Bản chất di truyền của tính trạng sản xuất Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm ñược nuôi dưỡng trong ñiều kiện cụ thể , thực chất là nghiên cứu các ñặc ñiểm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
BÙI TRỌNG DIỄN
KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, SINH SẢN GÀ MÁI BORKOV, G15 VÀ GÀ LAI F 1 (BORKOV x VCN-G15) NUÔI TẠI TRUNG TÂM THỰC NGHIỆM VÀ BẢO TỒN VẬT NUÔI – VIỆN CHĂN NUÔI
VCN-Chuyên ngành : Chăn nuôi ñộng vật nông nghiệp
Mã số : 60.62.01.05 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ðinh Văn Chỉnh
TS Phạm Công Thiếu
HÀ NỘI, 2013
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn hoàn toàn trung thực do chúng tôi, cũng như sự hợp tác tập thể trong và ngoài cơ quan khảo sát nghiên cứu và chưa ñược công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược ghi rõ nguồn gốc
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những số liệu trong luận văn này
Hà Nội, tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn
Bùi Trọng Diễn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận ựược sự giúp ựỡ tận tình của các thầy hướng dẫn và sự quan tâm tạo mọi ựiều kiện thuận lợi của Ban Giám ựốc Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi Ờ Viện Chăn nuôi, Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản, Ban Quản l ý đào tạo và Viện đào tạo Sau ựại học - Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Cùng với sự giúp ựỡ nhiệt tình của cán bộ, công nhân viên Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi, cũng như sự quan tâm ựộng viên của các nhà khoa học, các bạn ựồng nghiệp và gia ựình
Nhân dịp này cho phép tôi tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy hướng dẫn là TS Phạm Công Thiếu và PGS.TS.đinh Văn Chỉnh ựã trực tiếp tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện ựề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trân trọng tới Ban Giám ựốc Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi - Viện Chăn nuôi ựã giúp ựỡ tạo mọi ựiều kiện về thời gian và vật chất cho tôi học tập, triển khai ựề tài và bảo vệ luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trân trọng tới Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản, Ban Quản lý đào tạo và Viện đào tạo Sau ựại học - Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội ựã giúp ựỡ và tạo ựiều kiện cho tôi nghiên cứu, học tập và bảo vệ luận văn
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới tất cả bạn bè, ựồng nghiệp và gia ựình ựã quan tâm và ựộng viên tôi hoàn thành luận văn khoa học này
Hà Nội, tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn
Bùi Trọng Diễn
Trang 41.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài 2
2.1.3 Cơ sở khoa học của chọn lựa ñối tượng ñưa vào lai tạo 26
2.1.4 ðặc ñiểm ngoại hình, khả năng sinh trường và sinh sản của gà
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 30
1.2.1 Một số kết quả chọn lọc và lai tạo gia cầm trên thế giới 30
1.2.2 Một số kết quả lai tạo và chọn lọc gia cầm trong nước 32
3 ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 ðỐI TƯỢNG, ðỊA ðIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 36
Trang 53.1.2 ðịa ñiểm nghiên cứu 36
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm và chế ñộ chăm sóc, nuôi dưỡng 36
3.3.2 Phương pháp xác ñịnh các chỉ tiêu nghiên cứu 38
4.1 Một số ñặc ñiểm ngoại hình của các giống, tổ hợp lai gà 43
4.1.2 Kích thước các chiều ño lúc 25 tuần tuổi 45
4.2.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà mái giai ñoạn gà con 1-9 Tuần tuổi (%) 46
4.2.2 Tỷ lệ nuôi sống của gà mái giai ñoạn hậu bị 10-19 tuần tuổi (%) 48
4.2.3 Tỷ lệ nuôi sống của gà mái giai ñoạn sinh sản 20-71 tuần tuổi (%) 49
4.3.1 Khối lượng cơ thể gà mái giai ñoạn gà con 50
4.3.2 Khối lượng cơ thể gà mái giai ñoạn gà hậu bị 51
4.5 Tuổi thành thục và khối lượng của gà mái tại các thời ñiểm có tỷ
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
ME Năng lượng trao ñổi (Metabolizable Energy)
EN Chỉ số kinh tế ( Economic Number)
TĂ Thức ăn
TL Tỷ lệ
KL Khối lượng TTTĂ Tiêu tốn thức ăn
TB Trung bình
SS Sơ sinh
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Sơ ñồ bố trí thí nghiệm nuôi gà qua các giai ñoạn 37
3.2 Chế ñộ chăm sóc, nuôi dưỡng gà qua các giai ñoạn 38
3.3 Chế ñộ dinh dưỡng nuôi gà qua các giai ñoạn 38
4.1 Kích thước các chiều ño lúc 25 tuần tuổi của mái Borkov,
4.2 Tỷ lệ nuôi sống của gà mái sinh sản giai ñoạn 1-9 tuần tuổi 47
4.3 Tỷ lệ nuôi sốngcủa gà mái giai ñoạn hậu bị 10-19 tuần tuổi 48
4.4 Tỷ lệ nuôi sống giai ñoạn sinh sản 20-71 tuần tuổi 49
4.5 Khối lượng cơ thể gà mái giai ñoạn gà con 1- 9 tuần tuổi (g/con) 50
4.6 Khối lượng cơ thể gà mái giai ñoạn hậu bị 10 – 19 tuần tuổi
4.8 Tuổi ñẻ và khối lượng gà mái tại các thời ñiểm ñẻ 5%, 30%,
4.9 Tỷ lệ ñẻ, năng suất trứng và tiêu tốn thức ăn/10 trứng 58
4.11 Kết quả ấp nở trứng gà bố mẹ và công thức lai 65
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
4.1 Khối lượng cơ thể mái Borkov, VCN-G15, F1 qua các tuần tuổi 52
4.2 Tỷ lệ ñẻ của gà mái Bor, VCN-G15, F1 qua các tuần tuổi 59
4.3 Năng suất trứng của gà mái Bor, VCN-G15, F1 qua các tuần tuổi 59
4.4 Tiêu tốn thức ăn/10 trứng của gà mái Borkov, VCN-G15, F1 qua
Trang 91 MỞ ðẦU 1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Hiện nay, sau chăn nuôi lợn thì chăn nuôi gia cầm ñóng vai trò quan trọng Chăn nuôi có sự chuyển dịch từ quy mô nhỏ, phân tán sang chăn nuôi quy
mô lớn tập trung Năng suất và chất lượng sản phẩm ngày càng ñược nâng cao
do việc áp dụng thành quả của khoa học kỹ thuật về giống, thức ăn, quản lý…
Theo số liệu thống kê của Cục chăn nuôi 2013, tổng ñàn gia cầm năm
2012 của cả nước là 308,5 triệu con, trong ñó số lượng gà là 225,5 triệu con Sản lượng thịt gia cầm sản xuất ra trong năm 2012 là 729,4 nghìn tấn, so với năm
2011 tăng 4,8%, bình quân trong ba năm (2010-2012) tăng 8,9%/năm Sản lượng trứng gia cầm sản xuất ra trong năm 2012 là 7,3 tỷ quả (ñạt mức tiêu thụ
80 quả/người), tăng bình quân 11,6% Bên cạnh việc phấn ñấu ñể ñạt chỉ tiêu về
số lượng trứng gà, người tiêu dùng nước ta còn rất quan tâm ñến chất lượng như màu sắc lòng ñỏ, màu vỏ trứng Từ ñó, Nhà nước có chủ trương cho nhập một
số giống gà mới về Viện Chăn nuôi Năm 2007 Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi-Viện Chăn nuôi tiếp nhận giống gà Bor (Borkov skaya svetaya) và
HW (hisex korichnevyi) từ Trung Quốc Sau khi nuôi thích nghi,nhân thuần và chọn lọc rất vất vả từ hơn 700 quả trứng hai giống gà trên ñã nhân lên thành ñàn giống gốc hàng nghìn con, gà HW ñổi tên lại thành gà VCN-G15 Giống gà Bor, VNC-G15 ñưa vào danh mục giống vật nuôi ñược phép sản xuất kinh doanh tại thông tư 33/2010/TT-BNNPTNT ngày 22 tháng 06 năm 2010 của Bộ Nông Nghiệp và PTNT
Gà Bor là giống gà kiêm dụng trứng-thịt, có năng suất trứng tính ñến 72 tuần tuổi 180-210 quả/mái, tiêu tốn thức ăn/10 trứng 2,23kg Trứng gà Bor có màu phớt hồng giống trứng gà ta, ñộ ñậm màu lòng ñỏ là 10,5, tỷ lệ lòng ñỏ 29,13-29,22%, khối lượng trứng 52,32g ðây là giống gà có chất lượng trứng-thị thơm ngon phù hợp thị hiếu người tiêu dùng nước ta cần ñược bảo tồn nguồn gen
Trang 10Gà VCN-G15 là giống gốc của Viện Chăn nuôi có năng suất trứng tính ñến
72 tuần tuổi 240-250 quả/mái, tiêu tốn thức ăn/10 trứng 1,7 kg Trứng gà G15 có màu trắng, khối lượng lớn 59,5g, nhiều lòng trắng, tỷ lệ lòng ñỏ 26,53% ðây là giống gà có tiềm năng di truyền rất lớn cần ñược bảo tồn nguồn gen
VCN-Xuất phát từ nhu cầu thực tế sản xuất cần trứng gà có khối lượng vừa phải, chất lượng ngon, màu lòng ñỏ sẫm, màu vỏ trứng trắng hoặc phớt hồng giống trứng gà ta,chúng tôi chọn hai ñối tượng trên làm nguyên liệu lai tạo ra sản phẩm mới có năng suất, chất lượng cao
1.2 Mục tiêu của ñề tài
-Mục tiêu chung: Lựa chọn ra giống gà và con lai có năng suất, chất lượng cao phù hợp thị hiếu người tiêu dùng
- Khai thác có hiệu quả nguồn gen của giống gà Borkov, VCN-G15 tạo ra
tổ hợp lai mới có năng suất, chất lượng trứng tốt ñược thị trường tiêu dùng ưa chuộng Góp phần bảo vệ sự ña dạng sinh học và sự phát triển một nền nông nghiệp sinh thái bền vững
- Kết quả ñề tài luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy và phát triển chăn nuôi
