Bản luận văn này trình bày lại một cách hệ thống một số vấn đề cơ bảncủa khoa học quản lí và các ưu thế của ứng dụng công nghệ thông tin trongquản lí đào tạo.. Tuy nhiên để có thể phát h
Trang 1HỌC VIỆN QUẢN Lí GIÁO DỤC
Lấ THỊ HIẾN TUYẾN
QUảN Lí ứng dụng công nghệ thông tin
Trong đào tạo chuyên ngành điện tử viễn thông
ở trờng đại học công nghệ,
đại học quốc gia hà nội
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN Lí GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2HỌC VIỆN QUẢN Lí GIÁO DỤC
Lấ THỊ HIẾN TUYẾN
QUảN Lí ứng dụng công nghệ thông tin
Trong đào tạo chuyên ngành điện tử viễn thông
ở trờng đại học công nghệ,
đại học quốc gia hà nội
CHUYấN NGÀNH: QUẢN Lí GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN Lí GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tõn Ân
HÀ NỘI - 2016
Trang 3Bản luận văn này trình bày lại một cách hệ thống một số vấn đề cơ bảncủa khoa học quản lí và các ưu thế của ứng dụng công nghệ thông tin trongquản lí đào tạo Dựa trên các cơ sở lý luận thu nhận được chúng tôi đã tiếnhành khảo sát thực trạng quản lí ứng dụng công nghệ thông tin vào công tácđào tạo chuyên ngành Điện tử viễn thông ở trường Đại học Công Nghệ, Đạihọc Quốc Gia Hà Nội Từ đó đưa ra các biện pháp quản lí ứng dụng côngnghệ thông tin trong công tác đào tạo ở trường Đại học Công Nghệ, Đại họcQuốc Gia Hà Nội Để hoàn thành bản luận văn này chúng tôi đã nhận được sựgiúp đỡ tận tình của các thầy, cô ở khoa Quản lí giáo dục, Học viện Quản lígiáo dục, bạn bè đồng nghiệp và các giáo sư của trường Đại học Công Nghệ,Đại học Quốc Gia Hà Nội Đặc biệt là sự chỉ dẫn và quan tâm tận tình củathầy hướng dẫn PGS.TS.Nguyễn Tân Ân trong suốt quá trình khởi thảo vàhoàn thành luận văn này Nhân dịp này chúng tôi xin được bày tỏ lòng cảm
ơn chân thành tới thầy hướng dẫn, các thầy cô ở Học viện Quản lí giáo dục,các giáo sư và các bạn đồng nghiệp đã quan tâm giúp đỡ chúng tôi trong suốtthời gian qua
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả Luận văn
Lê Thị Hiến Tuyến
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu và trích dẫn nêu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực Kết quả nghiêncứu của Luận văn chưa từng được người khác công bố trong bất kỳ côngtrình nào.
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả Luận văn
Lê Thị Hiến Tuyến
Trang 5LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ 6 THÔNG TIN TRONG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Khái niệm cơ bản 7
1.2.1 Quản lí 7
1.2.2 Quản lí giáo dục và quản lí đào tạo 9
1.2.3 Công nghệ thông tin 11
1.3 Vai trò ứng dụng CNTT đối với sự phát triển của xã hội 13
1.4 Ứng dụng CNTT trong hoạt động đào tạo ở trường Đại học 15
1.4.1 Ứng dụng trong nghiên cứu khoa học 15
1.4.2 Ứng dụng trong soạn thảo giáo án 15
1.4.3 Ứng dụng trong thực hiện bài giảng 16
1.4.4 Ứng dụng trong khai thác dữ liệu 16
1.4.5 Ứng dụng trong đánh giá kết quả học tập 17
1.4.6 Ứng dụng trong học tập của sinh viên 17
1.4.7 Ứng dụng trong quản lí nhà trường 18
1.5 Quản lí hoạt động của ứng dụng CNTT trong đào tạo ở trường Đại học .18
Trang 6Đại học 19
1.7 Nội dung quản lí ứng dụng CNTT trong hoạt động đào tạo ở trường Đại học 23
1.7.1 Quản lí đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ về CNTT 23
1.7.2 Quản lí cơ sở vật chất, trang thiết bị về CNTT 25
1.7.3 Quản lí thông tin, dữ liệu nguồn 25
1.7.4 Quản lí các mối liên kết về ứng dụng CNTT 26
1.8 Những yếu tố ảnh hướng đến quản lí ứng dụng CNTT trong đào tạo ở trường Đại học 26
1.8.1 Yếu tố chủ quan 26
1.8.2 Yếu tố khách quan 28
Kết luận chương 1 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ ỨNG DỰNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG ĐÀO TẠO CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN TỬ VIỄN THÔNG Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 31
2.1 Khái quát về trường Đại học Công Nghệ, Đại học Quốc Gia Hà Nội 31
2.1.1 Một vài đặc điểm chung của trường Đại học Công Nghệ, Đại học Quốc Gia Hà Nội 31
2.1.2 Chuyên ngành ĐTVT ở trường ĐHCN, ĐHQGHN 32
2.2 Thực trạng ứng dụng CNTT trong đào tạo chuyên ngành ĐTVT ở trường ĐHCN, ĐHQGHN 34
2.2.1 Thực trạng cơ sở vật chất, thiết bị CNTT ở trường ĐHCN, ĐHQGHN 34
2.2.2 Thực trạng trình độ về CNTT của cán bộ trong đào tạo ở trường Đại học Công Nghệ 37
Trang 7trường ĐHCN, ĐHQGHN 38
2.2.4 Thực trạng ứng dụng CNTT trong đào tạo chuyên ngành ĐTVT ở trường ĐHCN, ĐHQGHN 41
2.3 Thực trạng quản lí ứng dụng CNTT trong hoạt động đào tạo chuyên ngành ĐTVT ở trường ĐHCN, ĐHQGHN 43
2.3.1 Thực trạng quản lí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về CNTT 43
2.3.2 Thực trạng quản lí cơ sở vật chất, trang thiết bị về CNTT 45
2.3.3 Thực trạng quản lí thông tin, dữ liệu nguồn 47
2.3.4 Thực trạng quản lí các mối liên kết về ứng dụng CNTT 50
2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lí ứng dụng CNTT trong đào tạo chuyên ngành ĐTVT ở trường ĐHCN, ĐHQGHN 51
2.5 Đánh giá thực trạng công tác quản lí ứng dụng CNTT trong đào tạo chuyên ngành ĐTVT ở trường ĐHCN, ĐHQGHN 53
2.5.1 Những thành tựu và hạn chế 53
2.5.2 Nguyên nhân 56
Kết luận chương 2 57
CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÍ ỨNG DỤNG CNTT TRONG ĐÀO TẠO CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN TỬ VIỄN THÔNG Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ, ĐHQGHN 58
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 58
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thiết thực và hiệu quả 58
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 59
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 59
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 60
3.2 Các biện pháp đề xuất 60
Trang 8đào tạo chuyên ngành ĐTVT cho đội ngũ cán bộ quản lí 60
3.2.2 Xác định rõ các khâu, các lĩnh vực có thể ứng dụng CNTT phục vụ hoạt động đào tạo chuyên ngành ĐTVT ở trường ĐHCN, ĐHQGHN .63
3.2.3 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện ứng dụng CNTT trong hoạt động đào tạo ở trường ĐHCN, ĐHQG Hà Nội 66
3.2.4 Đảm bảo các điều kiện hỗ trợ cho việc quản lí ứng dụng CNTT trong đào tạo chuyên ngành ĐTVT ở trường ĐHCN, ĐHQGHN 69
3.3 Mối liên hệ giữa các biện pháp 72
3.4 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 74
Kết luận chương 3 80
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 87
Trang 9STT Ký hiệu Nguyên nghĩa
Trang 10Bảng 2.1: Hạ tầng cơ sở vật chất phục vụ ứng dụng CNTT 34
tại trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN 34
Bảng 2.2: Thực trạng về mức độ sứ dụng CSVC phục vụ ứng dụng CNTT trong công tác quản lí đào tạo chuyên ngành ĐTVT tại trường ĐHCN, ĐHQGHN 35
