Thích nghi là sự thay đổi, phù hợp của cơ thể đối với điều kiện môi trường, saocho trong điều kiện mới con vật vẫn có thể sinh trưởng, phát triển bình thường, đồngthời vẫn giữ được những
Trang 1KHOA CHĂN NUÔI VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Nghiên cứu một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sản
xuất của gà Rod Island nuôi tại Trung tâm Thực nghiệm và bảo tồn vật nuôi - Viện Chăn nuôi”.
Trang 3Phần thứ nhất MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi gia cầm ở nước ta là một nghề truyền thống có từ lâu đời và đang gópphần quan trọng trong cải thiện kế sinh nhai của hàng trăm nghìn hộ nông dân Hàngnăm, chăn nuôi gia cầm đã cung cấp một khối lượng thịt, trứng lớn thứ hai sau chănnuôi lợn, chiếm khoảng 18-20% trong tổng khối lượng thịt các loại (thịt lợn chiếm vịtrí thứ nhất với tỷ lệ 75-76%)
Theo chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 đã được chính phủ phê duyệtngày 16/01/2008, chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng vẫn giữđược vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi nước ta trong nhiều năm tới
Mục tiêu đến năm 2020 ngành chăn nuôi cơ bản chuyển sang sản xuất phươngthức trang trại, công nghiệp đáp ứng phần lớn nhu cầu thực phẩm đảm bảo chất lượngcho tiêu dùng và xuất khẩu Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến năm 2020 đạttrên 42% trong cơ cấu ngành sản xuất nông nghiệp (năm 2010 đạt khoảng 32% vànăm 2015 đạt 38%)
Nhằm đạt được mục tiêu trên chúng ta cần phải có những giải pháp đồng bộ vềquy hoạch, tổ chức sản xuất, khoa học công nghệ, cơ chế chính sách, đào tạo nguồnnhân lực, trong đó đột phá là giải pháp về khoa học và công nghệ, đặc biệt cần bảotồn và khai thác hợp lý các nguồn gen, giống gốc vật nuôi trong nước, nhập mới cácgiống vật nuôi có năng suất, chất lượng cao để chọn lọc, thích nghi đưa nhanh vào sảnxuất Đi theo hướng này tháng 7/2007, Viện chăn nuôi đã tiếp nhận 3 giống gà hướngtrứng nhập nội là Hisex White, Rod Island và Pologi, mỗi giống 300 quả trứng giaocho Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi cho ấp nở sau đó nuôi khảo nghiệm
Để chủ động tạo ra con giống cung cấp cho sản xuất chăn nuôi từ nguồn nguyên liệuquý này, tôi đã chọn đề tài:
Trang 4“Nghiên cứu một số đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà Rod
Island nuôi tại Trung tâm Thực nghiệm và bảo tồn vật nuôi - Viện Chăn nuôi” 1.2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định đặc điểm ngoại hình của gà Rod Island
- Xác định được khả năng sản xuất trứng của gà Rod Island
- Cung cấp một số thông số kỹ thuật cơ bản của gà Rod Island
Trang 5Phần thứ hai TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Sự thích nghi của gia cầm
Nhằm chuyển dịch cơ cấu vật nuôi, cây trồng trong nông nghiệp, ngoài việc khaithác tốt các giống vật nuôi bản địa thì việc nhập nội các giống vật nuôi có năng suất caongày càng trở nên phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Đối với việc nhập nội giống vậtnuôi, vấn đề tiên quyết cần đặt ra là làm thế nào để giống mới thích nghi với điều kiện
tự nhiên của địa phương Vì nếu không thích nghi tốt, giống mới sẽ không tồn tại, hoặcnếu tồn tại thì cũng giảm khả năng sản xuất do đó sẽ không có hiệu quả kinh tế
Thích nghi là sự thay đổi, phù hợp của cơ thể đối với điều kiện môi trường, saocho trong điều kiện mới con vật vẫn có thể sinh trưởng, phát triển bình thường, đồngthời vẫn giữ được những đặc tính vốn có và có khả năng di truyền những đặc tính đócho thế hệ sau (Nguyễn Văn Thiện, 1994)
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thích nghi của gia cầm như: điều kiện khíhậu, dinh dưỡng, đặc tính của phẩm giống, tình hình bệnh tật, lứa tuổi, khoa học kỹthuật,… Các giống gà khác nhau cũng có khả năng thích nghi khác nhau Trong cùngmột giống thì mỗi cá thể có khả năng thích nghi khác nhau, con non sẽ thích nghi tốthơn con trưởng thành
Với những giống gà nhập nội thường trong thời gian đầu nuôi, thích nghi năngsuất của giống sẽ thấp hơn chỉ tiêu chuẩn của hãng, đôi khi tỷ lệ chết còn rất cao.Ngày nay với với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ việc chọn lọc, chọn phối vànuôi dưỡng tốt hơn, vì vậy địa bàn thích nghi của các giống gà nhập nội, giống địaphương cũng rộng hơn
Nước ta là nước nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, vì vậy cần phải có những hiểu biết
về đặc tính sinh học của giống, các chỉ tiêu sản xuất và đặc biệt cần biết rõ nguồn gốc
Trang 6xuất phát của giống, những khả năng kinh tế cũng như tính năng di truyền của phẩmgiống trước khi quyết định nhập giống về để nhân thuần và nuôi thích nghi
2.2 Sinh trưởng
2.2.1 Khái niệm sinh trưởng và phát dục
Sinh trưởng có vai trò quan trọng, là một trong những chỉ tiêu đánh giá quyết địnhđến hiệu quả chăn nuôi Có rất nhiều khái niệm khi nói về sinh trưởng Theo viện sỹ I.I.Somangeozen (1935) cho rằng sự phát triển của cơ thể sống là sự tích luỹ các tế bào tănglên về khối lượng, thể tích ở các phần hoạt động của cơ thể đồng thời sinh ra năng lượng tự
do cơ thể lớn lên về khối lượng, tăng lên về chiều dài, chiều rộng và chiều cao TheoChambers (1990) thì sinh trưởng là sự tổng hợp các bộ phận thịt, xương, da của động vật.Sinh trưởng là quá trình tích luỹ hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng chiềucao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ
sở tính chất di truyền của đời trước Sinh trưởng chính là sự tích luỹ dần dần các chấtchủ yếu là protein nên tốc độ và khối lượng tích luỹ các chất cũng chính là tốc độ hoạtđộng của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên, Nguyễn KimĐường, 1992) Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá trình tổng hợpprotein nên người ta thường lấy khối lượng cơ thể làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinhtrưởng Tuy nhiên, có trường hợp tăng trọng mà không phải tăng trưởng (chẳng hạn làbéo mỡ, chủ yếu là tích nước không có sự phát triển của mô cơ) Vì vậy, tăng trưởng
từ lúc trứng rụng cho đến khi cơ thể đã trưởng thành được chia làm hai giai đoạnchính, giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai, đối với gia cầm là thời kì hậu phôi
và thời kì trưởng thành Sinh trưởng sẽ thông qua ba quá trình: phân chia tế bào đểtăng số lượng, tăng thể tích của tế bào và tăng thể tích giữa các tế bào Số lượng và độlớn tế bào là nguyên nhân gây ra sự khác nhau về độ lớn cơ thể Đặc tính hình thànhcác bộ phận, hình thành quá trình sinh trưởng là tiếp tục thừa hưởng các đặc tính ditruyền của bố mẹ nhưng hoạt động mạnh hay yếu còn do tác động của môi trường
Trang 7Phát dục luôn luôn gắn liền với sinh trưởng Phát dục là quá trình thay đổi vềchất Tức là tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các bộ phận cơthể Somangozen (1964) cho rằng: phát dục là sự hình thành từng phần của cơ thể, làtính đặc hiệu của ARN và AND trong sự phát triển của phôi, là vai trò của gen mangtính di truyền của tổ tiên Sinh trưởng và phát dục là hai quá trình diễn ra trên cùngmột cơ thể gia súc, gia cầm Sinh trưởng được coi là quá trình thay đổi cấu tạo, chứcnăng, hình thái, kích thước các bộ phận Phát dục diễn ra từ khi trứng thụ tinh, qua cácgiai đoạn khác nhau đến kì trưởng thành.
