Hình 3: nhóm Chăm H’roi http://vovworld.vn/vi-VN/sac-mau-cac-dan-toc-viet-nam/cac-nhom-dan-toc-cham-o-viet-nam-174931.vov 2/ Đặc điểm tổ chức cư trú của người Chăm Trong lịch sử phát tr
Trang 1
1/ Khái quát về phân bố dân cư của dân tộc Chăm
Bản đồ: Người Chăm ở Việt Nam và Campuchia.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Chăm ở Việt Nam có dân số 161.729 người, cư trú tại 56 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Chăm cư trú tập trung tại các tỉnh: Ninh Thuận (67.274 người, chiếm 41,6% tổng số người Chăm tại Việt Nam), Bình Thuận (34.690 người, chiếm 21,4% tổng số người Chăm tại Việt Nam), Phú
VĂN HÓA
CƯ TRÚ
CỦA
Trang 2
Yên (19.945 người), An Giang (14.209 người), thành phố Hồ Chí Minh (7.819
người), Bình Định (5.336 người), Đồng Nai (3.887 người), Tây Ninh(3.250 người) (Ban
chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ Hà Nội, 6-2010 Table 5, page 134)
Tiếng nói của họ rất gần gũi với các dân tộc Raglai, Churu, Jarai, Êđê thuộc hệ ngôn ngữ Austronesian (nhóm ngôn ngữ Malayo – Polynesian) Đây là cư dân bản địa thuộc loại hình nhân chủng Indonesien đã định cư lâu đời trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay Họ cũng đã từng có nhà nước riêng mang quốc hiệu gọi là vương quốc Champa Do quá trình biến động của lịch sử, cộng đồng tộc người Chăm ngày nay chỉ còn thu hẹp lại ở vùng Trung Bộ và Tây Nam Bộ Việt Nam, trong đó tập trung nhiều nhất ở khu vực Ninh Thuận
và Bình Thuận Một bộ phận nhỏ tập trung ở khu vực Bình Định, Phú Yên và bộ phận còn lại sống rãi rác ở các nơi như Châu Đốc, Tây Ninh, Long Khánh, Bình Phước và
Thành Phố Hồ Chí Minh v.v…
(https://gruhajan.wordpress.com/2016/05/11/palei-mot-hinh-thai-cu-tru-cua-cong-dong-toc-nguoi-cham-o-viet-nam/)
Dân tộc Chăm thuộc nhóm ngô ngữ Mã Lai - Đa đảo (ngữ hệ Nam Đảo), có quan hệ
họ hàng với người Raglai, người Ê Đê, người Chu Ru và người Gia Rai ở Việt Nam Người Chăm cũng có nhiều nét tương đồng về mặt tộc người với người Indonesia, người Malaisia, người Brunei ở khu vực Đông Nam Á Họ là những cư dân bản địa ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ, đã từng kiến tạo nên một nền văn hóa rực rỡ với ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ
Người Chăm gồm nhiều nhóm địa phương, mỗi nhóm có những đặc trưng tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa rất khác nhau Những làng Chăm nằm rải rác ở ven biển Nam Trung Bộ
Có những làng Chăm nằm bên Thánh đường uy nghiêm Có làng thâm trầm bên ngôi chùa cổ kính Có làng thì mọi hoạt động lễ nghi thờ cúng đều được tổ chức ở đền tháp
Sở dĩ có sự khác nhau như vậy, bởi các làng Chăm này theo các tôn giáo khác nhau Người Chăm ở Việt Nam căn cứ theo tôn giáo, người ta phần làm 4 nhóm Thứ nhất là Chăm Bà La Môn, ảnh hưởng của Bà La Môn giáo, tức Ấn Độ giáo Nhóm Chăm này chiếm đông nhất Nhóm Chăm thứ 2 chiếm tương đối nữa là nhóm Chăm Bà Ni, tức là
Trang 3
Chăm Hồi giáo cũ Và nhóm Chăm thứ 3 là Chăm Hồi giáo mới, tức là Chăm Islam Và nhóm Chăm không theo tôn giáo thế giới nào cả, gọi là nhóm Chăm H’roi
Nhóm Chăm Bà La Môn và Bà Ni tập trung chủ yếu ở 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận Người Chăm Bà La Môn còn tự gọi mình là Chăm gốc, hay Bà Chăm để phân biệt với người Chăm Bà Ni Người Chăm Bà La Môn theo tín ngưỡng đa thần của Ấn Độ giáo, còn người Chăm Bà Ni theo Hồi giáo, thờ Thánh Ala và thiên sứ Mô-ha-mét Tuy nhiên, Hồi giáo của người Chăm Bà Ni đã bị bản địa hóa sâu sắc, thống nhất với các yếu