Bảng 2.3: Trình độ CNTT của cán bộ phục vụ hoạt động đào tạo ở trường Đại học Công nghệ, ĐHQGHN 37
Bảng 2.4: Kết quả khảo sát thực trạng ứng dụng CNTT trong đào tạo chuyên ngành ĐTVT ở trường ĐHCN, ĐHQGHN (bảng này được thăm dò ý kiến của 120 đối tượng cán bộ trong trường ĐHCNT) 41
Bảng 2.5: Thực trạng quản lí đào tào, bồi dưỡng cán bộ về CNTT 43
Bảng 2.6: Thực trạng quản lí cơ sở vật chất, trang thiết bị về CNTT 46
Bảng 2.7: Thực trạng Quản lí thông tin dữ liệu nguồn 48
Bảng 2.8: Thực trạng quản lí các mối liên kết về ứng dụng CNTT 50
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát mức độ cần thiết của các biện pháp 74
Bảng 3.2 Kết quả khảo sát mức độ khả thi của các biện pháp 76
Trang 11Sơ đồ 3.1 Mối liên hệ giữa 4 biện pháp quản lí ứng dụng CNTT 73 trong đào tạo ở trường ĐHCN 73 Biểu đồ 3.1 Kết quả khảo sát mực độ khả thi và mức độ cần thiết của cácbiện pháp đề xuất quản lí ứng dụng CNTT trong quản lí đào tạo chuyên ngànhĐiện tử viễn thông ở trường Đại học Công Nghệ 79
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, công nghệ thông tin và truyền thông là cơ sở hạ tầng côngnghệ của xã hội và tri thức Bản thân công nghệ thông tin không chỉ là mộtngành khoa học mà đã trở thành ngành công nghệ cao Công nghệ thông tin
và truyền thông viết tắt là ICT (Information and Comunication Technology).Như chúng ta đã biết trong những năm gần đây ICT đang làm thay đổi mọihoạt động của con người, trong đó có giáo dục đào tạo Thông qua các ứngdụng tuyệt vời của nó, ICT nói chung và công nghệ thông tin (CNTT) nóiriêng đã làm ảnh hưởng thực sự đến đời sống văn hóa, nếp nghĩ, cách tiếp cận
và giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến đời sống tinh thần của con người.Nhờ quá trình xử lý các thông tin có thể tiến hành một cách tự động nên cáchoạt động liên quan đến quá trình nghiên cứu khoa học hoặc quản lí và tổchức các hoạt động của con người được tiến hành một cách dễ dàng và hiệuquả hơn Nhiều công cụ sản xuất và điều khiển tự động mới ra đời, các máymóc tinh vi mà gọn nhẹ của công nghệ điện tử đã trở nên thân thuộc và gầngũi cho tất cả mọi người thuộc mọi lứa tuổi
Riêng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, công nghệ thông tin (hay chínhxác hơn là ICT) đã mở tung bốn bức tường của trường học truyền thống xưanay thành một thế giới mênh mông đầy ắp những tri thức quý báu của nhânloại Nói cách khác công nghệ thông tin (CNTT) đã làm thay đổi một cách cănbản cách dạy và cách học Nhờ có công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)
mà chúng ta có thể đẩy nhanh các quá trình chuyển đổi từ hình thái học tậptrung sang sang hình thái học tập theo phương thức phân tán đa tốc độ Đặcbiệt CNTT có thể hỗ trợ đắc lực cho chúng ta trong quá trình chuyển đổi từviệc học tập theo hướng nghiền ngẫm nội dung sang xu hướng học tập và pháttriển năng lực Do đó nó góp phần đẩy mạnh quá trình xã hội hóa giáo dục vàtạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho quan điểm học tập suốt đời
Trang 13Tuy nhiên để có thể phát huy hết mọi xu thế của việc ứng dụng côngnghệ thông tin và hạn chế một cách tối đa những hậu quả tác hại mà nó có thểmang lại, một trong những yêu cầu bức thiết là phải biết vận dụng một cáchthành thạo và có hiệu quả khoa học quản lí nói chung và khoa học quản lígiáo dục nói riêng vào mọi hoạt động đào tạo.
Như vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin là một yêu cầu tất yếukhông thể tránh né được cho công tác tổ chức quản lí trong các cơ quan hànhchính xí nghiệp và đặc biệt là trong hệ thống giáo dục đào tạo Tuy nhiên như
đã trình bày ở trên bên cạnh tính ưu việt nổi trội của công nghệ thông tin(CNTT) luôn luôn có thể xuất hiện những mặt trái tiêu cực hoặc phát sinhnhững khả năng ngoài mong muốn Vì vậy, trong bản luận văn này chúng tôimuốn đề cập đến một vấn đề khá thú vị là quan hệ tương hỗ hai chiều trongviệc áp dụng của lý thuyết khoa học quản lí đối với ứng dụng công nghệ thôngtin trong lĩnh vực đào tạo và ngược lại Tuy nhiên do khả năng còn hạn chếchúng tôi xin phép được đi vào một mô hình nhỏ mà chúng tôi đã có cơ hộiđược theo dõi trong suốt thời gian qua đó là hoạt động đào tạo chuyên nghànhĐiện tử viễn thông ở trường Đại học Công nghệ (ĐHCN), Đại học Quốc Gia(ĐHQG) Hà Nội Và trong bản luận văn này chúng tôi xin được tiến hành
nghiên cứu theo đề tài “Quản lí ứng dụng Công nghệ thông tin trong đào tạo chuyên ngành Điện tử viễn thông ở trường ĐHCN, ĐHQG Hà Nội”.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận và thực tiễn quản lí ứng dụng côngnghệ thông tin trong đào tạo chuyên ngành Điện tử viễn thông (ĐTVT) ởtrường ĐHCN, ĐHQG Hà Nội, từ đó chỉ ra vai trò quan trọng của quản lí ứngdụng CNTT trong hoạt động đào tạo chuyên ngành Điện tử viễn thông và đềxuất một số biện pháp nhằm nâng cao hoạt động quản lí của nhà trường tronglĩnh vực này
Trang 143 Nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1 Hệ thống hóa cơ sở về quản lí ứng dụng CNTT trong đào tạo trường Đại học.
3.2 Phân tích thực trạng quản lí ứng dựng CNTT trong đào tạo chuyên ngành Điện tử viễn thông ở trường ĐHCN, ĐHQG Hà Nội.
3.3 Đề xuất một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quản lí việc ứng dụng CNTT trong đào tạo chuyên ngành Điện tử viễn thông ở trường ĐHCN, ĐHQG Hà Nội.
4 Phạm vi và địa bàn nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động quản lí ứng dụng CNTT trong quản lí đào tạo chuyênngành ĐTVT ở trường ĐHCN, ĐHQGHN
4.2 Địa bàn nghiên cứu
Điều tra thực trạng quản lí ứng dụng CNTT trong đào tạo chuyênngành ĐTVT ở trường ĐHCN, ĐHQGHN
5 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
5.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lí các hoạt động ứng dụng CNTT trường ĐHCN,ĐHQGHN
5.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo chuyên ngànhĐTVT ở trường ĐHCN, ĐHQGHN
6 Giả thuyết khoa học
Trường Đại học Công Nghệ, ĐHQGHN là một trong những địa chỉđáng tin cậy của hoạt động đào tạo các khoa học công nghệ trong đó cóchuyên nghành Điện tử viễn thông (ĐTVT) Ở đây việc quản lí ứng dụngCNTT trong hoạt động đào tạo của trường đã được quan tâm và xúc tiến
Trang 15Tuy nhiên do nhiều yếu tố về mặt khách quan và chủ quan, quá trình quản líứng dụng CNTT cũng gặp nhiều khó khăn và chưa đạt được những kết quảnhư mong muốn Nếu đề xuất được những biện pháp quản lí phù hợp thì cóthể nâng cao được kết quả ứng dụng CNTT trong hoạt động đào tạo của nhàtrường và do đó hiệu quả quản lí đào tạo chuyên ngành ĐTVT sẽ được cảithiện.
