Đặc biệt, bệnh cầu trùng thường xảy ra liên tục làm giảm sức đề kháng của đàn gà, mở đường cho mầm bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác xâm nhập như: Newcastle, Gumborro, E.coli,… Nhằm góp
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM NGỌC HÀ
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ BỆNH CẦU TRÙNG Ở GÀ MÍA NUÔI TẠI TRUNG TÂM THỰC NGHIỆM VÀ BẢO TỒN VẬT NUÔI – VIỆN CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Bá Tiếp
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự giúp đỡ của tập thể trong và ngoài cơ quan
Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm về những
số liệu trong bản luận văn này
Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Ngọc Hà
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Có được công trình nghiên cứu này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới các thầy cô giáo trong bộ môn Giải phẫu - Tổ chức - Phôi thai, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Bá Tiếp đã đầu tư nhiều công sức và thời gian chỉ bảo tận tình giúp tôi thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban Giám Đốc cùng toàn thể cán bộ công nhân viên Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các nhà khoa học, các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi nâng cao kiến thức, hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin cảm ơn gia đình đã tạo mọi điều kiện, động viên tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Ngọc Hà
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
Phần 2 Tổng quan tài liệu 2
2.1 Một số giống gà bản địa ở việt nam 2
2.1.1 Gà Ri 2
2.1.2 Gà Đông Tảo 2
2.1.3 Gà Hồ 2
2.1.4 Gà Tàu Vàng 2
2.1.5 Gà Ác 3
2.1.6 Gà Tre 3
2.1.7 Gà Nòi 3
2.1.8 Gà Lạc Thủy 3
2.1.9 Gà H’Mông 4
2.2 GÀ MÍA 4
2.2.1 Nguồn gốc 4
2.2.2 Đặc điểm sinh học của gà Mía 4
2.2.3 Khả năng sinh trưởng của gà Mía 5
2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gà 6
Trang 52.2.5 Hiệu quả sử dụng thức ăn 8
2.2.6 Nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của gà Mía 8
2.3 Bệnh cầu trùng gà 9
2.3.1 Cầu trùng 9
2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới nhiễm cầu trùng ở gia cầm 14
2.3.3 Sinh bệnh học bệnh cầu trùng ở gà 15
2.3.4 Triệu chứng bệnh cầu trùng ở gà 17
2.3.5 Bệnh tích bệnh cầu trùng 18
2.3.6 Chẩn đoán 18
2.3.7 Điều trị 19
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 21
3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
3.1.2 Nguyên liệu nghiên cứu 21
3.1.3 Địa điểm nghiên cứu 21
3.1.4 Thời gian nghiên cứu 21
3.2 Nội dung nghiên cứu 21
3.2.1 Đánh giá một số chỉ tiêu sản xuất của gà Mía 21
3.2.2 Một số đặc điểm bệnh lý chủ yếu của bệnh cầu trùng ở gà Mía 21
3.3 Phương pháp nghiên cứu 22
3.3.1 Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh trưởng của đàn gà 22
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm bệnh lý chủ yếu của bệnh cầu trùng ở gà Mía 23
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 25
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 26
4.1 Khả năng sinh trưởng của đàn gà mía 26
4.1.1 Đặc điểm ngoại hình của giống 26
4.1.2 Tỷ lệ nuôi sống đàn gà Mía 26
4.1.3 Khả năng sinh trưởng đàn gà Mía 28
4.1.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn của gà Mía 31
Trang 64.2 Một số đặc điểm bệnh lý của bệnh cầu trùng ở gà mía 34
4.2.1 Tình hình nhiễm cầu trùng ở đàn gà Mía 34
4.2.2 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà Mía theo thời gian 36
4.2.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà Mía theo trạng thái phân 38
4.2.4 Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh cầu trùng 39
4.2.5 Bệnh tích đại thể chủ yếu ở gà Mía mắc bệnh cầu trùng 40
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Kiến nghị 43
Tài liệu tham khảo 44
Trang 7VS Vệ sinh
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Chế độ dinh dưỡng gà Mía 22
Bảng 4.1 Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm (n = 100) 27
Bảng 4.2 Khả năng sinh trưởng của gà Mía (n = 100) 29
Bảng 4.3 Khả năng thu nhận thức ăn và tiêu tốn thức ăn của gà Mía (n = 100) 32
Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm cầu trùng theo lứa tuổi của gà Mía 34
Bảng 4.5 Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà Mía theo thời gian 36
Bảng 4.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà Mía theo trạng thái phân 38
Bảng 4.7 Triệu chứng lâm sàng của gà Mía bị bệnh cầu trùng 40
Bảng 4.8 Bệnh tích đại thể chủ yếu ở gà Mía mắc bệnh cầu trùng 41
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Vòng đời phát triển của cầu trùng giống Eimeria 13
Hình 4.1 Sinh trưởng tích lũy của gà Mía 30
Hình 4.2 Sinh trưởng tuyệt đối của gà Mía 31
Hình 4.3 Hiệu quả sử dụng thức ăn của gà Mía 33
Hình 4.4 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà Mía theo tuần tuổi 34
Hình 4.5 Biến động tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà Mía theo thời gian 37
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Phạm Ngọc Hà
Tên luận văn: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng ở gà Mía nuôi tại
Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi
trình bản tồn và nhân giống gà Mía
Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp thường quy đánh giá tăng trưởng, thu nhận và tỷ lệ chuyển hóa thức ăn
- Các phương pháp thường quy chẩn đoán bệnh cầu trùng