2.2.2 Cách đánh giá sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng
Có rất nhiều cách đánh giá sinh trưởng, người ta thường dùng phương pháp cânkhối lượng và đo kích thước các chiều cơ thể để đánh giá Nếu nghiên cứu phát dụccủa từng cơ quan, bộ phận hoặc từng tổ chức tế bào thì phải dùng máy siêu âm, kínhhiển vi điện tử,… Trong chăn nuôi gia cầm, các nhà chọn giống thường sử dụng cách
đo đơn giản và thực tế
Khối lượng cơ thể: Khối lượng cơ thể ở một thời điểm nào đó là một chỉ số được
sử dụng quen thuộc nhất về sinh trưởng, song chỉ tiêu này không nói lên được mức độkhác nhau về tốc độ trong một thời gian Xác định được khối lượng cơ thể ở cáckhoảng thời gian khác nhau như ở các tuần tuổi ta có thể biểu thị trên đồ thị gọi là đồthị sinh trưởng tích luỹ
Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng hoặc kích
thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát với lúc đầu khảo sát( TCVN2.40.1997).Đơn vị tính %, đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hypebol Gia cầm non sinhtrưởng tương đối cao sau đó giảm dần theo tuổi
Trang 8Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng, kích thước, thể tích cơ thể trong
khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN2.39.1997) Đồ thị sinh trưởng tuyệt đốidạng parabol Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn
Đường cong sinh trưởng: Biểu thị tốc độ sinh trưởng của gia cầm và của gia súcnói chung Theo Chambers (1990) đường cong sinh trưởng chia làm bốn pha với bốnđặc điểm chính sau:
- Pha tốc độ: Sinh trưởng tăng dần sau khi nở
- Điểm uốn là thời điểm tốc độ sinh trưởng cao nhất chuyển sang tốc độ sinhtrưởng chậm dần
- Pha tốc độ sinh trưởng chậm dần tới đường tiệm cận
- Đường tiệm cận là đường trùng với khối lượng cơ thể lúc trưởng thành
Thông thường người ta dùng khối lượng cơ thể ở các tuần tuổi để thể hiện bằng đồ thịsinh trưởng tích luỹ cũng cho biết một cách đơn giản nhất về đường cong sinh trưởng.Các tính trạng về sinh trưởng là các tính trạng số lượng nên ngoài phần ảnh hưởng docác yếu tố của bản thân con vật (giống, giới tính, ) chúng còn chịu ảnh hưởng của các yếu
tố môi trường (nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, thức ăn, phương thức chăn nuôi, )
2.3 Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm
Sức sống và khả năng kháng bệnh được biểu thị bằng tỷ lệ nuôi sống, đó là tỷ lệphần trăm giữa số con còn sống đến cuối kì so với số con đầu kì Theo Ngô GiảnLuyện, mối quan hệ giữa chỉ tiêu sinh lý máu với sức sống và sản lượng trứng đượcKris và cộng sự tại viện thú y Maxcova (1968) xác định số lượng bạch cầu trong gà máiHybro liên quan đến sức sống và sản lượng trứng Những gà có số lượng bạch cầu cao
ở giai đoạn 60-110 ngày thì cũng có sức sống và sản lượng trứng cao
Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm bị chi phối bởi các yếu tố bêntrong cơ thể (di truyền) và điều kiện ngoại cảnh (nuôi dưỡng, chăm sóc, thú y)
Trang 9Các nghiên cứu trước đây cho biết tỷ lệ nuôi sống là một tính trạng có hệ số ditruyền thấp Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) hệ số di truyền sức sống của gà là 0,33;Lerner và Taylor (1943) lại cho biết hệ số di truyền của sức sống của gà là 0,13; theoHill và cộng sự (1954) đã chỉ ra được hệ số di truyền sức sống là 0,66 Như vậy, cácyếu tố ngoại cảnh sẽ ảnh hưởng chủ yếu đến tỷ lệ nuôi sống.
Những yếu tố ngoại cảnh đó là: tiểu khí hậu chuồng nuôi, chế độ dinh dưỡng, chế
độ chăm sóc và quy trình thú y
Tiểu khí hậu chuồng nuôi bao gồm nhiệt độ, ẩm độ, và sự thông thoáng trongchuồng nuôi Trong đó, yếu tố nhiệt độ là yếu tố quan trọng nhất, vì mỗi một loài, một cơthể sống đều có một ngưỡng nhiệt độ nhất định, là khoảng nhiệt độ mà con vật có thể tồntại, phát triển Nhiệt độ quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng không tốt đến gia cầm Khinhiệt độ xuống quá thấp cơ thể không còn tự điều tiết được thân nhiệt làm cho hoạt độngsinh lý bình thường của cơ thể bị rối loạn dẫn đến sức đề kháng giảm làm cơ hội chomầm bệnh phát sinh Đặc biệt là giai đoạn gà con, các nghiên cứu cho thấy trong bốnngày đầu tiên nếu nhiệt độ môi trường là 1-10ºC thì tỷ lệ gà chết từ 40-50%, sau 10 ngày
tỷ lệ chết là 60 %, số còn lại sinh trưởng kém, còi cọc, ảnh hưởng đến sức sản xuất saunày Ngược lại, khi nhiệt độ vượt quá ngưỡng tối đa sẽ làm gia cầm tăng hô hấp gâykiềm hoá máu làm rối loạn quá trình sinh lý của cơ thể gây chết cho gia cầm
Không khí trong chuồng nuôi thường xuyên bão hoà với hơi nước, do đó muốn đẩylượng hơi nước thừa ra bên ngoài cần có hệ thống thông khí Độ ẩm cũng ảnh hưởng tớisức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm Nếu chuồng nuôi quá nóng ẩm sẽ làm giacầm giảm thu nhận thức ăn hàng ngày, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn, khả năng đẻ trứng
và chất lượng trứng giảm, sức đề kháng giảm, gia cầm dễ mắc bệnh
2.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn
Trong chăn nuôi, thức ăn chiếm tới 70-75% giá thành sản phẩm do vậy ngườichăn nuôi phải biết tính toán khẩu phần hợp lý đảm bảo được hiệu quả cao sử dụng
Trang 10thức ăn của gia súc, gia cầm Hiệu quả của sử dụng thức ăn được đánh giá dựa trênmức độ tiêu tốn thức ăn trên một đơn vị sản phẩm Tiêu tốn thức ăn (TTTA) của gà ởgiai đoạn gà con và hậu bị là tỷ lệ chuyển hoá thức ăn để đạt được tốc độ tăng trọngtiêu chuẩn hay nói cách khác TTTA là hiệu xuất giữa thức ăn trên kg tăng khối lượng.