Trang 111.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Tổ hợp lai mới sẽ góp phần phát huy tiềm năng và lợi thế về chất lượng
và năng suất trứng, tạo nên sản phẩm mới cho thị trường, ñáp ứng nhu cầu tiêu dùng gà hướng trứng chất lượng ñược người dân ưa chuộng, cũng như nhu cầu phát triển chăn nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
- Làm phong phú thêm các tổ hợp lai gà hướng trứng có năng suất chất lượng cao, góp phần ñẩy mạnh chăn nuôi gà trong trang trại và nông hộ ở các vùng sinh thái trong cả nước
1.4 Những ñóng góp mới của luận văn
- Sử dụng nguồn gen gà Bor vào công tác lai với gà VCN-G15 tạo ra tổ hợp
gà lai hướng trứng mới, một công trình nghiên cứu khoa học về tổ hợp lai giữa gà Borkov và VCN-G15 tạo giống gà có năng suất, chất lượng cao ñể chuyển giao vào phát triển chăn nuôi, mang lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân cũng như ñịnh hướng, sử dụng và phát triển hiệu quả nguồn gen giống gà Bor tại Việt Nam
- Tạo thêm sản phẩm mới cho thị trường, ñáp ứng nhu cầu các loại thực phẩm an toàn cho tiêu dùng của xã hội
Trang 122 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của ñề tài
Các tính trạng sản xuất của gia cầm nói chung và của gà nói riêng ñều là các tính trạng số lượng Vì vậy, nghiên cứu chọn lọc và lai tạo các giống mới ñạt kết quả theo mong muốn phải xuất phát từ nghiên cứu các tính trạng số lượng và bản chất di truyền các tính trạng số lượng Các giống gia cầm của Việt Nam ñược khai thác, tìm kiếm và phát hiện là giống bản ñịa và nhập nội (Võ Văn Sự, 2004) thì ña số giống gia cầm nhập nội là các giống ñã ñược chọn lọc, lai tạo mới ñưa ra sản xuất Do ñó, việc nghiên cứu chọn lọc, lai tạo , chọn tạo các con giống mới ñạt kết quả như mong muốn cần phải xuất phát từ việc nghiên cứu các tính trạng sản xuất của vật nuôi
2.1.1 Tính trạng năng suất của gia cầm
2.1.1.1 Bản chất di truyền của tính trạng sản xuất
Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm ñược nuôi dưỡng trong ñiều kiện cụ thể , thực chất là nghiên cứu các ñặc ñiểm di truyền số lượng và ảnh hưởng của những tác ñộng môi trường lên các tính trạng
ñó Hầu hết các tính trạng về năng suất của vật nuôi như sinh trưởng, sinh sản, tốc ñộ mọc lông ñều là các tính trạng số lượng Cơ sở di truyền của tính trạng số lượng ñều do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy ñịnh Nguyễn Ân và cs (1983) cho rằng các tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng, thường là các tính trạng ño lường ñược (metvic character) vì khi nghiên cứu chúng phụ thuộc vào giá trị ño lường ví dụ như mức ñộ tăng trọng khối lượng cơ thể, kích thước các chiều ño cơ thể, khối lượng trứng v.v…Tuy nhiên, có những tính trạng mà giá trị
có ñược bằng cách ñếm như số lượng trứng ñẻ ra, số trứng có phôi, số gà con nở
ra v.v…Vẫn ñược coi là tính trạng số lượng, ñó là những tính trạng số lượng ñặc biệt Phương pháp nghiên cứu trong di truyền học số lượng khác với những phương pháp nghiên cứu trong di truyền học Mendel về hai phương diện: Thứ
Trang 13nhất là các ựối tượng nghiên cứu không chỉ dừng ở mức ựộ cá thể mà phải nghiên cứu ở mức ựộ quần thể bao gồm các nhóm cá thể khác nhau, giữa các cá thể không chỉ là sự phân loại mà ựòi hỏi phải có sự ựo lường các cá thể
Nghiên cứu ựặc ựiểm di truyền các tắnh trạng số lượng, bên cạnh vận dụng các quy luật di truyền của Mendel còn sử dụng các khái niệm toán thống
kê xác suất ựể phân tắch các giá trị di truyền Giá trị ựo lường của các tắnh trạng
số lượng trên một cá thể ựược gọi là giá trị kiểu hình (phenotype value) của các
cá thể ựó Các giá trị có liên hệ với kiểu gen là giá trị kiểu gen (genotype value)
và giá trị có liên hệ ựến môi trường là sai lệch môi trường (environmental deviation) Như vậy, có nghĩa là kiểu gen quy ựịnh một giá trị nào ựó của cá thể
và môi trường gây ra một sự sai lệch với giá trị kiểu gen theo hướng này hoặc hướng khác Quan hệ trên có biểu thị như sau:
P = G + E
Trong ựó P: Giá trị kiểu hình (phenolypic value )
G: Giá trị kiểu gen (genotypic value )
E: Sai lệch môi trường (environmental deviation )
Giá trị kiểu gen của các tắnh trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minorgene) cấu tạo thành đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ nhưng tập trung lại thì có ảnh hưởng rất lớn ựến tắnh trạng ựược nghiên cứu Hiện tượng này gọi là hiện tượng ựa gen hoặc polygene Giá trị kiểu gen ựược phân theo ba thành phần như sau:
G = A + D + I
Trong ựó: G: Giá trị kiểu gen (Genotype value)
A: Giá trị cộng gộp (Additive value)
D: Sai lệch do tác ựộng trội, lặn (Dominance deviation)
I: Sai lệch do tương tác giữa các gen (Interaction deviation)
Giá trị cộng gộp hay giá trị giống là tổng các hiệu ứng của các gen có trong các lô cút, là các giá trị thông thường có thể tắnh toán ựược, có ý nghĩa
Trang 14trong chọn lọc nhân thuần
Sai lệch trội lặn: là sai lệch ựược sản sinh ra do tác ựộng qua lại giữa các gen cùng alen ở trong cùng một lô cút, ựặc biệt là các gen dị hợp tử
Sai lệch tương tác giữa các gen (sai lệch át gen): Khi kiểu gen do từ hai lô cút trở lên cấu tạo thành lúc ựó giá trị kiểu gen có thêm một sai lệch do tương tác của các gen không cùng một lô cút, sai lệch này thường thấy trong di truyền học số lượng hơn là trong di truyền học Mendel
Sai lệch do tác ựộng trội lặn và sai lệch do tương tác giữa các gen là những hiệu ứng không cộng tắnh và là giá trị giống ựặc biệt (special breeding value) có ý nghĩa ựặc biệt trong các tổ hợp lai Ở các tắnh trạng số lượng, giá trị kiểu hình cũng do giá trị kiểu gen (kiểu di truyền) và tác ựộng của môi trường quy ựịnh, nhưng giá trị kiểu gen của tắnh trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gen) cấu tạo thành đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ nhưng tập hợp lại sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tắnh trạng nghiên cứu, tắnh trạng sinh sản là một vắ dụ Nguyễn Văn Thiện (1995)
Khác với các tắnh trạng chất lượng, tắnh trạng số lượng ngoài kiểu gen, còn chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố của môi trường ngoại cảnh và ựược chia làm hai loại sai lệch do môi trường là Eg và Es Tuy các ựiều kiện bên ngoài không thể làm thay ựổi cấu trúc di truyền, nhưng nó có tác ựộng làm phát huy hoặc kìm hãm việc biểu hiện các hoạt ựộng của các gen
- Eg: Sai lệch môi trường chung (general anvironmental deviation) là sai lệch do các yếu tố môi trường có tắnh chất thường xuyên và không cục bộ tác ựộng lên toàn bộ các cá thể nhóm vật nuôi, loại yếu tố này có tắnh chất thường xuyên như : thức ăn, khắ hậu
- Es: Sai lệch môi trường ựặc biệt (special anvironmental deviation) là sai lệch do các yếu tố môi trường có tắnh chất không thường xuyên, không cục bộ
và tác ựộng riêng rẽ lên từng cá thể trong nhóm vật nuôi, hoặc ở giai ựoạn nhất ựịnh trong cuộc ựời con vật Nếu bỏ qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại
Trang 15cảnh thì quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G) và môi trường (E) của một cá thể ñược xác ñịnh bởi kiểu gen có từ hai locut trở lên có giá trị là :
- Tác ñộng vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc
- Tác ñộng vào hiệu ứng trội (D) và át gen (I) bằng phối giống tạp giao + Tác ñộng về môi trường (E) bằng cải tiến ñiều kiện chăn nuôi như phương thức chăn nuôi, thức ăn, thú y, chuồng trại
Trên cơ sở ñó cho thấy các giống gia cầm cũng như các sinh vật khác, con cái ñều nhận ñược từ bố mẹ một số gen quy ñịnh tính trạng số lượng nào ñó và xem như nhận từ bố mẹ một khả năng di truyền, tuy nhiên khả năng ñó có phát huy tốt ñược hay không còn phụ thuộc vào môi trường sống, ñiều kiện chăn nuôi như chế ñộ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản l ý Theo Dicker Son (1952) nhấn mạnh rằng tương tác giữa kiểu di truyền và môi trường là rất quan trọng ñối với ngành chăn nuôi gia cầm Do ñó, chọn lọc nâng cao năng suất một tính trạng nào
ñó hoặc lai tạo ra một giống mới, nghiên cứu di truyền các tính trạng số lượng là vấn ñề hết sức cần thiết
2.1.1.2 Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm
Sức sống bao gồm sự chống ñỡ một số nguyên nhân gây chết Sức sống cao hay thấp của gia cầm ngoài phụ thuộc vào bản chất di truyền của giống còn phụ thuộc rất lớn vào sự cảm nhiễm bệnh, sức chống ñỡ với môi trường Sức sống của gia cầm ñược tính bằng tỷ lệ nuôi sống của gia cầm tính bằng phần trăm của số con ñầu kỳ so với cuối kỳ trong một khoảng thời gian nhất ñịnh, sự suy giảm sức sống ñược thể hiện ở tỷ lệ chết cao qua các giai ñoạn sinh trưởng