- Phương pháp phân tích số liệu
Kết quả nghiên cứu chính
- Tỷ lệ sống trong giai đoạn đến 15 tuần tuổi của gà trống là 92,92% , cao hơn của
gà mái
- Tỷ lệ tăng trưởng tuyết đối tăng dần từ tuần tuổi 1 đến 9 sau đó giảm dần trong giai đoạn 10 đến 15 tuần tuổi
- Từ 1 đến 15 tuần tuổi, thu nhận thức ăn của gà Mía đạt trung bình 32 g/ngày và tỷ
lệ chuyển hóa thức ăn đạt 3,45 kg/kg
- Tuổi gà, nhiệt độ và độ ẩm môi trường là các yếu tố chính làm tăng tỷ lệ mắc cầu trùng
- Bệnh tích bệnh cầu trùng ở manh tràng chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là biểu hiện bệnh tích ở ruột non và thấp nhất là tỷ lệ biểu hiện ở trực tràng
Kết luận
- Gà Mía nuôi tại trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi có các chỉ số sinh trưởng, chỉ số thu nhận và chuyển hóa thức ăn tốt
- Tuổi gà và các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc cầu trùng ở gà Mía
- Các kết quả nghiên cứu này có thể đóng góp cho các chương trình bảo tồn và nhân
giống gà Mía
Trang 11THESIS ABSTRACT
Author name: Pham Ngoc Ha
Thesis title: Assessment of growth performance and coccidiosis in Mia chicken breed at the Center of Animal Experiments and Conservation
Major: Veterinary Medicine Code: 60 64 01 01
Institution: Vietnam National University of Agriculture
Aims of the research
Assessment of productivity of and coccidiosis in Mia chicken breed at the Center of Animal Experiments and Conservation to provide basic data for conservation and breeding programs of the breed
Methods
- Routine methods for evaluation of growth rate, feed intakem feed conversion ratio
- Clinial and pathological diagnostic routine methods
Trang 12PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm nói chung, gà nói riêng tiếp tục duy trì tăng trưởng cả về số lượng và sản lượng, góp phần đáp ứng cơ bản thực phẩm cho nhu cầu trong nước Số lượng gà tăng từ 234,509 triệu con năm 2013 lên 246,208 triệu con năm 2014 và đạt 259,295 triệu con năm 2015 Sản lượng thịt hơi và trứng gà tăng bình quân lân lượt là 9,43% và 21,52% trong giai đoạn 2013
- 2015 (Tổng cục thống kê tháng 3/2016) Để hoàn thành mục tiêu đến 2020, số lượng đầu gà đạt khoảng 392,39 triệu con thì các giải pháp về con giống đóng một vai trò rất quan trọng Tuy nhiên để chăn nuôi đạt hiệu quả cao, ngoài những nghiên cứu về giống, thức ăn, những nghiên cứu về thú y cũng có ý nghĩa rất lớn
để tạo ra những sản phẩm đạt về hiệu quả kinh tế và đáp ứng các tiêu chí về vệ sinh an toàn thực phẩm
Gà Mía là giống vật nuôi bản địa có từ lâu đời, nổi tiếng bởi chất lượng thịt
và trứng thơm ngon Giống gà này có khả năng tự tìm kiếm thức ăn, đề kháng cao với bệnh tật Gà Mía có nguồn gốc ở vùng Sơn Tây - Hà Nội và hiện nay do chăn nuôi nhỏ lẻ, tự phát nên số lượng gà Mía thuần chủng còn khá ít Trong quá trình nuôi gà Mía cũng hay mắc một số bệnh thông thường như: Đậu, bệnh do
E.coli, histomonas, Đặc biệt, bệnh cầu trùng thường xảy ra liên tục làm giảm
sức đề kháng của đàn gà, mở đường cho mầm bệnh truyền nhiễm nguy hiểm
khác xâm nhập như: Newcastle, Gumborro, E.coli,…
Nhằm góp phần đánh giá chất lượng đàn gà Mía nuôi tại Trung tâm và thực trạng bệnh cầu trùng trên đàn gà giống, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và bệnh cầu trùng ở gà Mía nuôi tại Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi”
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đánh giá được các đặc điểm về sức sản xuất của đàn gà Mía tại Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi và mức độ ảnh hưởng của bệnh cầu trùng với giống gà này, cung cấp thêm cơ sở khoa học các biện pháp phòng và điều trị bệnh cầu trùng có hiệu quả
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 MỘT SỐ GIỐNG GÀ BẢN ĐỊA Ở VIỆT NAM
2.1.1 Gà Ri
Nguồn gốc: Gà Ri là giống gà đẻ trứng nhỏ được nuôi rộng rãi ở Việt Nam Đặc điểm: Con mái có màu lông không đồng nhất, vàng rơm, vàng đất, có đốm đen ở cổ, đuôi và đầu cánh Một năm tuổi, gà mái nặng 1,2 - 1,4 kg Sức đẻ năm đầu 100 - 110 trứng, trứng nặng 40 - 45 g, vỏ màu trắng Con trống lông màu đỏ tía, đuôi đen có ánh xanh, mào sớm phát triển Một năm tuổi gà trống nặng 1,5 - 2 kg Gà Ri thích hợp với nuôi chăn thả Thịt thơm ngon
2.1.2 Gà Đông Tảo
Nguồn gốc: Tại tỉnh Hưng Yên Gà Đông Tảo hay gà Đông Cảo là một
giống gà đặc hữu và quý hiếm của Việt Nam, không nơi nào trên thế giới có
Đặc điểm ngoại hình: Đặc điểm nổi bật của loại gà này là cặp chân xấu xí, đôi chân to và thô, khi trưởng thành có thể nặng trên 4,5 kg (gà trống) và trên 3,5
kg (gà mái) Sản lượng trứng thấp (50 - 70 trứng/năm)
2.1.3 Gà Hồ
Nguồn gốc: Gà Hồ là một giống gà quý ở Việt Nam, nuôi chủ yếu ở làng Lạc Thổ, thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Đặc điểm: Mào gà to có màu đỏ hoặc màu hồng Còn đuôi gà thường xòe
to, các lông đuôi bằng nhau Chân gà Hồ thường to, tròn (quản), vẩy chân mịn màu vỏ đỗ nành Con gà trống có dáng to, dài, trọng lượng của một chú gà trống nuôi làm giống có khi lên đến 6 - 7 kg Còn gà mái thường có 3 màu lông: đất thó (trắng, xanh), vỏ quả nhãn chín và màu sẻ (giống lông chim sẻ) Trọng lượng của
gà mái tối đa từ 4 - 5 kg Sản lượng trứng thấp 40 - 50 trứng/năm
Trang 14Chỉ tiêu kinh tế: Trọng lượng trưởng thành gà mái 1,6 - 1,8 kg, gà trống 2,2
- 2,5 kg Sản lượng trứng bình quân (60 - 70 trứng/năm)
