loại hàng hóa đặc biệt trong thị trường sức lao động hết sức sôi động và thay đổi nhanh chóng như hiện nay Đây có lẽ là khoảng trống của pháp luật bởi vì thu nhập của một người không phải chỉ xuất phát từ tiền lương và tiền công lao động mà nó có thể xuất phát từ hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là trong điều kiện xã hội phát triển như hiện nay, làm việc trong các cơ quan nhà nước hoặc làm công ăn lương đơn thuần không còn là một xu hướng lựa chọn của đa số người nữa,
Trang 25nhất là trong điều kiện mà xã hội đang khuyến khích mọi người với tinh thần khởi nghiệp hãy đầu tư trong lĩnh vực kinh doanh, sản xuất, dịch vụ để làm giàu cho bản thân và xã hội và tạo việc làm cho những người khác
Có thể thấy thị trường lao động hiện nay gắn liền với nền kinh tế của thời đại số, thời đại công nghiệp 4.0 với sự phát triển rất đa dạng của mọi ngành nghề, lĩnh vực có thể tạo ra thu nhập, nhất là trong các lĩnh vực dịch vụ, do đó pháp luật cũng cần có những dự liệu cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống đang đặt ra Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định, nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 06 tháng liền kề (nếu chưa đủ 06 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất
Ngoài ra với quy định này rất khó cho hoạt động xét xử của Tòa án bởi vì trên thực tế trong một số trường hợp việc xác định thu nhập của người dân hiện nay
là không hề dễ dàng với việc đa số người dân Việt Nam đều làm việc trong lĩnh vực không chính thức và việc công khai tiền lương, thu nhập đôi khi cũng là một vấn đề hết sức tế nhị và nhạy cảm, đối với một xã hội dùng tiền mặt như Việt Nam Ngoài
ra đối với những người làm công việc kinh doanh mua bán, đầu tư, dịch vụ thì việc xác định thu nhập của họ được tính như thế nào, có lẽ pháp luật cần có những quy định một cách linh hoạt thích ứng với một nền kinh tế thị trường đầy năng động và
đa dạng như hiện nay
Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại không có việc làm hoặc có tháng làm việc có tháng không và do đó không có thu nhâp ổn định thì được hưởng tiền công chăm sóc bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú
Việc pháp luật quy định bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật ở địa phương là quá thấp và không phù hợp với thực tế, không đủ
để bù đắp và không tương xứng với những thiệt hại thực tế mà họ phải gánh chịu Trong một số trường hợp chăm sóc cho người bị thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm còn vất vả và cực nhọc hơn nhiều so với người tàn tật vì mức độ thương tật, bệnh tình của họ, nhất là đối với các nạn nhân trong các vụ án tai nạn giao thông, mà bản thân họ không tự chăm sóc được cho mình với những nhu cầu tối thiểu nhất
Ngoài ra lấy tiền công chăm sóc người tàn tật làm cơ sở cho việc bồi thường
ở đây được hiểu là tiền công được tính ở các trung tâm chăm sóc người tàn tật của
Trang 26địa phương hay là ở cộng đồng dân cư Trong trường hợp ở địa phương không có cơ
sở chăm sóc người tàn tật thì sẽ được tính toán như thế nào
Việc pháp luật có những quy định cứng nhắc như vậy giống như mà một sự mặc định rằng người chăm sóc cho người bị thiệt hại cần phải thực hiện công việc
mà họ cần phải làm để rồii được pháp luật quy định trả cho một khoản tiền công chăm sóc với những tính toán rất chi li và cụ thể và không có sự lựa chọn nào khác
Tác giả cho rằng quy định như vậy là thiếu tính nhân văn và phần nào đó là tạo kẻ hở cho những kẽ dã tâm và có dụng ý xấu, gây ra sự bất an cho xã hội
Nếu trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại người chăm sóc vẫn được cơ quan người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không bị mất thu nhập thực tế và do đó không được bồi thường
Theo tác giả, quy định như vậy thì không khác nào là pháp luật đã buộc các
cơ quan Nhà nước, người sử dụng lao động phải bồi thường thay cho người đã gây
ra thiệt hại, điều này là không hợp lý, bỡi vì về nguyên tắc người nào gây thiệt hại thì ngưởi đó phải bồi thường và trong trường hợp người chăm sóc cho người bị thiệt hại phải nghỉ việc để chăm sóc cho người bị thiệt thì chính doanh nghiệp và người
sử dụng lao động là người bị thiệt hại và họ cũng yêu cầu người lao động phải làm
bù, hoặc những thiệt hại hữu hình khác như được khen thưởng, được nâng lương, được đề bạt ở vị trí cao hơn… do đó không thể quy định việc không tính phần mất thu nhập của người chăm sóc người bị thiệt hại vì họ đã được cơ quan, chủ sử dụng lao động đã trả lương cho họ