tố tín ngưỡng dân gian và cô lập với Hồi giáo thế giới
Hình 1: Nhóm Chăm Bà La Môn
Nhóm Chăm Islam theo Hồi giáo chính thống, còn gọi là Chăm Hồi giáo mới, để phân biệt với người Chăm Bà Ni theo Hồi giáo cũ Nhóm này chủ yếu ở An Giang, Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh… Họ vốn là những người Chăm di cư từ Việt Nam sang Campuchia, và do những nguyên nhân khách quan, họ đã quay trở về và sinh sống ở khu vực Nam Bộ
Trang 4
Hình 2: Nhóm Chăm Islam
Còn nhóm Chăm H’roi chủ yếu ở Bình Định, Phú Yên, không chịu ảnh hưởng của tôn giáo nào, họ theo tín ngưỡng nguyên thủy và nhiều nét tương đồng về văn hóa với người Ba Na, người Ê Đê sinh sống xung quanh
Trang 5
Hình 3: nhóm Chăm H’roi
(http://vovworld.vn/vi-VN/sac-mau-cac-dan-toc-viet-nam/cac-nhom-dan-toc-cham-o-viet-nam-174931.vov)
2/ Đặc điểm tổ chức cư trú của người Chăm
Trong lịch sử phát triển của các dân tộc, hình thái tổ chức cộng cư truyền thống như làng, bản, mường, phum, sóc, buôn, palei… ngày nay được xem như là những tế bào
xã hội của Việt Nam nói chung và đặc trưng văn hóa tộc người nói riêng Đây là đơn vị
cơ sở tổ chức xã hội chịu tác động khá nhiều yếu tố khác nhau như địa lý tự nhiên, hình thái sinh hoạt kinh tế, môi trường lịch sử – xã hội, đặc điểm sinh hoạt văn hóa và quan hệ giao lưu văn hóa giữa các dân tộc v v…
Cho đến nay, loại hình thiết kế xã hội này vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa của cộng đồng tộc người Chăm nói riêng và cộng đồng các dân tộc anh em ở Việt Nam nói chung Chính vì lẽ này, từ lâu nay việc nghiên cứu làng xã được nhiều nhà khoa học trong nước và ngoài nước quan tâm nghiên cứu
Trang 6
tương đối khá sớm Tuy nhiên, những thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực nghiên cứu này vẫn chưa được nhiều và còn nhiều khiếm khuyết cần nên bổ sung thêm để ngày càng hoàn chỉnh hơn
Do bối cảnh lịch sử thường xuyên xảy ra nhiều sự biến đổi làm cho địa bàn khu vực
cư trú bị phân bố khác biệt nhau về điều kiện địa lý và môi trường xã hội nên hình thái cư trú của toàn bộ cộng đồng tộc người Chăm ngày nay không được đồng nhất mà thường mang tính đặc thù riêng cho từng khu vực địa phương khác nhau Căn cứ vào điều kiện địa lý môi trường xã hội, ta có thể tạm phân loại hình thái cư trú của cộng đồng tộc người Chăm ở Việt Nam hiện nay ra làm 3 loại hình chính:
Hình thái cư trú ở vùng núi cao Trung Bộ
Hình thái cư trú ở vùng đồng bằng miền Tây Nam Bộ
Hình thái cư trú ở vùng đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ
Trong ba loại hình trên, loại hình cư trú ở đồng bằng duyên hải NamTrung Bộ là còn lưu giữ được nhiều đặc điểm truyền thống tộc người Chăm theo hình thức cộng cư như một loại hình công xã nông thôn Còn hình thái cư trú trên vùng cao Trung Bộ, do dân số
ít và sinh sống xa nhóm cộng đồng tộc người gốc nên chịu ảnh hưởng khá sâu đậm bởi các nhóm cộng đồng tộc người cư trú xung quanh Ngược lại, đối với hình thái cư trú ở đồng bằng châu thổ miền Tây Nam Bộ thì lại chịu chi phối ảnh hưởng sâu đậm bởi tôn giáo Islam
Nhưng nhìn chung, cộng đồng tộc người Chăm là một dân tộc có truyền thống làm ruộng nước với trình độ kỹ thuật khá cao, nên họ đã cư trú tập trung thành từng làng gọi
là Palei.