có một số con không có lông chân hoặc chân chỉ có 4 ngón Gà Ác có sức sống rất cao
Chỉ tiêu kinh tế: Trọng lượng trưởng thành con mái: 0,5 - 0,6 kg, con trống: 0,7 - 0,8 kg Gà mái đẻ 1 - 2 trứng/lứa, sản lượng trứng 70 - 80 quả/năm Người
ta nuôi gà Ác để làm thuốc hay chế biến như một món ăn đặc sản
2.1.8 Gà Lạc Thủy
Gà Lạc Thủy có nguồn gốc từ huyện Lạc Thủy tỉnh Hòa Bình và được nuôi
từ khá lâu đời, chúng được đưa vào đối tượng để bảo tồn nguồn gen
Đặc điểm ngoại hình: Gà con 1 ngày tuổi có bộ lông đồng nhất màu trắng ngà, da vàng, mỏ và da chân màu vàng, tốc độ mọc lông nhanh Con mái có lông
Trang 15màu lá chuối khô, hơi giống với gà Mía Con trống thì rất đẹp với bộ lông màu mận chín, đỏ tím, da chân vàng, mào đơn, dái tai dài Có khả năng chống chịu bệnh, thời tiết khí hậu, nhất là vào mùa lạnh khá tốt, dễ nuôi, lớn nhanh, chất lượng thịt thơm ngon
Tính năng sản xuất: Nuôi lấy thịt trong 15 tuần đạt gà mái 1,7 kg và gà trống 2 kg
Tính năng sản xuất: Dễ nuôi hơn so với các loại gà khác, mỗi đợt đẻ từ 10 -
12 quả, quả nhỏ như trứng gà ri, mùi rất thơm Năng suất từ 66 - 74 quả/mái/năm Gà H’Mông lượng mỡ rất ít, thịt dai chắc, thơm ngọt, hàm lượng
mỡ trong thịt ít, thịt có thể làm thuốc chữa bệnh
2.2 GÀ MÍA
2.2.1 Nguồn gốc
Gà Mía là một giống gà nội địa của Việt Nam, chúng có nguồn gốc từ ở xã Phùng Hưng, huyện Tùng Thiện, tỉnh Hà Tây nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội (Làng cổ Đường Lâm) Giống gà này là một đặc sản của Hà Tây Đây là một giống gà có từ lâu đời Ngoài cung cấp cho lễ hội trong làng, người dân nơi đây còn dùng gà Mía trong lễ cưới
2.2.2 Đặc điểm sinh học của gà Mía
Gà trống Mía thân hình to, nặng, lông màu đỏ tiết, cơ ngực, đùi nở nang, mào cờ dựng, chất thịt thơm vị đậm ngọt, da giòn, săn chắc và ít mỡ dưới da tỷ lệ thuận với những bước chạy thường ngày Chúng có khả năng tự kiếm ăn tốt, sức
đề kháng cao
Gà Mía là giống gà hướng thịt, có tầm vóc to và có ngoại hình thô với mình ngắn, đùi to và thô, đi lại chậm Khối lượng cơ thể lúc mới sinh là 32 g Lúc 4 tháng tuổi (giết thịt) bình quân con trống đạt 2,32 kg, con mái 1,9 kg Gà 6 tháng tuổi con trống đạt 3,1 kg, con mái 2,4 kg Khi trưởng thành gà nặng 3 - 3,5 kg, gà
Trang 16trống đạt tới 5 kg, khối lượng gà mái trưởng thành 2,5 - 3 kg, còn con trống là 3,5
- 4 kg Thời gian đạt trọng lượng thịt khoảng 5 tháng
Con trống có màu lông đỏ sẫm xen kẻ lông màu đen ở đuôi, đùi, lườn, hai hàng lông cánh xanh biếc Con mái có lông màu vàng nhạt xen kẽ lông đen ở cánh đuôi, lông cổ có màu nâu Gà có mắt sâu, mào đơn, chân có 3 hàng vảy, da
đỏ sắc lông gà trống màu tía, ga mái màu nâu xám hoặc vàng Nói chung màu lông gà Mía tương đối thuần nhất Tốc độ mọc lông chậm, đến 15 tuần tuổi mới phủ kín lông ở gà trống
Gà Mía có chất lượng thịt thơm, da giòn, mỡ dưới da ít, có vị ngọt, đậm, dai mềm thơm, thịt chắc, màu trắng, da vàng, rất giòn, đậm ngọt Ngoài những chất albumin, chất béo, thịt gà còn có các vitamin A, B1, B2, C, E, a-xít, can-xi, phốt pho, sắt Hàm lượng protein và phức hợp của amino a-xít trong thịt gà có ảnh hưởng tích cực đến não bộ có tác dụng cải thiện huyết áp và nhịp tim Theo Đông
Y, loại thịt này còn chữa băng huyết, xích bạch đới, lỵ, ung nhọt, là loại thực phẩm bổ âm cho tỳ vị, bổ khí, huyết và thận Đặc biệt, thịt gà có tác dụng bồi bổ cao cho người bị bệnh lâu ngày, dạ dày bị phong hàn, suy yếu không hấp thu được thức ăn Ngoài bổ khí huyết, thịt gà còn giúp trừ phong
2.2.3 Khả năng sinh trưởng của gà Mía
Khả năng sinh trưởng
Sinh trưởng là sự tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng chiều dài, chiều cao và bề ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể trên
cơ sở tính di truyền của đời trước Sinh trưởng chính là sự tích luỹ dần các chất chủ yếu là protein Tốc độ tích luỹ của các chất và sự tổng hợp protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể (dẫn theo Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường, 1992) Chambers (1990) định nghĩa sinh trưởng là tổng sự tăng trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da
Cơ sở chủ yếu của sinh trưởng gồm hai quá trình, tế bào sản sinh và tế bào phát triển, trong đó sự phát triển là chính Tất cả các đặc tính của gia cầm như ngoại hình thể chất, sức sản xuất đều không phải có sẵn trong tế bào sinh dục, trong phôi chưa phải có đầy đủ ngay khi hình thành mà nó chỉ được hoàn chỉnh trong suốt quá trình sinh trưởng của cơ thể con vật Đặc tính của các bộ phận hình thành trong quá trình sinh trưởng tuy là sự tiếp tục thừa hưởng các đặc tính
di truyền từ bố, mẹ, nhưng hoạt động mạnh hay yếu, hoàn chỉnh hay không hoàn
Trang 17chỉnh còn phải phụ thuộc vào sự tương tác giữa các gen và môi trường
Đánh giá khả năng sinh trưởng
Các nhà chọn giống gia cầm có khuynh hướng sử dụng cách đo đơn giản và thực tế: Khối lượng ở từng thời kỳ dù chỉ là một chỉ số sử dụng quen thuộc nhất
về sinh trưởng (thường theo tuần tuổi) song chỉ tiêu này không nói lên được mức
độ khác nhau về tốc độ sinh trưởng trong một thời gian
Để đánh giá khả năng sinh trưởng còn sử dụng tốc độ sinh trưởng tuyệt đối
và tốc độ sinh trưởng tương đối
- Sinh trưởng tuyệt đối: Là sự tăng khối lượng, kích thước, thể tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN, 1977) Sinh trưởng tuyệt đối được tính bằng gam/con/ngày hoặc gam/con/tuần Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol
- Sinh trưởng tương đối: Là phần trăm tăng lên của khối lượng, kích thước
và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (TCVN, 1977) Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hypebol Sinh trưởng tương đối giảm dần qua các tuần tuổi
Đường cong sinh trưởng: Đường cong sinh trưởng biểu thị tốc độ sinh
trưởng của vật nuôi Theo Chambers (1990), đường cong sinh trưởng của gà có 4 điểm chính gồm 4 pha sau:
Pha sinh trưởng tích luỹ tăng tốc độ nhanh sau khi nở
- Điểm uốn của đường cong tại điểm có tốc độ sinh trưởng cao nhất
- Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn
- Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành
Thông thường, sử dụng khối lượng ở các tuần tuổi, thể hiện bằng đồ thị sinh trưởng tích luỹ và được thể hiện đơn giản theo đường cong sinh trưởng
2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gà
Giống gà: Letner and Asmundsen (1938) đã so sánh tốc độ sinh trưởng của
các giống gà Leghorn trắng và Plymouth Rock tới 24 tuần tuổi và cho rằng gà Plymouth Rock sinh trưởng nhanh hơn gà Leghorn ở 2 - 6 tuần tuổi và sau đó không có sự khác nhau Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) cho biết sự khác nhau
về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng khoảng 500 - 700 g (13 - 30%) Khi nghiên cứu tốc độ sinh trưởng
Trang 18trên 3 dòng thuần (V1, V3, V5) của giống gà Hybro HV8, Trần Long (1994) cho rằng tốc độ sinh trưởng ở 3 dòng hoàn toàn khác nhau ở 42 ngày tuổi
Theo Godfrey and Joap (1952), sự di truyền các tính trạng về khối lượng
cơ thể do 15 cặp gen tham gia trong đó ít nhất có một gen về sinh trưởng liên kết giới tính (nằm trên nhiễm sắc thể X) Vì vậy, có sự sai khác về khối lượng
cơ thể giữa con trống và con mái trong cùng một giống (gà trống nặng hơn gà mái 24 - 32%)
Nguyễn Ân và cs (1983) xác định hệ số di truyền về khối lượng cơ thể ở 3 tháng tuổi ở gà là 26 - 50%
Tính biệt: Gia cầm trống và mái có tốc độ sinh trưởng khác nhau, con trống
lớn nhanh hơn con mái, ngoại trừ chim cút (con trống nhỏ hơn con mái) Theo Jull (1923, dẫn theo Phùng Đức Tiến, 1996), gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái 24 - 32% Tác giả cũng cho biết, sự sai khác này do gen liên kết giới tính, những gen này ở gà trống (2 nhiễm sắc thể giới tính) hoạt động mạnh hơn gà mái (1 nhiễm sắc thể) Theo North and Bell (1990), khối lượng gà con 1 ngày tuổi tương quan đương với khối lượng trứng, song không ảnh hưởng đến khối lượng cơ thể gà lúc thành thục và cường độ sinh trưởng ở 4 tuần tuổi Lúc mới nở gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng lớn,
ở 2 tuần tuổi hơn 5%, 3 tuần tuổi hơn 11%, 8 tuần tuổi hơn 27%
Tốc độ mọc lông Trong cùng một giống, cùng giới tính ở gà có tốc độ mọc
lông nhanh cũng có tốc độ sinh trưởng và phát triển tốt hơn Hayer and Mc Carthy (1970) đã xác định trong cùng một giống thì gà mái mọc lông đều hơn gà trống và tác giả cho rằng ảnh hưởng của hormon có tác dụng ngược chiều với gen liên kết giới tính qui định tốc độ mọc lông
Chế độ dinh dưỡng: Sinh trưởng là tổng số của sự phát triển các phần cơ thể
như thịt, xương, da Tỷ lệ sinh trưởng các phần phụ thuộc vào độ tuổi, tốc độ sinh trưởng và phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng (Chambers, 1990) Mức độ dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển các bộ phận của cơ thể mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của mô này đối với mô khác
Như vậy, tốc độ sinh trưởng liên quan chặt chẽ tới điều kiện nuôi dưỡng đàn bố mẹ, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng đàn gà broiler, điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi, điều kiện phòng bệnh Ở nước ta, điều kiện khí hậu ở hai vụ Đông -Xuân và Hè - Thu cũng gây ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng Nhiệt độ cao làm
Trang 19cho khả năng thu nhận thức ăn giảm dẫn đến tăng khối lượng kém
2.2.5 Hiệu quả sử dụng thức ăn
Hiệu quả sử dụng thức ăn là mức độ tiêu tốn thức ăn (TTTA)/đơn vị sản phẩm TTTA cho 1 kg tăng khối lượng là tỷ lệ chuyển hoá thức ăn để đạt được tốc
độ trọng Nói cách khác, TTTA là hiệu suất giữa thức ăn/1 kg tăng khối lượng Trong chăn nuôi gia cầm, TTTA/kg là một chỉ tiêu quan trọng quyết định hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi vì chi phí thức ăn thường chiếm tới 70% giá thành sản phẩm Giá trị này càng thấp thì hiệu quả kinh tế của chăn nuôi càng cao và ngược lại
Lê Hồng Mận và cs (1993) cho biết nuôi gà thịt đến 9 tuần tuổi tiêu tốn 2,39 -2,41 kg thức ăn/kg khối lượng cơ thể Đoàn Xuân Trúc và cs (1993) nghiên cứu gà Hybro AV35, AV53, AV135 cho biết chỉ số này ở 56 ngày tuổi ở các công thức lai đạt tương ứng là 2,34 kg; 2,23 kg; 2,26 kg và 2,32 kg
Chambers (1990) đã xác định được hệ số tương quan giữa khối lượng và tăng trọng trong khoảng 0,5 - 0,9 Tương quan giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn là âm và thấp (từ -0,2 đến -0,8) Hiệu quả sử dụng thức ăn liên quan chặt chẽ đến tốc độ sinh trưởng
Đối với gia cầm đẻ trứng, chỉ tiêu TTTA/10 quả trứng hoặc 1 kg trứng Trước đây, khi tính toán người ta chỉ tính lượng thức ăn cung cấp trong giai đoạn sinh sản Hiện nay, nhiều cơ sở chăn nuôi trên thế giới đã áp dụng phương pháp tính mức TTTA bằng lượng chi phí cho gia cầm từ lúc 1 ngày tuổi cho đến kết thúc 1 năm đẻ Đối với gia cầm nuôi thịt, TTTA phụ thuộc vào tốc độ sinh trưởng, độ tuổi Giai đoạn đầu,TTTA thấp hơn giai đoạn sau Phương pháp áp dụng là tính mức TTTA/1kg TKL