Trên thực tế đã có một số Tòa án đã linh hoạt trong việc vận dụng “Mức lương tối thiểu vùng” mà Chính phủ đã quy định để làm căn cứ cho việc xem xét mức bồi thường thu nhập thực tế bị mất cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong trường hợp không có căn cứ rõ ràng nào khác để tính thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại Có thể khảo sát vụ việc cụ thề sau đây
Vụ việc thứ năm: Thep Bản án số 48/2019/DSST ngày 27/11/2019 của TAND
đối với bị cáo Nguyễn Thanh Tùng về tội: “cố ý gây thương tích” và người bị hại là Huỳnh Thị An, theo đó Hội đồng xét xử đã quyết định lấy mức lương tối thiểu vùng đối với huyện An Phú là 2.920.000đ/tháng dùng làm căn cứ để bồi thường phần mất thu nhập của 01 người nuôi bệnh và 01 người bệnh trong thời gian nằm viện là 15 ngày bằng 01 tháng lương tối thiểu là 2.920.000đ
6
Bản án số 48/2019 ngày 27/11/2019 của TAND huyện An Phú, tỉnh An Giang
Trang 27Nhận xét: Tuy nhiên cách tính này cũng đang gây nhiều tranh cãi vì thiếu cơ
sở pháp lý và mức bồi thường này là quá thấp không phản ánh đúng thực tế về những thiệt hại mà người chăm sóc người bị thiệt hại phải gánh chịu trên thực tế
1.2.2 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị
- Thứ nhất: Qua phân tích những quy định của pháp luật nhất là hướng dẫn
của Nghị quyết 03/2006 và qua thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp tác giả xin kiến nghị trong thời gian tới khi ban hành Nghị quyết mới để thay thế cho Nghị quyết 03/2006 thì bên cạnh việc xác định thu nhập từ tiền lương, tiền công lao động thì cũng cần bổ sung cách xác định thu nhập bị mất khác dành cho các đối tượng và ngành nghề lao động khác nhau, đó là thu nhập có thể được tạo ra từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, từ các hoạt động dịch vụ các loại hình kinh tế khác của những người làm các nghề tự do, miễn là pháp luật không cấm
Ngoài ra cũng cần xem những thiệt hại hữu hình khác như những khoản thiệt hại mà người chăm sóc cho người bị thiệt hại bị mất phát sinh từ các hợp đồng kinh
tế, dân sự hoặc các khoản phải bồi thường cho đối tác là những khoản thu nhập bị mất mà người thiệt hại phải bồi thường cho người chăm sóc cho người bị hại Nếu trong trường hợp người chăm sóc chứng minh được thiệt hại
Tất nhiên những trường hợp này trên thực tế là không nhiều, tuy nhiên không phải là không có xảy ra và pháp luật cần phải dự liệu để tránh xảy ra những khoản trống của pháp luật và gây ra sự lúng túng nhất định cho việc áp dụng pháp luật
Trong trường hợp đã vận dụng tất cả các cách khác nhau nhưng không thể xác định một cách chinh xác để tính thu nhập bị mất thì có thể áp dụng mức lương tối thiểu vùng mà TAND huyện An Phú đã áp dụng để tính thu nhập bị mất
Cuối cùng kiến nghị cần nên bỏ quy định đối với trường hợp mà người chăm sóc người bị thiệt hại vẫn được cơ quan, doanh nghiệp, người sử dụng lao động trả lương thì không được bồi thường phần mất thu nhập, bỡi vì trong cuộc sống hiện nay không việc gì mà không có sự đánh đổi không cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động nào mà cho người lao động nghỉ việc mà lại không có sự tính toán đánh giá và ít nhiều sự đánh giá đó cũng làm ảnh hưởng đến bản thân người lao động và trên một nguyên tắc người nào gây thiệt hại thì người đó phải bồi thường không thể
có việc người khác gánh vác thay cho họ
- Thứ hai: Theo tác giả cho rằng pháp luật cần có những quy định mang tính
linh hoạt hơn trong việc quy định Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt
Trang 28hại trong thời gian điều trị được bồi thường theo quy định của pháp luật, không phải trong mọi trường hợp đều được tính theo kiểu bình quân chi trả cho một người lao động bình thường trong những điều kiện bình thường nhất và xem họ như là những người tầng lớp bình dân được nhận những khoản bồi thường ở mức tối thiểu Vì những điều kiện không mong muốn mà họ phải bỏ thời gian công việc và gia đình
để sống trong những điều kiện sinh hoạt ở mức tối thiểu nhất để rồi nhận được những khoản tiền bồi thường ít ỏi xem như là những khoản chi phí tối thiểu dành cho họ, đây là điều không công bằng đối với họ và điều này trái với nguyên tắc của nội dung bồi thường thiệt hại, đó là phải đầy đủ và kịp thời Đối với người chăm sóc người bị thiệt hại vấn đề không đơn giản là cuộc sống của chính họ mà còn là cuộc sống của cả gia đình họ, nhất là đối với những người là lao động chính họ còn phải
có trách nhiệm nuôi sống đối với gia đình
Ngoài những thiệt hại hữu hình có thể cân đong đo đếm được còn có những thiệt hại vô hình khác, đây là điều pháp luật cũng cần phải cân nhắc Chưa kể đến việc chăm sóc người bị thiệt hại ở các cơ sở y tế hiện nay cần được xem là loại lao động đặc biệt trong môi trường độc hại, nhất là đối với những người có thương tích hoặc bệnh nặng rất dễ bị lây nhiễm và trong chuyên môn của ngành y tế họ gọi là nhiễm khuẫn bệnh viện, chưa kể đến việc họ phải thức khuya dậy sớm và làm những công việc vất vả bất kể ngày đêm để chăm sóc cho người bị thiệt hại
