Giống gà H’ Mông do Trung tâm thực nghiệm và bảo tồn vật nuôi thuần hóa và sản xuất giống nhân đàn là giống gà cú ngoại hình và thể trọng trung bình, màu sắc lông đa dạng. Chúng có một số chỉ tiêu sinh trưởng cơ bản như sau:
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1 Tên Dự án:
“ Xây dựng mô hình nuôi gà da đen, xương đen, thịt đen thương phẩm tại
một HTX ở thành phố Lào Cai ”.
Mã số:
Số đăng ký:
Chỉ số phân loại:
2 Cơ quan chủ trì thực hiện:
- Tên cơ quan: UBND xã Vạn Hoà thành phố Lào Cai
- Địa chỉ: Thôn Giang Đông xã Vạn Hoà
- Điện thoại + Fax: 020 3832 578
- Số hiệu Tài khoản: Tại Kho bạc Nhà nước TP Lào Cai
3 Chủ nhiệm Dự án.
- Họ và Tên: Phạm Văn Luyến
- Đơn vị công tác: Nguyên Phó Chủ tịch UBND xã Vạn Hoà
- Điện Thoại: DĐ 0983 960 931; NR 020 826 348;
- EMail : Phamvanluyen1@gmail.com
4 Cơ quan tư vấn kỹ thuật và giúp đỡ thực hiện:
- Bộ môn Di truyền giống thuộc Viện Chăn nuôi
- Trung tâm Thực nghiệm & Bảo tồn vật nuôi Viện Chăn Nuôi
- Phòng Kỹ thuật thuộc Chi cục Thú y
5.Thời gian thực hiện:
Dự kiến 12 tháng: Từ tháng 10 năm 2008 đến tháng 9 năm 2009.
Thực tế 14 tháng: Từ tháng 10 năm 2009 đến tháng 12 năm 2009
6 Địa điểm thực hiện
Đội sản xuất số 4 HTX Vạn Lợi xã Vạn Hoà thành phố Lào Cai
7 Kinh phí thực hiện Dự án
- Tổng dự toán: 785.400.000 đ
- Trong đó: + Nguồn Sự nghiệp khoa học tỉnh hộ trợ: 150.000.000, đồng
+ Các nguồn khác 635.400.000, đồng
I SƠ LƯỢC VỀ CÁC GIỐNG GÀ DA ĐEN, XƯƠNG ĐEN, THỊT ĐEN
Trang 21 Nguồn gốc và giá trị dinh dưỡng
Tổng hợp của các nhà khoa học thuộc Viện Chăn nuôi từ kết quả nghiên cứu của Viện và các tài liệu khoa học có liên quan cho thấy:
* Nguồn gốc: Là giống gà có từ lâu đời được phát hiện ở Trung Quốc từ
khoảng thế kỷ 13 Giống gà này xuất hiện do sự đột biến gen ngẫu nhiên giữa các giống gà hoặc có thể từ gà hoang
* Giá trị dinh dưỡng: Các phân tích khoa học cho thấy thịt loại gà này có
chứa những hormone, các sắc tố xanh và acid amin cần thiết cho cơ thể con người, đặc biệt có hiệu quả rất tốt trong điều trị các bệnh có liên quan đến sinh sản và tình dục như: vô sinh; sảy thai; hậu sản; yếu sinh lý Trứng của chúng cũng có hiệu quả trong điều trị các chứng đau đầu và là nguồn dinh duỡng tốt cho người già và người huyết áp cao vì nó chứa hàm lượng cholesterol thấp và các axit amin tự do cao hơn
so với trứng của các giống gà khác
2 Các giống gà da đen, xương đen, thịt đen
Trên thế giới ( nhất là Trung Quốc ) có rất nhiều giống gà da đen xương đen, thịt đen
như: Gà Thái Hoà; gà Hắc Phượng; gà Dư Can ( lông đen ); gà Giang Sơn ( lông trắng );
gà Kim Dương (lông tơ trắng); gà Tuyết Phong ( có cả lông đen tuyền, lông trắng và màu lông tạp ) Ở nước ta có 2 giống chính đó là gà Ác và gà H’ Mông:
- Gà Ác: Phổ biến ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, có tầm vóc nhỏ ( gà
trưởng thành chỉ nặng từ 0,8 -1,0 kg) lông sước màu trắng; chất lượng thịt thơm ngon, giàu dinh dưỡng, có tác dụng tốt trong hỗ trợ điều trị các bệnh liên quan đến sinh sản của phụ nữ và tăng cường khả năng sinh dục ở cả đàn ông và phụ nữ