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu sâu sắc lí thuyết khoa học quản lí ứng dụng CNTT tronglĩnh vực đào tạo
- Tìm hiểu và vận dụng một cách thích hợp những lí luận cơ bản quản líứng dụng CNTT trong lĩnh vực quản lí đào tạo ở bậc Đại học
- Nghiên cứu các văn kiện đại hội của Đảng, các tài liệu về nghị địnhcủa Nhà nước về định hướng phát triển đổi mới giáo dục một cách toàn diện,việc quản lí về giáo dục
- Nghiên cứu một số văn bản quan trọng của Bộ Giáo dục và Đào tạo,
Bộ Thông tin và Truyền thông về ứng dụng CNTT và ICT trong quản lí giáodục của trường
- Tìm hiểu sâu sắc kết hợp với việc phân tích, tổng hợp các tài liệu liênquan đến vấn đề nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: Thiết kế và sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến tìmhiểu nhận thức, nguyện vọng của đội ngũ quản lí, học viên v.v để thu thậpthông tin về hiện trạng quản lí đào tạo, bồi dưỡng truyền thông và trực tuyến
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các chuyên gia có nhiều kinhnghiệm quản lí đào tạo và các chuyên gia đầu ngành về CNTT và chuyênngành ĐTVT
Trang 167.3 Những phương pháp hỗ trợ khác
Sử dụng phương pháp phần mềm và một số tư liệu ở phòng Đào tạo,khoa ĐTVT thuộc trường ĐHCN, ĐHQGHN
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụlục, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong
đào tạo ở trường Đại học
Chương 2 Thực trạng quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong đàotạo chuyên ngành Điện tử viễn thông ở trường Đại học Công Nghệ, Đại họcQuốc Gia Hà Nội
Chương 3 Biện pháp quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong đàotạo chuyên ngành Điện tử viễn thông ở trường Đại học Công Nghệ, Đại họcQuốc Gia Hà Nội
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Sự ra đời và phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông(information and communication: ICT) đã thúc đẩy sự đổi mới không ngừngcủa mọi lĩnh vực trong khoa học kỹ thuật và các hoạt động khác trong xã hộiloài người Có thể nói rằng khoa học quản lí nói chung, quản lí giáo dục vàđào tạo nói riêng, sau khi thừa hưởng các lợi thế của nền công nghệ mới, đãthực hiện được một cú hích cộng hưởng mang lại nhiều lợi ích cho quá trìnhđổi mới trong lĩnh vực Giáo dục và đào tạo Như chúng ta đã biết ứng dụngcông nghệ thông tin (CNTT) đã nâng cao hiệu quả cao cho các hoạt động đàotạo và nghiệp vụ quản lí của các cấp lãnh đạo và quản trị giáo dục ở tất cả các
cơ sở giáo dục và đào tạo Bên cạnh đó với khả năng chia sẻ cơ sở dữ liệu(CSDL) và trang thiết bị CNTT, cả ba đối tượng: người quản lí, giảng viên,sinh viên đều có thể được tận dụng một các hiệu quả các lợi thế do CNTTmang lại Với chủ trương ứng dụng CNTT sâu rộng trong nhà trường, CNTT
sẽ trở thành tài sản chung của nhà trường, tham gia tích cực vào quá trìnhnâng cao hiệu quả hoạt động của nhà trường Dưới góc độ của khoa học quản
lí chúng ta cần có những dự kiến và động thái gì để tận dụng được các lợi thếcủa nền công nghệ mới đó, nhằm phục vụ tốt nhất cho công tác dạy và họctrong nhà trường Đại học ở giai đoạn hiện nay
Dựa trên cơ sở các kiến thức đã được trang bị ở các chuyên đề và sựhướng dẫn của các thầy cô chuyên nghành chúng tôi đặt mục tiêu tập trungnghiên cứu sâu vào vấn đề quản lí ứng dụng CNTT trong hoạt động đào tạo.Góp phần làm sáng tỏ câu hỏi làm thế nào để có thể tận dụng những ứng dụngCNTT một cách có hiệu quả hơn cho hoạt động quản lí đào tạo, quản lí nguồn
Trang 18nhân lực, quản lí cơ sở vật chất Xuất phát từ lý do này, chúng tôi sẽ cố gắngtiếp nối những kiến thức và tư liệu đã có tiếp tục hoàn thành bản luận văn với
đề tài nghiên cứu “Quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo
chuyên ngành Điện tử viễn thông ở trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội”.
Ở nước ta trong thời gian qua đã có khá nhiều công trình khoa họcnghiên cứu về ứng dụng CNTT trong hoạt động đào tạo hoặc ứng dụng củaICT trong hoạt động đào tạo Tuy nhiên các đề tài liên quan tới mảng quản líứng dụng CNTT trong hoạt động đào tạo nói chung và ứng dụng CNTT tronghoạt động đào tạo ở một trường ĐHCN về khoa học công nghệ ở Việt namnói riêng hầu như chưa thấy xuất hiện
Một trong những khía cạnh riêng biệt của bản luận văn này là sẽ đưa rađược các giải pháp quản lý cho một đơn vị cụ thể sau khi nghiên cứu chi tiếtcác điều kiện và số liệu sát thực ở trường ĐHCN, ĐHQGHN
1.2 Khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lí
Khoa học quản lí ra đời cách đây hơn hai trăm năm, F.W Tailor 1915) - cha đẻ của thuyết quản lí khoa học định nghĩa “quản lí là biết chínhxác điều bạn muốn làm người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thànhcông việc một cách tốt nhât và rẻ nhất” [11.tr1] H.Fayol (1841- 1925) tác giảcủa thuyết quản lí tổng quát lại định nghĩa “Quản lí là quá trình đạt đến mụctiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉđạo, kiểm tra” [11.tr7]
(1856-Trong cuốn giáo trình: “Lý thuyết quản lí” tác giả Đỗ Hoàng Toàn cóviết: “Quản lí là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản línhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạtđược các mục tiêu đề ra trong điều kiện biến đổi của môi trường”
Trang 19Như chúng ta đã biết quản lí được tiến hành trong một tổ chức hay mộtnhóm xã hội Do đó, trong thời đại ngày nay quản lí và CNTT luôn gắn liềnvới nhau như một đôi bạn thân thiết hỗ trợ và bổ sung cho nhau, hoàn thiệnnhau, thúc đẩy quá trình phát huy tác dụng của nhau trong các tổ chức, hoạtđộng của con người
Theo các nhà nghiên cứu về khoa học quản lí, quá trình quản lí có bốnchức năng cơ bản, quan hệ mật thiết với nhau để đưa tổ chức hoạt động vớikết quả tốt nhất và chi phí nhỏ nhất theo mục tiêu đã đưa ra Bốn chức năng
đó là: Kế hoạch hóa (planing), tố chức (organizing), chỉ đạo (leading), kiểmtra (controlling) Các chức năng này có quan hệ khăng khít với nhau tạo thànhchu trình quản lý
i) Chức năng kế hoạch: Các hoạt động căn cứ thực trạng ban đầu của
tổ chức, bao gồm xác định mục tiêu, mục đích của tổ chức theo từng giaiđoạn, và từ đó đề ra các biện pháp hay cách thức để đạt được mục tiêu, mụcđích đó
ii) Chức năng tổ chức: Đây là một bước khá quan trọng trong quy trình
quản lí Theo các nhà chuyên môn việc lập ra kế hoạch tốt phải đáp ứng một
số yêu cầu cơ bản sau đây: bảo đảm có nội dung công việc phù hợp, bảo đảm
có cách thức thực hiện và phương án thực hiện cụ thể, bảo đảm sự phù hợp vềthời gian thực hiện, cuối cùng là cần phải biết lựa chon con người người cụthể Tóm lại, lập kế hoạch phù hợp sẽ tránh được các hoạt động rời rạc, tùytiện, không cân nhắc trước và nó sẽ là cơ sở đảm bảo cho quá trình quản lí đạtđược hiệu quả cao
iii) Chức năng chỉ đạo: Khi đã có một kế hoạch tốt thì một yêu cầu hết
sức quan trọng tiếp theo là tổ chức, tổ chức có chức năng chỉ đạo (lãnh đạo)
và chính là phương thức tác động của chủ thể quản lí nhằm điều hành cácthành viên, các bộ phận liên kết nhất trí cao, động viên cổ vũ họ vận hànhtheo đúng kế hoạch để thực hiện mục tiêu, mục đích đã hoạch định
Trang 20Chức năng chỉ đạo là chức năng thứ ba của quản lí Có thể hiểu mộtcách đơn giản chỉ đạo hay lãnh đạo là một quá trình, một nghệ thuật tác độngvào con người làm cho họ không những chỉ tuân thủ các mệnh lệnh mà con tựnguyện và hăng hái làm việc để đạt các mục tiêu của tổ chức Khi lãnh đạo cóthể làm cho cán bộ cấp dưới tự nguyện tuân thủ thì sẽ tạo ra được động lựcthúc đẩy con người hoạt động theo mục tiêu của tổ chức một cách tự nguyện
và hết lòng
iv) Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là quá trình xác định kết quả đạt
được trên thực tế, đối chiếu với các tiêu chuẩn đã xây dựng, thu thập cácthông tin phản hồi, phát hiện những sai lệch và đề ra một chương trình hànhđộng nhằm khắc phục sai lệch để thực hiện các mục tiêu của kế hoạch đề ra.Đây chính là hoạt động của chủ thể quản lí tác động lên khách thể quản lí
Ngày nay dựa vào các chức năng và đặc điểm ưu việt của khoa họcquản lí các nhà khoa học đã xây dựng nên các hệ thống quản lí tự động nhờCNTT phục vụ cho các hoạt động trong đời sống hàng ngày chẳng hạn như:
hệ thống thông tin quản lí giáo dục (EMIS), chính phủ điện tử, thành phốthông minh
Trong các trường Đại học với mục đích thực hiện tốt công tác quản líứng dụng CNTT, người ta thường đề ra một số biện pháp cụ thể để nâng caohiệu quả của ứng dụng CNTT trong đào tạo Riêng ở trường Đại học CôngNghệ chúng tôi sẽ trình bày vấn đề này một cách chi tiết ở các chương tiếptheo của bản luận văn này
1.2.2 Quản lí giáo dục và quản lí đào tạo
1.2.2.1 Quản lí giáo dục
Quản lí giáo dục (QLGD) được hiểu ở mức độ tổng thể là mọi hoạtđộng điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đàotạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển chung của xã hội
Trang 21Quản lí giáo dục (cụ thể hơn là quản lí nhà trường) là một hệ thốngnhững tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí(hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáodục của Đảng và Nhà nước, thực hiện được các tính chất của nhà trường xãhội chủ nghĩa, mà tiêu điểm là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa thế
hệ trẻ tới mục tiêu dự kiến
Quản lí giáo dục có đầy đủ các đặc điểm của hoạt động quản lí nóichung.Việc xây dựng hệ thống thông tin quản lí giáo dục (EducationManagement Information System - EMIS) phục vụ cho cán bộ quản lí, giáoviên, công nhân viên và học sinh của các trường sử dụng là rất quan trọng vàcần thiết đặc biệt nó có thể hỗ trợ đắc lực cho công tác ứng dụng CNTT trongquản lý đào tạo
1.2.2.2 Quản lí đào tạo
Quá trình đào tạo, theo nghĩa hẹp, là quá trình dạy học - giáo dục, là bộphận chủ yếu nhất trong toàn bộ hoạt động của một nhà trường, do nhà trường
tổ chức, quản lí, chỉ đạo
Quản lí đào tạo là những tác động của chủ thể quản lí vào quá trìnhgiáo dục và đào tạo (được tiến hành bởi tập thể các công chức, chuyên viên,giảng viên và sinh viên, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằmhình thành và phát triển toàn diện nhân cách sinh viên theo mục tiêu đào tạocủa nhà trường
Nhiệm vụ của quản lí đào tạo là tạo môi trường và điều kiện thuận lợicho đội ngũ giảng viên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học; Tạo động lực
và khích thích tinh thần lao động sáng tạo của đội ngũ cán bộ, giảng viêntham gia quá trình đào tạo; Kết hợp việc phát huy cao độ tính sáng tạo củamỗi cán bộ, giảng viên với sự quản lí thống nhất của đội ngũ cán bộ quản lí(CBQL) nhà trường; Xây dựng cơ chế và có chính sách phù hợp để phát huy
Trang 22tối đa nội lực đi đôi với sự tranh thủ tiềm lực của các lực lượng ngoài nhàtrường, đảm bảo chất lượng bền vững.