TTTA là chỉ tiêu có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà TTTA/đơn vị sản phẩm còn phụ thuộc vào tính biệt, khí hậu, thời tiết, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, cũng như sức khoẻ của gia cầm
2.2.6 Nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của gà Mía
Theo công bố của Lê Viết Ly và cs (2001), gà Mía có khả năng sinh trưởng tốt, tuổi thành thục sớm hơn và năng suất trứng cao hơn so với các giống
gà nội khác như gà Hồ, gà Đông Tảo Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên ở 165 - 179 ngày tuổi, số trứng 9 tháng đẻ là 55 - 62 quả/mái
Trang 20Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Thiện và Hoàng Phanh (1999) cho thấy gà Mía có khối lượng cơ thể lúc 14 - 15 tuần tuổi, gà trống nặng 2175 g, gà mái 1740 g
2.3 BỆNH CẦU TRÙNG GÀ
2.3.1 Cầu trùng
Nhiều nghiên cứu đã chú ý đến vấn đề sinh bệnh học trong bệnh cầu trùng
gà Năm 1863 bệnh cầu trùng gà đã được nghiên cứu bởi Rivelta, ông đã tìm thấy
ở phân gà có 1 loại ký sinh trùng Đến năm 1864 Eimeria đã xác định đây là một loại nguyên sinh động vật sinh sản theo bào tử thuộc lớp Sporozoa bộ Coccida,
bộ phụ Eimeria
Ngày nay, người ta đã xác định được hàng mấy trăm loại cầu trùng ký sinh không những trong cơ thể động vật có xương sống mà cả động vật không xương sống Sự ký sinh của ấu trùng có tính chất riêng biệt, nghiêm ngặt trên mỗi ký chủ, thậm chí trên mỗi cơ quan, tế bào nhất định Tính chuyên biệt nghiêm ngặt của cầu trùng giống Eimeria biểu hiện không chỉ đối với ký chủ của chúng mà
còn đối với nơi chúng ký sinh, trong cơ thể gia súc cụ thể: E.tenella chỉ sống ở màng niêm mạc manh tràng gà, E.acervulina trong tá tràng gà
Nhờ khả năng tái sinh sản to lớn mà cầu trùng ở tất cả các loài, đặc biệt là những làm loài có khả năng gây bệnh cao tổn thương lan tràn niêm mạc ruột Từ
đó, một số lượng lớn tế bào biểu bì lớp dưới niêm mạc, các mạch quản thần kinh
bị huỷ hoại
Mặt khác, tính chuyên biệt của cầu trùng còn thể hiện ở chỗ, nếu ký chủ nuốt phải noãn nang mà noãn nang không thể ký sinh trong ký chủ đó thì noãn nang không phát triển và gây bệnh được Noãn nang sẽ được thải ra ngoài môi trường, tiếp tục xâm nhập vào ký chủ thích hợp và gây bệnh Như vậy, tính chuyên biệt của cầu trùng giống Eimeria biểu hiện rõ nét và phát sinh trong quá trình thích ứng lâu dài của ký sinh trùng đối với 1 ký chủ nhất định cũng như đối với từng cơ quan, từng mô bào riêng biệt
Các loài cầu trùng gây bệnh cho động vật nuôi, động vật hoang dã và người đều thuộc ngành Protozoa, lớp Sporozoa, bộ Coccidae, bộ phụ Eimeridae, họ Eimeriidae Trong đó có 2 giống quan trọng là Eimeria và Isospora
Bộ phụ Eimeridae được chia thành 3 họ với các giống sau:
Trang 21- Họ Eimeridae, trong đó có 3 giống quan trọng: Eimeria, Isospora, Atoxoplasma
- Họ Toxoplasma, trong đó có 3 giống: Toxoplasma, Bematia, Hammondia
- Họ Sarcocystis, trong đó có 2 giống: Sarcocystis, Frenkenlis
Trong thú y, giống cầu trùng gây bệnh quan trọng nhất là Eimeria Nó có khả năng gây bệnh cho gia súc, gia cầm
Phân loại cầu trùng gà
Nếu tính riêng về gà, đến nay đã xác định được khoảng 10 loại trong đó có
9 loài được xác định rõ tên, kích thước, màu sắc và khả năng gây bệnh
Eimeria tenella
Là loài cầu trùng phổ biến rộng rãi nhất và có tính độc cao Nang trứng hình bầu dục, bao bọc bởi 2 lớp vỏ, có mầu hơi xanh nhạt Độ lớn nang trứng là 14,2 - 31,2 x 9,5 - 24,8 Mm
E.tenella cư trú ở manh tràng, gây tổn thương, khi phát triển với số lượng
lớn sẽ phá huỷ niêm mạc ruột gây xuất huyết ruột, chức năng tiêu hoá bị rối loạn
Từ đó, tạo điều kiện để các vi khuẩn, các độc tố tạo ra khi phân huỷ các chất chứa trong manh tràng xâm nhập vào cơ thể
E.necatrix
Là loài cầu trùng có độc lực cao, mức độ phổ biến và khả năng gây bệnh
của nó thấp hơn loài E.tenella Nang trứng không có màu, hình bầu dục hay hình
trứng và không có lỗ noãn nang, ở 1 trong 2 đầu trứng có hạt cực Độ lớn nang trứng 13 - 20 x 11,3 - 18,3 Mm Thời gian sinh bào tử dưới 48 giờ Thời kỳ xâm nhập vào cơ thể là 138 - 140 giờ Gà con 2 - 5 tuần tuổi cảm thụ mạnh nhất với loại cầu trùng này Thời gian phát bệnh là 12 ngày Quá trình phát triển ở đoạn giữa ruột non và gây ra bệnh cầu trùng ác tính thể ruột với tỷ lệ chết cao vào ngày thứ 5, thứ 7 sau khi nhiễm bệnh
E.maxima
Thuộc loại cầu trùng có độc lực cao nhưng khả năng gây bệnh thấp hơn 2 loài nêu trên Nang trứng màu nâu vàng, thường có hình trứng đôi khi có dạng bầu dục Độ lớn của nang trứng thay đổi từ 21,4 - 42,5 x 16,5 - 29,8 Mm Quá trình sinh sản bào tử kéo dài 30 - 48 giờ Phát triển nội sinh diễn ra suốt chiều dài ruột non, nhưng nhiễm nhiều hơn cả là phần trước và phần giữa ruột non
Trang 22E acervulila:
Là loài cầu trùng có độc lực yếu và chỉ gây bệnh cho gà con Thời kì phát triển nội sinh chủ yếu trong tá tràng và gây quá trình viêm ác tính Có nang trứng hình trứng, bầu dục, không có màu Khối nguyên sinh chất trong cầu trùng chưa hình thành bào tử có dạng hạt trông rất đều Kích thước loài này từ 16 - 20,2 x 12,7 - 16,3 Mm Sinh sản bào tử tốt nhất khi ở nhiệt độ 28 - 300C và kéo dài 13 -