Trang 16Brandsch Buelchel (1978) Khavecman (1972) cho biết cận huyết làm giảm tỷ
lệ nuôi sống, ưu thế lai làm tăng tỷ lệ nuôi sống Có thể nâng cao tỷ lệ nuôi sống bằng các biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, vệ sinh phòng bệnh kịp thời Các giống vật nuôi nhiệt ựới có khả năng chống các bệnh truyền nhiễm và kắ sinh trùng cao hơn các vật nuôi ôn ựới
Ngoài ra, tỷ lệ nuôi sống của gà còn phụ thuộc vào sức sống của ựàn bố
mẹ, tỷ lệ nuôi sống của gà con sẽ cao hơn so với gà mái ựẻ đối với cơ thể sinh vật, những biểu hiện sinh l ý trong phản ứng stress là tác ựộng tương quan giữa gen và môi trường, trong ựó chịu ảnh hưởng của các quy luật di truyền ựa gen, trội, lặn, giới tắnh
Stress miễn kháng là phản ứng của cơ thể sinh vật ựối với bất cứ các tác ựộng nào của môi trường ựể tự bảo vệ và bảo tồn tại, cho nên mọi biện pháp ựể hạn chế ảnh hưởng của stress và ngăn chặn hậu quả ựều nhằm mục tiêu bảo vệ
sự sống của con vật và chất lượng sản phẩm tạo ra
Khả năng thắch nghi, khi ựiều kiện sống bị thay ựổi như thức ăn, thời tiết, khắ hậu, quy trình chăn nuôi, môi trường sinh vật xung quanh của, gia cầm nói chung, thì chúng có khả năng thắch ứng rộng rãi hơn ựối với môi trường sống Phan Cự Nhân và Trần đình Miên (1998)
Hill và cộng sự (1954) ựã tắnh ựược hệ số di truyền sức sống là r = 0,06 Sức sống ựược tắnh theo các giai ựoạn nuôi dưỡng khác nhau Theo tài liệu công
bố của Gavora (1990) hệ số di truyền của sức kháng bệnh là r = 0,25 Robertson
và Lerner (1949) thì cho rằng hệ số di truyền về tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh thường phụ thuộc vào dòng, giống, giới tắnh Tỷ lệ nuôi sống phụ thuộc rất lớn vào sự chăm sóc, nuôi dưỡng, khắ hậu, thời tiết, mùa vụ Người ta ựã xác nhận mối tương quan giữa sức sản xuất trứng và sức sống là r = 0,4 theo Nguyễn Văn Thiện (1992) chọn giống theo sức sống làm giảm tỷ lệ gây chết Hệ số di truyền về sức sống gia cầm nói chung thấp, từ 0,05-0,1 Vì vậy, ựể cải tiến tắnh trạng này dùng phương pháp chọn lọc theo gia ựình mới mang lại hiệu quả cao
Trang 17qua các thế hệ Sức sống gia cầm xác ñịnh theo các giai ñoạn khác nhau: giai doạn con, giai ñoạn dò, giai ñoạn hậu bị ñến tuổi trưởng thành và giai ñoạn sinh sản ñến hết kỳ sử dụng Tùy theo các giống khác nhau mà phân chia các giai ñoạn Ví dụ ở gà thường chia ra: giai ñoạn gà con (0 – 9 tuần tuổi), giai ñoạn gà
dò (10 – 19 tuần tuổi), giai ñoạn sinh sản từ 20 tuần tuổi trở lên
Ngày nay, ngoài việc áp dụng các biện pháp chọn lọc các cá thể, các dòng
có sức miễn kháng cao, người ta còn chú trọng ñến nghiên cứu, theo dõi các tập tính bẩm sinh của con vật về sinh sản, sinh trưởng, kiếm ăn ñể cải tiến cách chăm sóc, nuôi dưỡng, khai thác con vật, ñảm bảo chất lượng sản phẩm ngày càng tốt hơn của nó ðiều ñó cũng thể hiện qua các phương thức nuôi nhốt hay chăn thả, theo cách làm sạch môi trường chuồng trại và xung quanh, tuân thủ các nội quy ñảm bảo an toàn dịch bệnh khi nhập, khi nuôi cũng như khi xuất bán ðiều ñó là các biện pháp cần thiết hỗ trợ thêm tính miễn kháng cho con vật, ngăn ngừa và hạn chế những stress mang hậu quả có hại cho con vật và cho chất lượng sản phẩm, tạo thêm ñược ñiều kiện ñể tăng cường ñộ miễn kháng ( Khavecman, 1972 )
2.1.1.3 Khả năng sinh sản của gà
a Cơ sở khoa học của năng suất trứng
Các nhà phôi thai học cho rằng trứng gia cầm nói chung và trứng gà nói riêng là một tế bào sinh sản khổng lồ ñược bao bọc bởi lòng ñỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ Buồng trứng có chức năng tạo thành lòng ñỏ, còn các thành phần khác như lòng trắng, màng vỏ và vỏ do ống dẫn trứng tạo thành Nhiều tài liệu nghiên cứu ( Vương ðống, 1968 ); M.V OrLov (1974); Perdric (1969) Card L.E và Nesheim (1970) ñã khẳng ñịnh ở gà mái, trong quá trình phát triển phôi 2 bên phải, trái của gà mái ñều có buồng trứng, nhưng sau khi nở thì buồng trứng bên phải tiêu biến, chỉ còn lại buồng trứng bên trái Một số tác giả còn cho rằng: trường hợp cá biệt thấy ở gà mái ñẻ cao sản có buồng trứng ở cả hai bên ñều phát triển
Trang 18Số lượng tế bào trứng theo một số tác giả có khác nhau Pearl và Schoppe (1921) ñếm ñược 1906 trứng bằng mắt thường và 12000 trứng bằng kính hiển vi Theo Jull (1939 – 1948) thì cho rằng ở gà mái thời kỳ ñẻ trứng
có thể ñếm ñược 3600 trứng, trong khi ñó Hutt (1978) ñã ñếm và cho biết số lượng tế bào trứng của gà mái có thể lên tới hàng triệu tế bào ( dẫn theo Lê Thị Nga, 2005) Còn Frege (1978) cho rằng tế bào trứng lúc bắt ñầu ñẻ là 900 – 3500 ở gà mái, 1500 ở vịt mái, nhưng chỉ có một số lượng rất hạn chế ñược chín và rụng
Trong thời gian phát triển, lúc ñầu các tế bào trứng ñược bao bọc bởi một tầng tế bào, không có liên kết gì với biểu bì phát sinh Tầng tế bào này phát triển trở thành nhiều tầng, sự tạo thêm sẽ tiến tới bề mặt buồng trứng, cấu tạo này gọi
là follicun, bên trong follicun có một khoang hở chứa ñầy một chất dịch Bề ngoài follicun trông giống như một cái túi
Trong thời kì ñẻ trứng nhiều, follicun trở nên chín dần làm thay ñổi hình dạng buồng trứng trông giống như “chùm nho” Sau thời kì ñẻ trứng, buồng trứng trở lại hình dạng ban ñầu, các follicun chín vỡ ra, tế bào trứng chín ra ngoài cùng với dịch của follicun và rơi vào phễu ống dẫn trứng, sự rụng trứng ñầu tiên báo hiệu sự thành thục sinh dục
Theo Melekhin và Niagridin (1989) (dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994) cho rằng, hầu hết lòng ñỏ trứng gà ñược tạo thành trước khi ñẻ trứng 9 -10 ngày Tốc
ñộ sinh trưởng của lòng ñỏ từ 1 – 3 ngày rất chậm, khi ñường kính của lòng ñỏ ñạt tới 6mm, bắt ñầu thời kì sinh trưởng cực nhanh, ñường kính có thể tăng 4
mm trong 24 giờ, cho tới khi ñạt ñường kính tối ña là 40 mm Tốc ñộ sinh trưởng của lòng ñỏ không tương quan với cường ñộ ñẻ trứng Quá trình hình thành trứng và rụng trứng là một quá trình sinh l ý phức tạp, do sự ñiều khiển của hormone Thời gian từ lúc ñẻ quả trứng cho ñến khi rụng tế bào trứng tiếp theo kéo dài 15 – 75 phút, sự rụng trứng ở gà xảy ra 1 lần trong ngày, thường là 30 phút sau khi ñẻ trứng Trường hợp nếu trứng ñẻ sau 16 giờ thì sự rụng trứng sẽ
Trang 19chuyển ñến ñầu ngày hôm sau Trứng bị giữ lại trong ống dẫn trứng làm ngừng
sự rụng trứng tiếp theo Nếu lấy trứng ra khỏi tử cung thì cũng không làm tăng nhanh sự rụng trứng ñược Tế bào trứng ñược giải phóng ra sau khi vỡ Follicun
và rơi vào ống dẫn trứng
Khi tế bào trứng chín, rụng, trứng rơi vào phễu và ñược ñẩy xuống ống dẫn trứng, ñây là một ống dài có nhiều khúc cuộn, bên trong có tầng cơ, trên thành ống có lớp màng nhầy lót bên trong, trên bề mặt lớp màng nhầy có tiêm mao rung ñộng Ống dẫn trứng có nhiều phần khác nhau: phễu, phần tạo lòng trắng, phần eo, tử cung và âm ñạo Chúng có chức năng tiết ra lòng trắng ñặc, loãng, màng vỏ, vỏ trứng và lớp keo mỡ bao bọc bên ngoài quả trứng Thời gian trứng lưu lại trong ống dẫn trứng từ 20 – 24 giờ Khi trứng rụng và qua các phần của ống dẫn trứng tới tử cung, ñầu nhọn quả trứng bao giờ cũng ñi trước nhưng khi nằm trong tử cung quả trứng ñược xoay một góc 1800, do vậy trong ñiều kiện bình thường gà ñẻ ñầu tù của quả trứng ra trước
Theo các tác giả Per dixJ (1969), Vương ðống (1968), Card và Nersheim (1977) tỷ lệ các phần so với khối lượng quả trứng thì vỏ chiếm 10 – 11,6%, lòng trắng 57 – 60%, lòng ñỏ 30 – 32% Thành phần hóa học của trứng không vỏ: nước chiếm 73,5 – 74,4%, protein 12,5 – 13%, lipid 11 – 12%, khoáng 0,8 – 1,0%
b Cơ sở di truyền của năng suất trứng
Sinh sản là một quá trình ñể tạo ra thế hệ sau,sự phát triển hay hủy diệt của một loài, trước tiên phụ thuộc vào khă năng sinh sản của loài ñó
Khả năng sinh sản của gia cầm ñược thể hiện qua các chỉ tiêu là: tuổi ñẻ trứng ñầu, tuổi thành thục sinh dục, tỷ lệ ñẻ, sản lượng trứng tỷ lệ trứng có phôi , khối lượng, hình dạng, chất lượng trứng, khả năng thụ tinh và ấp nở ðối với các giống gia cầm khác nhau thì khả năng sinh sản cũng rất khác nhau Bởi vậy, các nhà nhà khoa học trên thế giới ñã tập trung nghiên cứu cơ sở di truyền sức
ñẻ trứng của gia cầm và cho rằng việc sản xuất trứng của gia cầm có thể do 5