Ngoài ra, quản lí đào tạo còn có một số tính chất sau:
i) Quản lí đào tạo mang tính chất quản lí hành chính - sư phạm:
Tính hành chính: Quản lí theo pháp luật, nội qui, qui chế.
Tính sư phạm: Quản lí phải phù hợp với qui luật của quá trình dạy học
diễn ra trong môi trường sư phạm lấy hoạt động giáo dục - đào tạo làm đốitượng quản lí
ii) Quản lí đào tạo mang tính chất đặc trưng của khoa học quản lí:
Quản lí đào tạo là quản lí hoạt động đào tạo thực hiện theo chức năngquản lí bao gồm: chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng lãnhđạo, chức năng kiểm tra
Quản lí đào tạo được vận hành theo các nguyên tắc, phương pháp quản
lý Quản lí đào tạo có tính chất xã hộ hóa cao, quản lí đào tạo chịu sự chi phối
của các điều kiện kinh tế - xã hội, quản lí đào tạo cần huy động nhiều lựclượng xã hội tham gia vào quá trình giáo dục - đào tạo
1.2.3 Công nghệ thông tin
Ở Việt nam, khái niệm Công nghệ thông tin được hiểu và định nghĩatrong Nghị quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 của Chính phủ về phát triểnCNTT, như sau: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học,các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính vàviễn thông - nhằm tổ chức, khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn tàinguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt độngcủa con người và xã hội.” Ngày nay để nhấn mạnh vai trò của truyền tinngười ta thường dùng thuật ngữ Công nghệ thông tin và truyền thông(Information and Comunication Technology: ICT)
Nội dung của CNTT rất đa dạng và phong phú về cơ bản nó bao gồmcác lĩnh vực sau đây:
Trang 23i) Lĩnh vực của Công nghệ phần cứng: Đây là lĩnh vực CNTT thực
hiện những yêu cầu sản xuất các thiết bị phục vụ công việc, tích hợp các thiết
bị để thực hiện các công việc
ii) Lĩnh vực phần mềm:
- Phần mềm hệ thống: Đó là các phần mềm như hệ điều hành giúp giao
tiếp giữa người và máy, quản lý các tiến trình, tài nguyên của máy
Ngày nay người ta phát triển nhiều các hệ điều hành mạnh về quản trịmạng Thông tin được xử lý trong một hệ thống, trong một địa điểm cụ thể thìkhông truyền bá được cho nhiều người dung Truyền thông giúp cho thông tinđược truyền đến nhiều người, nhiều địa điểm khác nha trên thế giới, làmthông tin được quảng bá rộng rãi CNTT thực hiện khâu chuẩn bị để dữ liệuđược đóng gói, được chuyển hóa thành tín hiệu phù hợp với yêu cầu củađường truyền đến nhiều người, nhiều địa điểm khác nhau trên thê giới, làmthông tin được quảng bá rộng rãi Lĩnh vực truyền thông là một cơ sở quantrọng của việc ứng dụng internet để truyền dẫn thông tin
ii) Phần mền ứng dụng: Phần mền là hệ thống chương trình chạy trên
máy tính để thực hiện một công việc cụ thể nào đó Phần mền rất đa dạng và docác hãng phần mềm thiết kế Muốn máy tính thực hiện một công việc cụ thể nào
đó, thì cần phải cài đặt phần mền tương ứng lên máy tính đó Như vậy phần mềnrất quan trọng trong việc ứng dụng CNTT vào các họa động chuyên môn
Các cơ sở đào tạo khác đã ứng dụng những phần mền chuyên biệt đểquản lý đào tạo Đơn cử như một số phần mềm như sau: Phần mền tuyển sinh,phần mềm quản lý điểm, phần mềm hỗ trợ sắp xếp thời khóa biểu, phần mềmquản lý điểm, phần mềm quản lý thi và kiểm tra, phần mền hỗ trợ ra đề thitrắc nghiệm, phần mền EKP, phần mềm e-learning (dạy học trực tuyến)
- Phần mềm tiện ích: Ngoài các phần mềm đã nói trên còn có phần
mềm giúp sử dụng và bảo trì máy được tiện lợi hơn, phần mềm này gọi làphần mềm tiện ích
Trang 241.3 Vai trò ứng dụng CNTT đối với sự phát triển của xã hội
Xã hội càng phát triển các mối quan hệ ngày càng nhiều, độ phức tạpcàng lớn làm cho việc quản lí xã hội ngày càng trở nên khó khăn hơn Sự rađời, phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông đã tạo nên mộtphương thức quản lí xã hội mới, hiện đại là quản lí bằng Chính phủ điện tử
Chính phủ điện tử (e-Government) là tên gọi của một chính phủ màmọi hoạt động của nhà nước “điện tử hóa”, “mạng hóa” Tuy nhiên, chính phủđiện tử không đơn thuần là máy tính, mạng Internet; mà là sự đổi mới toàndiện các quan hệ (đặc biệt là quan hệ giữa chính quyền và công dân), cácnguồn lực, các quy trình, phương thức hoạt động và bản thân nội dung cáchoạt động của chính quyền trung ương và địa phương, cả các quan niệm vềcác hoạt động đó
Lợi ích chính phủ Điện tử là đáp ứng mọi nhu cầu của công dân bằngviệc nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy chính quyền từ trung ương tới
cơ sở như quản lí nhân sự, quy trình tác nghiệp, v.v…Chính phủ Điện tử đemlại những hiệu quả to lớn trong quản lí: cung cấp dịch vụ một cách hiệu quả
và kịp thời cho người dân, doanh nghiệp, các cơ quan và nhân viên chính phủ
Ở Việt Nam để tận dụng các lợi ích của CNTT Đảng và Chính phủđang xúc tiến kế hoạch xây dựng thí điểm các thành phố thông minh như HàNội, Hải phòng, Đà nẵng v.v…
Để có thấy rõ những lợi ích cơ bản về vai trò của CNTT đối với sự pháttriển của xã hội, chúng tôi xin liệt kê một vài nhận xét sau đây:
- CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển
- CNTT góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần
- CNTT là chiếc chìa khoá để mở cánh cổng vào nền kinh tế tri thức
- Tác động của CNTT đối với xã hội loài người vô cùng to lớn, nó khôngchỉ thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế, mà còn kéo theo sự biến đổitrong phương thức sáng tạo của cải, trong lối sống và tư duy của con người
Trang 25Trong giáo dục và đào tạo CNTT đóng một vai trò hết sức to lớn, nó đãlàm thay đổi một cách căn bản cách dạy và cách học Nhờ có công nghệ thôngtin mà chúng ta có thể đẩy nhanh các quá trình chuyển đổi từ hình thái học tậptrung sang hình thái học tập theo phương thức phân tán đa tốc độ Đặc biệtCNTT có thể hỗ trợ đắc lực cho chúng ta trong quá trình chuyển đổi từ việchọc tập theo hướng nghiền ngẫm nội dung sang xu hướng học tập và phát triểnnăng lực Do đó nó góp phần đẩy mạnh quá trình xã hội hóa giáo dục và tạođiều kiện vô cùng thuận lợi cho quan điểm học tập suốt đời.