Tất cả đều phải được tính trên nguyên tắc của nền kinh tế thị trường, thiệt hại bao nhiêu thì phải được tính bấy nhiêu, không thể để cho việc chăm sóc cho người
bị thiệt hại sẽ trở thành gánh nặng cho người chăm sóc và dẫn đến sự khánh kiệt về mặt kinh tế và ảnh hưởng đến sinh kế của bản thân và gia đình họ trong điều kiện
mà cuộc sống và mưu sinh của mọi người hiện nay đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và phải cạnh tranh gay gắt để sinh tồn
Luật cần có những quy định để các Tòa án xem xét quyết định mức bồi thường dựa trên thiệt hại thực tế đã xảy ra, tùy vào mức độ thiệt hại của người bị thiệt hại hay nói một cách khác giữa thiệt hại của người bị thiệt hại và người chăm sóc người bị thiệt hại có mối quan hệ qua lại biện chứng với nhau, mức độ thiệt hại
về sức khỏe của người bị thiệt hại càng cao thì thiệt hại của người chăm sóc người
bị thiệt hại càng lớn và ngược lại Thiệt hại đó có những trường hợp không đơn thuần chỉ là sự cân đong đo đếm bằng tiền của những ngày công lao động, tiền chi phí đi lại ăn ở mà có thể là những khoản thu nhập từ những cơ hội kinh doanh mà
họ phải mất đi hoặc những khoản thu nhập hợp pháp khác mà họ có thể có được nếu
Trang 29không phải chăm sóc người bị thiệt hại, đó còn là sự khủng hoảng về mặt tâm lý, tinh thần và sức khỏe bị giảm súc của chính người chăm sóc cho người bị thiệt hại, nếu họ phải ở cùng bệnh viện để chăm sóc cho người bị thiệt hại trong một khoảng thời gian dài, nhất là những người có mối quan hệ huyết thống trong cùng một gia đình Ngoài ra pháp luật cũng cần có những quy định tính đến các yếu tố đặc thù về nghề nghiệp, địa vị xã hội của người chăm sóc người bị thiệt để có những quyết định chính xác, khách quan và toàn diện nhất
Trên thực tế, đa số người chăm sóc người bị thiệt hại là những người gần gủi thân thích nhất của người bị thiệt hại, điều đó nó xuất phát từ tình cảm, đạo đức, phong tục, tập quán truyền thống gia đình của người Việt Nam ta là họ muốn
tự mình chăm sóc cho người thân của mình trong những điều kiện hoàn cảnh khó khăn nhất Tuy nhiên cũng có thể vì một lý do nào đó mà họ không thể tự chăm sóc cho người thân của mình mà phải thuê người chăm sóc thì Tòa án cũng có thể căn cứ vào những hợp đồng này để giải quyết, với điều kiện hợp đồng đó phải được xem là những chứng từ hợp lệ, tuy nhiên không nhất thiết phải bằng văn bản, giấy tờ đối với những hợp đồng ngắn hạn không có giá trị lớn, đây là những nội dung mà pháp luật có thể dự liệu được và trên thực tế đã có những Tòa án giải quyết theo cách này
Trang 30KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Về mặt tư duy chúng ta nên đặt vấn đề trong điều kiện không ai mong muốn người thân của mình bị thiệt hại, để rồi phải chịu sự đau đớn về mặt tinh thần, rồi phải bỏ công ăn việc làm để chăm sóc cho người thân của mình để rồi mong được những khoản tiền bồi thường từ những người gây ra thiệt hại cho người thân của họ
Đối với tiền chi phí đi lại, tiền thuê nhà trọ TAND tối cao cũng cần có văn bản hướng dẫn theo một tư duy thông thoáng hơn không quá cứng nhắc theo một khuôn khổ nhất định mà cần phải có sự linh hoạt tùy vào điều kiện hoàn cảnh khách quan của quá trình điều trị người bị thiệt hại tính từ khi họ nhập viện điều trị cho đến khi xuất viện với những diễn biến của thương tật, tình trạng sức khỏe và quá trình điều trị
Vấn đề đặt ra cấp thiết hiện nay là TAND Tối cao cần ban hành Nghị quyết mới để thay thế cho Nghị quyết số 03/2006 đã không còn phù hợp với thực tiễn của cuộc sống đang đặt ra và ở góc độ khoa học pháp lý thì Nghị quyết này cũng không còn hiệu lực thi hành, khi mà BLDS năm 2005 cũng đã hết hiệu lực kể từ khi BLDS năm 2015, được Quốc hội thông qua và chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017
Nghị quyết mới cần phải bám vào thực tiễn cuộc sống đang diễn ra và đang thay đổi rất nhanh và đi liền với đó là pháp luật cũng đã có rất nhiều sự thay đổi,
ngoài ra cũng cần dự báo được xu hướng phát triển của xã hội trong tương lai
Ngoài ra việc có những quy định chặt chẽ như vậy giúp cho mọi người trong
xã hội cần phải cẩn trọng hơn trong mọi hành vi của mình, tránh gây thiệt hại đến sức khỏe của người khác dù là với lỗi vô ý hay cố ý