Trang 20yếu tố ảnh hưởng mang tắnh di truyền Lerner và Taylor (1943), Hayn(1944), Albuda (1955) Năm yếu tố ựó là:
- Tuổi thành thục về sinh dục: người ta cho rằng ắt nhất cũng có hai cặp gen chắnh tham gia vào yếu tố này: một là gen E (gen liên kết với giới tắnh) và gen e; còn cặp thứ hai là EỖ vàeỖ chịu trách nhiệm tắnh thành thục về sinh dục
- Cường ựộ ựẻ trứng: yếu tố này do hai cặp gen R và r; RỖ và rỖ phối hợp cộng lại ựể ựiều hành
- Bản năng ấp do hai gen A và C ựiều khiển, phối hợp với nhau
- Thời gian nghỉ ựẻ (ựặc biệt là nghỉ ựẻ vào mùa ựông) do các gen M và m ựiều khiển Gia cầm có gen mm thì mùa ựông vẫn tiếp tục ựẻ ựều
- Thời gian kéo dài của chu kỳ ựẻ: do cặp gen P và p diều khiển
Trong 5 yếu tố trên thì yếu tố thứ 5 và yếu tố thứ nhất kết hợp với nhau, cũng có nghĩa là các cặp gen Pp và Ee có phối hợp với nhau Tất nhiên ngoài các cặp gen chắnh tham gia vào việc ựiều khiển các yếu tố trên thì có thể còn có nhiều gen khác phụ lực vào
c Tuổi ựẻ quả trứng ựầu
Nhiều tác giả khi nghiên cứu về tuổi ựẻ quả trứng ựầu cho rằng, ựây là chỉ tiêu ựánh giá sự thành thục sinh dục, cũng ựược coi là một yếu tố cấu thành năng suất trứng đối với từng cá thể, tuổi ựẻ quả trứng ựầu tiên là số ngày tuổi kể từ khi nở ra ựến khi ựẻ quả trứng ựầu Trong thực tế sản xuất tuổi ựẻ quả trứng ựầu của một ựàn (quần thể) ựược xác ựịnh khi có 5% số cá thể trong ựàn ựã ựẻ ( Pingel và Jeroch, 1980) Guideil, Lerner và một số tác giả khác cho rằng có các gen trên nhiễm sắc thể giới tắnh cùng tham gia hình thành tắnh trạng này ( dẫn theo Khavecman,1972) Theo Trần đình Miên và Nguyễn Kim đường (1992) thì có ắt nhất hai cặp gen cùng quy ựịnh tuổi ựẻ quả trứng ựầu, cặp thứ nhất gen
E và e liên kết với giới tắnh, cặp thứ hai là EỖ và eỖ Tuổi ựẻ và năng suất trứng
có mối tương quan nghịch, giữa tuổi ựẻ và khối lượng trứng lại có tương quan thuận Tuổi ựẻ quả trứng ựầu phụ thuộc vào bản chất di truyền, chế ựộ nuôi
Trang 21dưỡng, các yếu tố môi trường ðặc biệt là thời gian chiếu sáng sẽ thúc ñẩy gia cầm thành thục sinh dục, thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc ñẩy gia cầm ñẻ sớm (Khavecman, 1972)
Dickerson (1952) ñã tính toán hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng
cơ thể gà chưa trưởng thành với sản lượng trứng thường có giá trị âm (-0,21 ñến -0,16) Còn Nicola và cộng sự tính hệ số tương quan di truyền giữa tuổi thành thục với sản lượng trứng là 0.11 (dẫn theo Trần Long, 1994)
d Năng suất trứng và tỷ lệ ñẻ
Năng suất trứng là số lượng trứng ñẻ ra của một gia cầm mái trong một ñơn vị thời gian ðối với gia cầm ñẻ trứng thì ñây là chỉ tiêu năng suất quan trọng nhất, nó phản ánh trạng thái sinh l ý và khả năng hoạt ñộng của hệ sinh dục Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào ñiều kiện ngoại cảnh và cũng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa
vụ, ñiều kiện dinh dưỡng, chăm sóc và ñặc ñiểm của cá thể
Hutt (1978) ñã ñề nghị tính sản lượng trứng từ khi gia cầm ñẻ quả trứng ñầu tiên, còn theo Brandsch và Buelchel (1978) cho rằng sản lượng trứng ñược tính ñến 500 ngày tuổi, cũng theo tác giả trên thì sản lượng trứng còn ñược tính theo năm sinh học 365 ngày, kể từ khi ñẻ quả trứng ñầu tiên Trong thời gian gần ñây, sản lượng trứng ñược tính theo tuần tuổi Các hãng gia cẩm nổi tiếng trên thế giới như Shaver (Canada), Lohmann (ðức) , sản lượng trứng ñược tính phổ biến nhất ñến 70 và 80 tuần tuổi
Năng suất trứng là một tính trạng số lượng có mối tương quan nghịch chặt chẽ với tốc ñộ sinh trưởng sớm, do ñó trong chăn nuôi gà sinh sản người ta thường quan tâm ñến việc cho gà ăn hạn chế trong các giai ñoạn gà dò – hậu bị
ñể ñảm bảo cho năng suất trứng cao trong giai ñoạn ñẻ trứng Theo Bùi Thị Oanh (1996) thì năng suất trứng còn phụ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng thức ăn, ñặc biệt là mức năng lượng trao ñổi, hàm lượng protein và các acid amin thiết yếu trong khẩu phần ăn của gia cầm sinh sản Năng suất trứng có hệ
Trang 22số di truyền không cao, nhưng lại dao ñộng lớn Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) cho biết hệ số di truyền năng suất trứng của gà là 0,12 – 0,3 ðối với tính trạng năng suất trứng, ñể cải thiện năng suất cần áp dụng phương pháp lai, kết hợp với chọn lọc cá thể, nếu chỉ áp dụng chọn lọc thì việc nâng cao năng suất trứng ít có hiệu quả
Tỷ lệ ñẻ và năng suất trứng có liên quan chặt chẽ với nhau, tỷ lệ ñẻ trứng ñược tính theo tuần, tháng, năm, ñó cũng thể hiện cường ñộ ñẻ trứng là sức ñẻ trứng trong một thời gian Cường ñộ ñẻ trứng phụ thuộc và ñộ dài của chu kỳ ñẻ trứng, chu kỳ ñẻ trứng chính là thời gian gia cầm ñẻ liên tục không bỏ ngắt quãng còn ñược gọi là trật ñẻ, Pingel và Jeroch (1980)
Cường ñộ ñẻ trứng có tương quan dương và chặt chẽ với sản lượng trứng Merner Alfreg (1962) ðây chính là tính trạng có hệ số di truyền cao, thường ñượng sử dụng ñể chọn lọc nâng cao năng suất trứng Wegner (1980) cho biết hệ
số di truyền về cường ñộ ñẻ trứng của gà vào loại cao h2 = 0,66
Cường ñộ ñẻ trứng có tương quan rất chặt chẽ với năng suất trứng của
cả năm, thường người ta dựa theo các số liệu của trật ñẻ trứng những tháng ñầu tiên và thường theo dõi sản lượng trứng từ lúc bắt ñầu ñẻ ñến 36 hoặc 38 tuần tuổi ñẻ ñánh giá sức ñẻ trứng của cả năm (Hutt,1978) ñã áp dụng ổ ñẻ có cửa sập tự ñộng ñể kiểm tra sản lượng trứng cả năm có tương quan di truyền chặt chẽ (0,7 – 0,9)
e Khối lượng trứng
Khối lượng trứng cũng là một tính trạng số lượng, là một tính trạng do nhiều gen có tác ñộng cộng gộp quy ñịnh, nhưng ñến nay người ta cũng chưa xác ñịnh ñược số lượng gen quy ñịnh tính trạng này Sau sản lượng trứng, khối lượng trứng là chỉ tiêu quan trọng cấu thành năng suất của ñàn bố mẹ Khi cho lai hai dòng gia cầm có khối lượng trứng lớn và khối lượng trứng nhỏ, trứng của con lai thường có khối lượng trung gian, nghiêng về một phía (Khavecman, 1972)
Trang 23Khối lượng trứng là một tính trạng có hệ số di truyền cao, nên có thể ñạt ñược mục ñích nhanh chóng thông qua con ñường chọn lọc (Kushner, 1974) Ngoài các yếu tố di truyền, khối lượng trứng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoại cảnh như: chăm sóc, nuôi dưỡng, mùa vụ, tuổi gia cầm Khối lượng trứng mang tính ñặc trưng của từng loài và tính di truyền cao Hệ số di truyền của tính trạng này là 0,48 – 0,8 (Brandsch và Buelchel, 1978) Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) hệ số di truyền về khối lượng trứng của gà là 0,6 – 0,74
Kết quả nghiên cứu của Pingel (1986), Lê Hồng Mận và cộng sự (1996), Bùi Quang Tiến và Nguyễn Hoài Tao (1985) cho biết khối lượng trứng có tương quan âm với sản lượng trứng và hệ số tương quan (r) nằm trong khoảng từ -0,33 ñến -0,36, nhưng giữa khối lượng trứng và khối lượng cơ thể có tương quan dương (r = 0,31)
g Chất lượng trứng
Trứng gia cầm gồm 3 phần cơ bản ñó là: vỏ trứng, lòng ñỏ và lòng trắng Theo Vương ðống (1968) tỷ lệ các phần so với khối lượng trứng thì vỏ chiếm
10 – 11,6%; lòng trắng 57 – 60%; lòng ñỏ 30 – 32% Thành phần hóa học của trứng không vỏ: nước chiếm 73,5 – 74,4%; proteni 12,5 – 13%; mỡ 11 – 12%; khoáng 0,8 – 1,0 %
- Màu sắc vỏ trứng không có ý nghĩa lớn trong ñánh giá chất lượng trứng nhưng có y nghĩa trong kĩ thuật và thương mại rất lớn Màu sắc vỏ trứng là tính trạng ña gen, ở gà khi lai dòng gà trứng vỏ trắng với dòng gà trứng vỏ nâu thì gà lai sẽ có trứng màu trung gian Brandsch và Buechel (1978) cho biết hệ số di truyền tính trạng này là 0,55 – 0,75
- Bề mặt vỏ trứng: thường trứng gia cầm ñẻ có bề mặt trơn, ñều, song bên cạnh ñó cũng có một số cá thể thường ñẻ ra trứng có bề mặt xấu, xù xì, có vệt canxi hay ñường gờ lượn sóng, loại trứng này gia tăng khi tuổi ñẻ của gia cầm mái cao, ảnh hưởng xấu ñến kết quả ấp nở cũng như thị hiếu người tiêu dùng và cũng làm cho tỷ lệ trứng dập vỡ cao hơn, gây thiệt hại kinh tế cho người chăng
Trang 24nuôi (Schuberth và Ruhland, 1978)
- Chỉ số hình thái: trứng gia cầm thường có hình ovan hoặc elip, một ñầu lớn và một ñầu nhỏ Người ta ñã tính toán ñược chỉ số hình thái trứng thông qua phương pháp toán học Chỉ số hình thái có thể tính bằng hai cách: tỷ số giữa chiều dài và chiều rộng trứng hoặc tỷ lệ phần trăm giữa chiều rộng so với chiều dài của trứng
Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, chỉ số hình thái của trứng là một chỉ tiêu ñể xem xét chất lượng của trứng, ñặc biệt là trứng ấp, những quả trứng dài hoặc quá tròn ñều cho tỷ lệ ấp nở thấp Trứng của mỗi giống gia cầm ñều có chỉ
số hình thái riêng Nguyễn Hoài Tao và cộng sự (1985) cho biết chỉ số hình thái của trứng gà biến thiên từ 1,34 – 1,36 và của trứng vịt từ 1,57 – 1,64, chỉ số này
ở gà leghorn là 1,38 Lê Hồng Mận và cộng sự (1996) Nguyễn Qúy Khiêm (2003) cho biết: trứng gà Tam Hoàng có chỉ số hình thái trung bình 1,24 – 1,39 cho kết quả ấp nở cao hơn so với nhóm trứng có chỉ số hình thái nằm ngoài biên
ñộ này
- ðộ dày và ñộ bền vỏ trứng: ñộ dày, ñộ bền hay ñộ chịu lực của vỏ trứng
là một trong những chỉ tiêu quan trọng ñối với gia cầm, có ảnh hưởng tới kết quả
ấp nở và bao gói vận chuyển, nó phụ thuộc vào giống, tuổi, ñiều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và nhiệt ñộ chuồng nuôi, tuổi gà hay stress ñều làm giảm ñộ dày và sức bền vỏ trứng
ðộ dày vỏ trứng ñược xác ñịnh bằng thước ño ñộ dày khi ñã bóc lớp màng vỏ day trắng, ở gà ñộ dày này bằng 0,32mm, Auaas và Wilke (1978) thì cho rằng ñộ dày vỏ trứng chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền và dao ñộng trong khoảng giới hạn ñó (dẫn theo Nguyễn Qúy Khiêm, 2003) Hệ số di truyền ñộ dày vỏ trứng theo Marco (1982) là 0,3 – 0,6; theo Nguyễn Văn Thiện (1995) là 0,3 ðộ dày vỏ trứng có tương quan dương với ñộ bền và ảnh hưởng ñến kết quả
ấp nở, thường trứng có vỏ quá dày hoặc quá mỏng ñều cho tỷ lệ nở kém, Nguyễn Thị Bạch Yến (1996) Vỏ trứng quá dày làm hạn chế sự bốc hơi nước
Trang 25của trứng, cản trở quá trình phát triển của phôi, gia cầm con khó ñạp vỡ vỏ khi
nở Nếu vỏ trứng quá mỏng làm quá trình bay hơi nước diễn ra nhanh, khối lượng trứng giảm nhanh, dễ chết phôi, sát vỏ, gia cầm con nở ra yếu và tỷ lệ chết cao, ñộ dày l ý tưởng của vỏ trứng từ 0,26 – 0,34mm, Auaas và Wilke (1978) Ngoài ra, ñộ dày vỏ trứng còn chịu ảnh hưởng của môi trường như thức ăn, tuổi
gà, nhiệt ñộ xung quanh, stress và nhiều yếu tố khác
- Chỉ số lòng ñỏ, lòng trắng và ñơn vị Haugh:
Khi ñánh giá chất lượng trứng giống cũng như trứng thương phẩm người ta ñặc biệt quan tâm ñến chỉ tiêu này, các chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng trứng càng tốt và tỷ lệ nở cao (Tạ An Bình, 1973)
Chỉ số lòng ñỏ: chất lượng lòng ñỏ ñược xác ñịnh bởi chỉ số lòng ñỏ, mà chỉ số này là tỷ số giữa chiều cao lòng ñỏ với ñường kính của nó Chỉ số lòng ñỏ của trứng gà tươi nằm giữa 0,4 – 0,42 Trứng có chỉ số lòng ñỏ càng lớn thì chất lượng trứng càng tốt
Chỉ số lòng trắng là chỉ tiêu ñánh giá chất lượng lòng trắng, chỉ số này ñược tính bằng tỷ lệ giữa chiều cao lòng trắng ñặc so với trung bình cộng ñường kính lớn và ñường kính nhỏ của nó, chỉ số này lớn thì chất lượng lòng trắng càng cao Chỉ số lòng trắng bị ảnh hưởng bởi giống, tuổi và chế ñộ nuôi dưỡng
Theo Marco (1982) , hệ số di truyền của khối lượng lòng trắng h2 = 0,22 – 0,78, chỉ số lòng trắng trứng gà về mùa ñông cao hơn về mùa xuân và mùa hè, giống gà nhẹ cân chỉ số này không dưới 0,09 và giống gà kiêm dụng vào khoảng 0,08 Nguyễn Huy ðạt và cộng sự (2001) cho biết, trứng gà Lương Phượng hoa
có chỉ số lòng trắng và lòng ñỏ ở 38 tuần tuổi, tương ứng là 0,14 và 0,53; ở 60 tuần tuổi tương ứng là 0,091 và 0,49
ðơn vị Haugh ñược Haugh (1930) xây dựng, sử dụng ñể ñánh giá chất lượng trứng, phụ thuộc vào khối lượng và chiều cao của lòng trắng ñặc (dẫn theo Nguyễn Qúy Khiêm, 2003) ðơn vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng tốt, ñơn vị Haugh chịu ảnh hưởng bởi thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm mái
Trang 26(gà càng già, trứng có ñơn vị Haugh càng thấp) bệnh tật, nhiệt ñộ, thay lông (sau thay lông ñơn vị Haugh cao hơn trước khi thay lông) và giống gia cầm Chất lượng trứng rất tốt có ñơn vị Haugh 80 – 100, tốt 65 – 79, trung bình 55 – 64, xấu dưới 55
Trịnh Xuân Cư và cộng sự (2001) nghiên cứu chất lượng trứng gà Mía lúc
38 tuần tuổi có chỉ số Haugh là 84,7 Nguyễn Huy ðạt và cộng sự (2001) nghiên cứu trên gà Lương Phượng hoa ở 38 tuần tuổi chỉ số Haugh ñạt 94,4 và ở 60 tuần tuổi ñạt 91,1
2.1.1.4 ðặc ñiểm di truyền khả năng ấp nở
Kết quả thụ tinh (tỷ lệ trứng có phôi ở gia cầm) là chỉ tiêu quan trọng ñể ñánh giá về khả năng sinh sản của con giống, phụ thuộc vào các yếu tố như tuổi,
tỷ lệ trống mái, thời vụ, dinh dưỡng, chọn ñôi giao phối… Tỷ lệ nở là một chỉ tiêu ñánh giá sự phát triển của phôi, sự sống của gia cầm non Khả năng ấp nở phụ thuộc vào chất lượng trứng, tỷ lệ phôi, kỹ thuật ấp nở…
Nghiên cứu khả năng ấp nở của trứng gà, các tác giả cho thấy tỷ lệ trứng ñược thụ tinh, tỷ lệ nở gà loại I phụ thuộc nhiều vào yếu tố di truyền và môi trường Trong ñiều kiện phối giống tự nhiên ñặc tính phối giống của gà trống là rất quan trọng các dòng gà có khối lượng cơ thể cao sự giao phối và tỉ lệ thụ tinh kém hẳn so với dòng gà có khối lượng cơ thể thấp Sự khác nhau này là do tính năng ñạp mái của gà trống dòng nặng cân kém hơn 3 lần so với dòng gà nhẹ cân Olsen và Haynes ( 1949) qua nghiên cứu thấy rằng tỷ lệ nở phụ thuộc vào khối lượng trứng Nếu khối lượng Trứng nhỏ hơn 45g – 64g thì tỷ lệ nở ñạt ñạt 87% Trứng nhỏ hơn 45g thì nở ñạt ñược 80%, trứng to lớn hơn 60g thì nở ñược 71% Nguyễn Quý Khiêm (2003) nghiên cứu trên gà Tam Hoàng cho biết: Trứng có khối lượng từ 45-55 gam tỷ lệ ấp nở / trứng ấp và tỷ lệ nở/ trứng có phôi ñạt tương ứng là 84,09-86,46 và 86,95 -88,89%, cao hơn trứng có khối lượng dưới 45gam là 7,41 -9,06 và trứng có khối lượng trên 55 gam là 12,35 -13,41%
Các yếu tố di truyền gây chết và nửa gây chết có tầm quan trọng lớn,
Trang 27ảnh hưởng của chúng ựược biểu hiện là gà con không thể nở ra hoặc chết trong giai ựoạn ựầu của phôi Phần lớn các yếu tố gây chết di truyền dưới dạng các gen lặn nên rất khó loại bỏ trong quá trình chọn lọc cũng như tìm nguyên nhân gây chết trong công tác ấp trứng nhân tạo Một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ nở như: Thời gian, chế ựộ bảo quản trứng, chế ựộ máy ấp, chế ựộ máy nở
Hệ số di truyền của sự thụ tinh và ấp nở cũng ựã ựược nhiều tác giả xác ựịnh: Shoffner và Sloan ( 1948) xác ựịnh hệ số di truyền tỷ lệ ấp nở là 0,13; Willson (1948) là 0,04 và 0,1; Hill và cộng sự (1954) là 0,08; Brunson và cộng
sự ( 1956) là 0,04 và 0,08; Nguyễn Văn Thiện ( 1995) hệ số di truyền về tỷ lệ trứng thụ tinh là 0,11 Ờ 0,13 và hệ số di truyền về tỷ lệ ấp nở là 0,1-0,14
2.1.1.5 Khả năng sinh trưởng, cho thịt của gia cầm
a Khả năng sinh trưởng
Trong chăn nuôi ựộng vật , sự sinh trưởng ựược xác ựịnh bằng sự tăng lên
về khối lượng , kắch thước cơ thể qua những giai ựoạn nhất ựịnh, thực chất của
sự phát triển ựó là sự tăng lên về số lượng protein và khoáng chất (dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004)
Sinh trưởng là quá trình sinh học rất sinh ựộng, việc xác ựịnh toàn bộ quá trình sinh trưởng không phải là việc dễ dàng, các nhà chọn giống thường sử dụng các phương pháp ựơn giản và thực tế ựó là xác ựịnh khối lượng cơ thể, tốc
ựộ lớn và cấu tạo cơ thể
đánh giá khả năng sinh trưởng, người ta còn sử dụng khái niệm sinh trưởng tuyệt ựối và sinh trưởng tương ựối
- Sinh trưởng tuyệt ựối là sự tăng lên về khối lượng, kắch thước và thể tắch
cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát (TCVN.2.39, 1977) đồ thị sinh trưởng tuyệt ựối có dạng Parabon Sinh trưởng tuyệt ựối thường ựược tắnh bằng gam/ con/ ngày hoặc gam/ con/ tuần
- Sinh trưởng tương ựối là tỷ lệ phần trăm (%) tăng lên của khối lượng,
Trang 28kắch thước và thể tắch lúc kết thúc khảo sát so với lúc ựầu khảo sát( TCVN.2.40,1977) Sinh trưởng tương ựối giảm dần qua các tuần tuổi, đơn vị tắnh là %, ựồ thị có dạng Hyperbon
b Các yếu tố ảnh hưởng ựến quá trình sinh trưởng của gia cầm
+ Ảnh hưởng của giống tới tốc ựộ sinh trưởng
Khối lượng cơ thể là một tắnh trạng chịu sự chi phối của nhiều gen và chịu
sự ảnh hưởng lớn của ngoại cảnh Ngoài ra khối lượng cơ thể còn chịu ảnh hưởng của giới tắnh, phụ thuộc vào kắch thước các chiều ựo
Theo Godfrey và Joap ( 1952) sự di truyền về khối lượng cơ thể do 15 cặp gen tham gia trong ựó có ắt nhất một gen sinh trưởng liên kết với giới tắnh ( nằm trên nhiễm sắc thể X) vì vậy có sự khác nhau về khối lượng cơ thể giữa con mái và con trống trong cùng một giống, gà trống nặng hơn gà mái từ 24-32% Ở