Nói một cách cụ thể hơn CNTT đã làm thay đổi hầu hết mọi lĩnh vực củagiáo dục và đào tạo
- CNTT đã làm thay đổi nhà trường, các mô hình giáo dục đã có nhiềuthay đổi: Hiện nay có nhiều trường ảo trên mạng Chỉ cần một máy tính nốimạng người ta có thể học tập ở bất cứ đâu, vào bất cứ thời gian nào Thuậtngữ E-learning không còn quá xa lạ với mọi người
Hình thức đào tạo cũng có nhiều thay đổi, công nghệ thông tin vàtruyền thông phát triển đã tạo nên những thay đổi lớn về giáo dục và đào tạo.Nhiều hình thức đào tạo mới đã xuất hiện, chẳng hạn như: Đào tạo từ xa, đàotạo trực tuyến
- CNTT đã làm thay đổi nội dung và hình thức sách vở , trong sáchkhông chỉ có hình minh họa mà còn có thể có âm thanh, hình ảnh tĩnh vàđộng, thậm chí cả phim minh họa Sách điện tử cũng xuất hiện ngày mộtnhiều
- Thay đổi phương thức quản lí giáo dục, từ khi máy tính ra đời, côngnghệ thông tin phát triển, công việc quản lí đã được thay đổi, chuyển từ quản
lí thủ công sang quản lí bằng máy tính và các thiết bị công nghệ Sự thay đổinày đã mang lại hiệu quả to lớn cho các doanh nghiệp nói chung và các nhàtrường nói riêng Công nghệ thông tin hỗ trợ cho công tác quản lí và điềuhành của các nhà trường trên mọi lĩnh vực: Tài chính, chuyên môn, nhân sự,
Trang 26học sinh, lập kế hoạch, thống kê báo cáo, tài sản, thiết bị, đồ dùng dạy học,…
và ra quyết định
- Thay đổi chất lượng giáo dục, CNTT ứng dụng trong dạy học giúpcho nhà giáo nâng cao chất lượng giảng dạy, người học nắm bài tốt hơn,Ngoài ra, internet cũng trợ giúp cho người học trong việc tra cứu, tìm hiểu,cập nhật tri thức và tự kiểm tra bản thân, làm cho chất lượng nâng cao thêm
- CNTT ứng dụng trong định đánh giá chất lượng giúp cho công táckiểm định được toàn diện, kết quả kiểm định được khách quan và công khai.Điều này làm nên động lực để các trường, các tổ chức có kế hoạch hoàn thiệnnhà trường để đạt đến các chuẩn đề ra
1.4 Ứng dụng CNTT trong hoạt động đào tạo ở trường Đại học
1.4.1 Ứng dụng trong nghiên cứu khoa học
Các giảng viên ở trường đại học vừa làm nhiệm vụ giảng dạy vừa làmnhiệm vụ nghiên cứu CNTT là công cụ đắc lực giúp các giảng viên - các nhàkhoa học thu thập thông tin, xử lý thông tin và chia xẻ thông tin Nhiều vấn đề
có độ phức tạp tính toán lớn, rất khó giải khi chưa có máy tính hoặc máy tốc
độ chậm thì nay đã có thể giải quyết Công cụ mới đã làm cho công tácnghiên cứu khoa học có những bước nhảy vọt
1.4.2 Ứng dụng trong soạn thảo giáo án
Một trong những ứng dụng của công nghệ thông tin trong dạy học làsoạn thảo giáo án Hiện nay có nhiều phần mềm soạn thảo giúp cho giảngviên, giảng viên soạn thảo giáo án, trong đó phần mềm thông dụng nhất hiệnnay là MS Word Tuy nhiên, để sử dụng MS word một cách hiệu quả, ngoàithao tác cơ bản, giảng viên cần nắm thêm một số tính năng nâng cao: Chèn tựđộng đoạn văn bản, lưu vết, trộn thư, tạo thẻ đoạn mục lục, vẽ hình đơn giản
Ngoài ra, tùy theo đặc thù môn học, giảng viên, giảng viên có thể biếtmột số phần mềm bổ trợ:
- Phần mềm hỗ trợ soạn thảo giáo án
Trang 27Bên cạnh soạn giáo án thông thường, tỷ lệ giảng viên sử dụng bản trìnhchiếu điện tử trong giảng dạy cũng tăng đáng kể Một trong các phần mềmsoạn thảo bản trình chiếu điện tử thông dụng và đơn giản nhất hiện nay màgiảng viên thường dùng là MS PowerPoint
Nhận thức được tầm quan trọng và hiệu quả nhờ ứng dụng CNTT manglại, một số trường, sở giáo dục và đào tạo đã yêu cầu, động viên, khuyếnkhích giảng viên soạn giáo án bằng máy vi tính, sử dụng bản trình chiếu điện
tử trong dạy học, điều mà cách đây chưa lâu được xem là không cho phép
1.4.3 Ứng dụng trong thực hiện bài giảng
Một trong các yếu tố để đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chấtlượng dạy học là phương tiện dạy học Đặc biệt khi sử dụng bài giảng điện tử,giảng viên không thể không sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại Côngnghệ thông tin và truyền thông mới đã cung cấp cho chúng ta những phươngtiện dạy học hiện đại: Máy chiếu projector, smart board (bảng thông minh),mạng nội bộ, các phần mềm dạy học, các trang web… Để sử dụng cácphương tiện dạy học, giảng viên cần làm chủ phương tiện dạy học, trong đóprojector là thiết bị dạy học phổ biến nhất hiện nay
Một sự thay đổi đáng kể trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vàodạy học là ở một số trường đã đưa tiêu chí sử dụng công nghệ thông tin vàoviệc đánh giá giờ dạy của giảng viên Tuy mức độ chưa cao, nhưng nó đã trởthành động lực để giảng viên khai thác các phương tiện dạy học hiện đại,nâng cao chất lượng bài dạy
1.4.4 Ứng dụng trong khai thác dữ liệu
Trong thời đại Công nghệ thông tin phát triển mạnh hiện nay, thông tintrên internet đã trở thành một kho tài nguyên tri thức vô tận, về mọi lĩnh vựcđối với mọi người nếu biết cách khai thác nó Để khai thác được các thông tintrên Internet, ta phải sử dụng các công cụ tìm kiếm: google, search.netnam,
Trang 28vinaseek, socbay,… Một trong các công cụ được sử dụng phổ biến và hiệuquả là công cụ tìm kiếm google Đối với giảng viên, ngoài việc tìm kiếm cácthông tin trên internet thông thường, cần biết khai thác từ các nguồn từ điển
mở, thư viện bài giảng…
1.4.5 Ứng dụng trong đánh giá kết quả học tập
Ngày nay, công nghệ thông tin được ứng dụng nhiều trong công tácđánh giá nói chung và đánh giá học sinh, cán bộ nói riêng nhờ những lợi thếcủa nó về lưu trữ, thống kê, tính toán, sắp xếp, lọc dữ liệu…
Nhờ công nghệ thông tin mà học sinh có thể tự đánh giá kiến thức củamình bằng các phần mềm trắc nghiệm để từ đó tự bổ sung, hoàn thiện kiếnthức Giảng viên, nhà trường đánh giá kết quả học tập của học sinh một cáchchính xác, khách quan hơn khi tổ chức thi, kiểm tra bằng máy tính Hiện nay,một số môn thi đại học đã chấm bằng máy chấm trắc nghiệm tự động manglại độ chính xác gần như tuyệt đối Ở nhiều trường đã sử các phần mềm thitrắc nghiệm để tổ chức thi học kỳ, thi thử cho học sinh Việc sử dụng cácphần mềm thi trắc nghiệm trong đánh giá kết quả học tập của học sinh manglại rất nhiều lợi ích
Trong quản lí, các nhà quản lí sử dụng các kênh thông tin: diễn đàn, hệthống bình chọn, các phần mềm quản lí để làm cơ sở đánh giá cán bộ, nhânviên của mình, đảm bảo tính tiện lợi, khách quan, nhanh chóng
1.4.6 Ứng dụng trong học tập của sinh viên
Giáo dục đang thay đổi một cách mạnh mẽ, nhiều phương pháp, quanđiểm dạy học mới ra đời, hướng tới mục tiêu “dạy ít, học nhiều”, tăng tínhchủ động, khả năng tự học của người học Với sự phát triển mạnh mẽ củakhoa học kỹ thuật, khối lượng tri thức được tạo ra nhanh chóng, đòi hỏi mỗingười phải học thường xuyên, học liên tục, học suốt đời, học mọi lúc, học mọinơi Công nghệ thông tin và truyền thông đang trở thành phương tiện không
Trang 29thể thiếu được để thực hiện các mục tiêu trên Ngoài ra, công nghệ thông tin
và truyền thông cũng hỗ trợ rất tốt cho việc học tập của học sinh dưới nhiềuhình thức:
- Tìm kiếm, tra cứu tài liệu học tập trên mạng internet
- Tham gia các lớp học qua mạng
- Tự đánh giá kiến thức của mình bằng các phần mềm trắc nghiệm