Việc này cũng góp phần giúp cho mọi người tôn trọng những quy tắc chuẩn mực chung trong hành vi ứng xử trong việc tôn trọng những chuẩn mực, những giá trị chung của đời sống xã hội, tôn trọng cộng đồng, thượng tôn pháp luật, góp phần ngăn chặn và phòng ngừa những vi phạm pháp luật trong cộng đồng dân cư, góp phần xây dựng cuộc sống văn minh, tiến bộ, giúp cho mọi người có được môi trường sống an lành, bình yên để yên tâm trong việc làm ăn làm giàu cho bản thân mình cho gia đình
và xã hội, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước
Trang 31CHƯƠNG 2 CHI PHÍ HỢP LÝ CHO VIỆC CHĂM SÓC NGƯỜI BỊ THIỆT HẠI SAU KHI ĐIỀU TRỊ MÀ NGƯỜI BỊ THIỆT HẠI MẤT KHẢ NĂNG LAO ĐỘNG
VÀ CẦN PHẢI CÓ NGƯỜI THƯỜNG XUYÊN CHĂM SÓC
2.1 Điều kiện để được bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người
bị thiệt hại sau khi điều trị
2.1.1 Thực trạng pháp luật về điều kiện người chăm sóc người bị thiệt hại được bồi thường
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 590 của BLDS năm 2015 quy định:
“Nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại” Theo quy định này, thì có 03 điều kiện để khoản chi phí này được hưởng bồi thường, đó là: (i) sau khi điều trị mà người bị thiệt hại mất khả năng lao động; (ii) cần phải có người thường xuyên chăm sóc; và (iii) có phát sinh chi phí chăm sóc và chi phí đó là hợp lý
Đây là những quy định khung và còn chung chung mang tính chất định tính
và điều đó đòi hỏi người áp dụng pháp luật phải căn cứ vào tình hình thực tế những gì đang diễn ra để có được những quyết định chính xác nhất Do đó sự cần thiết phải có những hướng dẫn cụ thể để có sự thống nhất cao trong vận dụng vào thực tiễn
Theo nội hàm của quy định này có ba vấn đề được đặt ra đó là trường hợp nào được xem là người bị thiệt hại mất khả năng lao động, vấn đề thứ hai là khái niệm thường xuyên chăm sóc được hiểu như thế nào và vấn đề còn lại là chi phí hợp
lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại được xem xét như thế nào
Người bị thiệt hại mất khả năng lao động được hiểu là lao động sản xuất tạo
ra thu nhập để nuôi sống bản thân họ và gia đình hay đơn thuần chỉ là lao động làm những công việc bình thường để phục vụ cho những nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của chính bản thân họ, đây là những vấn đề về mặt lý luận và cần có sự nhận thức một cách đúng đắn
Xét ở góc độ lý luận thì việc một người lao động để tạo ra thu nhập của cải để nuôi sống chính bản thân mình, cho gia đình và xã hội và lao động tay chân hằng ngày để đáp ứng cho những nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của cá nhân là hai câu chuyện hoàn toàn khác nhau và không thể nhầm lẫn
Trang 32Trên thực tế có những người trước khi bị gây thiệt hại về sức khỏe họ vẫn trong tình trạng khỏe mạnh, tham gia lao động sản xuất một cách bình thường, thậm chí là có thể gia lao động vào các lĩnh vực độc hại nguy hiểm hoặc những ngành nghề đòi hỏi nhiều về sự cơ bắp và sức khỏe dẻo dai, như công nhân trong các ngành sản xuất công nghiệp, hầm mỏ… để nuôi sống bản thân và cả gia đình họ Tuy nhiên sau khi bị gây thiệt hại về sức khỏe, mặc dù trên thực tế họ vẫn khỏe mạnh và đi lại, sinh hoạt bình thường, tuy nhiên để đòi hỏi cần phải làm những công việc nặng nhọc như trước đây thì họ không thể thực hiện được và theo thời gian sức khỏe cũng bị suy giảm dần Điều đó cũng đồng nghĩa cuộc sống của họ hoàn toàn phụ thuộc vào sự trợ cấp, giúp đỡ của người khác nhưng tỷ lệ suy giảm sức khỏe của họ không đáp ứng được tiêu chí mà luật đã quy định
Đến nay TAND tối cao vẫn chưa có văn bản hướng dẫn mới về nội dung này
và Tòa án các cấp vẫn phải vận dụng hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS năm 2005 về BTTH ngoài hợp đồng
để vận dụng vào thực tiễn xét xử
Tại mục 1.4 phần I của Nghị quyết đã quy định: “Trong trường hợp sau khi điều trị người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại”
Việc Nghị quyết 03/2006 quy định những trường hợp nào được xem là mất khả năng lao động là hoàn toàn dựa vào những tiêu chí khoa học do các cơ quan có thẩm quyền về mặt chuyên môn quy định mà ở đây cụ thể là Bộ y tế, TAND Tối hoàn toàn không đủ khả năng về chuyên môn và không có quyền đưa ra những quy định như vậy và phải tuân thủ những điều kiện mà pháp luật đã quy định và không thể làm khác được
Tuy nhiên trên thực tế có những trường hợp với mức độ tổn thương của cơ thể và tỷ lệ suy giảm khả năng lao động chỉ tiệm cận với mức mà pháp luật đã quy định như 79% hoặc 80%, tuy nhiên sức khỏe của họ cũng đã bị suy giảm một cách nghiêm trọng thì cũng cần phải có người thường xuyên chăm sóc cho họ nhưng người chăm sóc cũng không được bồi thường vì không đáp ứng được tiêu chí mà pháp luật đã quy định
Trang 33Trong những trường hợp như vậy thì pháp luật cũng cần có những quy định