- Gà H’Mông: Được đồng bào H’Mông vùng núi Tây Bắc nuôi tự nhiên tại gia
đình với số lượng nhỏ, chúng có màu lông đa dạng Xương, thịt và nội tạng của nó
có thể dùng làm vị thuốc chữa bệnh, bồi dưỡng sức khoẻ Không những thế giống gà này còn nổi tiếng bởi lượng mỡ rất ít, thịt dai chắc, thơm, ngọt phù hợp với sở thích ẩm thực của người Việt Nam và rất được các đoàn khách phương Tây ưa chuộng
Về mặt giá trị dinh dưỡng, qua kết quả phân tích tại Viện Chăn nuôi gà H’ Mông vượt trội hơn hẳn gà Ác về độ thơm ngon bổ dưỡng Ngoài ra, xương và thịt gà H’ Mông còn có giá trị dược liệu đặc biệt trong việc chữa trị các bệnh về tim, mạch Mật của chúng dùng chữa bệnh ho ở trẻ em; xương của chúng dùng nấu cao để chữa bệnh run tay, chân Năm 1999, phát hiện được giống gà này ở Sơn La, các nhà khoa học thuộc Viện Chăn nuôi đã mang chúng về Hà Nội để nghiên cứu thử nghiệm, thuần hoá, chọn lọc và bảo tồn vốn gen quý hiếm của chúng Đến năm 2004, công việc thuần hoá
đã thành công Từ đó đến nay chúng được nuôi giữ giống và nhân đàn phát triển tại Trung tâm Thực nghiệm và bảo tồn vật nuôi thuộc Viện Chăn nuôi
Sau khi thuần hoá thành công Trung tâm đã cung cấp giống và chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi cho người chăn nuôi ở nhiều địa phương trong cả nước
3 Một số chỉ tiêu sinh trưởng cơ bản
Trang 3Giống gà H’ Mông do Trung tâm thực nghiệm và bảo tồn vật nuôi thuần hóa và sản xuất giống nhân đàn là giống gà cú ngoại hình và thể trọng trung bình, màu sắc lông đa dạng Chúng có một số chỉ tiêu sinh trưởng cơ bản như sau:
Khối lượng gà sơ sinh: 30,5 g (+ 0,25); tỷ lệ nuôi sống đến 7 tuần tuổi có thể đạt từ 94,64 - 98,31% Lúc trưởng thành (16 tuần tuổi) gà trống nặng trung bình 1432,55g và gà mái nặng 1272, g Tuổi thành thục sinh dục lúc 21 tuần Năng suất trứng đạt trung bình 85 quả/ 40 tuần đẻ Tỷ lệ trứng có phôi đạt 94,54%; tỷ lệ nở trong lò
ấp đạt 81,83 % / số trứng có phôi hoặc 77, 36 % / Tổng số trứng đưa vào ấp
Tỷ lệ gà đẻ hàng ngày/ tổng số gà mái trung bình trong 40 tuần đẻ ( T21 - 60 )
là 30, 25%; cao nhất là ở các tuần tuổi từ 27 đến 32 ( 43,24 - 49,55% ); thấp nhất là ở các tuần tuổi từ 47 đến 60 ( 21, 35 - 27, 85 % ) Mức tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng hơi trung bình là: 3,31 kg; tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 3, 44 kg
Khả năng sản xuất thịt ở con gà 10 tuần tuổi là: thịt xẻ khoảng 75-78%, thịt đùi
34 - 35%, xấp xỉ các giống gà nội địa khác Da dày và giòn; thịt mền nhưng không nhũn như gà Công nghiệp, săn nhưng không dai như thịt ngan, vịt Đặc biệt lượng axit glutamic cao tới 3,87%, vượt trội hơn gà ri và gà ác miền Nam nên thịt gà có vị ngọt đậm, nhưng lượng sắt lại thấp nên thịt không có vị tanh
II SỰ CẦN THIẾT VÀ MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN
1 Sự cần thiết và ý nghĩa của dự án