- Chia sẻ thông tin với giảng viên, bạn bè qua các diễn đàn
- Tham gia các cuộc thi trực tuyến (online)
1.4.7 Ứng dụng trong quản lí nhà trường
Nhà trường là một cơ sở đào tạo với những hoạt động rất đặc thù nênviệc xây dựng nhà trường điện tử là rất cần thiết Trong nhà trường hoạt độnggiảng dạy của cán bộ, giảng viên, giáo viên, hoạt động học tập của học sinh,
và các hoạt động khác liên quan đến cơ sở vật chất của nhà trường là nhữnghoạt động rất phức tạp Quản lí các họat động này rất cần sự hỗ trợ củaCNTT
Thực tế đã có rất nhiều các phần mềm quản lí toàn bộ các hoạt độngcủa nhà trường Tuy nhiên nhiều trường với nhiều lý do chỉ xây dựng cácphần mềm quản lí từng hoạt động riêng lẻ Những phần mềm đó ít nhiều đãgiảm thiểu những phức tạp trong công tác quản lí của những cán bộ quản trịnhà trường
1.5 Quản lí hoạt động của ứng dụng CNTT trong đào tạo ở trường Đại học
Như chúng ta đã biết quá trình quản lí có bốn chức năng cơ bản, quan
hệ mật thiết với nhau để đưa tổ chức hoạt động với kết quả tốt nhất và chi phínhỏ nhất theo mục tiêu đã đưa ra Vì vậy việc quản lí hoạt động của ứng dụngCNTT trong các trường Đại học có ý nghĩa hết sức quan trọng
Trang 30Dựa trên cơ sở về các khái niệm đã được trình bày ở các phần trên vềứng dụng CNTT ở trường Đại học chúng ta thấy quản lí ứng dụng CNTT gồmnhững vấn đề chính sau đây:
- Quản lí hệ thống thông tin Quản lí hệ thống thông tin là quản lí là hệ thống cung cấp thông tin cho công tác quản lí của tổ chức Nó bao gồm con người, thiết bị, quy trình thu thập, phân tích, đánh giá và phân phối thông tin cần thiết, kịp thời, chính xác cho việc ra quyết định và điều hành tổ chức
Ở đây thông tin quản lí là những dữ liệu được xử lý và sẵn sàng phục
vụ công tác quản lí của tổ chức Có 3 loại thông tin quản lý trong tổ chức, đó
là thông tin chiến lược, thông tin chiến thuật và thông tin điều hành Cácthông tin này được sắp xếp theo một hệ thống có và được
- Quản lý hệ thống phần mềm cụ thể như: phần mềm (PM) quản lí cánbộ; PM quản lí tài chính; PM quản lí đào tạo; PM quản lí sinh viên; PM quản
lí giảng dạy; PM quản lí tài sản, thiết bị; PM quản lí thư viện; PM quản líhành chính
Trong quản lí, các nhà quản lí sử dụng các kênh thông tin: diễn đàn, hệthống bình chọn, các phần mềm quản lí để làm cơ sở đánh giá cán bộ, nhânviên của mình, đảm bảo tính tiện lợi, khách quan, nhanh chóng
1.6 Các yêu cầu đối với cán bộ quản lí trong hoạt động đào tạo ở trường Đại học
Quản lí đào tạo (QLĐT) là những tác động của chủ thể quản lí vào quátrình giáo dục và đào tạo (được tiến hành bởi tập thể giảng viên và sinh viên,với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triểntoàn diện nhân cách sinh viên theo mục tiêu đào tạo của nhà trường
Vì vậy, cán bộ quản lí đào tạo phải tạo môi trường và điều kiện thuậnlợi cho đội ngũ giảng viên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học Cán bộquản lí đào tạo phải tạo động lực và khích thích tinh thần lao động sáng tạo
Trang 31của đội ngũ cán bộ, giảng viên tham gia quá trình đào tạo Người quản lí đàotạo phải biết kết hợp việc phát huy cao độ tính sáng tạo của mỗi cán bộ, giảngviên với sự quản lí thống nhất của đội ngũ cán bộ quản lí (CBQL) nhà trường.Nhà quản lí đào tạo phải biết xây dựng cơ chế và có chính sách phù hợp đểphát huy tối đa nội lực đi đôi với sự tranh thủ tiềm lực của các lực lượngngoài nhà trường Đảm bảo chất lượng bền vững.
Trong bối cảnh thế giới ngày nay, các tác động của quá trình toàn cầuhóa, bước chuyển sang nền kinh tế tri thức, cuộc cách mạng về CNTT tạo racho giáo dục có thêm vai trò mới: Giáo dục vừa là động lực cho việc vận hànhnền kinh tế tri thức, vừa là hạ tầng xã hội cho việc hình thành xã hội tri thức -
đó là nền giáo dục đặt trên cơ sở thích ứng với điều kiện, khả năng và nhu cầuphát triển của xã hội mới; đang tạo ra một bức tranh đa dạng của các hệ thốnggiáo dục thế giới, nhưng vẫn có sự thống nhất về xu thế vận động và pháttriển, đó là: phổ cập hóa giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục, dân chủ hóagiáo dục, thương mại hóa giáo dục, quốc tế hóa giáo dục ; đồng thời tạo rasức ép cho các hệ thống giáo dục phải có sự thay đổi trong đào tạo - bồidưỡng và cung cấp cho xã hội những con người có khả năng: làm việc theonhóm, làm công dân, làm lãnh đạo, năng động và sáng tạo phù hợp với nhucầu của xã hội hiện đại
Đứng trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra đối với cán bộ quản lí trongcông tác đạo tạo là quá trình toàn cầu hóa, thế giới thành phẳng, trong đó: cácnước là láng giềng của nhau; các nền kinh tế đan xen nhau trong hợp tác vàcạnh tranh; các hệ thống giáo dục được quốc tế hóa Giáo dục cũng trở thànhphẳng - tức là hình thành một sân chơi giáo dục bình đẳng, nơi mọi người cóthể học tập, học tiếp, học lên cao vào bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu, với bất kỳtrình độ nào; nhà trường hiệu quả, nhà trường thông tuệ, nhà trường tương laiđược đưa vào thực thi tại nhiều nơi nhằm đáp ứng nhu cầu, năng lực, lựa chọn
Trang 32khác nhau của người học Điều đó đặt ra cho giáo dục nhiệm vụ chuyển trọngtâm đào tạo từ chiều sâu sang diện rộng để người học không phải học chỉ đểbiết, để làm, để thành người mà còn học để chung sống, đủ sức đương đầu vớicạnh tranh và hợp tác Vì thế cán bộ quản lí giáo dục (CBQLGD) đang đứngtrước yêu cầu mới là nâng cao hiệu quả tương lai của nhà trường với 3 địnhhướng: toàn cầu hóa (phát huy nguồn tri thức toàn cầu), địa phương hóa (pháthuy thế mạnh, bản sắc và truyền thống địa phương), cá biệt hóa (phát huynăng lực cá nhân người học)
Bước chuyển sang nền kinh tế tri thức: tri thức trở thành động lực của
sự phát triển Song, trong thời đại bùng nổ thông tin này, tri thức sinh sôi vàcùng với nó là chết đi diễn ra hết sức nhanh chóng, nên cách học một lần đểdùng cho suốt đời không còn phù hợp nữa Điều đó đặt ra cho giáo dục nhiệm
vụ chuyển phương thức từ giáo dục học đường sang giáo dục thường xuyên,suốt đời và kết hợp giữa chúng trong một xã hội học tập Trước yêu cầu mớicủa xã hội học tập, người CBQLGD không chỉ hô hào mọi người học tậpthường xuyên mà phải là tấm gương cho đội ngũ về học tập thường xuyên,suốt đời CBQLGD cần có kế hoạch chiến lược về nghiên cứu khoa học, tựhọc, tự bồi dưỡng về các kiến thức chính trị - xã hội, chuyên môn - nghiệp vụquản lí, đo lường và đánh giá trong giáo dục, công nghệ thông tin, ngoạingữ để phát triển chính mình Muốn trở thành CBLQGD chất lượng caophải có tính kiên nhẫn, sự khổ luyện, lòng can đảm, tự tin trong học tậpthường xuyên và phấn đấu suốt đời cho sự nghiệp
- Cuộc cách mạng về công nghệ thông tin và truyền thông đang tácđộng mạnh mẽ đến giáo dục trên mọi khía cạnh, buộc giáo dục phải tư duy lạinhững quan niệm về nhà trường, nhà quản lí, nhà giáo, người học, về quátrình dạy học, về tương lai của giáo dục để nắm bắt, cập nhật, khai thácnhững lợi thế do tiến bộ ICT&TT đem lại Hệ thống thông tin trong quản lígiáo dục (HTTTQLGD) là yêu cầu bắt buộc phải có đối với bất kỳ tổ chức, cơ