Ở giai đoạn đẻ của gà thường tính TTTA để sản xuất ra trứng, gà sẽ ăn nhiều hơntrong những tuần đẻ cao nhưng giai đoạn này TTTA thường không cao Tiêu tốn thứcăn/ kg tăng trọng hay TTTA/trứng càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao
Tiêu tốn thức ăn phụ thuộc vào giống, loài gia cầm Theo Nguyễn Thị Mai(2005) chỉ ra rằng chi phí cho 10 quả trứng của gà Goldline-54 là 1,92kg; gà BrownNick là 1,6-1,8kg; gà Hy-Line là 1,7kg TTTA phụ thuộc vào độ tuổi của gà, ở nhữngtuần đầu tiên TTTA thấp nhưng càng về sau TTTA càng cao Các hãng gia cầm nổitiếng trên thế giới đã công bố kết quả nghiên cứu của mình cho thấy khi nuôi gàBroiler Ross-208 đến 6 tuần tuổi TTTA ở mức 1,85-2,2kg/kg tăng trọng (theo nghiêncứu của Crovinam, 1994); gà Vedehe do viện chọn giống gia cầm Pháp nuôi 42 ngàytuổi tiêu tốn 1,9 kg thức ăn/kg tăng trọng ( theo Phan Sĩ Điệt); gà Broiler ở 9 tuần tuổitiêu tốn 2,39-2,4 kg thức ăn/kg tăng trọng
Tuỳ từng cơ thể gà mà TTTA khác nhau, đối với gà sinh trưởng chậm sẽ tiêu tốnthức ăn hơn gà tăng trọng nhanh vì gà sinh trưởng chậm sẽ mất thời gian nhiều hơnđồng nghĩa với duy trì năng lượng cao hơn dẫn tới lượng thức ăn cao Mặt khác tăngtrọng nhanh thì cơ thể đồng hoá và dị hoá tốt hơn, trao đổi chất mạnh hơn làm chohiệu quả sử dụng thức ăn cao dẫn đến TTTA thấp
Thức ăn chất lượng cao và cân bằng các chất dinh dưỡng sẽ tăng hiệu quả sửdụng thức ăn và giảm TTTA Ngoài ra hiệu quả sử dụng thức ăn còn phụ thuộc vàođiều kiện khí hậu thời tiết, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, tình trạng sức khoẻ
2.5 Sức sản xuất của gia cầm
2.5.1 Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất của gia cầm
Trang 11Chức năng sinh sản không những liên quan đến sự sinh tồn của loài gia cầm mà
từ đó con người mới có số lượng đông đảo gia cầm để sử dụng hai sản phẩm quantrọng của chúng là thịt và trứng Sức đẻ trứng của gia cầm là số lượng trứng đẻ ratrong một khoảng thời gian nhất định, thường tính là một năm Người ta có thể tínhsức đẻ trứng trong 365 ngày từ khi con gia cầm bắt đầu đẻ quả trứng đầu tiên hoặc
500 ngày tính từ khi gia cầm nở (Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự, 1994) Có rất nhiềuchỉ tiêu để đánh giá khả năng sinh sản của gia cầm, đó là những chỉ tiêu sau:
+ Tuổi thành thục sinh dục
Tuổi thành thục sinh dục liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm Tuổi thành thụcsinh dục của mỗi cá thể là khoảng thời gian tính từ khi gia cầm mới nở ra tới khi giacầm đẻ quả trứng đầu tiên Đối với đàn gia cầm, tuổi thành thục sinh dục là khoảngthời gian tính từ khi đàn gia cầm nở ra cho đến khi tỷ lệ đẻ toàn đàn đạt 5%
Tuổi thành thục sinh dục là đặc điểm di truyền cá thể Theo Brandach và Brichel(1978) cho biết hệ số di truyền của tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là h2= 0,14 - 0,15 TheoĐặng Hữu Bình và cộng sự (1999) và thông báo của Kiney (1978) tìm được h2 = 0,32.Tuổi thành thục sinh dục chịu ảnh hưởng của 2 yếu tố chính là giống và phươngthức chăn nuôi Các giống khác nhau sẽ có tuổi thành thục sinh dục khác nhau, theoNguyễn Thị Mai (2007) tuổi đạt tỷ lệ đẻ 5% gà hướng trứng là 18-22 tuần tuổi; gàhướng thịt là 22-24 tuần tuổi Khối lượng của cơ thể và độ chiếu sáng dài hay ngắncũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục sinh dục của gia cầm Khi thời gian chiếu sáng dàithì quá trình thành thục sinh dục sớm và ngược lại, trích theo Vũ Đăng Cường (2007).Tuy nhiên, nếu thành thục sinh dục quá sớm thì gia cầm sẽ đẻ khi cơ quan sinh dụcphát triển chưa toàn diện, số trứng nhỏ nhiều và chu kì đẻ trứng sinh học ngắn
Tuổi thành thục sinh dục được coi là yếu tố cấu thành năng suất của gia cầm, nó quyếtđịnh năng suất của gia cầm về sau nên người chăn nuôi phải hết sức lưu ý
Trang 12
đẻ trứng 3-4 tháng tuổi đầu để dự đoán sức đẻ trứng của gia cầm mà ghép đôi chọnlọc giống, cường độ đẻ trứng còn liên quan mật thiết tới thời gian hình thành trứng vàchu kì đẻ trứng Khi cường độ đẻ trứng giảm dần, gà thường hay biểu hiện bản năngđòi ấp Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ thuộc vào yếu tố di truyền thể hiện ở cácgiống khác nhau với mức độ khác nhau
+ Năng suất trứng
Năng suất trứng là chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh trạng thái sinh lý và khảnăng hoạt động của hệ sinh dục Năng suất trứng xác định bằng số lượng trứng củamột gia cầm mái sinh ra trong một đơn vị thời gian Các giống gà khác nhau thì khônggiống nhau về năng suất trứng Theo Vũ Ngọc Sơn và cộng tác viên (1999) đã nghiêncứu trên gà Lương Phượng Hoa trong 48 tuần đẻ trung bình 158,63 quả/mái Đối với
gà Moravia thương phẩm cho năng suất 242 quả/mái/năm (theo nghiên cứu củaNguyễn Huy Đạt và cộng sự, 1996) Còn theo Bùi Quang Tiến và cộng sự (1999) đãcho biết năng suất trứng của gà Ross-208 trong 9 tháng đẻ của dòng mái đạt 151,08quả, dòng trống đạt 106,39 quả
Trang 13+ Chất lượng trứng
Màu sắc vỏ có giá trị trong chọn giống và thị hiếu người tiêu dùng, đây là tínhtrạng đa gen, có hệ số di truyền biến động h2 = 0,55-0,75 (theo nghiên cứu củaNguyễn Chí Bảo, 1978)
Chỉ số hình dạng trứng là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá tình hình ấp nở và độ bềncủa vỏ trứng, nếu trứng đồng đều sẽ cho quá trình phát triển của phôi đồng đều, số gàcon nở ra cùng thời gian sẽ nhiều hơn ( theo Romanof và Sarenke, 1978) Trứng bìnhthường cho tỷ lệ ấp nở cao hơn trứng quá dài hay quá tròn Thực tế trứng có tỷ lê ấp
nở tốt nhất khi tỷ số giữa chiều dài và chiều rộng của trứng trong khoảng 71-76%hoặc 1,3-1,4 Theo Nguyễn Quý Khiêm (1996) cho biết trứng gà Tam Hoàng có chỉ
số hình dạng nằm trong khoảng 1,24-1,39 thì cho tỷ lệ ấp nở cao nhất
Độ dày và độ bền của vỏ trứng ảnh hưởng đến kết quả ấp nở và vận chuyển Hệ