- Trong sản xuất nông nghiệp, đưa giống cây trồng vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất, đáp ứng nhu cầu của thị trường, nâng cao thu nhập của người sản xuất là việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa về mặt kinh tế - xã hội
Dự án: Xây dựng mô hình nuôi gà da đen, xương đen, thịt đen tại một HTX ở thành phố Lào Cai xuất phát từ sự cần thiết và ý nghĩa đó
Qua kết quả nghiên cứu, thử nghiệm của các cơ quan khoa học và thực tế chăn nuôi ở các địa phương đi trước, các giống gà da đen - xương đen - thịt đen
(trong đó có gà H mông) đã được khẳng định là giống gà quý hiếm dễ nuôi vì có
sức chống chịu tốt với các loại bệnh, đồng thời có giá trị dinh dưỡng và khả năng cho hiệu quả kinh tế cao, đã và đang được phát triển chăn nuôi ở nhiều địa phương trên cả nước vì vậy mà rất lên đưa vào chăn nuôi ở tỉnh ta
- Thực hiện thành công Dự án có khả năng mở ra một hướng mới trong
chăn nuôi gia cầm ở địa phương, thu hút các hộ nông dân và cơ sở sản xuất nuôi
giống gà H Mông từ đó góp phần tạo thêm việc làm và thu nhập cho người lao động
- Thành phố Lào Cai là trung tâm Kinh tế - Chính trị - VH - XH của tỉnh lại có cửa khẩu Quốc tế và là đầu mối trung chuyển của khách du lịch trong và ngoài nước đến với các khu du lịch trong tỉnh, nên việc có thêm món gà đặc sản cùng với các loại đặc sản khác của các địa phương Sa Pa, Bắc Hà, Mường Khương … để giới thiệu
và lưu giữ chân du khách là điều rất ý nghĩa
Thực hiện Dự án còn là thể hiện phương châm Nhà Nước, Nhà Khoa học
và Nhà Doanh nghiệp và nhà nông cùng làm, đồng thời thể hiện vai trò là bà đỡ của Nhà nước cho sự phát triển của các loại hình Doanh nghiệp trong đó có HTX
2 Mục tiêu của Dự án
Trang 4Tiếp nhận và ứng dụng quy trình kỹ thuật chăn nuôi gà ác H’ Mông do Viện Chăn nuôi nghiên cứu biên soạn vào thực tiễn chăn nuôi ở Lào Cai, cụ thể hoá thành tài liệu quy trình phù hợp với Lào Cai
Xây dựng được mô hình nuôi gà H’Mông sinh sản và thương phẩm Vừa sản xuất được gà con giống có chất lượng tốt, rõ nguồn gốc tại Lào Cai cung cấp cho các cơ sở chăn nuôi; vừa cung cấp gà thịt thương phẩm cho người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN DỰ ÁN
1 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu: Chọn lọc nhân thuần quần thể.
Đó là phương pháp sử dụng quần thể gà trống và gà mái thuần trong cùng một giống cho giao phối với nhau để giữ dòng thuần và nâng cao ưu điểm của dòng và loại dần những nhược điểm (nếu có) Chọn lọc lấy một quần thể nhỏ hơn gồm những cá thể ưu tú nhất trong quần thể lớn qua từng giai đọan
Đây là Dự án dựa kết quả nghiên cứu cơ bản đã thành công của Viện Chăn nuôi
Do đó phương pháp chọn lọc chủ yếu được áp dụng là chọn lọc thông qua ngoại hình, trọng lượng cơ thể ở những thời điểm nhất định Đánh giá chất lượng giống chọn qua 3 chỉ tiêu: Khối lượng cơ thể lúc 10 tuần tuổi; sản lượng trứng 40 tuần đẻ; chất lượng trứng
Kết hợp giữa cân, đo, đếm với quan sát, ghi chép để thu thập số liệu cho các chỉ tiêu cần theo dõi, phân tích