hỗ trợ cho người chăm sóc cho người bị thiệt hại để phần nào bù đắp những thiệt hại, tổn thất cho họ
Ngoài ra nghị quyết quy định: “Những trường hợp khác do các cơ quan có thẩm quyền khác quy định” là những trường hợp nào và cơ quan nào có thẩm quyền quy định, cũng cần phải có những quy định cụ thể, tránh những suy diễn theo cảm tính chủ quan của những người áp dụng pháp luật
Như vậy BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 đã quy định rõ và Nghị quyết 03/2006 đã hướng dẫn rất cụ thể, nếu trong trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động, thì trong mọi trường hợp Tòa án phải quyết định việc bồi thường chi phí cho người chăm sóc người bị thiệt hại
Tuy nhiên thực tế xét xử đã có một số Tòa án đã “quên” mất quy định này và bản án đã tuyên là không đúng quy định của pháp luật và phải bị hủy để xét xử lại Sau đây là tình huống thực tế
Vụ việc thứ năm: theo Quyết định GĐT số 04/2010/HS-GĐT ngày 11/3/2010
về vụ án Trần Văn Sơn bị kết án về tội: “Cố ý gây thương tích”, quyết định đã hủy cả hai bản án đó là bản án hình sự sơ thẩm số 86//2006/HS-ST ngày 27/10/2006 của TAND tỉnh Hà Tĩnh và bản án hình sự phúc thẩm số 331/2007/HS-PT ngày 23/4/2007 của Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội vì “trong trường hợp này, anh Nguyễn Văn Lộc bị liệt cột sống, tỷ lệ thương tật
là 86% phải thường xuyên có người chăm sóc Tòa án các cấp không tuyên buộc Trần Văn Sơn phải bồi thường chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc anh Lộc
là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người bị hại Do đó cần hủy cả bản án sơ thẩm
và phúc thẩm…”
Nhận xét: Rõ ràng trong trường hợp này việc Tòa án của hai cấp sơ thẩm và
phúc thẩm của TAND tỉnh Hà Tĩnh và Tòa phúc thẩm TAND Tối cao không tuyên buộc người gây thiệt hại phải bồi thường chi phí cho người chăm sóc người bị thiệt hại là có thiếu sót vì đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của họ và không đúng với quy định của pháp luật, do đó việc TAND cấp cao hủy cả án sơ thẩm và phúc thẩm
Trang 34khoa cũng là một vấn đề cần phải xem xét hết sức thận trọng Liệu rằng kết quả giám định pháp y có chính xác tuyệt đối không?, lấy gì để đảm bảo rằng mọi kết luận đều chính xác và không có tiêu cực xảy ra trong quá trình giám định sức khỏe, trên thực tế đã có những vấn đề xảy ra đối với kết luận giám định Điều này ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giải quyết vụ án, vì chỉ cần tỷ lệ giám định có sai sót một vài phần trăm thì mọi chuyện đã hoàn toàn khác
Trong những trường hợp có nghi ngờ về kết quả giám định, trên cơ sở đề nghị của các bên có liên quan, Tòa án có quyền yêu cầu trưng cầu giám định lại để việc giải quyết vụ án được khách quan và toàn diện hơn
Có những trường hợp từ khi gây thiệt hại cho đến thời điểm xét xử người bị thiệt hại vẫn không bị suy giảm sức khỏe như luật đã quy định, nghị quyết đã hướng dẫn, tuy nhiên sau thời gian trở về nhà thì sức khỏe bị suy giảm như đã liệt kê thì người chăm sóc người bị thiệt hại có được xem xét bồi thường không
Xét ở góc độ khoa học y khoa, điều này hoàn toàn có thể xảy ra trên thực tế
vì có những tổn thương cơ thể không phát sinh ngay thời điểm bị gây thiệt hại mà
có thể là sau đó nhiều năm thì mới phát hiện ra
Ngoài ra cũng cần có những quy định mang tính linh hoạt hơn về tỷ lệ mất khả năng lao động vĩnh viễn 81% của nghị quyết Trên thực tế có những người với tổn hại
về sức khỏe có thể không đến tỷ lệ đó nhưng mức độ suy giảm về sức khỏe của họ là rất lớn và họ cũng không thể tự phục vụ cho mình với những nhu cầu tối thiểu và cũng cần phải có người thường xuyên chăm sóc, điều đó nó còn phụ thuộc vào tuổi tác, cơ địa của mỗi người và tình trạng sức khỏe của họ trước khi bị thiệt hại
Về góc độ sinh học, cơ thể của con người được vận hành với một quy trình phức tạp không phải là máy móc hay các thực thể vật chất khác đang tồn tại trên thế giới này, do đó cũng cần phải xem xét ở một góc độ hết sức khoa học, hết sức nhân văn, không thể vận dụng một cách máy móc
Ngoài ra cũng cần có được sự thống nhất về khái niệm một người cần phải có người thường xuyên chăm sóc, bởi vì trên thực tế sau khi bị thiệt hại về sức khỏe thì một số người rơi vào tình trạng bị tổn thương nghiêm trọng và hoàn toàn không thể làm được gì để tự chăm sóc cho bản thân mình hoàn toàn phải dựa vào sự chăm sóc của người thân như những trường hợp mà Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP đã đề cập đến
Tuy nhiên cũng có những trường hợp sau khi bị thiệt hại thì tình trạng của người bị thiệt hại bị suy giảm nghiêm trọng và thường xuyên phải sống trong tình