17 giờ Thời gian cần cho quá trình sinh sản bào tử sẽ tăng lên khi nhiệt độ giảm xuống, ví dụ ở 220C nó kéo dài 21 giờ còn ở 50C là 48 giờ
E.brunetti
Cũng thuộc loài cầu trùng có độc lực cao như E.tenella và E.necatiax Nang
trứng hình bầu dục, không màu, độ lớn 20,7 - 30,3 x 18,1 - 24,2 Mm Thời gian sinh sản bào tử luôn ổn định 24 giờ Thời kỳ nội sinh phát triển chủ yếu trong ruột già, phần cuối ruột non cũng như trực tràng và lỗ huyệt Sau khi gây bệnh một lần cầu trùng thải ra trong vòng 10 ngày hoặc hơn nữa
E.mivati
Trang 23Nang trứng hình trứng hay bầu dục, chúng không có màu Ở một trong hai đầu nang trứng có lỗ noãn, bên cạnh còn thấy cả hai cực Độ lớn nang trứng thay đổi từ 10,7 - 20 x 10,1 - 15,3 Mm Sinh sản bào tử tiến triển trong 18 - 21 giờ Thời kỳ phát triển nội sinh của cầu trùng gây tổn thương tế bào biểu mô ruột non Thời kỳ phát bệnh là 12 ngày
Ở nước ta, nghiên cứu bệnh cầu trùng gà được quan tâm từ những năm đầu của thập kỷ 70 Dương Công Thuận (1973), Lê Thị Tuyết Minh (1994) phát hiện
4 loài cầu trùng thường gây bệnh ở cả trại gà là E.tenella, E.maxima, E.mitis,
E.necatrix Vũ Đình Chính (1977), Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1974),
Phạm Hùng (1978) điều tra ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Sông Bé phát
hiện 8 loài cầu trùng là E.tenella, E.maxima, E.mitis, E.brunetti, E.necatrix,
E.acervullina, E.mivati, E.Hagani Hồ Thị Thuận (1985) tìm thấy 5 loài gây bệnh
trên các đàn gà thuộc các tỉnh phía nam Hoàng Thạch (1999) tìm thấy 6 loài Như vậy, ở nước ta phát hiện hầu hết các loài cầu trùng gây bệnh cho gà mà các tác giả nước ngoài đã mô tả
Vòng đời phát triển của cầu trùng
Là cơ sở khoa học cần thiết mà nhờ vào đó ta đưa ra biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất nhằm hạn chế mức thiệt hại tối thiểu do bệnh gây ra, đồng thời tránh phát tán mầm bệnh
Sự lưu truyền rộng khắp của cầu trùng là nhờ vào cấu trúc và vòng đời phức tạp cũng như khả năng thích nghi nhanh để tiếp tục phát triển, tồn tại lâu trong thiên nhiên
Tuy đã được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và làm sáng tỏ nhưng cầu trùng gây bệnh rất phức tạp Theo Phan Lục (1997) vòng đời của cầu trùng giống Eimeria đặc trưng bằng 3 giai đoạn phát triển:
- Giai đoạn sinh sản vô tính (Schigony)
- Giai đoạn sinh sản hữu tính (Gametogny)
- Giai đoạn sinh sản bào tử (Sporogony)
Hai giai đoạn đầu tiến hành trong cơ thể ký chủ hay còn gọi là giai đoạn nội sinh (Endogen) Giai đoạn 3 (giai đoạn bào tử) diễn ra ở ngoài thiên nhiên còn gọi là giai đoạn ngoại sinh (Exogen)
Trang 24Hình 2.1 Vòng đời phát triển của cầu trùng giống Eimeria
Phương thức sinh sản vô tính diễn ra khi gà ăn phải thức ăn có lẫn noãn nang cầu trùng đa thành thục (đã hình thành thể bào tử Sporozoit), noãn nang vào đường tiêu hoá Nguyên nhân cơ giới và trypsin đóng vai trò quan trọng phá vỡ vỏ noãn nang giải phóng ra bào tử (Sporozoit) Sporozoit chui vào tế bào biểu bì niêm mạc ruột phát triển về khối lượng và hình thành dạng bầu dục, tròn rồi biến thành các thể phân lập (Schizont) Nhân của mỗi thể phân lập đó phân chia nhiều lần tạo thành tế bào nhiều nhân (thể phân lập đời 1) Bên trong thể phân lập đó hình thành những dạng ký sinh trùng đầu có nhân gọi là các thể phân đoạn (Merozoit)
Với sự hình thành các thể phân đoạn, thể phân lập được chia nhỏ ra và phá huỷ vách biểu bì tế bào ruột Các thể phân đoạn giải phóng ra 1 lần nữa lại xâm nhập vào cá tế bào biểu bì ruột tạo ra các thể phân lập đời II, III Bởi vậy, sinh sản vô tính của cầu trùng được lặp đi lặp lại nhiều lần Sau đó, sự sinh sản vô tính được thay bằng sinh sản hữu tính, sinh sản giao tử để duy trì nòi giống Thời gian xâm nhập của cầu trùng diễn ra rất nhanh
Vì vậy, trong công tác phòng trị phải đặc biệt quan tâm cắt đứt vòng đời phát triển của cầu trùng để giảm thiệt hại do bệnh gây nên
Trang 252.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới nhiễm cầu trùng ở gia cầm
- Điều kiện môi trường, chuồng trại
Điều kiện chuồng trại là 1 khâu quan trọng liên quan đến dịch tễ bệnh cầu trùng ở gia cầm Hoàng Thạch (1996 – 1998) đã khảo sát tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở các phương thức chăn nuôi cũng thu được kết quả: Gà nuôi lồng tỷ lệ nhiễm cầu trùng là 0,37%, trong khi đó nuôi nền độn chuồng bằng trấu tỷ lệ nhiễm là 22,49
- 57,38% Thực tế cho thấy, điều kiện chuồng nuôi gà hạn chế chúng tiếp xúc với phân thì tỷ lệ nhiễm cầu trùng giảm đi
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), gia cầm nuôi nhốt chật chội, thức ăn không đủ dinh dưỡng, chăm sóc kém đều ảnh hưởng tới mức độc nhiễm cầu trùng Bên cạnh đó, ẩm độ môi trường cao, nhiệt độ thay đổi đột ngột cũng là điều kiện thuận lợi cho cầu trùng phát triển
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Văn Lục (1996), nguồn bệnh là những gia cầm ốm hoặc những gia cầm mắc bệnh ở thể ẩn Từ quan điểm đánh giá cao khả năng truyền lây từ nguồn bệnh là gà mắc bệnh ở thể ẩn (ở gà lớn) là nguồn bệnh tiềm tàng nguy hiểm, Lê Văn Năm (2006) cho rằng tuyệt đối không nuôi chung
gà con với gà lớn
Sự truyền lây thông qua thức ăn, nước uống, máng ăn, máng uống, chất độn chuồng, độ dày của chất độn chuồng, các dụng cụ chăn nuôi, mật độ trong không gian chuồng nuôi, độ ẩm của nền chuồng, độ ẩm của không khí, thức ăn không