2 Một số chỉ tiêu cần thu thập ghi chép số liệu:
3 Thời gian nuôi từ sơ sinh đến trưởng thành, khi đẻ Ngày
4 Trọng lượng trung bình của gà trưởng thành Kg/ con
5 Chi phí thức ăn quy tiền tính theo đầu con Đồng/ con
6 Chi phí thuốc thú y, hoá chất phòng bệnh bình quân Đồng/ con
7 Số lượng, tỷ lệ gà đủ tiêu chuẩn chuyển nuôi sinh sản Con; %
9 Các chỉ tiêu về chất lượng trứng; tỷ lệ ấp nở… Gram; % …
10 Số gà con sản xuất được khi kết thúc Dự án Con
11 Một số chỉ tiêu cần thiết khác.
3 Tổ chức thực hiện dự án
Trang 5- HTX Vạn Lợi chuẩn bị cơ sở vật chất, chuồng trại chăn nuôi và bố trí xã viên
có khả năng tiếp thu và thực hiện quy trình kỹ thuật chăn nuôi
- UBND xã Vạn Hòa ký các hợp đồng với các cơ quan dơn vị và các nhân có liên quan bảo đảm diều kiện pháp lý để triển khai thực hiện dự án
- Chủ nhiệm Dự án chủ trì phối hợp các cơ quan, cá nhân tham gia thực hiện
Dự án; trực tiếp chỉ đạo đơn vị chăn nuôi thực hiện dự án
- Trung tâm thực nghiệm và bảo tồn vật nuôi trực thuộc Viện chăn nuôi cung ứng
gà giống đồng thời cấp tài liệu và chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi gà ở các giai đoạn; kỹ thuật bảo quản trứng và ấp trứng nhân tạo bằng máy ấp bán tự động
- Phòng kỹ thuật Chi cục Thú y tỉnh cử cán bộ kỹ thuật hướng dẫn, theo dõi việc thực hiện quy trình kỹ chăn nuôi - phòng trị bệnh cho gà ở các giai đoạn
IV KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN
1 Cải tạo chuồng trại:
Giữa tháng 5/ 2008, sau khi hồ sơ thuyết minh Dự án được Hội đồng Tư vấn Khoa học - Công nghệ tỉnh phê duyệt, Chủ nhiệm dự án đã chỉ đạo đơn vị thực hiện
dự án tiến hành cải tạo chuồng trại theo phương án đó trình bày trong hồ sơ thuyết
minh dự án Chuồng nuôi gà được cải tạo từ một chuồng nuôi lợn, diện tích 300m2
gồm 2 dãy dọc 2 bên, mỗi dãy có 15 ô chuồng, giữa 2 dãy có đường đi rộng 1,2 m
Dùng lan tre rộng 2- 3 cm đóng thành phên thưa ( các lan cách nhau 3 - 4 cm ) để vây kín xung quanh chuồng và làm các vách ngăn chia 30 ô chuồng lợn thành 8 chuồng
gà đồng thời dùng lưới ni lông vây sân thả gà như sau:
Sân thả gà
Khu úm gà con Chuồng gà
sinh sản
Chuồng gà sinh sản
Chuồng gà thương phẩm
Khu úm gà con Chuồng gà
sinh sản
Chuồng gà sinh sản
Chuồng gà thương phẩm
Sân thả gà
Sau khi thực hiện xong bước cải tạo chuồng, toàn bộ khu vực chăn nuôi được tổng vệ và khử trùng, tiêu độc bằng thuốc khử trùng Benkocid Riêng nền và tường chuồng được quét thêm 2 lần nước vôi vôi đặc
Đến tháng 5/2009 do thời tiết mùa hè quá nóng, số lượng gà con ấp nở ra nhiều, diện tích chuồng hiện có không đủ nên đơn vị chăn nuôi đã làm thêm một dãy chuồng lợp lá cọ với diện tích trên 600 m2 để nuôi gà thương phẩm
2 Tiếp nhận quy trình kỹ thuật chăn nuôi