Palei là đơn vị cư trú nhỏ nhất, nó được coi như là một hình thức tàn dư của công xã
nông thôn, đồng thời nó cũng được coi như là một đơn vị hành chính trùng hợp với đơn
vị thôn, ấp…do đó, mỗi Palei Chăm thường mang hai tên gọi: Một tiếng gọi theo tiếng Chăm và một tiếng gọi theo tiếng Việt (tên gọi theo đơn vị hành chánh) Tên Palei (làng) gọi theo tiếng Việt có thể thay đổi theo từng thời kỳ lịch sử khác nhau, nhưng tên
gọi Palei theo tiếng Chăm vẫn luôn lưu giữ lâu bền, ít khi thay đổi trong cộng đồng tộc
người Chăm Đối với họ, tên gọi làng theo ngôn ngữ dân tộc thường mang tính truyền
Trang 7
thống, vừa mang tình cảm gần gũi thân thiết, vừa có ý nghĩa thiêng liêng cao quí Đây là tiếng gọi truyền đời thể hiện tâm lý tình cảm dân tộc một cách sâu sắc Còn tên gọi theo tiếng Việt phổ thông chủ yếu cho thuận tiện trong công việc hành chính nhiều hơn bằng tình cảm Do đó, chúng ta cần quan tâm và trân trọng đúng mức đến khía cạnh tâm lý truyền thống của tộc người vốn được hàm chứa trong trên gọi là làng – Palei
Là cư dân có truyền thống canh tác nông nghiệp ruộng nước và phát rẫy chờ mưa nên
xung quanh Palei thường là những cánh đồng ruộng và rẫy hoa màu Riêng đối với hình
thái cư trú ở vùng đồng bằng duyên hải Miền Trung, mặc dù đại đa số cư dân là nông
dân, nhưng trong Palei rất ít trồng cây cối Điều này làm cho Palei Chăm vốn thuộc vùng
nắng gió khô hạn lại càng thêm nắng gắt và khô nóng hơn bởi gió Fehn (gió Lào) Đây là đặc điểm nổi bật đầu tiên và gây nhiều ấn tượng nhất đối với những ai mới bước chân lần
đầu vào Palei Chăm ở vùng đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ.
Để lý giải điều này, đồng bào Chăm thường đưa ra nhiều lý do như trồng nhiều cây cối trong làng sẽ tạo điều kiện cho những kẻ bất lương (kẻ thù, kẻ trộm…) ẩn nấp dễ dàng thực hiện ý đồ xấu xa của chúng, cây cối che khuất ánh nắng mặt trời gây trở ngại cho việc phơi lúa, rễ cây sẽ làm nứt nhà cửa, những tàn lá cây tạo nơi trú ngụ của ma quỷ vào giữa ban trưa hay khi về đêm v.v… Ngày nay, cách lý giải không còn thích hợp với giới trẻ nữa, nhưng trên thực tế quan niệm này vẫn còn tồn tại và được sự ủng hộ của tầng lớp cao tuổi, nên đây vẫn còn là một cản trở không nhỏ đối với vấn đề phát triển môi trường cây xanh trong làng Trong khi đó, ở vùng đồng bằng miền Tây Nam Bộ, cụ thể
như người Chăm ở An Giang, trồng nhiều cây xanh nên vào trong các palei của họ
thường có nhiều bóng mát hơn ở người Chăm vùng đồng bằng duyên hải Miền Trung
Theo tài liệu thư tịch cổ Chăm, Palei nên bố trí trên những triền đất cao thoai thoải.