số di truyền độ dày vỏ trứng theo Macro và cộng sự (1982) là 0,3-0,6; theo NguyễnVăn Thiện (1995) là 0,3 Khảo sát trên gà Tam Hoàng trứng có độ dày vỏ trung bình0,24-0,37mm, độ chịu lực đạt 3,47kg/cm2 (Nguyễn Quý Khiêm, 1996)
Chỉ số lòng đỏ biểu hiện trạng thái và chất lượng lòng đỏ, chỉ số này càng caocàng tốt, trứng gia cầm tươi chỉ số này là 0,4-0,5 Chỉ số này thay đổi phụ thuộc vàoloài, giống, cá thể, nó giảm dần theo thời gian bảo quản trứng Một số kết quả nghiêncứu cho biết chỉ số lòng đỏ của gà Ri là 0,46; của gà Leghorn dòng BVI là 0,49; dòngBVII là 0,50 (theo tài liệu của trung tâm gà giống Ba Vì)
Đơn vị Haugh được dùng để đánh giá chất lượng trứng, nó phụ thuộc vào khốilượng và chiều cao lòng trắng đặc Đơn vị Haugh càng cao thì trứng có chất lượngcàng tốt Đơn vị Haugh phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: giống, tuổi gia cầm, điều kiệnngoại cảnh (nhiệt độ, bệnh tật, thời gian bảo quản, ) Theo Peniind JkeVich và cộng
sự, chất lượng trứng rất tốt có chỉ số Haugh 80-100; tốt có 65-79; trung bình có 55-64,trứng xấu có Haugh nhỏ hơn 55
Trang 142.5.2 Các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sức sản xuất của gia cầm
+ Thức ăn và dinh dưỡng
Thức ăn và dinh dưỡng là nhân tố quan trọng có liên quan chặt chẽ với khả năng
đẻ trứng Một khẩu phần ăn phù hợp là một khẩu phần ăn đầy đủ và cân bằng các chấtdinh dưỡng, quan trọng nhất là cân bằng giữa năng lượng và protein, cân bằng cácaxit amin, chất khoáng và vitamin Trong giai đoạn hậu bị phải đặc biệt chú ý đếnkhẩu phần ăn của gia cầm, nếu gia cầm quá béo hoặc quá gầy sẽ làm giảm sức đẻtrứng Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (2001) chỉ ra rằng cho gà ăn hạn chế hợp
lý sẽ kéo dài thời kì đẻ trứng có hiệu quả 7-14 ngày Trong giai đoạn gia cầm đẻ trứngnếu không đáp ứng đầy đủ nhu cầu về protein, khoáng, vitamin thì gia cầm đẻ trứngnhỏ và tăng tỷ lệ trứng dị hình Theo Phùng Đức Tiến và cộng sự (2007) nuôi gàHubbard-Isa với mức năng lượng 2750 Kcal/kg thức ăn, ba mức protein là 16,5%;17,5%; 18,5%; thì gà đạt tỷ lệ đẻ cao nhất nếu khẩu phần chứa 18,5% protein
+ Nhiệt độ và ẩm độ
Khi nói đến sức sản xuất của gia cầm thì phải chú ý đến yếu tố nhiệt độ Một sốnghiên cứu cho rằng nhiệt độ thích hợp cho quá trình đẻ trứng từ 18-24ºC Nhiệt độ quácao hay quá thấp đều không có lợi cho gia cầm, ảnh hưởng đến sức sản xuất của gia cầm.Khi nhiệt độ môi trường tăng lên, cơ thể bắt đầu điều tiết bằng cách giảm sự hoạtđộng của tuyến giáp kéo theo giảm cường độ trao đổi chất, gà uống nước nhiều hơn,
ăn ít hơn làm cho sức sản xuất giảm, khối lượng trứng và chất lượng trứng cũng giảmtheo Khi nhiệt độ môi trường quá thấp, sẽ làm cho khả năng sản xuất bị ảnh hưởngnghiêm trọng, nhiệt độ thấp kèm với ẩm độ cao gà dễ nhiễm một số bệnh
Cùng với nhiệt độ thì ẩm độ giữ vai trò quan trọng trong sản xuất chăn nuôi, do
gà không có tuyến mồ hôi, khi môi trường nóng sự thoát nhiệt gần như gắn liền với sựthoát hơi nước được thực hiện qua hô hấp Độ ẩm không khí cao làm hạn chế sự bốchơi nước của gà dẫn tới hạn chế sự thoát nhiệt của chúng, điều này có thể làm cho gà
Trang 15bị stress hoặc gây chết cho gà Ẩm độ trong chuồng nuôi tốt nhất từ 65-70%, mùađông ẩm độ không nên vượt quá 80% (Theo Nguyễn Mạnh Hùng, 1994)
Nước ta là một nước nhiệt đới gió mùa vì vậy gió mùa ảnh hưởng trực tiếp đến sức
đẻ trứng, điều này gây không ít khó khăn trong công tác chăn nuôi Vấn đề chống nóng
và chống rét cần phù hợp với điều kiện tự nhiên và điều kiện chăn nuôi từng trại Trongchăn nuôi cần có hệ thống thông khí làm chuồng nuôi thông thoáng đảm bảo độ ẩmthích hợp ngoài ra còn giúp giải độc trong chuồng nuôi
+ Chế độ chiếu sáng
Ánh sáng quyết định tuổi thành thục và khả năng đẻ trứng của gia cầm vì ánhsáng tác động mạnh đến tuyến Yên, tuyến Yên tiết ra hai loại Hormone đó là FSH(Follicle Stimulating Hormone) và LH (Luteino Stimulating Hormone) Đối với contrống, hormone FSH có tác dụng kích thích dịch hoàn, ống sinh tinh phát triển, tăngsinh tế bào sinh dục đực Đối với con mái, hormone FSH kích thích nang trứng sinhtrưởng và phát triển tiếp đó LH kích thích trứng tăng trưởng nhanh đến chín và rụng Ánh sáng tác động đến sức sản xuất của gia cầm thông qua độ dài chiếu sáng,cường độ và màu sắc ánh sáng
Độ dài chiếu sáng: Độ dài chiếu sáng có ảnh hưởng đến tuổi thành thục của gia
cầm Độ dài chiếu sáng trong năm tăng dần làm gà thành thục sớm và ngược lại TheoBùi Đức Lũng (2004), gà ở 7 tuần tuổi cần 8-10 giờ chiếu sáng/ngày, đến giai đoạn đẻthì thời gian chiếu sáng từ 12-18 giờ/ngày Nếu dùng ánh sáng nhân tạo bổ sung gà sẽthành thục sớm khi chưa thành thục về thể vóc làm cho trứng đẻ ra sẽ bé và chu kìsinh học ngắn, kết thúc giai đoạn đẻ sớm
Nếu chiếu sáng bổ sung vào buổi tối sẽ làm giảm năng suất của gia cầm Dohormone điều tiết sự chín và rụng của tế bào trứng (hormone LH của tuyến yên) chỉtiết vào ban đêm, khi chiếu sáng sẽ làm tuyến yên chậm tiết hormone này dẫn đến
Trang 16giảm sự rụng trứng 3-4 giờ làm đàn gà đẻ rải rác Thực tế, muốn gà đẻ tập trung vàokhoảng 8-11 giờ thì phải đảm bảo thời gian chiếu sáng từ 15-18 giờ/ngày
Theo Moris và cộng sự quan sát được những gà mái được chuyển từ chế độ chiếusáng ngắn sang chế độ chiếu sáng dài thì làm sức đẻ trứng tăng lên, còn nếu chuyển từchế độ chiếu sáng dài sang chế độ chiếu sáng ngắn sẽ cho kết quả ngược lại Nhiềunghiên cứu cho thấy chiếu sáng ngắt quãng có hiệu quả hơn chiếu sáng liên tục tuynhiên phương pháp này ít áp dụng vì nó phức tạp và tốn nhiều công sức Theo nghiêncứu của Nguyễn Đức Hưng và Lê Hồng Phi (1983), trích dẫn theo Vũ Đăng Cường(2007) chiếu sáng 14 giờ/ngày trong 2 tuần và 16 giờ/ngày trong 2 tuần tiếp theo chokết quả tốt hơn chiếu sáng 15 giờ/ngày liên tục trên gà Leghorn