Trang 6Ngay sau khi có Quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt dự án ( Quyết định số
2699 ngày 24/ 09/ 2008 ) UBND xã Vạn Hoà đã tiến hành ký hợp đồng mua giống và tiếp nhận quy trình kỹ thuật chăn nuôi với Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi thuộc Viện Chăn nuôi; ký hợp đồng mời Bác sỹ thú y Ngô Tiến Dũng chuyên viên Phòng Kỹ thuật Chi cục Thú y tỉnh Lào Cai làm cán bộ kỹ thuật trực tiếp theo dõi chỉ đạo kỹ thuật quá trình thực hiện dự án Hướng dẫn xã viên thực hành quy trình
kỹ thuật chăn nuôi đã được chuyên giao
Thực hiện hợp đồng đã ký, ngày 29/ 9/ 2008, 1000 con gà H’ Mông giống do Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi sản xuất được đưa về nuôi tại đội 4 HTX Vạn Lợi, xã Vạn Hoà Tiến sỹ Vũ Ngọc Sơn phó Giám đốc Trung tâm được cử lên bàn giao gà giống và hướng dẫn, chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi cho Chủ nhiệm dự án cùng cán bộ kỹ thuật và xã viên của đơn vị thực hiện dự án
Việc chuyển giao quy trình kỹ thuật được chia làm 4 lần:
* Lần 1: Ngày 29 và 30 tháng 9/ 2008 : Hướng dẫn, chuyển giao quy trình
kỹ thuật chăn nuôi chăm sóc gà con ( giai đoạn từ 0 đến 9 tuần tuổi )
* Lần 2: Ngày 29 và 30 / 11/ 2008: Hướng dẫn cách chọn lọc gà lần 1 ( chọn lọc
gà mái ở tuần tuổi thứ 9 để chuyển sang giai đoạn nuôi hậu bị sinh sản ) đồng thời chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi chăm sóc gà giai đoạn hậu bị
* Lần 3: Ngày 12 đến 14 / 02 / 2009: Hướng dẫn cách chọn lọc gà lần 2 ( chọn
gà trống, mái ở tuần tuổi thứ 19 khi gà chuẩn bị vào giai đoạn đẻ khởi động ở tuần thứ 21) đồng thời chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi chăm sóc gà giai đoạn sinh sản
* Lần 4: Ngày 10 đến 15 / 3/ 2009: Hướng dẫn cách chọn lọc gà lần 3 khi gà
kết thúc giai đoạn đẻ khởi động sau 24 tuần tuổi Hướng dẫn cách chọn lọc bảo quản trứng giống và quy trình ấp trứng gà bằng máy nhân tạo
3 Thực hành chăn nuôi.
3.1 Giai đoạn gà con
Thông thường giai đoạn gà con tính từ 0 đến 6 tuần tuổi, hết giai đoạn này gà không cần phải úm nữa và được thả tự do trong chuồng hoặc sân, vườn tuỳ điều kiện chăn nuôi Trong điều kiện thực tế thực hiện Dự án, gà được bắt đầu nuôi vào dịp cuối năm nhiệt độ môi trường thấp nên phải kéo dài thời gian úm gà đến tuần thứ 9
a Tốc độ tăng khối lượng
1000 con gà giống 01 ngày tuổi đưa về nuôi có trọng lượng tổng cộng 30,35 kg (TB 30,35g/con) đạt tiêu chuẩn giống theo tài liệu kỹ thuật do đơn vị sản xuất giống cung cấp ( 30,50 g/con 0,25 g ) Gà được nuôi úm trong quây, chiếu sáng và sưởi ấm bằng bóng điện sợi đốt công suất từ 40 - 100W Nhiệt độ và mật độ úm được điều chỉnh theo quy trình kỹ thuật và thời tiết hàng ngày
Thức ăn sử dụng cám hỗn hợp ăn thẳng của hãng Con cò Trong 2 tuần đầu dùng loại C28A; hai tuần tiếp theo dùng loại C28B, các tuần tiếp theo dùng loại C26 ,