Nơi dựng Palei lý tưởng nhất theo quan niệm của người Chăm là:”Cek paraong, kraong
birak; glaong gah pai, biér gah pur, aya nduec gah ésan”, dịch sang nghĩa tiếng
Việt:”Núi phía Nam, sông phía Bắc, cao phía Tây, thấp phía Đông, nước chảy về hướng Đông Bắc” Đồng bào Chăm còn quan niệm rằng, hướng Bắc là hướng của ma quỷ, hướng Đông là hướng của thần thánh và hướng Nam là hướng đi của trần gian Cho nên Palei thường bố trí cổng chính về phía Nam, cổng phụ về phía Bắc Trên thực tế, điều này
Trang 8
rất phù hợp với môi trường địa lý tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử của cộng đồng tộc người Chăm
Đối với hình thái cư trú ở vùng đồng bằng duyên hải Miền Trung, cách bố trí nhà cửa
trong Palei Chăm không phân bố theo từng nhà riêng lẽ mà sắp xếp theo từng cụm nhà
theo từng khuôn viên riêng biệt Mỗi làng có khoảng chừng 25 đến 150 khuôn viên, trong
đó có khoảng từ 80 đến 500 căn hộ Do đó, khi vào một Palei Chăm ở vùng đồng bằng
duyên hải Miền Trung, chúng ta thường thấy trước tiên là khung rào bằng cây khô hoặc gần đây bằng những bức tường xây bao bọc xung quanh khuôn viên cùng với ngôi nhà
bên trong Mỗi khuôn viên trong Palei Chăm đều là mỗi phần không gian sinh hoạt của
các thành viên có cùng một huyết hệ tính theo dòng mẹ Hay nói khác đi, khuôn viên của một cộng đồng tộc người Chăm là không gian tụ cư của đại gia đình mẫu hệ Trong đó, bao gồm những gia đình nhỏ đã tách khỏi gia đình lớn được biểu hiện dưới hình thức tàn
dư của nó
Các khuôn viên bố trí nối tiếp nhau theo từng dãy theo hướng Bắc Nam Khoảng cách giữa các dãy khuôn viên này với các dãy khuôn viên kia là những con đường cái xuyên suốt từ đầu làng đến cuối làng Cách khoảng từ 2 đến 5 khuôn viên trong cùng một hàng dãy có mở thêm những đường hẻm nhỏ để thông với những con đường cái trong làng Còn các cổng ngõ của khuôn thì viên đồng loạt mở theo hướng Tây Nam hoặc hướng
Nam Điều này cho thấy, cách sắp xếp khuôn viên trong Palei mang tính chất phòng thủ
hơn là kinh tế
Cũng giống như khuôn viên, những nhà cửa trong Palei cũng được quy định vị trí
phân bố rất chặt chẽ theo một quy cách riêng Tùy theo vị trí, kiến trúc và công dụng của
mỗi lọai nhà mà có các tên gọi khác nhau như Sang Ye, Sang Mâyau, Sang Tong, Sang
Gin, Sang Mbliéng, Sang Halam, v.v….Cho nên, khi hình thành khu cư trú mới người
Chăm cần nên quan tâm đên điều này
Trong mỗi Palei người Chăm thuộc khu vực đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ thường bố trí một đền thờ (Sang Po Yang) ở cuối làng và một nhà làng (Sang Palei) ở đầu làng Riêng Palei của nhóm cộng đồng người Chăm theo hệ phái Awal (Bani) thì ở giữa Palei thường bố trí thêm một thánh đường (Sang Mâgik) hoặc hai thánh đường nếu
Trang 9
có một bộ phận thành viên trong Palei tách ra theo đạo giáo Islam như ở Palei Pamblap
Birau (thôn Phước Nhơn), Palei Pamblap Klak (thôn An Nhơn), Palei Ram (thôn Văn
Lâm)
Cách Palei không xa thường có nghĩa địa chung của làng Cho nên, trong những cuộc
di dời làng thường để lại dấu tích trước đây của Palei cũ Trường hợp điển hình như Palei Pamblap Birau (thôn Phước Nhơn), nơi hình thành Palei ban đầu là ở cạnh bờ biển Darak Rinaih, sau đó di dời vào ở khu vực Pamblap và cuối cùng tách thành một nửa bộ phận chuyển cư vào sâu hơn hình thành Palei Pamblap Birau, thôn Phước Nhơn ngày nay Hằng năm vào dịp lễ Ramâwan, dân làng Phước Nhơn thường tổ chức lễ viếng
thăm những ngôi mộ ở các nghĩa địa trên Đây là những ngày lễ tìm về cội nguồn rất đáng được trân trọng cần phát huy truyền thống tốt đẹp này Hiện nay, những khu nghĩa địa này đang bị lấn chiếm bởi cư dân địa phương sinh sống ở bên cạnh