gà, các giống gà hướng trứng nhẹ hơn các giống gà hướng thịt 2 lần và giống gà kiêm dụng 1,3-1,7 lần
Dẫn theo tài liệu của đào Văn Khanh (2001 ) thì Boshhlebao và cộng tác viên (1972) cho rằng sự tồn tại của các gen hoặc các nhóm gen trong các dòng, giống gia súc, gia cầm rất khác nhau nên dòng, giống khác nhau có tốc ựộ sinh trưởng không giống nhau Lenner và Asmundson ( 1938) ựã so sánh tốc ựộ sinh trưởng của các giống gà Leghorn trắng và Plymouth Rock tới 24 tuần tuổi cho rằng gà Plymouth Tock sinh trưởng nhanh hơn gà Leghorn từ 3-6 tuần tuổi và sau ựó không có sự khác nhau Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự ( 1994) cho biết
sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng khoảng 500- 700g ( 13-30%) Chọn lọc tắnh trạng sinh trưởng là do di truyền Jaap và Moris ( 1973) ựã phát hiện những sai khác trong cùng một giống và cường ựộ sinh trưởng trước 8 tuần ở gà con của các bố mẹ có
sự khác nhau Kết quả nghiên cứu Nguyễn đức Hưng và Nguyễn đăng Vang (1997) cũng khẳng ựịnh các giống gia cầm khác nhau có năng suất khác nhau
Qua ựó, ta thấy khối lượng cơ thể, tốc ựộ sinh trưởng của các dòng, giống
Trang 29gia cầm chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố di truyền Trong thực tế sản xuất cũng như trong nghiên cứu, ñể xác ñịnh mức ñộ ảnh hưởng của phần di truyền tới năng suất của gia súc, gia cầm người ta xác ñịnh hệ số di truyền của tính trạng ñối với quần thể gia cầm cụ thể ñể xây dựng chương trình công tác giống phù hợp Theo Nguyễn Ân và cộng sự (1983) thì hệ số di truyền khối lượng cơ thể 3 tháng tuổi là 0,26 -0,5, Cook và cộng sự (1956) xác ñịnh hệ số di truyền khối lượng cơ thể gà lúc 6 tuần tuổi là 0,5 Dẫn theo tài liệu của Chambers (1990) thì Sigel và Kiney ñã tổng kết tương ñối hoàn chỉnh hệ số di truyền tốc
ñộ sinh trưởng là 0.4 – 0.5; Kushner (1974) xác ñịnh hệ số di truyền khối lượng
cơ thể gà 1 tháng tuổi là 0.33, gà 2 tháng tuổi là 0.55 và gà trưởng thành là 0.43 Tác giả Trần Long (1994) nghiên cứu trên 3 dòng gà V1, V3, V5 thuộc giống HB85 ñã công bố: Dòng V1 gà trống hD2 = 0.321 gà mái hD2 = 0.394 ; V3 gà trống hS+D2 = 0.275, gà mái hS+D2 = 0.26; V5 gà trống hS+D2 = 0.309 và gà mái
hS+D2 = 0.363
Tóm lại, ở các lứa tuổi khác nhau, các dòng gà khác nhau có hệ số di truyền khác nhau và biến ñộng trong khoảng 0.26 – 0.60 Ở các quần thể càng ñược chọn lọc nhiều thì hệ số di truyền thấp và ngược lại
+ Ảnh hưởng của giới tính ñến tốc ñộ sinh trưởng
Các loại gia cầm khác nhau về giới tính thì có tốc ñộ sinh trưởng khác nhau, con trống lớn nhanh hơn con mái Theo Phùng ðức Tiến (1996) thì Jull cho rằng gà trống có tốc ñộ sinh trưởng nhanh hơn gà mái 24 – 32% Tác giả cũng cho biết sự sai khác này do gen liên kết với giới tính, những gen ở gà trống (2 nhiễm sắc thể giới tính) hoạt ñộng mạnh hơn ở gà mái (1 nhiễm sắc thể giới tính)
Nort và Bell (1990) cho biết khối lượng gà con 01 ngày tuổi tương quan tương ñương với khối lượng trứng giống ñưa vào ấp, song không ảnh hưởng ñến khối lượng cơ thể gà lúc trưởng thành và cường ñộ sinh trưởng ở 4 tuần tuổi Lúc mới nở gà trống tăng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng thì sự khác nhau càng
Trang 30lớn , ở 2 tuần tuổi hơn 5%, 3 tuần tuổi hơn 11%,8 tuần tuổi hơn 27%
+ Ảnh hưởng của tốc ñộ mọc lông
Những kết quả nhiên cứu của nhiều nhà khoa học xác ñịnh trong cùng một gióng, cùng giới tính ở gà có tốc ñộ mọc lông nhanh cũng có tốc ñộ sinh trưởng ,phát tiển tốt hơn Kushner (1974) cho rằng tốc ñộ mọc lông có quan hệ chặt chẽ với tốc ñộ sinh trưởng,thường gà lớn nhanh thì có tốc ñộ mọc lông nhanh Hayer và cộng sự (1970) ñã xác ñịnh trong cùng một giống thì gà mái mọc lông ñều hơn gà trống và tác giả cho rằng ảnh hưởng của hoocmon có tác dụng ngược chiều với gen liên kết giới tính quy ñịnh tốc ñộ mọc lông Siegel và Dunington (1987) cho rằng alen quy ñịnh mọc lông nhanh phù hợp với tăng trọng cao
+ Ảnh hưởng của giá trị dinh dưỡng trong thức ăn ñến tốc ñộ sinh trưởng Gia cầm sử dụng thức ăn nhằm ñảm bảo các hoạt ñộng duy trì cơ thể và sản xuất ( sinh trưởng, sản xuất trứng) Năng lượng và protein là hai yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất trong khẩu phần thức ăn của gà Ngoài ra trong dinh dưỡng gia cầm các thành phần như acid béo, khoáng , vitamin và nước cũng không thể thiếu ñược Khoáng vô cơ là một thành phần trong khẩu phần ăn dưới dạng canxi (Ca), photpho (P), natri (Na), kali (K), mang gan (Mn)và clo (CL), những nguyên tố này có chức năng khác nhau, ñặc biệt là ba nguyên tố Ca, P và
Na có vai trò trong việc hình thành xương , vỏ trứng, ñiều khiển chức năng thẩm thấu của cơ thể và hoạt ñộngnhư những chất bổ trợ của Enzyme ðồng (Cu), Iod (I), sắt (Fe), Mangan (Mn), Selen ( Se) là những yếu tố vi lượng Vitamin là hợp chất hữu cơ ñược chia thành hai nhóm; nhóm hòa tan trong nước và nhóm hòa tan trong dầu mà gia cầm chỉ cần một lượng nhỏ sinh tố trong khẩu phần
2.1.2 Cơ sở khoa học của công tác lai tạo
Trong công tác giống kể từ những giống vật nuôi ñầu tiên ñược tạo ra từ cuối thế kỷ XVIII, các giống mới ñược tạo ra ñều thông qua con ñường lai tạo sau ñó mới ñược chọn lọc củng cố,ổn ñịnh tính trạng trở thành dòng thuần
Trang 31Những giống gốc ban ựầu ắt nhiều có sự pha máu của nhiều giống khác nhau Như vậy, rõ ràng ựể tạo dòng, tạo giống mới từ ựó có thể nhân rộng ra trong sản xuất khởi ựiểm ban ựầu là việc lai tạo Thông qua lai tạo ựể khai thác thế mạnh của con lai, ựồng thời làm lay ựộng tắnh bảo thủ di truyền sẵn có của các cá thể, các dòng, các giống Cốt lõi của vấn ựề lai giống là sử dụng hiện tượng sinh học quan trọng ựó là ưu thế lai Bouwman (2000) cho rằng lợi ắch to lớn ở lai giống
là xuất hiện sức mạnh ở con lai thường không thể ựoán trước ựược và nó chỉ có thể xảy ra ở một số tố hợp lai nào ựó vì thế phải tiến hành nhiều công thức khác nhau ựể tìm khả năng phối hợp tốt nhất đồng thời tùy mục ựắch của công tác giống ựể ta sử dụng phương pháp lai ựặc biệt là trong công tác ựể lai tạo giống mới Theo đặng Hữu Lanh, Trần đình Miên, Trần đình Trọng (1999) có 3 phương pháp lai giống chủ yếu là lai kinh tế, lai tạo giống và lai khác loài
2.1.2.1 Lai kinh tế
Lai kinh tế là lai giữa hai cơ thể thuộc hai dòng khác nhau cùng giống,khác giống hoặc hai giống khác loài ựể sử dụng con lai F1 làm thương phẩm Không dùng con lai nuôi sinh sản hoặc làm giống, tuy nhiên khi cần thiết
có thể dành lại một số con lai ưu tú ựể làm vật liệu lai tiếp Căn cứ vào số bố mẹ tham gia vào ghép lai và phương pháp sử dụng người ta chia thành lai kinh tế ựơn giản và lai kinh tế phức tạp
Lai kinh tế ựơn giản là phép lai chỉ sử dụng hai giống tham gia Ở ngay ựời lai thứ nhất F1, tất cả ựực, cái ựều ựược sử dụng vào mục ựắch kinh tế Nguyễn Hải Quân và ctv (1995) Phép lai này có ưu ựiểm là tiến hành ựơn giản, chỉ cần hai giống tham gia và sử dụng ngay F1 làm thương phẩm nên ựược sử dụng khá rộng rãi trong chăn nuôi, làm tăng khả năng cho sản phẩm của vật nuôi Ở nước ta, lai kinh tế ựơn giản ựược coi là biện pháp tắch cực làm tăng khả năng cho thịt, trứng, nhằm tận dụng khả năng dễ nuôi, sức chống chịu cao của gà ựịa phương và khả năng lớn nhanh, sức ựẻ cao, ấp nở tốt khối lượng trứng cao của gà nhập nội ( Tạ An Bình, 1973) Bùi Quang Tiến,Nguyễn Hoài Tao (1985) ựã sử dụng gà Rhode Island
Trang 32Red, gà Leghorn lai với gà Ri kết quả tạo ra gà lai có khối lượng cơ thể, sản lượng trứng, khối lượng trứng cao hơn gà Ri
Lai kinh tế phức tạp là phương pháp lai có từ 3 giống trở lên tham gia Nguyễn Hải Quân và cs (1995) Ở phương pháp này người ta cho giao phối giữa ñực và cái của hai giống khác nhau ñể tạo ra F1 sau ñó dùng cái lai F1 phối với con ñực thuần chủng của giống thứ 3 ñể sản xuất ra con lai dùng vào các mục ñích kinh
tế khác nhau Lai kinh tế 3 giống lợi dụng triệt tiêu ưu thế ở cái F1 và ưu thế lai giữa 3 giống Ưu thế lai trong trường hợp lai kinh tế giữa 3 giống biểu hiện rõ ñối với các tính trạng có hệ số di truyền thấp, xét tất cả các chỉ tiêu thì lai kinh tế 3 giống làm tăng thành tích của con lai lên 10% Nguyễn Hải Quân và cs (1995) Lai kinh tế phức tạp còn là phép lai giữa 3 – 4 dòng trong cùng một giống thường sử dụng dòng ông nội x bà nội tạo dòng bố và dòng ông ngoại x bà ngoại tạo dòng mẹ , sau ñó cho dòng bố lai với dòng mẹ tạo con lai thương phẩm Phép lai này ñược thể hiện ở các giống nhập nội hướng trứng như Goldline 54, ISA Brown, Hyline…,