Trang 7đồng thời bổ xung thêm một số Vitamin và khoáng chất phù hợp Gà được tiêm phòng Vắc xin và sử dụng thuốc phòng bệnh đúng lịch quy định
Đàn gà phát triển tương đối đồng đều, cứ sau mỗi tuần tuổi lại được cân kiểm tra ngẫu nhiên10% tổng đàn, kết quả như sau:
K.lượng cần đạt
( g )
30,50
0,25
55,30
0,50
97,00
1,29
168,4
1,19
238,4
3,11
326,30
4,05
425,50
5,66
534,60
8,25
654,60
9,49
790,00
13,51
KL thực đạt ( g ) 30,3 56,0 98,5 170 240 330 430 541,5 660,5 800,5
Qua số liệu thu thập được như trên cho thấy tốc độ lớn của gà đạt mức độ tăng trọng theo yêu cầu kỹ thuật
b Tỷ lệ nuôi sống
Trong giai đoạn từ 0 đến 9 tuần tuổi tỷ lệ sống của gà đạt 94,5 %, cao hơn tài liệu 2% Tổng số gà con bị chết 55 con do các nguyên nhân như: hở rốn, khô chân,
ỉa dính đít một số con không rõ nguyên nhân …
Số gà chết và tỷ lệ sống của gà tuần sau so với tuần trước như sau:
Tuần tuổi 0 -1 1- 2 2 - 3 3 - 4 4 - 5 5 - 6 6 -7 7 - 8 8 -9 Tổng cộng
Số gà còn sống Thực tế 997 991 985 975 967 959 954 950 945 945
Tỷ lệ sống (%) Thực tế 99,7 99,4 99,4 99,0 99, 2 99,2 99,5 99,6 99,5 94,5
Tài liệu 99,5 99,0 98,5 99,0 97,9 99,5 100 99,5 99,5 92,5 3.2 Giai đoạn hậu bị sinh sản.
Giai đoạn hậu bị được tính từ tuần tuổi thứ 10 đến 20; gà được bỏ quây, ban ngày được thả ra sân chơi tự do, tối vào chuồng ngủ Chế độ chiếu sáng kết hợp giữa ánh sáng tự nhiên ban ngày và ánh sáng điện vào buổi tối theo quy trình kỹ thuật
a Các lần chọn lọc
Trong giai đoạn này Dự án đã tiến hành 2 lần chọn lọc gà:
- Lần thứ nhất: Chọn khi vừa kết thúc giai đoạn gà con ( tuần tuổi thứ 9 ),
Thời điểm này các đặc điểm nổi trội của giống được bộc lộ rõ ràng, công việc chọn lọc được thuận lợi và đạt độ chính xác tương đối cao
- Lần thứ 2 : Khi gà chuẩn bị vào giai đoạn sinh sản ( tuần tuổi thứ 19 )
Cách thức chọn lọc dựa trên cơ sở quan sát ngoại hình, kiểm tra trọng lượng theo tài liệu và hướng dẫn trực tiếp của chuyên gia Viện Chăn nuôi
b Kết quả chọn lọc
Trang 8- Lần thứ nhất: Đã chọn được 560 con gà mái chuyển sang giai đoạn nuôi hậu bị
sinh sản với khẩu phần ăn hạn chế và thức ăn có mức dinh dưỡng thấp để chống béo ảnh hưởng đến khả năng sinh sản sau này Số gà còn lại được nuôi theo chế
độ bình thường
- Lần thứ 2: Chọn 65 gà trống và 500 gà mái mang ghép đàn để nuôi sinh sản,
số còn lại được mang bán làm gà thịt thương phẩm
Trong giai đoạn này gà tiếp tục được tiêm phòng các loại Vắc cin và sử dụng các loại kháng sinh phòng bệnh kết hợp với các loại khoáng chất và Vitamin bổ trợ
Chế độ nuôi dưỡng, khẩu phần và định mức ăn; số giờ chiếu sáng nhân tạo; công tác phòng chống dịch bệnh cho gà đựơc trình bày chi tiết trong tài liệu quy trình kỹ thuật đính kèm báo cáo này.