Đối với hình thái cư trú ở vùng đồng bằng miền Tây Nam Bộ, Palei cũng được xem như tương đương với đơn vị thôn ấp Palei là một khoảng không gian cư trú có thể bao gồm nhiều Puk như trường hợp Palei Phum Soài (xã Châu Phong, huyện Tân Phong, tỉnh
An Giang) Do vùng đồng bằng miền Tây Nam Bộ thuộc khu vực địa hình thấp, có nhiều con sông lớn nên thường xuyên bị ngập vào mùa nước nổi, khoảng từ tháng 6 đến tháng
10 hàng năm Vì vậy, để thích ứng với môi trường tự nhiên ở đây, người Chăm ở khu vực này chủ yếu xây dựng nhà ở theo loại hình nhà sàn[1] Phần lớn nhà sàn của người Chăm thường được xây cất với qui mô cao, to và rộng rãi Vị trí phân bố nhà ở dọc theo sông rạch và đường lộ
Khác với cộng đồng người Chăm ở vùng đồng bằng duyên hải Miền Trung,
mỗi Palei chỉ có một Masjid (thánh đường) Trong trường hợp Palei có nhiều Puk thì mỗi Puk có thể có một Surao (tiểu thánh đường) để tạo điều kiện thuận lợi cho tín đồ làm
lễ nguyện hàng ngày Ngoài ra, xung quanh khu vực thánh đường có thể dùng làm nơi chôn cất như một nghĩa địa Vì vậy, hầu như rất ít nghĩa địa bố trí xa khu vực thánh đường
Còn đối với cộng đồng người Chăm cư trú ở Thành phố Hồ Chí Minh, do điều kiện môi trường sinh sống trong khu đô thị chật hẹp nên họ không thể phân bố cư trú theo
Trang 10
hình thức palei như ở vùng nông thôn Để thích ứng với môi trường đô thị, cộng đồng người Chăm ở đây tổ chức phân bố cư trú theo hình thức Jam’ah Mỗi jam’ah là một tổ
chức cộng tôn giáo bao gồm những người cùng sinh hoạt chung trong
một masjid hay surao Vì vậy, jam’ah là một hình thức đơn vị cư trú mang đậm tính chất
tôn giáo, không có giới hạn bởi hàng rào cụ thể hoặc qui định bởi ranh giới hành chánh của chính quyền địa phương
Đặc điểm cư trú của cộng đồng người Chăm ở Thành phố Hồ Chí Minh là cư trú tập trung theo từng nhóm gia đình vốn có quan hệ gần gũi huyết thống, họ hàng thân thích hay cùng quê nhà với nhau Ví dụ như phần lớn cộng đồng người Chăm ở Quận Phú Nhuận là những người Chăm có gốc quê ở Châu Giang
Như vừa trình bày ở trên, Palei là đơn vị cư trú, đồng thời là đơn vị kinh tế, văn hóa
xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng mang tính tự quản, cho nên, trong mỗi Palei thường tồn tại
cùng một lúc nhiều tổ chức sinh hoạt khác nhau
Hiện nay, trong Palei Chăm ở vùng đồng bằng duyên hải Miền Trung thường gồm có
5 tổ chức chính song song tồn tại: Tổ chức hành chính, tổ chức dòng họ, tổ chức hội đồng
bô lão, tổ chức tôn giáo và tổ chức tín ngưỡng dân gian
Palei Chăm là đơn vị nhỏ nhất của hệ thống tổ chức hành chính Nhà nước Đứng đầu
Palei Chăm là Trưởng thôn và Phó thôn Song song với tổ chức trên là tổ chức an ninh trật tự gồm Truởng công an thôn và Đội du kích thôn Ngoài ra, còn có tổ chức Đoàn, Hội, như Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Việt Nam, Hội Bảo Thọ, Hội Phụ Nữ, Hội Khuyến Nông, v…v
Vai trò của các vị lãnh đạo chính quyền này hầu như thay thế hoàn toàn vai trò và chức
năng của Po Palei (Trưởng làng) trước đây Nhiệm vụ chính của họ là thực hiện chỉ thị
chính sách của chính quyền Nhà nước đối với dân chúng Tổ chức quản lý tài sản chung của thôn ấp Bảo vệ trật tự an ninh trong thôn xóm Tổ chức lãnh đạo về việc phát triển kinh tế của nhân dân, bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ của người dân trong một nước
Ngoài nhiệm vụ chính trên, họ còn tham gia vào việc cải tổ và bảo vệ phong tục tập quán Một số nghi lễ hoặc lễ hội chính của dân tộc cũng được họ tạo điều kiện thuận lợi để tổ