gà hướng thịt có BE88, AA, Cobb 500, Ross 308 con lai ñược tạo ra có năng suất cao thường vượt hẳn các dòng thuần
2.1.2.2 Lai tạo giống
ðể phá vỡ hàng rào về di truyền năng suất các giống hiện có thường phải tiến hành các giống mới có tiềm năng di truyền về năng suất cao hơn, có 3 phương pháp:
+ Lai cải tiến (Top crossing)
Phương pháp này thường dùng trong trường hợp mà một dòng ,một giống tuy ñã ñạt ñược các tiêu chuẩn cần thiết nhưng vẫn còn thiếu một số ñặc tính theo yêu cầu, nếu tiến hành chọn lọc ñể nâng cao năng suất rất lâu, khi dùng giống khác có ưu ñiểm hơn cho phối với giống hiện có ñể cải thiện tiềm năng di truyền Lai cải tiến còn gọi là lai pha máu ñây là phương pháp lai trong ñó dùng con ñực của giống ñi cải tiến cho giao phối với con cái của giống cần ñược cải tiến, sau ñó dùng ñực tốt nhất của ñời lai thứ nhất phối với con cái của giống
Trang 33ñược cải tiến hoặc ñực tốt của giống ñược cải tiến lai với cái của ñời lai thứ nhất Tiếp ñó các con lai cho tự giao (mang ¼ máu của giống cải tiến) hoặc cho giao phối thêm một nữa rồi mới chuyển sang tự giao (mang 1/8 máu của giống cải tiến)
Trong phương pháp này,vai trò của ñực giống cải tiến rất lớn, nó có nhiệm vụ di truyền các ñặc tính tốt cho giống ñược cải tiến Nếu các ñặc tính tốt mang tính di truyền trội là tốt nhất và việc giữ các ñặc tính tốt ở ñời sau cũng rất quan trọng vì trong phương pháp này việc dùng con ñực cải tiến thường chỉ dùng chỉ 1 lần nên phải tiến hành chọn lọc con ñực tốt nhất cho phối giống ñể củng cố tính trạng mong muốn
+ Lai cải tạo (Grading up)
Phương pháp này ñược áp dụng khi cần cải tạo một số giống nào ñó không ñáp ứng ñược hiệu quả về kinh tế Trong phương pháp này thường dùng một số giống cao sản ñể tạo giống ñịa phương Khác với lai cải tiến phương pháp lai cải tạo dùng con ñực liên tục cho ñến khi ñạt ñược mục tiêu mới dừng lại Thông thường quá trình lai tạo sẽ dừng ở ñời III – V, ñây cũng là phương pháp thường ñược sử dụng ñể tạo giống trong chăn nuôi gia cầm Tuy nhiên khi áp dụng phườn pháp lai này cần chú ý tới ñiều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng vì qua các ñời lai năng suất của giống ñược cải thiện thì các nhu cầu khác cũng tăng lên
+ Lai gây thành (Crossimh for the production new breed)
ðây là phương pháp lai ñược áp dụng khi tạo nên giống mới, với sự phối hợp của nhiều giống, mỗi giống có những ñặc tính mong muốn riêng Phương pháp này không có công thức có ñịnh mà có thể sử dụng cả 2 phương pháp lai cải tiến, lai cải tạo ñể sử dụng lai gây thành, ñiều quan trọng là xác ñịnh mục tiêu rõ của giống cần tạo ra Trong quá trình lai tạo khi thấy tính trạng nào ñạt ñược mục tiêu ñề ra, tiến hành cho giao phối cận huyết vừa ñể củng cố tính trạng
ñó, ñồng thời tiến hành chọn lọc khắt khe và chọn phối có nghệ thuật ñể cố ñịnh dòng Lai tạo giống mới rất phức tạo, ñòi hỏi chi phí lớn về thời gian cũng như
Trang 34kinh phí, vì vậy khi tiến hành lai tạo giống mới cần ñược nghiên cứu kỹ lưỡng các ñối tượng ñưa vào lai cũng như các ñiều kiện khác
Hiện tại trong công tác chọn tạo giống gia cầm ở Việt Nam thường sử dụng
3 phương pháp ñể tạo giống mới:
- Từ nguồn gốc nguyên liệu trống mái lẫn trong ñàn, nhân thuần mở rộng quần thể áp dụng phương pháp chọn lọc cá thể kết hợp với gia ñình theo chỉ tiêu của từng dòng, cố ñịnh dòng mới
- Từ các dòng một giới tính ñược nhập vào ở cấp giống ông bà cho lai sau
ñó tiến hành chọn tạo theo ñịnh hướng nhóm các cá thể có năng suất cao
- Từ 2, 3 hay nhiều giống tiến hành lai tạo sau ñó tự giao ở thế hệ nào ñó, tiến hành chọn lọc các tính trạng của nhóm cá thể có năng suất cao theo mục tiêu tạo dòng mới
2.1.3 Cơ sở khoa học của chọn lựa ñối tượng ñưa vào lai tạo
Thực chất của công tác lai, chọn tạo giống mới là khai thác các ñặc ñiểm tốt từ các giống, các dòng ñể tạo ra các con lai, các giống mới có thể năng suất, chất lượng mà người sản xuất mong muốn ðiều ñó hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng phối hợp giữa các giống ñể có hiệu quả ưu thế lai Hiệu quả của các ưu thế lai phụ thuộc vào các yếu tố:
- Nguồn gốc di truyền của bố mẹ: Bố mẹ càng xa nhau thì ưu thế lai càng cao và ngược lại Phan Cự Nhân và cộng sự (1976) cho rằng trong trường hợp nguồn gốc di truyền càng xa thì các cá thể ( tức giao tử tạo nên phôi tử) rất khác nhau về phẩm chất Trường hợp này tạo nên các ñặc tính di truyền phong phú thêm, nhân lên gấp bội, khả năng phát truyền của tính trạng theo hướng rõ rệt, tính dị hợp tử của các cặp gien tăng lên, các gien lặn bị nhiều gien trội phủ lấp, các gien trội là ñiều kiện ñể tế bào mang sẵn các yếu tố di truyền ña dạng phát triển thuận lợi
- Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thì khi lai sẽ có nhiều ưu thế lai cao
và ngược lại ( ðặng Hữu Lanh và cộng sự, (1999) ðiều này ñược lí giải khi các
Trang 35gen không cộng gộp tham gia xác ñịnh tính trạng với tính trạng có hệ số di truyền thấp khả năng ñời sau lặp lại ñặc ñiểm của bố mẹ ít, ñồng nghĩa với ñặc ñiểm ñời con khác với bố mẹ càng rõ hay con lai có ưu thế lai cao
- Ưu thế lai phụ thuộc vào việc lựa chọn sử dụng giống gia súc nào làm
bố và gia súc mẹ Thực tiễn cho thấy khi cho lai ngựa với lừa nếu ngựa ñực lai với lừa cái sinh ra con Boocdo, còn ngựa cái lai với lừa ñực thì sinh ra con
La Con la có sức khỏe hơn bố mẹ, con Boocdo thì ngược lại ðặng Hữu Lanh
và cộng sự (1999), Nguyễn Hải Quân và cộng sự (1995) dẫn tài liệu của Shull (1914) cho rằng sự khác nhau về mực ñộ biểu hiện ưu thế lại trong lại thuận nghịch phụ thuộc vào yếu tố cấu trúc tế bào ñược xác ñịnh ở cơ thể mẹ Trong mối liên quan này vai trò của axit nucleic trong các cơ quan tử của tế bào chất ( như ty thể, lạp thể ) là rất quan trọng Chúng có thể tham gia trực tiếp vào biểu hiện ưu thế lai ñồng thời có thể tương tác với gen ở nhân ñể làm xuất hiện ưu thế lai Mặt khác trong quá trình mang thai có mối liên quan sinh lí trực tiếp giữa cơ thể mẹ và phôi cũng như ảnh hưởng của mẹ ñến ñời sống của con trong giai ñoạn bú sữa ñều có tác ñộng ñến mức ñộ biểu hiện ưu thế lai ở ñời con ðặng Hữu Lanh (1999) dẫn theo Cushner (1967) cho biết ở gia cầm khi lai tương hỗ thì ảnh hưởng của mẹ ñối với tỷ lệ nở, tỉ lệ nuôi sống và một số tính trạng khác ở gà con là mạnh mẽ Trần ðinh Miên (1992) dẫn tài liệu của Spramge và Tatum (1942); Turbin (1961) cho biết thực chất của khả năng phối hợp là sự tổ hợp gen mới, trong ñó các gen trội, siêu trội, lấn át…
Và ảnh hưởng của môi trường sống cả môi trường sống cùng hoạt ñộng tương tác ñể tạo nên hiệu quả Khả năng phối hợp phụ thuộc vào phương pháp chọn giống và công nghệ phối
Chọn phối là làm cho mức ñộ ñồng hợp tử ( hoặc dị hợp tử) của các kiểu gen không thay ñổi, phương pháp này còn gọi là giao phối ngẫu nhiên Phương pháp này thường gặp trong tự nhiên hoặc ở một số quần thể giao phối ngẫu nhiên
Trang 36Chọn phối làm tăng mức ñộ ñồng tử hoặc làm giảm mức ñộ dị hợp của các kiểu gien, ñây là phương thức chọn phối làm cho tần số kiểu gen ñồng hợp tử ở các thế hệ sau ngày tăng lên còn tần số gen dị hợp tử ở các thệ hệ sau ngày một giảm Phương pháp này thường ñược áp dụng trong nhân giống thuần chủng trong nội bộ một giống
Chọn phối giống làm giảm mức ñộ ñồng hợp tử hoặc làm tăng mức ñộ dị hợp tử của các kiểu gen Phương pháp này thường ñược gọi là phương pháp lai tạo, ñó là phương pháp cho giao phối giữa các cá thể thuộc hai dòng trong cùng một giống, thuộc hai giống khác nhau, hoặc thuộc hai loài khác nhau Khi lai quần thể với nhau sẽ gây ra hai hiệu ứng:
Hiêu ứng cộng gộp của các gen:
2.1.4 ðặc ñiểm ngoại hình, khả năng sinh trường và sinh sản của gà Borkov
và VCN-G15
Gà Borkov là giống gà hướng trứng, ñược tiếp nhận vào Viện Chăn nuôi từ tháng 5/2007 từ dự án DA15- 99 với 360 quả trứng giống và giao cho Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi tổ chức ấp nở, nuôi thử nghiệm qua 4 thế hệ gà có năng suất trứng 170 -194 quả/mái/72 tuần tuổi,
Trang 37TTTA/10 trứng 2,3kg, khối lượng trứng 53,0g, tỷ lệ lòng ñỏ 29% ðây là giống gà lông màu có ngoại hình ñẹp, có chất lượng thịt, trứng thơm ngon