Trang 35trạng phải ốm đau bệnh tật, tuy nhiên với những nhu cầu thiết yếu thì họ cũng có thể tự mình thực hiện được nhưng vẫn cần có người chăm sóc cho họ hàng ngày để thực hiện những công việc mà tự bản thân họ không thể thực hiện được
Nhìn chung việc đánh giá như thế nào để đảm bảo tính chính xác và khách quan hoàn toàn do kỹ năng của người vận dụng và áp dụng pháp luật, điều đó đòi hỏi người Thẩm phán cần phải có kinh nghiệm sống, có kỹ năng, có chiều sâu về mặt tư duy, có kiến thức chuyên sâu về nhiều mặt của đời sống xã hội, tất nhiên không thể đòi hỏi mọi việc đều phải chính xác một cách tuyệt đối
Hiện nay công tác giám định tư pháp nói chung và giám định y khoa nói riêng đang tồn tại rất nhiều vấn đề cần giải quyết, đó là sự chính xác trong các kết luận giám định, sự vô tư khách quan của những người thực hiện nhiệm vụ, do đó cần có những quy định để đảm bảo rằng những kết luận giám định được đưa ra là chính xác
và những người đưa ra quyết định phải chịu trách nhiệm về các kết luận của mình
2.1.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về điều kiện để người chăm sóc người
bị thiệt hại được bồi thường
Trong thời gian tới, khi ban hành Nghị quyết mới để thay thế cho Nghị quyết 03/2006 TAND Tối cao cần có những hướng dẫn cụ thể về nội hàm của khái niệm thế nào được xem là một người:“mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc” Theo tác giả một người được xem là mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc là người không thể tự mình lao động để tự phục vụ cho những yêu cầu tối thiểu của bản thân trong sinh hoạt và cuộc sống hằng ngày như nhu cầu đi lại, ăn uống, tắm rửa, vệ sinh cá nhân và những sinh hoạt thiết yếu khác mà phải cần có sự giúp đỡ của người khác
Sau khi điều trị và được bệnh viện, cơ sở điều trị cho xuất viện và trở về nhà,
mà sau khoảng thời gian 30 ngày mà vẫn không tự lao động được và cần có người thường xuyên chăm sóc trong một khoảng thời gian nhất định từ 06 tháng trở lên
Đối với quy định tỷ lệ suy giảm khả năng lao động, ngoài việc quy định tỷ lệ thương tật từ 81% trở lên cần có những quy định, trong những trường hợp đặc biệt mặc dù tỷ lệ dưới 81% nhưng sau khi điều trị người đó sức khỏe yếu và không tự lao động để tự phục vụ cho bản thân mình và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì người chăm sóc cũng sẽ được xem xét để được hưởng bồi thường với mức 80% so với mức bồi thường theo chuẩn tỷ lệ % mà Nghị quyết này đã quy định
Ngoài ra Nghị quyết cũng cần quy định thêm về trường hợp, vì lý do khách quan từ khi có kết luận giám định tỷ lệ suy giảm khả năng lao động cho đến khi vụ
Trang 36án được đưa ra xét xử do thời hạn kéo dài(từ 01 năm trở lên) và người bị thiệt hại có
sự thay đổi về tỷ lệ thương tật, suy giảm khả năng lao động hoặc trường hợp có căn
cứ để cho rằng kết luận giám định không chính xác hoặc theo yêu cầu của một trong các bên thì Tòa án có quyền yêu cầu trưng cầu giám định lại và kết quả giám định này sẽ là căn cứ cho việc giải quyết vụ án
Điều kiện để người chăm sóc người bị thiệt hại được bồi thường là một tiền
đề rất quan trọng, đây là những nội dung cần phải có hay nói một cách khác là người chăm sóc người bị thiệt hại cần phải đáp ứng được các tiêu chí do pháp luật quy định thì mới được xem xét giải quyết bồi thường
Từ những điều kiện cần này thì mới xét đến các nội dung khác như thời hạn được bồi thường, các khoản được bồi thường…Do tính chất quan trọng như vậy nên pháp luật cần có những quy định rõ ràng, chi tiết cụ thể và có tính khái quát cao, tuy nhiên cũng không quá cứng nhắc mà cần phải có một sự linh hoạt nhất định để trong quá trình vận dụng vào thực tiễn các cơ quan tiến hành tố tụng không gặp những khó khăn, vướng mắc
Nghị quyết mới cần phải đáp ứng được các yêu cầu về tính khoa học, tính nhân văn và phù hợp với thực tiễn cuộc sống
Vấn đề BTTH về sức khỏe hiện nay là một nội dung phức tạp và cũng mang tính nhạy cảm, nó liên quan đến cơ chế vận hành của cơ thể con người và liên quan đến nhiều ngành khoa học khác nhau đó là ngành y khoa và giám định tư pháp Nhất là trong lĩnh vực giám định chỉ cần có sự chênh lệch tỷ lệ vài phần trăm thì mọi việc đã hoàn toàn khác Do đó trước khi ban hành Nghị quyết mới để hướng dẫn nội dung này TAND Tối cao cũng cần phải lấy ý kiến tham khảo và tiếp thu một cách nghiêm túc những ý kiến đóng góp của các nhà chuyên môn
cấp đóng góp ý kiến về những vấn đề thực tiễn, qua tổng kết công tác giải quyết các
vụ án liên quan đến BTTH ngoài hợp đồng trong đó có nội dung về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, đây là một cơ hội không thể tuyệt vời hơn để phát huy trí tuệ của những người làm công tác xét xử, nhất là các Thẩm phán, các nhà chuyên gia, nhà nghiên cứu, các giảng viên của các trường đại học trên phạm vi cả nước trong việc đóng góp xây dựng pháp luật trong đó có những nội dung liên quan đến điều kiện mà