Giai đoạn này số lượng gà bị chết không đáng kể Hàng tuần gà tiếp tục được cân kiểm tra ngẫu nhiên 10% tổng đàn để theo dõi mức độ tăng trọng để điều chỉnh lượng thức ăn và mức dinh dưỡng cho phù hợp Kết quả thu được như sau:
KLượng cần đạt (g) 920 1000 1060 1110 1170 1220 1300 1330 1370 1440 1490
KLượng thực đạt
Số liệu bảng trên cho thấy sự phát triển của gà đảm bảo yêu cầu kỹ thuật quy định
3.3 Giai đoạn sinh sản.
a Chăm sóc
Kết thúc giai đoạn nuôi hậu bị, gà được chuyển sang chăm sóc ở giai đoạn sinh sản Thức ăn chuyển từ cám hỗn hợp ăn thẳng Con cò C26 sang dùng cám hỗn hợp Con cò C24 dùng cho gà đẻ ăn thẳng ở tuần tuổi 24 - 40 Từ tuần tuổi 41 trở đi sử dụng cám đậm đặc Con cò C210 phối trộn với thóc và ngô đỏ, đảm bảo chất lượng dinh dưỡng cao hơn, cân đối mức đạm, năng lượng trao đổi Ngoài ra gà còn được ăn, uống
bổ sung thêm rau xanh, thân cây chuối, một số loại khoáng chất và các loại Vitamin có tác dụng kích thích, duy trì sức đẻ trứng như A, D, E, Tetra trứng… Khi thời tiết nắng nóng bổ sung thêm các chất điện giải như đường Gluco và Vitamin C
Chuyển từ thức ăn gà hậu bị sang gà đẻ được tiến hành theo công thức sau:
+ Hai ngày đầu 75% thức ăn gà hậu bị + 25% thức ăn gà đẻ
+ Hai ngày tiếp theo 50% thức ăn gà hậu bị + 50% thức ăn gà đẻ
+ Hai ngày tiếp nữa 25% thức ăn gà hậu bị + 75% thức ăn gà đẻ
Từ ngày thứ 7 trở đi cho ăn 100% thức ăn gà đẻ
Trang 9Trong giai đoạn này gà được tiêm phòng các bệnh Tụ huyết trùng; Newcastle; Gumboro và cúm gia cầm đồng thời áp dụng một số kinh nghiệm phòng bệnh truyền thống như cho ăn cơm nóng trộn nước tỏi, gạo ngâm nước giải pha loãng…
b Chọn lọc
Từ tuần tuổi 21 đến 24 là lứa đẻ khởi động, gà tiếp tục được theo dõi để tiến hành
chọn lọc lần 3 bằng cách quan sát ngoại hình và thời điểm đòi ấp Cuối tuần tuổi thứ 24 loại bỏ những gà mái có bộ lông kém độ bóng và đòi ấp sớm hơn, những gà trống quá béo, chậm chạp, lười đạp mái; giữ 55 gà trống khoẻ mạnh ( 50 con để gép đàn; 5 con nuôi
dự phòng ) và 450 gà mái đẻ tốt để duy trì gà bố mẹ theo tỷ lệ gép đàn ổn định là 1/ 9
c Theo dõi sản lượng trứng
Trong tuần tuổi thứ 20 ( 135 - 136 ngày tuổi ) đã có một số gà mái đẻ bói song tỷ lệ không đáng kể chỉ khoảng 1- 2 %; tăng dần lên 4 - 5% ở tuần 21; 22 và đạt đỉnh ở các tuần 29 - 30 với tỷ lệ trên 50% sau đó giảm dần xuống mức trên dưới 20 % ở tuần thứ 60 đến 64 Sau 40 tuần 450 gà mái đẻ được 39907 quả trứng, bình quân 88,86 quả/ mái cao hơn dự tính 3,86 Tỷ lệ gà đẻ bình quân đạt 31,67% tổng số gà mái đàn
Kết quả theo dõi tử lệ gà đẻ và sản lượng trứng của cả đàn ( 450 gà mái ) qua các tuần tuổi như sau:
Tuần tuổi
Số trứng
cả đàn ( quả )
Trứng/mái ( quả)
Tỷ lệ đẻ (%) Thực tế Tài liệu Thực tế Tài liệu
21 - 60 39907 88,68 85,00 31,67 30,24