Trang 33sở giáo dục nào để giúp cho CBQL có cơ sở tin cậy và khách quan trong điềuhành và ra quyết định quản lí chuẩn xác Trong thời đại thông tin, vai trò củaCBQLGD không hề giảm mà có cơ hội tăng lên, đòi hỏi CBQLGD phải có kỹnăng sử dụng ICT&TT; làm chủ được môi trường ICT&TT mới, vận dụngICT&TT vào quản lí có hiệu quả, đồng thời phải chuẩn bị về mặt tâm lý chomột sự thay đổi cơ bản của họ khi bổ sung và cập nhật kiến thức chuyên môn
- nghiệp vụ quản lý và sẽ phải đối mặt với sự gia tăng về số lượng người học,
do đó CBQLGD phải chỉ đạo giảng viên, giảng viên dạy số lượng người họcđông hơn, đa dạng hơn theo các cách thức khác nhau dùng các phương pháp
và công nghệ mới
Cán bộ quản lí đào tạo là người điều hành một hệ thống lớn và phứctạp, đồng thời thực thi các chính sách giáo dục đa dạng và mềm dẻo để giảiquyết mọt cách chủ động và sáng tạo các vấn đề mới nảy sinh như: Phân cấpquản lí, trách nhiệm xã hội, huy động nguồn lực, dân chủ hóa giáo dục, tinhọc hóa quản lí CBQLGD đóng vai trò quyết định trong việc đảm bảo thựchiện thành công chính sách giáo dục và nâng cao hiệu quả hoạt động giáodục Vai trò của CBQLGD thay đổi một cách căn bản:
Nếu CBQLGD trước đây hướng tới ổn định và trật tự thì CBQLGDngày nay hướng tới đổi mới và phát triển CBQLGD trước đây quản lí bằngmệnh lệnh; còn CBQLGD ngày nay phải đóng vai trò nhà chính trị để tạođược sự đồng thuận trong đội ngũ và tổ chức CBQLGD trước đây không biếtđến sức ép tài chính, còn CBQLGD ngày nay phải xoay xở như một doanhnhân CBQL của cơ quan QLGD trước đây: chỉ huy, ra lệnh và kiểm soát thìngày nay: hướng dẫn, tư vấn, hỗ trợ, tạo điều kiện CBQL cấp trường trướcđây: thực hiện mệnh lệnh cấp trên trong mọi lĩnh vực: chuyên môn, tổ chức,nhân sự, tài chính thì ngày nay: quyết định, tổ chức thực hiện, minh bạch hóacác hoạt động chuyên môn, tổ chức, nhân sự và kĩ năng chủ yếu của họ là giảiquyết vấn đề Tất cả những sự thay đổi trên đòi hỏi CBQLGD phải được
Trang 34chuẩn bị chu đáo và thường xuyên về chuyên môn - nghiệp vụ quản lý chủyếu thông qua đào tạo - bồi dưỡng CBQLGD phải được trang bị những kiếnthức về lý luận quản lí hiện đại, nghiệp vụ quản lí thiết thực mang tính chuyênnghiệp, đặc biệt cần có các kĩ năng quản lí của thế kỷ XXI: kĩ năng giao tiếp
và liên nhân cách; định hướng đạo đức và trí tuệ; kĩ năng quản lí sự thay đổi;khả năng khơi dậy và nuôi dưỡng động lực; có tầm nhìn chiến lược; kĩ năngphân tích và giải quyết vấn đề; kĩ năng xây dựng tư duy toàn cầu; dám nghĩ,dám làm; nhạy bén với các xu thế thị trường; sử dụng CNTT, có năng lựchoạt động thực tiễn, năng lực đối ngoại để trở thành nhà quản lý có đủ bảnlĩnh biến chủ trương, chính sách thành hiện thực; trở thành nhà quản lí trongsạch và thạo việc, thực hiện đúng chức trách một cách chuyên nghiệp, hoạtđộng theo nguyên tắc minh bạch và hiệu quả
1.7 Nội dung quản lí ứng dụng CNTT trong hoạt động đào tạo ở trường Đại học
1.7.1 Quản lí đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ về CNTT
Để có thể thực hiện tốt quản lí đào tạo ngoài trình độ chuyên môn vềkhoa học quản lí giáo dục, cán bộ nhân viên phục vụ công tác đào tạo cần phảiđược trang bị một cách tương đối đầy đủ về ứng dụng CNTT Trước hết họ cần
sử dụng thành thạo các phần mềm chuyên dụng cho các công việc sau đây:
- Quản lí học tập:
Ngoài việc quản lí thông tin học sinh, phần mềm quản lí học sinh cònquản lí thông tin về kết quả học tập, rèn luyện của học sinh; tính điểm trungbình chung học kỳ, năm học; xét lên lớp, xét danh hiệu thi đua,…và cung cấpcác số liệu báo cáo như tỷ lệ học sinh lên lớp/ở lại, học sinh tiên tiến và tracứu các thông tin riêng của học sinh Ngoài ra, có thể bổ sung các chức năngnhư: Liên lạc điện tử giữa phụ huynh học sinh và nhà trường, điều tra khảosát lấy ý kiến của phụ huynh, học sinh, …
- Xếp thời khóa biểu:
Trang 35Việc xếp thời khóa biểu diễn ra ở từng học kỳ Đây là công việc kháphức tạp do thường có quá nhiều tham số, yêu cầu cần thỏa mãn Phần mềmxếp thời khóa biểu sẽ hỗ trợ các nhà quản lí trong việc xếp thời khóa biểu chogiảng viên nhà trường một cách khoa học, đáp ứng các quy định của phòng,
sở và Bộ Giáo dục và Đào tạo Giúp các nhà quản lý theo dõi, quản lí được kếhoạch giảng dạy, bài dạy của từng giảng viên
- Quản lí thi trắc nghiệm:
Phần mềm thi trắc nghiệm trên máy tính hỗ trợ việc soạn ngân hàng câuhỏi, tạo đề thi, tổ chức thi, chấm tự động, in kết quả, thống kê kết quả… Phầnmềm thi trắc nghiệm cũng có thể có thêm chức năng tạo đề thi, đáp án in trêngiấy đề thi trắc nghiệm, tạo thuận lợi cho các trường có cơ sở hạ tầng côngnghệ thông tin chưa đảm bảo
Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ về CNTT là việc làm thường xuyên ở trườngđại học Quản lí hoạt động này là một nội dung quan trọng của mỗi trường.Tuy nhiên đây là hoạt động phức tạp vì đội ngũ cán bộ nói chung đa dạng vềtrình độ, về tuổi tác và về lĩnh vực chuyên môn Ứng dụng CNTT để quản lícác hoạt động này là việc làm hết sức tự nhiên
Với hệ thống các phần mềm quản lí ứng dụng CNTT trong nhà trường
đa dạng và phong phú như vậy, nhà trường xác định rõ vai trò của việc quản líđào tạo, bồi dưỡng cán bộ là hết sức cần thiết Lãnh đạo nhà trường có kếhoạch bồi dưỡng cán bộ chuyên trách, cán bộ phụ trách về CNTT tại cácphòng chức năng đi tập huấn hàng năm để cập nhật kiến thức về chuyên mônnghiệp vụ và kiến thức tin học Trên cơ sở đó giao nhiệm vụ nghiên cứu vàtriển khai ứng dụng CNTT vào các hoạt động của mình phụ trách, quản trị hệthống và phần mềm quản lí, bảo trì bảo dưỡng máy tính và các trang thiết bịkhác, trình bày thông tin và xuất bản điện tử
Trang 361.7.2 Quản lí cơ sở vật chất, trang thiết bị về CNTT
Hiện nay các Phòng ban chức năng của nhà trường được đầu tư về cơ
sở vật chất và trang thiết bị CNTT tương đối đầy đủ Lãnh đạo các đơn vị cơ
sở có nhiệm vụ quản lí cơ sở vật chất, trang thiết bị của đơn vị mình phụtrách Khi tiến hành lắp đặt, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị về CNTTđạt chuẩn, định hướng của nhà trường sẽ thực hiện những hạng mục sau:
- Xây dựng hệ thống Phòng chức năng rộng, đủ không gian chứa hệthống máy tính cỡ lớn và các trang thiết bị khác có liên quan
- Mạng intranet, internet có tóc độ kết nối nhanh
- Hệ thống máy chủ lớn thực hiện việc quản trị và các dịch vụ khácnhau: Máy chủ web, máy chủ Mail, máy chủ firewall, máy chủ ứng dụng,
- Hệ thống máy trạm để cập nhật, khai thác thông tin: máy tính dùngcho cán bộ quản lí, cán bộ chuyên trách
- Các hệ thống máy chuyên dụng phục vụ nhu cầu chức năng riêng biệtnhư: máy fax, máy scan, máy chiếu, …
1.7.3 Quản lí thông tin, dữ liệu nguồn
Trong hệ thống thông tin, dữ liệu nguồn của nhà trường thông tin đượchiển thị dưới dạng CSDL, và giao diện web Nguồn thông tin thường là cácdanh mục chủ đề được tổ chức, quản lí bảng biểu hoặc hiển thị trên OPAC(mục lục tra cứu trực tuyến) nhằm tạo thuận lợi cho người dùng khai thácthông tin