người chăm sóc người bị thiệt hại được bồi thường mà nội dung đang đề cập
8
Công văn số 48/TANDTC-PC ngày 07/4/2020 của TAND Tối cao
Trang 372.2 Thời hạn được bồi thường chi phí chăm sóc người bị thiệt hại sau điều trị
2.2.1 Thực trạng pháp luật về quy định thời hạn được bồi thường chi phí chăm sóc người bị thiệt hại sau điều trị
Tại điểm a khoản 1.4 của Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP đã quy định: “Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm: Chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại
Vấn đề đặt ra là chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người
bị người bị thiệt hại bao gồm những khoản nào, điều này còn tùy thuộc vào tình trạng thương tật, điều kiện sức khỏe của người bị thiệt hại sau khi điều trị Có những người sau khi điều trị mặc dù tính mạng của họ không còn bị cái chết đe dọa, tuy nhiên tình trạng sức khỏe của họ bị suy giảm rất nghiêm trọng, có người cả đời sống một đời sống thực vật hoặc phải ngồi trên xe lăn, và cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của họ cần phải có người chăm sóc và cần phải điều trị bằng các kỹ thuật y khoa suốt cả đời, đôi khi cần phải có những loại thuốc hoặc các dịch vụ y tế đắt tiền để mong duy trì được sự sống cho người bị thiệt hại hoặc cần phải dùng những loại thuốc bổ dưỡng, các loại thực phẩm chức năng mà hiện nay rất đa dạng trên thị trường
Hiện nay cùng với sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật thì những thành tựu trong lĩnh vực y khoa của nhân loại cũng đạt được những thành tựu vượt bậc có thể cứu sống nhiều người với những căn bệnh hiểm nghèo mà trước đây là không thể chữa trị được hoặc có những trang thiết bị y tế có thể giúp cho người bệnh đỡ đau đớn hơn về thể xác hoặc giúp cải thiện nhanh hơn về tình trạng sức khỏe, thuận tiện hơn trong sinh hoạt cá nhân Tất nhiên đi liền với đó là giá cả và trong điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam, về mức sống, thu nhập của dân cư thì đôi khi vượt quá khả năng chi trả của nhiều người
Một vấn đề cũng cần được đặt ra là thời hạn mà người chăm sóc người bị thiệt hại được bồi thường là bao lâu và được tính từ thời điểm nào, làm thế nào để
có thể tiên liệu được trong thời gian bao lâu người bị thiệt hại sẽ phục hồi hoàn toàn
mà không cần đến sự chăm sóc của người bị thiệt hại
Vụ việc thứ sáu: Tại bản án hình sự số 03/2013/HS-PT ngày 14/3/2013 của
9
Bản án 23/2013/HSPT ngày 14/3/2013 của TAND tỉnh Vĩnh Long
Trang 38người chăm sóc tại nhà (trong thời gian ra viện cho đến tháng 9 năm 2012 theo yêu cầu của phía bị hại là 53 tháng x 1.200.000đ = 63.600.000đ.
Đây là trường hợp mà Tòa án đã tính trong thời gian từ khi người bị thiệt hại xuất viện cho đến khi mở phiên tòa sơ thẩm Nếu sau phiên tòa mà người bị thiệt hại không còn khả năng lao động và cần phải có người chăm sóc thì sẽ được tính như thế nào
Nhận xét: Vấn đề đặt ra ở đây là việc cập nhật thông tin về tình trạng sức
khỏe của người bị thiệt hại sau khi điều trị để có những quyết định chính xác và kịp thời để có những bản án đúng pháp luật là một vấn đề đáng lưu tâm Có những trường hợp từ khi bị thiệt hại về sức khỏe, với một quá trình tố tụng dài và phức tạp đến ngày mở phiên tòa để xét xử mọi chuyện đã khác, nhất là đối với các vụ án liên quan đến hành vi cố ý xâm phạm đến sức khỏe của người khác hoặc các vụ án về tai nạn giao thông, thông thường căn cứ giám định y khoa là quan trọng cho việc giải quyết vụ án cả về trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại
Tuy nhiên có những vụ án phức tạp về tình tiết chứng cứ cho nên đến thời điểm Tòa án mở phiên tòa để xét xử thường kéo dài có những vụ hơn 01 năm thậm chí là nhiều năm Do đó tình trạng sức khỏe của người bị thiệt hại đã có sự thay đổi rất nhiều (có thể là theo chiều hướng tốt hơn cũng có thể là xấu hơn vào thời điểm thực hiện việc giám định) Như vậy vấn đề đặt ra là Tòa án có cần trưng cầu giám định lại về tỷ lệ suy giảm khả năng lao động để dùng làm căn cứ cho việc xét xử hay không?
Nội dung này rất quan trọng liên quan đến việc quyết định bồi thường chi phí cho người chăm sóc người bị thiệt hại sau khi điều trị
Nếu trong trường hợp đến ngày mở phiên tòa để xét xử mà tỷ lệ suy giảm khả năng lao động của người bị thiệt hại còn dưới 81% thì Tòa án có dùng căn cứ giám định ban đầu(tất nhiên là từ 81% trở lên) để buộc người gây thiệt hại phải bồi thường chi phí chăm sóc cho người bị thiệt hại nữa hay không?