Trang 10-3.4 Chọn lọc và ấp trứng bằng phương phỏp nhõn tạo
a Theo dừi khối lượng trứng
Qua cõn thớ điểm trứng ở cỏc giai đoạn: gà đẻ khởi động ( tuần 20 - 24); đẻ đỉnh cao ( tuần 29 - 30) và đẻ trung bỡnh ( tuần 39 - 40 ) bằng cỏch mỗi thời điểm cõn 100 quả trứng nhặt ngẫu nhiờn, cho kết quả như sau:
Thời điểm Khối lượng trứng ( g/quả) Ghi chỳ
Thực tế Cần đạt
1 Gà đẻ khởi động ( T 21 - 24) 35,21 30,98 ( + 0,43 )
2 Gà đẻ đỉnh cao ( T29 - 32 ) 43, 34 39,32 ( + 0, 47 )
3 Gà đẻ trung bỡnh ( T37 - 40 ) 49,17 43,73 ( + 0,38 )
b Chọn lọc và bảo quản trứng giống
Việc chọn lọc trứng giống được thực hiện sua khi gà kết thỳc đẻ khởi động Trong thời gian từ tuần 25 - 50 dự ỏn đó chọn 24.635 quả trứng để mang ấpnở
bằng phương phỏp nhõn tạo Trứng được chọn là trứng cú khối lượng trung bỡnh tại thời điểm chọn, khụng quỏ to hoặc quả nhỏ; cú hỡnh ovan đều khụng bị mộo mú, phõn biệt rừ đầu to, đầu nhỏ; vỏ sạch, khụng bị dạn vỡ; khụng dớnh phõn, dớnh mỏu
Sau khi chọn lọc xong trứng được xụng hơi sỏt trựng bằng dung dịch thuốc tớm
và Fooc mon cú pha thờm nước theo tỷ lệ quy định
Cụng việc chọn lọc và sỏt trựng trứng được thực hiện hằng ngày, sau đú trứng được bảo quản ở phũng thoỏng mỏt khụng bị ỏnh sỏng tự nhiờn trực tiếp chiếu vào chờ đủ số lượng cần thiết thỡ đưa vào ấp ( 5 ngày 1 lần )
Trước khi đa vào ấp trứng đợc soi kiểm tra bên trong để tiếp tục loại những quả kém chất lợng đó là những quả khi soi phát hiện các đặc điểm sau: Buồng khí quá rộng; buồng khí di động hoặc lệch về phía đầu nhọn của trứng; trứng có màu đen; màu lòng đỏ quá đậm hoặc có dấu vết của mạch máu; lòng đỏ di động quá nhanh …
c Ấp trứng nhõn tạo
Trong điều kiện cụ thể của đơn vị chăn nuụi, trứng gà được ấp bằng mỏy ấp
đa kỳ bỏn tự động ( trứng được vào ấp thành nhiều đợt xen kẽ nhau), cung cấp nhiệt bằng búng đốn điện sợi đốt loại cú cụng xuất từ 75 - 100 w; điều hũa nhiệt độ
và độ thụng thoỏng của mỏy bằng quạt điện và zơ ne nhiệt tự động Trứng được đảo thủ cụng bằng tay; nhiệt độ ấp duy trỡ từ 37, 2 - 37, 5 oC; độ ẩm duy trỡ bằng cỏch để một chậu nước nhỏ trong lũ ấp cho bốc hơi tự nhiờn
Trong thời gian thực hiện dự ỏn đó đưa vào ấp 39 lần với tụng số trứng đó được chọn lọc là 24.385 quả Qua kiểm tra theo dừi thu được kết quả thu được như sau:
- Số trứng cú phụi: 23227 quả = 95,25%; Tỷ lệ nở đạt 77,79% tổng số trứng
đưa vào ấp và 81,66% số trứng cú phụi
- Tổng số gà con sản xuất được 18970 con, trong đú gà loại 1 là 17970 con,
đạt 94,73% (cú bảng thống kờ chi tiết ở trang kế tiếp) Trong lượng gà mới nở bỡnh quõn đạt 30,25 gam
- Một số hộ chăn nuụi mua trứng về cho gà mỏi khỏc ấp tỷ lệ nở đạt khỏ cao
từ 85 đến 90% tổng số trứng đưa vào ấp
Bảng thống kờ chi tiết kết quả ấp nở gà con