Ngoài ra người dùng tin có thể tiếp cận, khai thác nguồn tin thông quaCSDL toàn văn hay CSDL đã được số hóa thành dữ liệu số Mặt khác, Hệthống thông tin còn quản lí nguồn tin thông qua liên kết với các nguồn tàinguyên thông tin bên ngoài qua website của các trường trong hệ thống cáctrường Đại học Do đó, để quản lí nguồn thông tin và CSDL có hiệu quả cần
Trang 37chú ý đến các yếu tố như: năng lực của người thực hiện dịch vụ (phải đượcđược đào tạo chuyên môn; có khả năng tra cứu thông tin và sử dụng các ứngdụng CSDL; khả năng ngoại ngữ; khả năng sử dụng các nguồn thông tinv.v… khả năng sử dụng trang thiết bị hiện đại để khai thác các nguồn tin; cókhả năng tư vấn/hướng dẫn, và yếu tố hết sức quan trọng nữa là trang thiết bị
kỹ thuật hiện đại đảm bảo tính chính xác, chất lượng và kịp thời của thông tin
1.7.4 Quản lí các mối liên kết về ứng dụng CNTT
Các ứng dụng CNTT được sử dụng trong nhà trường có các mối liên hệchặt chẽ với nhau, cùng sử dụng chung một hệ thống thông tin, dữ liệu Do đóviệc quản lí các mối liên kết này có vai trò hết sức quan trọng, các mối liênkết có thể xuất hiện dưới nhiều dạng như: liên kết qua lại, liên kết thứ bậc,liên kết phụ thuộc, …Do vậy việc quản lí các mối liên kết luôn là một vấn đềđược quan tâm và có ý nghĩa thực tế trong khoa học quản lí, đặc biêt là quản
lí mạng Một vấn đề khác có liên quan đến việc quản lí mối liên kết đó là vấn
đề bảo mật và bảo trì hoạt động thường xuyên của hệ thống mạng nội bộ
1.8 Những yếu tố ảnh hướng đến quản lí ứng dụng CNTT trong đào tạo ở trường Đại học
1.8.1 Yếu tố chủ quan
Nhân tố đầu tiên có ảnh hưởng đến quản lí ứng dụng CNTT là năng lực
và mức độ quyết tâm của lãnh đạo và đội ngũ cán bộ quản lí Như chúng ta đãbiết trong hoạt động quản lí là một khoa học, một nghề và là một nghệ thuật
Vì vậy nếu các nhà lãnh đạo và đội ngũ cán quản lí không có trình độ chuyênmôn phù hợp hoặc không chuyên tâm với công việc của họ thì chắc chắnkhông thể điều hành tốt công tác mà họ đang đảm nhiệm Đôi khi làm phíphạm tiền bạc và công sức đóng góp của toàn thể cán bộ công nhân viên trongnhà trường và của sinh viên Thực tế cho thấy trong một số trường hợp do quá
Trang 38trình bổ nhiệm lãnh đạo có sự sai lệch đã gây nên rất nhiều hậu quả đáng tiếccho tập thể nhà trường, ảnh hưởng xấu lan rộng đến toàn ngành giáo dục.
Hơn nữa quản lí bao giờ cũng có chủ thể quản lý và đối tượng bị quản
lí, vì vậy về phía chủ thể chúng ta đòi hỏi phải có bộ máy lãnh đạo chuẩn mực
và năng động Về phía khách thể trước hết đòi hỏi phải có sự đồng bộ cácnhân tố bên trong như: quy mô, số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên,cán bộ và nhân viên các phòng ban, hệ thống cơ sở vật chất, … Ở đây chúngtôi xin phép được nhắc lại rằng quản lí bao giờ cũng liên quan đến ứng dụngCNTT và ngược lại Muốn nhận được thông tin chính xác và xử lý thông tinmột cách có hiệu quả ngày nay chúng ta có thể sử dụng các phần mềm chuyêndụng Tuy nhiên muốn đi đến mục tiêu một cách nhanh nhất hiệu quả đạt caonhất thì kèm theo điều này phải có một kiến thức nhất định về khoa học quản
lý và bắt buộc phải tuân theo theo những quy chế chặt chẽ và hợp lý, tránhkhỏi sự lãng phí thời gian và tiền bạc của tập thể nhà trường
Một trong những đặc điểm có tính đặc trưng của quản lí là luôn luôn có
sự biến đổi và thích nghi Chính vì vậy, như đã được nói ở trên trong các cơquan quản lí điều hành về giáo dục và đào tạo, trong các trường học thuộc hệthống chính quy hay dân lập đều phải bảo đảm có tính đồng bộ và phù hợp vềcác nhân tố bên trong như quy mô đào tạo, số lượng sinh viên, chất lượng độingũ giảng viên, trình độ chuyên môn của cán bộ và nhân viên các phòng ban
Hệ thống các phòng thí nghiệm và cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giảngdạy và phục vụ trực tiếp cho công tác quản lí phải được trang bị một cách hợp
lý Thực tế cho thấy ở một số cơ sở đào tạo ở Việt Nam hiện nay đã và đanggặp phải những thất bại đáng tiếc trong công tác đào tạo Nguyên nhân đơngiản nhất là ở đó đã có sự ngộ nhận hoặc cố tình bỏ qua các nguyên lý tốithiểu của khoa học quản lí Do muốn chạy theo lợi nhuận kinh tế nên đã bỏqua hoặc coi thường chất lượng đào tạo, đặc biệt là chất lượng đào tạo thực
Trang 39hành tin học Nhiều môn lý thuyết trong đó có môn khoa học quản lý đã bị cắt
bỏ bớt thời gian học lý thuyết và thi cử thường tiến hành một cách chiếu lệ,thiếu nghiêm túc Hệ lụy đầu tiên của điều này là chất lượng đầu ra thấp, sinhviên tốt nghiệp ở nhiều trường dân lập và một số trường nằm trong hệ thốngquốc lập không có việc làm hoặc không được tuyển chọn do tay nghề quáyếu Để khắc phục được yếu điểm này đòi hỏi phải có sự nỗ lực của nhiềungười thuộc nhiều thành phần khác nhau trong xã hội, tuy nhiên về góc độcủa những người làm công tác quản lí chúng ta phải nhớ rằng quản lí luôn có
sự biến đổi và thích nghi Hơn nữa các hoạt động của quản lí cần phải bảođảm để nó là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quyluật khách quan nhằm làm cho hệ thống này vận hành theo đường lối vànguyên lý giáo dục của Đảng và nhà nước, đáp ứng với yêu cầu ngày càngcao của xã hội Như vậy chúng ta có thể nói một cách đơn giản hơn, quản líứng dụng CNTT trong công tác đào tạo được coi là thành công nếu nhận được
sự ủng hộ tích cực của tập thể cán bộ và sinh viên trong toàn trường, đồngthời người làm công tác quản lí phải biết tận dụng tối đa các lợi thế của khoahọc công nghệ , giáo trình, bài giảng phải dược biên soạn một cách nghiêmtúc bảo đảm tính cập nhật về mặt tri thức khoa học, điều cốt lõi cuối cùng làchất lượng dạy và học phải được nâng cao để có thể đáp ứng với yêu cầu đòihỏi của sự biến động trong xã hội hiện tại
Trang 40Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và nhà nước đã có sự đánh giá cao vaitrò của giáo dục và đào tạo Bên cạnh các chủ trương chính sách đúng đắn vàmột cơ chế thuận lợi, rộng mở, nhà nước và các nhà lãnh đạo về giáo dục đã
có sự quan tâm sâu sắc tới công tác quản lí và đặc biệt là quản lí của ứng dụngcông nghệ thông tin, trong đó có mảng quản lí của ứng dụng công nghệ thôngtin trong công tác đào tạo Một số tài liệu sau đây có thể giúp chúng ta minhchứng một cách xác thực hơn sự quan tâm của nhà nước và các cấp lãnh đạo
về vai trò của công nghệ thông tin và yêu cầu đẩy mạnh công tác quản lí ứngdụng công nghệ thông tin trong đới sống hàng ngày và trong sự nghiệp đàotạo
Nghị quyết của Chính phủ số 49/CP, ngày 4/8/1993 về “Phát triển ICT
ở Việt Nam trong những năm 90”
Quyết định 212/TTg của Thủ tướng phê duyệt Kế hoạch tổng thểChương trình quốc gia về ICT đến năm 2020
Chỉ thị số 58-CT/TW, ngày 17/10/2000 của Ban Chấp hành trung ươngĐảng Cộng Sản Việt Nam về Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển ICT phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhấn mạnh đến vai trò của ICTtrong giáo dục
Văn bản số 4960/BGDĐT-ICT, ngày 27/07/2011, của Bộ Giáo dục vàĐào tạo hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ ICT năm học 2011 - 2012 Theođó,cần xây dựng kế hoạch dạy, học và ứng dụng ICT giai đoạn 2011 - 2015;đẩy mạnh ứng dụng ICT trong điều hành và quản lí giáo dục