đủ chất dinh dưỡng…đều có ý nghĩa lớn trong lây lan bệnh cầu trùng (Long and Wedcolm, 1982)
- Độ tuổi gà
Theo Lương Tố Thu (1993), Lê Văn Năm (2006), gà nhiễm cầu trùng nặng nhất vào giai đoạn 20 - 56 ngày tuổi, nếu không được chữa trị kịp thời đàn gà có thể bị chết tới 100% Từ những kết quả trên đây cho thấy lứa tuổi là yếu tố liên quan đến mức độ nhiễm cầu trùng ở gà Vì thế, trong chăn nuôi gà nên chú ý phòng bằng thuốc vào trước lứa tuổi gà bị nhiễm cầu trùng cao
Trang 26Tuy nhiên, theo Bạch Mạnh Điều (2004) cho rằng sự sai khác giữa các mùa
là không rõ, luôn có tỷ lệ gần như nhau, tỷ lệ nhiễm cầu trùng gà ở mùa thu (26,07%) thấp hơn 3 mùa kia (P<0,05) Như vậy, trong những thời gian này cần tập trung cao độ các khả năng phòng bệnh cầu trùng cho đàn gà
- Giống
Các giống gà cao sản nhập nội chưa thích nghi với các điều kiện sinh thái thường nhiễm cầu trùng, phát bệnh nặng và chết với tỷ lệ cao Gà nội trong cùng điều kiện nuôi dưỡng và môi trường chăn nuôi có tỷ lệ nhiễm cầu trùng thấp hơn
gà ngoại và bệnh diễn ra mãn tính hoặc mang trùng Hiện tượng này đã xảy ra ở đàn gà Ri và gà lai Rhoderi (Rhod lai với gà Ri) tại các cơ sở nuôi gà công nghiệp với quy mô nhỏ hoặc nuôi trong gia đình
- Tiêm Vacxin
Do tính chất nguy hiểm của bệnh nên từ rất lâu đã có nhiều nhà khoa học trên phạm vi toàn thế giới đầu tư công sức nhằm giải quyết bệnh cầu trùng bằng vacxin Kết quả các nghiên cứu đã giúp cho một số nước chế được vacxin cầu trùng như: Immucoc, coccivac B, D, T, Anticoc,… của Hà Lan, Pháp, Mỹ, Thái Lan, Bungari,
Tất cả các loại vacxin đều là một hỗn hợp kháng nguyên của 3 chủng cầu
trùng: E tenella, E maxima, E necatrix
Phương pháp sử dụng là cho uống qua đường miệng lúc gà được 7 - 8 ngày tuổi và có thể lặp lại khi gà được 15 - 18 ngày tuổi
Mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu chế tạo vacxin chống bệnh cầu trùng gà song đến nay hiệu lực của tất cả các loại vacxin đó vẫn chưa đáp ứng thỏa mãn cho thực tế sản xuất và kết quả là trong quá trình sử dụng vacxin có đàn được miễn dịch có đàn đã dùng vacxin nhưng bệnh vẫn nổ ra
2.3.3 Sinh bệnh học bệnh cầu trùng ở gà
Vấn đề sinh bệnh học đã có rất nhiều tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu về nhiều mặt khác nhau của quá trình sinh bệnh do cầu trùng gây ra trong cơ thể gà Quá trình sinh bệnh được hình thành trước hết từ những tác động trực tiếp của mầm bệnh, các giai đoạn phát triển nội sinh của cầu trùng ở trong cơ thể gà, đồng thời cả những yếu tố thứ phát do tác động của các yếu tố trên
Cầu trùng xâm nhập vào cơ thể gà theo đường tiêu hoá Nhờ khả năng sinh
Trang 27sản nhanh, cầu trùng gây ra tổn thương lan tràn trên mặt niêm mạc ruột gà Từ đó một số lượng lớn tế bào biểu bì, lớp niêm mạc, các mạch quản, thần kinh bị huỷ hoại là điều kiện thuận lợi cho các hệ vi sinh vật khác nhau phát triển và xâm nhập vào cơ thể gà Nói một cách khác, niêm mạc ruột bị tổn thương là điều kiện
lý tưởng để các bệnh khác phát triển, cụ thể như: Bệnh do E.coli, bệnh bạch lỵ và
phó thương hàn, CRD, tụ huyết trùng, Gumboro, Newcastle, Marek
Theo các tác giả Phan Lục (1997), cầu trùng ký sinh ở ruột và phá huỷ bề mặt niêm mạc ruột nên nhiều đoạn ruột không còn chức năng tham gia vào quá trình tiêu hoá làm cho gà bị đói dai dẳng dẫn tới ngưng đọng và phù nề các cơ quan mô bào khác Vì vậy, quá trình sinh bệnh thường làm loãng máu, giảm bạch cầu, mạch đập chậm
Những xét nghiệm về hoá sinh và hình thái cho thấy, khi gà bị bệnh cầu trùng, lượng hồng cầu và Hemoglobin giảm, con vật bị thiếu máu, bạch cầu ưa axit tăng, số lượng bạch cầu đơn nhân không có sự biến đổi rõ rệt (xét nghiệm
vào ngày thứ 10 khi gà con mắc E tenella) Ngoài ra, khi bệnh phát triển ác tính
thấy lượng đường trong máu, catalaza, kiềm dự trữ cũng giảm
Những bệnh tích đại thể như tiểu não to hơn bình thường, xuất huyết từng đám riêng biệt có những ổ mềm nhũn, mất tính chất, cấu trúc của mô Xét nghiệm vi thể thấy những biến đổi trong protit não: Các sợi thần kinh biến mất, xuất hiện những đám có cấu trúc khác với cấu trúc bình thường và có nhứng mảnh tế bào và sợi thần kinh trong quá trình thoái hoá
Một biến đổi có ý nghĩa to lớn trong quá trình gây bệnh cầu trùng đó là sự rối loạn trao đổi nước Nguyên nhân chính là do các thể sản sinh của cầu trùng và
hệ vi khuẩn có trong đường ruột xâm nhập tấn công các tế bào ruột gây viêm, gây rối loạn chức năng hấp thụ và vận động của ruột dẫn tới ỉa chảy Quá trình viêm càng tăng dịch phân tiết càng nhiều, mất cân bằng nước càng trâm trọng Biểu hiện lâm sàng: gà rất khát nước Nếu mất 10% - 15% lượng nước trong cơ thể gà sẽ bị chết
Như vậy, đã có những biến đổi sâu sắc diễn ra trong cơ thể gà khi chúng mắc bệnh cầu trùng Sự phát triển của quá trình bệnh lý dẫn tới suy sụp trạng thái chung của gà bị ốm và cuối cùng là gà chết Điều đó cho thấy bệnh cầu trùng là một bệnh toàn thân chứ không phải là bệnh của một cơ quan riêng biệt trong cơ thể, chính vì thế trong quá trình điều trị bệnh cầu trùng cần chú ý điều trị cả triệu chứng lẫn toàn thân
Trang 282.3.4 Triệu chứng bệnh cầu trùng ở gà
Bệnh thường xảy ra ở những đàn gà 10 - 90 ngày tuổi, nhưng nặng nhất là ở
gà 18 - 45 ngày tuổi (Lê Văn Năm, 2006) Thời gian nung bệnh là 4 - 5 ngày Triệu chứng phát ra thường trùng với sự phát triển các thể phân lập đời II trong