Cường độ và màu sắc ánh sáng: Cường độ và màu sắc ánh sáng ánh sáng ảnh
hưởng đến tỷ lệ ấp nở của gia cầm mặc dù ở mức độ thấp hơn so với độ dài chiếu sáng.Theo Otrander và cộng sự cho rằng cường độ chiếu sáng là 10,8 lux thì gà mái sẽ
có năng suất cao nhất Còn theo Nikolas và cộng sự (1978), trích dẫn theo Vũ ĐăngCường (2007)cho biết giới hạn chiếu sáng từ 5,4-10,9 lux thì khả năng đẻ trứng của giacầm là như nhau Laudau cho thấy trong điều kiện chiếu sáng tự nhiên cần từ 10-30 lux(theo hướng dẫn của Viện Nghiên cứu Liên Xô), còn đối với chiếu sáng nhân tạo nêndùng ánh sáng với cường độ là 20 lux Sở dĩ có sự khác nhau như vậy ở các nghiên cứucủa các tác giả trên là do từng giống gà và điều kiện tự nhiên từng địa phương
Ngày nay, người ta chiếu sáng bằng rất nhiều màu sắc ánh sáng nhưng nhiềunghiên cứu đã chỉ ra rằng ánh sáng đỏ làm hạn chế sự phát triển các tật xấu như cắn,
mổ nhau Theo Nguyễn Đức Hưng và cộng sự (1983), trích dẫn theo Vũ Đăng Cường(2007) đã dùng ánh sáng đỏ chiếu cho gà thì thấy tỷ lệ đẻ tăng, tỷ lệ chết, loại giảm sovới ánh sáng trắng
Ở nước ta chuồng trại chủ yếu thiết kế theo kiểu thông thoáng tự nhiên vì vậy tậndụng được ánh sáng tự nhiên nhiều Tuỳ thuộc vào mùa vụ, vị trí địa lý của từng địa
Trang 17phương mà người chăn nuôi có chế độ bổ sung ánh sáng thích hợp, tạo điều kiện giacầm có năng suất trứng cao nhất
2.5.3 Tỷ lệ ấp nở
Tỷ lệ ấp nở là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức sản xuất của gia cầm Đối với
gà giống thì tỷ lệ ấp nở còn được dùng để đánh giá khả năng tái sản xuất của đàn, làkết quả cuối cùng trong quá trình chăn nuôi gà giống đồng thời nó là nền tảng của thế
hệ kế tiếp
Tuỳ vào mục đích của cơ sở sản xuất mà tỷ lệ ấp nở được xác định bằng nhiềucông thức khác nhau Trong sản xuất, tỷ lệ ấp nở được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa
số gà con nở ra với số trứng đem ấp Để đánh giá chất lượng đàn giống, người ta tính
tỷ lệ ấp nở bằng tỷ lệ phần trăm giữa số gà con nở ra với số trứng đẻ ra Tỷ lệ ấp nởcòn bằng số tỷ lệ phần trăm giữa số gà con nở ra với số trứng có phôi khi ta muốn xácđịnh các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở hoặc xác định chất lượng máy ấp và quytrình ấp Ngoài ra ở các Trung tâm giống hay Trạm nghiên cứu Di truyền - Giống, đểxác định toàn diện chất lượng đàn giống, có thể tính tỷ lệ ấp nở bằng tỷ lệ phần trămgiữa số gà con nở ra với số trứng đẻ ra
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ấp nở, người ta có thể tổng hợp chúngthành hai nhóm đó là: các yếu tố di truyền và điều kiện môi trường
- Ảnh hưởng của các yếu tố di truyền
Tỷ lệ ấp nở trứng gia cầm chịu ảnh hưởng từ chất lượng trứng, hình dạng trứng,khối lượng trứng và sự cân đối giữa các thành phần trứng như tỷ lệ lòng đỏ, chỉ sốlòng đỏ… Theo Nguyễn Quý Khiêm và cộng sự (2003), những quả trứng quá to hayquá bé có tỷ lệ ấp nở thấp hơn những quả trứng trung bình của giống Nguyên nhân là
do sự mất cân đối giữa thành phần cấu tạo của trứng, phôi thường chết do sự khôngcân đối giữa lòng trắng và lòng đỏ Tỷ lệ nở cao nhất ở những quả trứng có tỷ lệ lòngtrắng/lòng đỏ là 2/1 Ngoài ra, những quả trứng quá lớn hay quá nhỏ sẽ có diện tích bề
Trang 18mặt tính trên một đơn vị khối lượng sẽ nhỏ hơn hay lớn hơn so với những quả trứng
có khối lượng trung bình, điều đó ảnh hưởng tới sự hao hụt trong thời gian ấp nở nênảnh hưởng tới kết quả ấp nở
Trọng lượng riêng của trứng, độ dày, độ xốp của vỏ trứng có mối quan hệ phụthuộc với khả năng ấp nở vì nó liên quan đến sự bốc hơi nước qua vỏ trứng trong thờigian ấp Theo Olsen và Hayces (1959), trích dẫn theo Vũ Đăng Cường (2007) cho biếtnhững quả trứng biến dạng có khả năng ấp nở chỉ bằng 49% so với trứng có hìnhdạng bình thường, đã ảnh hưởng tới sự phát triển của phôi trong quá trình ấp.Trứngchủ yếu có hình ovan Hiệu quả ấp nở phụ thuộc vào chỉ số hình dạng của trứng vì nóảnh hưởng đến sự phát triển của phôi gia cầm Đối với những quả trứng quá tròn hoặcquá dài hoặc dị dạng đều cho tỷ lệ ấp nở thấp Theo Romanoff và Andresonff, tríchdẫn theo Vũ Đăng Cường (2007) thì chỉ số hình dạng phù hợp với trứng gà là 1,3-1,4
- Ảnh hưởng của điều kiện môi trường
Tỷ lệ ấp nở phụ thuộc vào chất lượng đàn bố mẹ cũng như quy trình ấp trứng.Chất lượng đàn bố mẹ quyết định tới chất lượng trứng ấp hay nói cách khác sựphát triển của phôi chịu ảnh hưởng từ đàn bố mẹ Một khẩu phần ăn hợp lý sẽ đảmbảo chất lượng trứng tốt, phôi phát triển bình thường
Hàm lượng protein rất quan trọng Hàm lượng protein thích hợp cho quá trình pháttriển phôi từ 12-16% Nếu quá cao hay quá thấp cũng không làm tỷ lệ ấp nở cao lên.Trong khẩu phần ăn của gia cầm cần cung cấp đầy đủ protein thực vật và protein độngvật Protein động vật thường chiếm 1/3, trong chăn nuôi người ta hay dùng bột cá Các nguyên tố vi lượng không thể thiếu trong khẩu phần ăn vì nó cũng ảnhhưởng đến tỷ lệ ấp nở Các vitamin nhóm B và vitamin C rất cần thiết Vitamin B cótác dụng nâng cao kết quả ấp nở và tăng hiệu quả sử dụng protein thực vật (theonghiên cứu của Khaveman và cộng sự) Bổ sung với liều 450 - 150 ppm vitamin Ccho gà trống trong giai đoạn 25 - 34 tuần tuổi làm tăng tỷ lệ trứng có phôi từ 9,9 -
Trang 194,6%; tỷ lệ tăng từ 11,2 - 3,3% so với gà không được bổ sung vitamin C (theo nghiêncứu của Bùi Hữu Đoàn, 2003)
Trong quá trình ấp chú ý loại bỏ những quả trứng không đạt tiêu chuẩn và nhữngquả trứng dập vỡ để không ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở
Do trên vỏ trứng có rất nhiều vi trùng nấm có thể xâm nhập vào trứng qua các lỗkhí bất cứ lúc nào Hơn thế nữa vi khuẩn càng có điều kiện phát triển trong môitrường máy ấp, mầm bệnh sẽ phát triển nhanh và làm tăng tỷ lệ chết của phôi Vì vậy,khâu sát trùng trứng trước khi đem trứng vào ấp là khâu bắt buộc Có nhiều phươngpháp khử trùng khác nhau như khử trùng bằng focmadehyde, bằng tia tử ngoại hayozon Nếu chiếu bằng tia tử ngoại trước khi đem vào ấp còn kích thích sinh trưởng vàphát triển của phôi, tăng tỷ lệ nở 5-6% (theo Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự, 1994) Chú ý rằng sau khi thu trứng, trứng cần được bảo quản lạnh ở nhiệt độ 15-18ºC với
độ ẩm tương đối từ 75-80%, thời gian bảo quản không quá bảy ngày trước khi đưa vào ấp Trong thời gian này cũng không thể không chú ý tới nhiệt độ, độ ẩm, sự thôngthoáng, đảo trứng, làm mát,…
Nhiệt độ ảnh hưởng tới sự phát triển của phôi, thời hạn nở cũng như sức sống củagia cầm con Nhiệt độ máy ấp vượt quá 41ºC làm cho phôi chết hàng loạt bất cứ lúcnào Ngược lại khi nhiệt độ thấp hơn tiêu chuẩn phôi phát triển chậm, gà nở chậm vàthời gian nở kéo dài (theo Nguyễn Thị Mai, 2007) nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn quyđịnh tỷ lệ nở thấp hơn 5-15%, thời gian nở ngắn hơn hoặc dài hơn 3-7 giờ
Trong giai đoạn gà sắp nở độ ẩm trong máy ấp thấp sẽ làm cho màng niệu khôsớm dính chặt vào màng vỏ và rất dai, gà con không mổ được vỏ nên tỷ lệ chết tắc rấtcao Chính vì vậy độ ẩm ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của phôi, nó tác độngđiều hoà sự bay hơi nước và điều hoà độ toả nhiệt của chúng
Phôi có thể chết hàng loạt khi hàm lượng C02 trong máy tăng lên quá cao hoặcgiảm xuống quá thấp Theo Nguyễn Thị Mai (2007), trong ngày ấp đầu tiên nếu
Trang 20không đảo trứng, phôi sẽ bị lòng đỏ ép vào vỏ dính vào màng vỏ làm ngừng pháttriển Do vậy, cần đảm bảo cho máy luôn thông thoáng Theo Willson.H.R (1990), tỷ
lệ nở tối đa khi đảo trứng 15 phút/lần nhưng trong thực tế đảo trứng 24 lần/ngày đêmcho kết quả tốt nhất
Phôi có khả năng tự sinh nhiệt vào giữa thời kì ấp nên làm mát trứng trong thời
kì này sẽ giúp phôi phát triển tốt hơn
Ấp nở đòi hỏi người chăn nuôi phải biết kết hợp nhiều khâu, từ khâu dinh dưỡngcủa đàn gà bố mẹ đến việc đảm bảo khâu kĩ thuật trong quy trình ấp trứng Nếu làmtốt được tất cả các khâu trên sẽ đem lại tỷ lệ ấp nở cao nhất, từ đó đem lại hiệu quảkinh tế cao trong chăn nuôi gia cầm
2.6 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam là một nước nông nghiệp, địa bàn dân cư chủ yếu là nông thôn, chănnuôi gia cầm là một ngành truyền thống và phổ biến Đây là một nghề giải quyết công
ăn việc làm, vừa cung cấp thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày đồng thời tăng thu nhậpgóp phần cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo cho người nông dân Chăn nuôi giacầm đã đi vào đời sống văn hóa của người Việt Nam, nhiều giống gia cầm mang địadanh vùng quê Việt Nam như gà Hồ, gà Đông Tảo, vịt Bầu Quỳ Ngày nay, với khoahọc kỹ thuật ngày càng phát triển, bên cạnh những giống gà hiện có chúng ta đangtiến hành chọn lọc và lai tạo ra những giống mới từ những giống nhập nội và địaphương nhằm làm phong phú tập đoàn giống vật nuôi cung cấp cho sản xuất
Bùi Quang Tiến, Nguyễn Hoài Tạo và cộng sự (1975-1985) đã lai tạo gà Rhoderi
từ gà Rhode Island và gà Ri Hải Dương, gà qua bốn thế hệ chọn lọc có sản lượngtrứng cao hơn gà Ri Khối lượng cơ thể lúc 1 năm tuổi có ưu thế nghiêng về gà RodIsland với sản lượng trứng 151quả/mái, khối lượng trứng là 49,3 gram
Trang 21Nguyễn Huy Đạt và cộng sự (1994) nghiên cứu tổ hợp lai gà lông màu thả vườn
ở miền Bắc cho biết ở 70 ngày tuổi, con lai Lương Phượng và gà Ri có khối lượng cơthể từ 1145,28-1224,07g; con lai Kabir và gà Ri vó khối lượng cơ thể từ 1122,9-1195,49g; tỷ lệ nuôi sống tương ứng là 90,1% và 90%
Phạm Thị Hiền Lương (1997) cho biết gà Tam Hoàng sức chống chịu tốt, ít mắcbệnh, tỷ lệ nuôi sống từ 3-15 tuần tuổi đạt 100%, khối lượng cơ thể lúc 15 tuần tuổiđạt 1617g
Theo Vũ Ngọc Sơn (1999) gà Lương Phượng ít mắc bệnh của gà công nghiệpISA, AA, Ross,… tỉ lệ nuôi sống đạt 90-95% Giống gà này dễ thích ứng với mọi yêucầu dinh dưỡng khác nhau trong điều kiện nuôi dưỡng nông hộ Nếu thâm canh 90ngày gà trống đạt 2700g, gà mái đạt 2000g, chi phí thức ăn/kg tăng trọng từ
2500 - 2600g, nuôi chăn thả từ 110 - 120 ngày bình quân khối lượng trống, mái đạt
2100 - 2300g So sánh với gà Ri (Trần Long, 1994) khối lượng của gà Lương Phượngđạt cao hơn khối lượng của gà Ri 81,8% và cao hơn khối lượng của gà Tam Hoàng34,90% (theo Trần Công Xuân và cộng sự, 1995)
Lương Thị Hồng (2005) nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gàtrống H’mông và gà mái Ai Cập Con lai F1 mang đặc điểm di truyền về tính trạng dađen, thịt đen của gà H’mông là 62,19% và cải thiện được tính trạng năng suất trứng,
tỷ lệ phôi, tỷ lệ nở, tỷ lệ hao hụt đàn và tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng
Năm 2005, viện chăn nuôi đã tiến hành khả năng sản xuất thịt của 6 tổ hợp lai gàthịt thương phẩm của các dòng gà thịt lông màu nhập nội gồm HB01; HB02; KBCT2;Sasso và Lương Phượng tại xí nghiệp gà giống Hoà Bình Thực tế nuôi cho thấy gàmái của các tổ hợp lai đếu có năng xuất trứng tương đối cao và tỷ lệ chọn trứng giống
từ 90 - 95% Do đó tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng tương đối thấp (1,8 - 2,7kg) Sảnlượng trứng tính đến 66 tuần tuổi của các dòng gà từ 168 - 214 quả, cao gấp 2 lần sovới gà Ri cùng lứa tuổi và gấp 2,5 lấn với gà Mía cùng lứa tuổi
Trang 22Theo Đoàn Xuân Trúc và cộng sự (2006) nghiên cứu khả năng sản xuất củagiống gà ông bà lông màu TĐ12 và TĐ24 (giống gà được chọn tạo ra từ nguồn gienSasso ông bà) cho biết hai giống gà rất dễ nuôi, có sức kháng bệnh cao, tỷ lệ nuôisống trong giai đoạn hậu bị của TĐ12 là 92,5% của TĐ 34 là 93,6% Năng suất trứngđến 64 tuần tuổi tương ứng là 150,93 quả/mái và 172,53 quả/mái với tỉ lệ gà con loại Iđạt 82,6% và 83,6% so với trứng ấp.