Qua theo dõi bốn thế hệ nhân thuần mở rộng quần thể tại Trung tâm, giống gà này vẫn duy trì ñược những ñặc ñiểm ngoại hình ñặc trưng của giống
Gà Bor lúc 01 ngày tuổi có lông ñồng nhất màu xám ñen, có sọc dưa ở giữa lưng, mỏ và chân màu trắng hồng Ở gà trưởng thành gà trống và mái có bộ lông ñồng nhất vằn ñen trắng, da chân và mỏ màu vàng, mào ñơn to, tích trắng, tầm vóc trung bình, ñầu nhỏ, cổ thanh, dáng nhanh nhẹn ( Vũ Ngọc Sơn, Phạm Công Thiếu và cs, 2010)
- Giống gà VCN-G15 (hay gà HW) nhập vào nước ta từ năm 2007, năm 2008-2010 nuôi thích nghi qua 4 thế hệ và xác ñịnh gà có sức sống tốt, năng suất trứng/m/72tt ñạt 258-260 quả(bằng 85% so với gốc), TTTA/10 trứng là 1,7kg, khối lượng trứng 59,5g, tỷ lệ lòng ñỏ 26,7% Tháng 6/2010, Bộ NNPTNT ñã cho phép ñưa gà HW vào danh mục giống vật nuôi ñược sản xuất kinh doanh và ñặt tên lại là gà VCN-G15 tại Thông tư số 33/2010/TT-BNNPTNT Gà VCN-G15 là giống gà hướng trứng có lông màu trắng ñồng nhất, mào ñơn to, thân hình thanh tú Khối lượng cơ thể tại 63 ngày tuổi, gà mái ñạt 550g/con và gà trống ñạt 660g/con, năng suất trứng/mái/72 tuần là 280 – 300 quả, khối lượng trứng ñạt 58 – 60g/quả, tỷ lệ trứng có phôi ñạt 93,0 – 94%, có sức sống tốt, tỷ lệ nuôi sống cao qua các giai ñoạn nuôi, giai ñoạn gà con (0- 9 tuần tuổi) ñạt từ 96,42 – 98,0% , giai ñoạn gà dò (10- 19 tuần tuổi) ñạt từ 97,9 – 99,2% Khối lượng cơ thể ở 19 tuần tuổi thì gà trống ñạt từ 1485,1 – 1516,0g, gà mái từ 1210 – 1231,4g Lượng thức ăn tiêu thụ từ 0-19 tuần tuổi qua các thế hệ trung bình gà trống 6798 g/con; gà mái 6230 g/con (Vũ Ngọc Sơn, Phạm Công Thiếu, 2010)
So với gà Lương Phượng và một số giống gà lông màu khác thì gà Bor
và gà VCNG15 có khả năng sinh sản cao hơn Theo dõi qua các thế hệ , tuổi ñẻ trứng ñầu của gà Bor là khá sớm 146 và 135 ngày tuổi, tuổi ñẻ ñạt 5% là 162 ngày tuổi và 139 ngày tuổi, tuổi ñẻ ñạt 30% là 181 ngày tuổi, tuổi ñẻ ñỉnh cao là
Trang 38207 ngày tuổi So sánh với gà Ai Cập hướng trứng ( Phùng ðức Tiến và cs ,2004) có tuổi ñẻ 5% là 148,6 ngày tuổi và ñạt ñỉnh cao ở 210 ngày tuổi thì tuổi thành thục sinh dục của hai giống gà này là tương ñương Tuy nhiên, so với gà VCN-G 15 (Phạm Công Thiếu và cs, 2010) có tỷ lệ ñẻ 5% lúc 139 ngày tuổi, tuổi ñẻ ñỉnh cao lúc 196 ngày thì gà Bor thành thục sinh dục muội hơn Gà Bor
có tỷ lệ ñẻ bình quân/ 72 tuần tuổi từ 49,91- 50,17%, tương ứng ñạt 181,7- 182,6 quả/ mái/ 72 TT, TTT Ă/ 10 trứng là từ 2,19- 2,3 kg Tỷ lệ phôi ñạt cao 93,56%,
tỷ lệ nở gà loại 1/ tổng trứng ấp 81,03%
Như vậy, gà Bor và VCNG15 là nguồn gen cần bảo tồn và khai thác, phát triển cũng như thử nghiệm một số tổ hợp lai ñể tạo con lai phục vụ sản xuất
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
1.2.1 Một số kết quả chọn lọc và lai tạo gia cầm trên thế giới
Từ thế kỷ 20, ngành chăn nuôi gia cầm trên thế giới phát triển mạnh mẽ Năm 2003 tổng ñàn gà trên thế giới là 45.986 triệu con, sản lượng thịt ñạt 65,016 triệu tấn, sản lượng trứng ñạt 55,827 triệu tấn Tốc ñộ tăng ñầu con giai ñoạn 1993 – 2003 ñạt bình quân 5%/năm ( FAO, 2003) Từ năm 2004 ñến 2008 sản lượng thịt gà ñều có xu hướng tăng lên Năm 2004 là 59,612 triệu tấn, năm
2005 là 62,902, năm 2006 là 63,79 triệu tấn, năm 2007 là 67,53 triệu tấn và năm
2008 là 70,748 triệu tấn ðoàn Xuân Trúc (2008)
Theo tổ chức Nông lương thế giới (FAO), năm 2003 khu vực ASEAN sản xuất thịt gia cầm ñạt 4.323 nghìn tấn chiếm 21% cả châu Á và 6,6% toàn thế giới, sản lượng trứng ñạt 2,65 triệu tấn chiếm 8% so với chấu Á và 4,8% so với tổng sản lượng trứng toàn thế giới Mức tiêu thụ thịt gà/ñầu người toàn thế giới ñạt 11,2 kg Trong ñó một số nước có mức tiêu thụ rất cao như Mỹ (43,9 kg), Bruney ( 50,5 kg), Canada(33,9 kg), Thái Lan( 13,7 kg) Có ñược những thành tựu như vậy là nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ ñặc biệt trên lĩnh vực chọn tạo giống, trong ñó việc áp dụng các biện pháp lai giữa các giống gà ( lai kinh tế, lai cải tiến, lai cải tạo, lai pha máu, lai gây thành….)
Trang 39Kết quả nghiên cứu của Phishinin B.G.( 1985) cho thấy gà Broiler Hybro
là con lai từ việc lai chéo 4 dòng 6, 7, 8, 9 nuôi tại Liên Xô, sau 8 tuần tuổi khối lượng cơ thể ựạt 1,8kg, tiêu tốn thức ăn/1kg tăng trọng là 2,63kg.Theo tài liệu của hãng Lohman (1995) gà Lohman Broiler là con lai từ 4 dòng A, B, C, D nuôi ựến 49 ngày tuổi ựạt 2.270 gam, tiêu tốn thức ăn cho 1 kg là 2,02 kg, tỷ lệ nuôi sống ựạt 90% Dẫn theo tài liệu của Nguyễn Duy Hoan (1986), gà Leghorn trắng có khối lượng từ 2,0 Ờ 2,6 kg, gà mái từ 1,6 Ờ 2,2 kg, sản lượng trứng tự
250 Ờ 270 quả/năm Gà Tam Hoàng là con lại giữa gà Thạch Kỳ có nguồn gốc
từ Quảng đông (Trung Quốc) với một số giống gà của Israel và Hồng Kông như : Gà Kabir, Discau, XinpasẦ gà Tam Hoàng nuôi thịt 15 -17 tuần tuổi có khối lượng trung bình 1,5 Ờ 1,7 kg, tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trọng là 3,2 kg
Bên cạnh việc lai tạo, trong công tác giống gia cầm việc chọn lọc cũng hết sức cần thiết và ựã mang tại hiệu quả cao cho sản xuất.Emerson (1997) ựã miêu tả khái quát về các phương pháp hiện ựang ựược áp dụng trong nhân giống gia cầm thương phẩm và chỉ ra các nhân tố làm phức tạp quá trình thiết kế chương trình giống cũng như các khó khăn sẽ ựối mặt với các nghành trong tương lai Theo tác giả chọn lọc ựàn lớn với tắnh trạng khối lượng cơ thể ựã làm giảm ựáng kể số ngày cần phải nuôi cho tới khi ựạt khối lượng và làm cải thiện gián tiếp ựến tắnh trạng chuyển hóa thức ăn
Poonia (1995) nghiên cứu trên 712 con gà mái từ 34 con bố, số liệu theo dõi ựã ựược sử dụng ựể xây dựng chỉ số chọn lọc ựối với tắnh trạng khối lượng cơ thể có lúc 6, 8, 20 tuần tuổi, tuổi ựẻ quả trứng ựầu tiên, khối lượng trứng lúc 32 tuần tuổi và số lượng trứng 280 ngày tuổi.Kết quả tắnh toán cho biết chọn lọc khối lượng cơ thể 8 tuần tuổi có thể cải tiến tất cả các tắnh trạng ngoại trừ tắnh trạng khối lượng cơ thể 20 tuần tuổi và tuổi ựẻ quả trứng ựầu tiên.Tác giả cũng cho biết 2 tắnh trạng này có tương quan âm với khối lượng trứng và sản lượng trứng
Kumar và Singh, (1996) nghiên cứu cải tiến dòng gà mái hướng thịt thông qua chỉ số chọn lọc, ựã phân tắch số liệu từ 2.493 gà mái ựời con của 181
Trang 40con đực qua 5 thế hệ sử dụng các chỉ số chọn lọc khác nhau Các tính trạng được nghiên cứu là khối lượng cơ thể 6 tuần tuổi, 20 tuần tuổi, tuổi đẻ quả trứng đầu tiên, số lượng trứng 40 tuần tuổi Chỉ số kết hợp thơng tin của cả 5 thế hệ tạo ra
độ chính xác tối đa của chọn lọc cũng như sự kết hợp tối đa tiến bộ di truyền Các tác giả cho rẳng, việc loại trừ tính trạng từ khối lượng cơ thể 6 tuần tuổi hay
20 tuần tuổi khỏi chỉ số chọn lọc khơng ảnh hưởng đến độ chính xác hoặc tiến
bộ di truyền Tiến bộ di truyền mong đợi cao nhất đã được dự đốn bằng một chỉ
số kết hợp với tất cả các tính trạng ngoại trừ khối lượng cơ thể 20 tuần tuổi và khối lượng trứng Các tác giả cho rằng để cĩ hiệu quả tổng hợp cao nhất về khối lượng gà thịt, khối lượng trứng, sản lượng trứng thì chỉ số phải kết hợp được cả sản lượng trứng 40 tuần tuổi và khối lượng trứng tại 32 tuần tuổi
1.2.2 Một số kết quả lai tạo và chọn lọc gia cầm trong nước
Việt Nam là một nước nơng nghiệp, trong đĩ chăn nuơi gia cầm là một nghề phổ biến ðây là nghề vừa giải quyết cơng ăn việc làm vừa cung cấp thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày đồng thời tăng thu nhập cho người nơng dân Chăn nuơi gia cầm đã đi vào đời sống văn hĩa của người Việt Nam Nhiều giống gia cầm đã mang địa dư của vùng quê Việt Nam như gà Hồ, gà Mía, Gà Phù Lưu
Tế, Vịt Bầu Quỳ, Bầu Bến… Những năm gần đây chăn nuơi gia cầm ở Việt Nam đã phát triển mạnh và vững chắc, cĩ thành tựu đĩ là do nhiều yếu tố trong
đĩ yếu tố quan trọng gĩp phần quyết định là các tiến bộ khoa học kĩ thuật về di truyền giống mà lai tạo và chọn lọc là các biện pháp được các nhà nghiên cứu và sản xuất sử dụng rộng rãi
Tạ An Bình và cộng sự (1974) nghiên cứu lai kinh tế giữa một số giống
gà trong nước đã kết luận con lai F1 (trống Mía x mái Ri), F1 (trống Phù Lưu Tế
x mái Ri), F1 (trống chọi x mái Ri) đều cĩ tỷ lệ nuơi sống cao, thịt thơm ngon tương tự gà Ri
Bùi Quang Tiến, Nguyễn Hồi Tao (1985) đã tạo ra được giống gà Rhoderi (từ 1975 – 1985) thích nghi tốt với điều kiện chăn nuơi của Việt Nam