cơ thể gà con bị nhiễm bệnh Bệnh tiến triển dưới các thể: Cấp tính, á cấp tính và mãn tính
Triệu chứng bệnh cầu trùng gà nói chung đều liên quan đến diễn biến gây bại huyết các khu vực chúng ký sinh và gây ảnh hưởng đến toàn thân
xù, cánh xã, dáng yếu ớt và không có phản ứng với mọi kích thích Sau đó gà bỏ
ăn, bỏ uống, gà ỉa chảy, ban đầu phân loãng không có máu, sau đó trong phân xuất hiện máu và có nhiều màng giả, quanh lỗ huyệt lông dính bê bết phân, máo
và yếm gà trắng bệch Gà con thường chết vào ngày thứ 6 - 7 sau khi nhiễm bệnh hoặc ngày thứ 2 - 3 sau khi biểu hiện triệu chứng đầu tiên Tỷ lệ chết rất cao thường là 100%
Thể á cấp tính
Ở thể này, các triệu chứng lâm sàng giống như ở thể cấp tính nhưng biểu hiện nhẹ hơn, bệnh kéo dài hơn Xuất hiện những biến đổi trong máu, giảm hồng cầu và bạch cầu Gà ốm có thể co giật, thậm chí có thể liệt nhẹ chân và cánh Gà con có triệu chứng thần kinh: Rướn cổ đồng thời cánh và chân duỗi thẳng Bệnh
kéo dài 7 - 10 ngày, tỷ lệ chết 50% số gà bệnh
Thể mạn tính
Thể bệnh mạn tính cũng có triệu chứng như trên nhưng kéo dài hơn có khi tới hàng tháng Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), gà mắc bệnh cầu trùng mạn tính thường thấy từ 4 đến 6 tuần tuổi hoặc gà trưởng thành Triệu chứng lâm sàng về cơ bản giống thể cấp tính, nhưng không rõ và không điển hình Bệnh thường kéo dài vài tuần đến vài tháng Gà gầy còm dần, chân và cánh
tê liệt nhẹ Năng suất trứng giảm 15 - 25%, thỉnh thoảng bị kiết lỵ, rất ít gà bị chết
Trang 292.3.5 Bệnh tích bệnh cầu trùng
Theo Lê Văn Năm (2006), trong trường hợp gà bị cầu trùng quá cấp do E
tenella hoặc do bị ghép với E.coli dung huyết gà bị bệnh ỉa chảy ngay ra máu
tươi hoàn toàn, xác gà chết còn béo, thịt trắng
Khi mổ khám bệnh tích thấy các màng niêm mạc miệng, khí quản trắng bệch, phủ chất nhầy Phổi màu trắng hồng, kém độ chắc, cắt lá phổi thấy chảy ra một chất dịch đỏ có bọt Màng bao tim chứa dịch trong suốt, cơ tim không có những biến đổi rõ rệt, trên tim không có xuất huyết
Nhiều loài cầu trùng khác nhau ký sinh trong một phần ruột non hay trực tràng thường gây cho gà con thể bệnh nặng và gây chết Tác giả xác định rằng
E acervulina tạo ra trên bề mặt tá tràng hay phần đầu ruột non những ổ màu
xám trắng Loài E hagani gây tổn thương trên nhiều hạch và gây vết loét sâu trong màng niêm mạc tá tràng Khi bị nhiễm E necatrix, trên niêm mạc phần
giữa ruột non thấy những cục nhỏ màu trắng xám nằm sâu trong vách ruột nên
có thể nhìn thấy rõ từ phía ngoài Màng niêm mạc viêm xuất huyết và đôi khi bị
hoại tử E maxima gây viêm phần đầu ruột non Khi gà bị nhiễm E brunetti
thấy tổn thương từng điểm nhỏ, viêm xuất huyết trực tràng, ổ nhớp và manh tràng Những bệnh tích vi thể thể hiện chủ yếu ở các quá trình viêm, huỷ hoại lớp biểu bì màng niêm mạc
2.3.6 Chẩn đoán
Chẩn đoán bệnh cầu trùng phải phân tích và chú ý đến dịch tễ, triệu chứng
và bệnh tích Để chẩn đoán chính xác nhất thì phải dựa vào kết quả xét nghiệm Dịch tễ: Gà bị ốm thường sau 10 -14 ngày tuổi, bệnh tích nặng nhất từ 18 -
45 ngày tuổi, từ 45 - 90 ngày tuổi luôn ở thể mạn tính, sau 90 ngày tuổi là thể mang trùng
Chẩn đoán sơ bộ có thể dựa vào triệu chứng lâm sàng như: Gà khi mới bị nhiễm cầu trùng thường uống nhiều nước, tiếp đó gà chậm chạp, xù lông, cánh
xã, mắt nhắm, phân có lẫn máu và hoàn toàn máu tươi Bên cạnh việc quan sát triệu chứng thì phải tiến hành mổ khám gà bệnh chết để quan sát bệnh tích Bệnh tích đặc trưng nhất sẽ biểu hiện ở manh tràng và ruột như niêm mạc xung huyết, xuất huyết thành từng điểm hoặc lan tràn, tế bào biểu mô bong tróc làm thành ruột mỏng, đôi khi thấy trong ruột có dịch nhày fibrin màu vàng nâu và một số nốt sần hoại tử màu trắng đục Từ đó rút ra những kết luận sơ bộ về bệnh để có hướng giải quyết trước mắt
Trang 30Để chắc chắn kết quả chẩn đoán sơ bộ, thì phải tiến hành xét nghiệm trong phòng thí nghiệm Có rất nhiều phương pháp xét nghiệm nhưng thông dụng nhất
là xét nghiệm bằng phương pháp Darling và phương pháp Fullerbon để tìm noãn nang cầu trùng Phương pháp Darling phát hiện được số gà con ốm cao nhất đồng thời con thấy trên tiêu bản rất nhiều nang trứng cầu trùng Còn phương pháp Fullerbon là phương pháp đơn giản và kinh tế hơn và độ chính xác cao
Ngoài các phương pháp trên, khi mổ khám gà nên làm các tiêu bản những vùng niêm mạc ruột bị tổn thương Trên tiêu bản sẽ thấy các nang trứng cầu trùng, các tế bào biểu bì, các thành phần hữu hình của máu và rất nhiều thể phân đoạn, đôi khi thấy các thể phân lập đời II
Bên cạnh đó, tiến hành chẩn đoán phân biệt với các bệnh Histomonosis, bệnh Tricomonosis, bệnh xoắn khuẩn, bệnh ỉa chảy phân trắng
Nhóm Pyrinidin gồm: Amprolium, Beclothiamin, Diaveridin, Pyrimethamin, Trimethoprim Nhóm này chưa chứng minh có kết quả điều trị cầu trùng tốt
Nhóm Arsen: dùng Acetarsol hoà tan trong 1% Na2CO3.2H2O
Nhóm Nitrocarbanil gồm: Nicarbazin (Nicrazin), Nicoxin
Nhóm Dinitrobenzamid gồm: Dinitrolmid (DOT), Iramin, Nitromid Nhóm Chinolin và các dẫn xuất gồm: Buquinolat (Antagonal), Decoquinat, Nequinat (Methylbenzoquat)
Nhóm Pyrimidin và các dẫn xuất gồm: Rigecoccin (Clopydol, Coyden, Methylclopydol, Methylchlopyndol ) Khi Rigecoccin kết hợp với Chlotetracyclin thì tác dụng tốt hơn rất nhiều
Nhóm Guanidin và các dẫn xuất: Đại diện là Robenidin (Robensiden) Nhóm Imidazol và các dẫn xuất: Đại diện là Glycamid