Trên thế giới, vấn đề thực phẩm sạch đang được quan tâm, phương thức chănnuôi chăn thả hay chăn nuôi công nghiệp các giống gà nhập nội lông màu chất lượngcao ngày càng phổ biến hơn Những giống gà nhập nội có năng suất cao, sinh trưởngnhanh, thích nghi tốt với điều kiện ngoại cảnh nước ta đã và đang phát triển nhanh về
số lượng, chiếm ưu thế trong các giống gà hiện nay
2.6.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng được cải thiệnthì nhu cầu về tiêu dùng càng lớn Xuất phát từ nhu cầu trên trong thời gian qua ngànhchăn nuôi gia cầm trên thế giới đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng
và chất lượng Từ 1990 -2005, sản lượng trứng của toàn thế giới đã tăng gấp đôi, đạt
64 triệu tấn, ít hơn 1% so với năm 2004
Ngày nay, cả thế giới đang nuôi khoảng 4,93 tỷ con gà đẻ, năng suất trung bình
là 300 trứng/năm Theo dự kiến của FAO, đến năm 2015, thế giới sẽ sản xuất 72 triệutấn trứng
Trong hơn bốn thập kỷ vừa qua, sản xuất trứng liên tục tăng lên ở Hoa Kỳ,Nhật Bản, Ấn Độ, và Mê-hi-cô Sản lượng trứng ở Hoa Kỳ năm 2005 tăng 13% sovới năm 1995
Hầu hết các nước đang phát triển cũng có sản lượng trứng tăng nhằm đáp ứngnhu cầu của sự tăng dân số Năm 2000, các nước đang phát triển ở châu Á đã sản xuấtgấp hai lần sản lượng trứng của tất cả các nước công nghiệp phát triển
Trang 23Từ 1990 đến 2005, Trung Quốc chiếm 64 % sự tăng trưởng sản lượng trứngcủa toàn thế giới Năm 2005, một mình Trung Quốc sản xuất gần 44% sản lượngtrứng toàn cầu, đạt 28,7 triệu tấn, gấp năm lần nước đứng tiếp theo trong bảng phânloại Dự đoán, đến năm 2015, sản lượng trứng của nước này sẽ tăng lên 23%
Trung Quốc đã cơ bản chuyển từ sản xuất tại các nông trại truyền thống, chăn thảnhỏ lẻ sang trang trại quy mô lớn, đã xuất hiện rất nhiều các trang trại quy mô côngnghiệp Thực tế, gần 60 % trứng của Trung Quốc sản xuất năm 2005 đã được sản xuấttrong các trang trại có từ 500 mái đẻ trở lên
Năm 2005, Đài Loan sản xuất 390.000 tấn trứng từ 1.400 trang trại có quy môtrung bình là 40.000 gà đẻ Ở quốc gia này, chăn nuôi gia cầm tập trung quy mô lớn vàcông nghiệp là phương hướng được chính phủ ưu tiên và tập trung khuyến khích đầu tư.Một số thành tựu nghiên cứu trên thế giới:
Hãng Sasso của Cộng Hòa Pháp, đã chọn lọc, nhân giống lai tạo ra nhiều tổ hợplai gà thịt lông màu có năng suất chất lượng cao có thể nuôi thâm canh, bán thâm canh
và công nghiệp Đặc biệt các dòng: X44N, T55, T55N và dòng gà mái IS131 có lôngmàu đỏ, trọng lượng lúc 20 tuần tuổi 2,1-2,3 kg, tiêu tốn thức ăn là 2,38-2,46 thức ăn/
kg tăng trọng Gà IS131 có khối lượng lúc 20 tuần tuổi là 1,41kg; sản lượng trứng từ188-190 quả/mái/năm
Ai Cập nổi tiếng với giống gà Fayoumi, khối lượng gà trống trưởng thành đạt2kg, gà mái đạt 1,5kg sản lượng trứng 141 quả/mái/năm (theo Ellsalhia, 1984, tríchdẫn bởi Horst 1989)
Theo Inkhan 1998, trích theo Nguyễn Văn Thiện (2004), tình hình chăn nuôikhông ngừng phát triển, năng xuất trung bình đạt 270-280 quả/mái/năm, gà thịt nuôiđến 42 ngày tuổi đạt 1,8-2,0kg, chi phi thức ăn cho mỗi đơn vị sản phẩm là 1,8-2,0kgthức ăn hỗn hợp Trong những năm 1960-1970, việc nuôi gà thịt kéo dài 63 ngày tuổi
Trang 24giảm xuống 56 ngày tuổi nhưng trọng lượng bình quân chỉ đạt 1,6-1,8kg, chi phí thức
ăn là 1,8-2,0kg hỗn hợp/kg tăng trọng
Triệu Xương Đình và Vương Tuyền (2001) cho biết một số giống gà da, thịt,xương đen được gọi theo vị trí địa lý như Thái Hoà, Hắc Phượng, Dử Can, GiangSơn, Kim Dương, Tuyết Phong mà khối lượng cơ thể của các giống gà này có khácnhau đôi chút Nhìn chung khối lượng lúc trưởng thành gà mái từ 1-1,2kg , gà trống
từ 1,3-1,5kg, năng suất trứng đạt từ 100-130 quả/mái/năm, khối lượng trứng nhỏ chỉđạt 35 – 45g, tỷ lệ nở đạt khoảng 80 - 85%
Ở Trung Quốc trong những năm gần đây cũng đã lai tạo thành công và đưa ra thịtrường nhiều giống gà lông màu thả vườn như Tam Hoàng, Lương Phượng, Lô Hoa,
… Ngoài ra, các hãng gia cầm nổi tiếng trên thế giới như Lohman, Arbor AcresAvian,… cũng nghiên cứu tạo ra gà Broiler có năng suất cao và ưu thế lai so với bố
mẹ và dòng thuần
Qua các nghiên cứu trong nước và ngoài nước cho thấy các nghiên cứu về gàRod Island và số liệu nghiên cứu về giống gà này còn rất ít Vì vậy trong thời gian tớicác nhà chọn giống, nhà chăn nuôi,… cần quan tâm đến giống gà này nhiều hơn, đểcung cấp một số thông số kĩ thuật, đưa giống gà này vào trong sản xuất
2.7 Giới thiệu đối tượng nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu đối tượng
2.7.1 Giới thiệu về Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi
* Vị trí địa lý
Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi - Viện chăn nuôi thuộc Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn Trụ sở chính đặt tại xã Thuỵ Phương - Từ Liêm – HàNội, Trung tâm (TT) được nằm ở vị trí khá thuận lợi:
- Phía Đông giáp khu dân cư xã Thuỵ Phương
- Phía Tây giáp TT nghiên cứu lợn - Viện Chăn nuôi
- Phía Bắc giáp Công ty cám Guyomach
Trang 25- Phía Nam giáp khu tập thể Viện chăn nuôi.
- Khu chuồng nuôi giữ quỹ gen vật nuôi
- Khu chuồng nuôi gia cầm, gia súc, nghiên cứu thí nghiệm cơ bản
- Khu đồng cỏ chăn thả
- 0,7 ha ao nuôi cá để điều hoà tiểu khí hậu khu vực chăn nuôi
* Cơ cấu tổ chức nhân sự
Hiện nay toàn bộ TT có 70 CBCNV (trình độ trên đại học 3 người, kỹ sư 10người, bác sỹ thú y 7 người, cao đẳng 5 người, trung cấp 15 người, công nhân kỹthuật 30 người) được chia thành các bộ phận:
- Một Giám đốc là chủ tài khoản, vừa đại diện cho Nhà nước vừa đại diện chongười lao động, tổ chức thực hiện mọi hoạt động của TT
- TT được bố trí: + Tổ nghiên cứu kỹ thuật đại gia súc
+ Tổ nghiên cứu kỹ thuật tiểu gia súc, gia cầm
+ Tổ sản xuất thử nghiệm
+ Tổ nghiệp vụ
2.7.2 Giới thiệu về đối tượng nghiên cứu
Gà Rod Island có lông màu nâu vàng lúc 01 ngày tuổi, khi trưởng thành gà có màunâu sẫm (màu cánh gián) đồng nhất ở cả con trống và con mái, mào đơn, chân vàng, tầmvóc cơ thể trung bình thể hiện hướng gà kiêm dụng
Tháng 7/2007, Viện Chăn nuôi tiếp nhận giống gà Rod Island với 300 quả trứng,
số lượng đầu con tăng dần qua các thế hệ được thể hiện ở bảng 2.1
Trang 26Bảng 2.1: Quy mô đàn giống của 3 thế hệ gà Rod Island (con)