Những nội dung này cần phải được làm rõ trong thời gian tới và đặt ra vấn đề cấp thiết về việc TAND Tối cao ban hành Nghị quyết mới để thay thế nghị quyết 03/2006 với những nội dung thay đổi một cách toàn diện và phù hợp với thực tiễn hơn
Đối với trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì theo yêu cầu của phía người bị thiệt hại, Tòa án có thể ấn định một thời hạn cụ thể
mà người chăm sóc người bị thiệt hại có thể được xem xét bồi thường Tuy nhiên thông thường thời hạn được hưởng bồi thường còn tùy thuộc nhiều vào thiện chí và
Trang 39khả năng kinh tế của người gây ra thiệt hại và thường là các bên đã thỏa thuận với nhau và Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận đó
Vụ việc thứ bảy: như tại bản án hình sự số 71/2012/DSST của TAND huyện
Hùng và ông Nguyễn Duy Liêm về việc liên đới để bồi thường cho người chăm sóc người bị thiệt hại với số tiền trong thời hạn 05 năm x với số tiền 1.200.000đ/tháng,
để “Hai bên kết thúc trách nhiệm bồi thường và không còn tranh chấp về sau”
Nhận xét: Làm thế nào để có được một ranh giới giữa sự cần thiết của các
loại chi phí và sự đòi hỏi quá đáng của người bị thiệt hại, điều này đòi hỏi pháp luật phải có một sự điều chỉnh hết sức khách quan và công bằng dựa trên thực tế những thiệt hại đã xảy ra Bản thân tác giả cho rằng đây là một bản án hay, mặc dù không
đủ tiêu chí để đề xuất là nguồn của án lệ, tuy nhiên các Tòa án khác cũng có thể tham khảo
Làm thế nào để có được một ranh giới giữa sự cần thiết của các loại chi phí
và sự đòi hỏi quá đáng của người bị thiệt hại, điều này đòi hỏi pháp luật phải có một
sự điều chỉnh hết sức khách quan và công bằng dựa trên thực tế những thiệt hại đã xảy ra.Tất nhiên không thể đòi hỏi có một phán quyết chính xác một cách tuyệt đối trong những trường hợp như vậy, vấn đề là phải bảo đảm dung hòa về mặt lợi ích giữa các bên
Hiện nay với sự tiến bộ vượt trội của khoa học kỹ thuật thị trường thuốc tân dược và các loại thực phẩm chức năng phát triển rất sôi động trên thị trường cùng với những kỹ thuật y khoa rất hiện đại Điều này đem lại sự sống sức khỏe cho rất nhiều người với những căn bệnh được xem là nan y vẫn có thể được chữa khỏi Tuy nhiên chi phí cho các dịch vụ này thì cũng không hề rẻ, thông thường là sẽ vượt quá khả năng chi trả của nhiều người
Ngoài ra cũng cần phải tách bạch ra giữa hai loại chi phí là chi phí nuôi dưỡng và điều trị Chi phí nuôi dưỡng chỉ bao gồm những loại chi tiêu cho việc ăn uống hằng ngày với những nhu cầu tối thiểu mà một người cần phải có Tuy nhiên khi một người bị bệnh nặng, sức khỏe yếu thì nhu cầu về ăn uống cần phải cao hơn, điều đó giúp cho họ nhanh chóng được hồi phục sức khỏe, như vậy thì ở mức nào được xem là hợp lý?
Đối với tiền chi phí ăn uống mức độ nào có thể chấp nhận được thì còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế mức sống của người bị thiệt hại, chắc chắn một điều là
10
Bản án sơ thẩm hình sự số 71/HS-ST ngày 31/10/2012 của TAND huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
Trang 40đối với các tầng lớp trung lưu, những người thuộc thành phần được xem là giàu có trong xã hội thì nhu cầu việc ăn uống cũng sẽ khác hơn so với tầng lớp bình dân, lao động nghèo Do đó cần phải được xem xét trong từng trường hợp cụ thể để có được quyết định chính xác, khách quan và toàn diện nhất
Đây cũng là nội dung mà trong quá trình hoàn thiện pháp luật cũng cần phải được xem xét đến Nó phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, với mặt bằng chung về thu nhập của người dân và cũng phải dự báo được xu hướng phát triển của xã hội, để tránh tình trạng văn bản pháp luật chưa ban hành được bao lâu thì đã lạc hậu và không còn phù hợp với thực tế
Đối với chi phí điều trị thế nào là hợp lý thì cũng cần phải cân nhắc và dựa vào đâu để có một quyết định hợp tình, hợp lý, điều này dựa nhiều vào kỹ năng áp dụng pháp luật của các Thẩm phán và dựa trên cơ sở thực tế về tình trạng sức khỏe của người bị thiệt hại sau khi điều trị Nếu sau khi điều trị mà người bị thiệt hại có
sự chỉ định của Bác sĩ về những loại thuốc cần phải dùng thì phải dựa vào đó dùng làm căn cứ cho việc bồi thường
Tuy nhiên cũng không loại trừ việc các Bác sỹ vì những lý do khác nhau sẽ cho cho ra những đơn thuốc không phù hợp với thực tế với tình trạng bệnh tật của người bị thiệt hại mà họ có thể dựa vào đó để yêu cầu bồi thường
Một vấn đề đặt ra ở đây về mặt lý luận đó là mối quan hệ giữa nhu cầu thực
tế của người bị thiệt hại và khả năng chi trả của người gây thiệt hại, bởi vì trên thực
tế thì đôi khi thiệt hại thực tế xảy ra vượt quá khả năng kinh tế của người gây thiệt hại và điều đó đặt ra những vấn đề về tình huống pháp lý cho những người áp dụng pháp luật
Trong những trường hợp như vậy, đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, thu thập chứng cứ cần phải có một cái nhìn khách quan và toàn diện về hoàn cảnh điều kiện kinh tế của người gây ra thiệt hại để có một phán quyết hợp tình, hợp lý, đúng quy định của pháp luật và đảm bảo được tính khả thi của các bản án, quyết định được thi hành trên thực tế, điều này cũng phù hợp với: “Nguyên tắc bồi thường thiệt hại” được quy định tại khoản 2 điều 585 của BLDS năm 2015:
“Người chịu trách nhiệm BTTH có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình”
Về nội dung khoản 2 điều 285 quy định mức độ lỗi để xem xét mức độ bồi thường cũng là phù hợp với thực tế, hợp với lẽ phải, sự công bằng của pháp luật, rõ ràng là một người cố ý dùng hung khí để gây thương tích cho một người thì mức độ