Giai đoạn Thế hệ Số lượng và tỷ lệ chọn giống ♂ ♀
13210581,3TH1
Gà 01 ngày tuổi
Gà hậu bị
Tỷ lệ chọn (%)
4928016,9
53042083,9TH2
Gà 01 ngày tuổi
Gà hậu bị
Tỷ lệ chọn (%)
66020033,6
76055073,4
9694,1
Tỷ lệ chọn (%)
6076,9
40095,2
Tỷ lệ chọn (%)
7035,6
40074,2
2.7.3 Công tác vệ sinh thú y và phòng bệnh cho đàn gà giống
* Công tác vệ sinh sát trùng của TT
Vệ sinh sát trùng đối với CBCNV đến TT làm việc: phải có bảo hộ lao động, rửatay bằng nước có thuốc sát trùng Haniodine hoặc Cloramin T
Vệ sinh sát trùng trạm ấp, khu vực xung quanh gần chuồng nuôi, trong khu vựcchuồng nuôi: định kỳ 2 lần/tuần dọn phân sân chơi, 1 lần/tuần phun thuốc sát trùngtrong chuồng nuôi và cả đàn gia súc gia cầm bằng thuốc sát trùng Haniodine hoặcCloramin T
* Lịch tiêm phòng cho đàn gà giống
Trang 27Bảng 2.2: Chế độ phòng bệnh cho gà
01 – 05
ngày tuổi
Phòng bệnh đường ruột bằng một trong các kháng sinh sau:
- Octamin AC 1g/10kg P (1g/1lit nước)
- Bio colistin 1g/10kg P (1g/1lit nước)Kết hợp uống VTM tổng hợp Bcomplex hoặc Penmasol
5 ngày tuổi Nhỏ vacxin ND + IB phòng Newcastle, IB lần 1
7 ngày tuổi Nhỏ Gumboro lần 1 (D78, G98, Bur 706)
8 – 12 ngày tuổi Phòng Hen bằng Tylanvet 1g/10kg P + uống Bcomplex
15 ngày tuổi Tiêm vacxin Cúm H5N1 lần 1 (tiêm dưới da)
14 – 18
ngày tuổi
Phòng Cầu trùng bằng các thuốc sau:
- Coxy max 1g/1lit nước uống
- Vetpro 60 0,5g/1lit nước uống
- Aleccid 1,5ml/1lit nước uống
17 ngày tuổi Nhỏ Gumboro lần 2 (IBD Blen, 228E) + uống Bcomplex
21 ngày tuổi Nhỏ vacxin ND + IB phòng Newcastle, IB lần 2
Kết hợp uống VTM tổng hợp Bcomplex hoặc Penmasol
26 – 30
ngày tuổi
Phòng Cầu trùng bằng các thuốc sau:
- Coxy max 1g/1lit nước uống
- Vetpro 60 0,5g/1lit nước uống
- Aleccid 1,5ml/1lit nước uống
45 ngày tuổi Tiêm vacxin Cúm H5N1 lần 2 (tiêm dưới da)
52 ngày tuổi Tiêm vacxin Newcastle hệ I
70 ngày tuổi Tẩy giun sán lần 1 (thuốc Tazusa)
Trang 28ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đàn gà nghiên cứu là gà Rod Island sinh sản thế hệ I từ 20 tuần tuổi đến 72 tuần
tuổi và gà dò hậu bị thế hệ II từ 01 ngày tuổi đến 20 tuần tuổi
3.1.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian thực tập từ tháng 1/2009 - tháng 8/2009
3.1.3 Địa điểm nghiên cứu
Tại trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi thuộc Viện Chăn nuôi - ThuỵPhương - Từ Liêm - Hà Nội
3.2 Nội dung nghiên cứu
Đánh giá đặc điểm ngoại hình, khả năng nuôi sống, sinh trưởng, phát dục và khảnăng sinh sản qua các thế hệ nuôi thích nghi
3.3 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu
Đàn gà Rod Island được nghiên cứu theo phương pháp điều tra khảo sát giá trịcủa quần thể số lượng lớn trên đàn gà bố mẹ 1720 con (1600 mái + 120 trống), phânlàm 3 lô thí nghiệm
Chọn lọc nhân thuần: Nhân thuần và chọn lọc quần thể theo phương pháp ngẫugiao theo nhóm ghép luân chuyển trống để giảm mức độ đồng huyết Ở thế hệ II gàcon được gắn số từ 01 ngày tuổi Gà trống được chọn lọc tại hai thời điểm 63 ngàytuổi và 133 ngày tuổi Trứng giống thay thế đàn được lấy ở tuần tuổi thứ 37- 38 Ápdụng phương pháp chọn lọc quần thể, chỉ lấy những cá thể có đặc điểm ngoại hìnhđặc trưng của giống
Trang 29Đối với gà Rod Island có màu lông nâu đỏ đậm, chân vàng, mào cờ
Tại thời điểm 63 ngày tuổi, gà trống chọn khối lượng cơ thể Xi ≥ X ± δ, gà mái
Xi ≥ X Áp lực chọn lọc qua các thế hệ là 70 -80%, gà trống chọn lọc 20% so với
gà mái
Tại thời điểm 133 ngày tuổi, gà mái và gà trống được chọn lọc bình ổn về khốilượng cơ thể Gà trống chọn trong khoảng X - δ ≤ Xi ≤ X + δ và gà mái chọn trongkhoảng X - 2δ ≤ Xi ≤ X + 2δ Ở giai đoạn này cũng tiếp tục loại triệt để những gàsinh trưởng và phát dục kém
Đàn gà Rod Island thế hệ I được theo dõi khả năng sản xuất trứng từ tuần tuổi 40đến 72 tuần tuổi; so sánh, theo dõi, ghi chép, cập nhật hàng ngày
Chăm sóc nuôi dưỡng: gà được nuôi trong chuồng nền có đệm lót trấu, kiểuchuồng thông thoáng tự nhiên, có sân chơi, có chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng vàphòng bệnh theo quy trình chăn nuôi gà hướng trứng Chế độ chăm sóc nuôidưỡng như bảng 3.1
Trang 30Bảng 3.1 Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng
0-3 tuần 4-9 tuần 10-17 tuần 18-19 tuần 20-45 tuần 46-72 tuần
Trang 31Chụp ảnh qua từng giai đoạn phát triển của gà.
3.3.2.2 Khối lượng cơ thể gà từ 1 ngày tuổi - 19 tuần tuổi:
Dùng cân để cân khối lượng gà, cân từng con một Cân khối lượng gà con 1 ngàytuổi, khối lượng gà từ 1- 19 tuần tuổi Mỗi lần cân 40 con Hàng tuần cân gà vào một ngàynhất định (thứ 6 hàng tuần) trước khi cho ăn Từ 4 tuần tuổi cân bằng cân đồng hồ có độchính xác ± 5g, từ 9 tuần tuổi cân bằng cân đồng hồ có độ chính xác ± 20g Xác định sinhtrưởng tích luỹ thông qua khối lượng cơ thể tính bằng gam tại các thời điểm kiểm tra
3.3.2.3 Tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh
Sức sống và khả năng kháng bệnh được xác định bằng tỷ lệ nuôi sống qua cáctuần tuổi, các giai đoạn Hàng ngày đếm chính xác số gà chết trong mỗi ô chuồng.Sức sống và khả năng kháng bệnh xác định theo công thức (1)
Trang 32Số gà chết và loại thải (con)
Tỷ lệ hao hụt đàn (%) = × 100 (2)
Số gà đầu kì (con)
3.3.2.4 Xác định độ đồng đều của đàn gà từ 1-20 tuần tuổi:
Tiến hành cân 50 con bằng cân đồng hồ Công thức (3) để xác định độ đồng đềucủa gà
n
Độ đồng đều (%) = × 100 (3)
X
Trong đó: n là số gà có khối lượng nằm trong khoảng X 10%
X là khối lượng trung bình của đàn gà
3.3.2.5 Lượng thức ăn thu nhận
Cho gà ăn theo chế độ dinh dưỡng ở bảng 1 Hàng ngày cân chính xác lượngthức ăn cho gà ăn vào giờ nhất định Ngày hôm sau vét sạch lượng thức ăn còn thừatrong máng ăn đem cân lại Thức ăn thu nhận hàng ngày được tính theo công thức (4) Lượng thức ăn cho ăn(g) – lượng thức ăn thừa(g)
(g/con/ngày) Số gà trong tuần(con)
Công thức trên chỉ áp dụng trong giai đoạn cho ăn tự do Khi gà bắt đầu vào giai đoạncho ăn hạn chế, lượng thức ăn sẽ được hạn chế theo định mức
3.3.2.6 Hiệu quả sử dụng thức ăn
+ Trong giai đoạn hậu bị, hiệu quả sử dụng thức ăn chính là lượng thức ăn tiêuthụ để nuôi một gà hậu bị từ 0-19 tuần tuổi (tiêu thụ g/con/giai đoạn)
+ Trong giai đoạn sinh sản, hiệu quả sử dụng thức ăn được tính bằng công thức