Đưa ra các giải pháp đi đôi với bảo vệ môi trường như vấn đề xử lý rác thải…[28] Cuốn“Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá”của tác giả Mai Thế
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
VŨ THỊ LUYẾN
HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
CÁC GIÁ TRỊ CỦA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
Ở HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
VŨ THỊ LUYẾN
HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
CÁC GIÁ TRỊ CỦA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
Ở HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Người hướng dẫn khoa học
TS Trần Thị Hồng Loan
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận, ngoài sự cố gắng của bản thân, em
đã nhận được sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân
thành nhất tới TS Trần Thị Hồng Loan - người cô đã tận tình chỉ bảo, giúp
đỡ em hoàn thành khóa luận này
Em xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trị cùng các thầy cô giáo trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy, chỉ bảo em trong suốt thời gian qua
Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình cũng như bạn bè đã góp ý, ủng hộ em hoàn thành khóa luận này
Trong quá trình nghiên cứu, với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót
Kính mong sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy cô cũng như các bạn sinh viên
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Người thực hiện
Vũ Thị Luyến
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của
TS Trần Thị Hồng Loan
Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi và các số liệu trong khóa luận là trung thực Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
BQLDT&DT: Ban quản lý di tích và di tích
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ CỦA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 7 1.1 Các khái niệm cơ bản 7 1.2 Một số giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố
Hà Nội cần được bảo tồn và phát huy 21 1.3 Sự cần thiết phải bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội 25 1.4 Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội 31 Chương 2 THỰC TRẠNG MỘT SỐ GIÁ TRỊ CầN ĐƯỢC BẢO TÔN VÀ PHÁT HUY CỦA CÁC LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG 37 2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và đặc điểm hình thành có sự ảnh hưởng đến công tác bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống
ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội 37 2.2 Thực trạng một số giá trị cần được bảo tồn và phát huy của các làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội 39 2.3 Nguyên nhân của thực trạng 49 Chương 3 MỘT SỐ NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ CỦA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN PHÚ XUYÊN, 52 THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 52 3.1 Một số nguyên tắc trong việc đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội 52
Trang 73.2 Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố
Hà Nội 56 KẾT LUẬN 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, Việt Nam mang trong mình một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc trong đó thấm nhuần nền văn hóa nông nghiệp, nông thôn Thực tế lịch sử hình thành và phát triển nông thôn Việt Nam luôn gắn liền với các làng nghề, ngành nghề truyền thống cùng với các sản phẩm đa dạng của nó tạo nên sắc thái riêng của nền kinh tế và văn hóa dân tộc Từ những đặc trưng về kinh tế - văn hóa - xã hội, tâm lý, tập quán và những điều kiện tự nhiên thuận lợi nên Việt
Nam đã tồn tại hàng trăm làng nghề truyền thống với bề dày lịch sử
Làng nghề truyền thống là nơi lưu giữ và phát triển tinh hoa văn hóa của dân tộc với những kĩ năng truyền từ đời này sang đời khác và mỗi làng nghề là một kho báu trong đó lưu giữ một khối lượng đáng kể những tinh hoa văn hóa của dân tộc, nhất là tinh hoa văn hóa cổ truyền Trong đó, việc hình thành, tồn tại và phát triển các làng nghề truyền thống là một phần không thể thiếu trong tính đa dạng của làng
xã Việt Nam
Làng nghề luôn mang trong mình hai yếu tố cơ bản là truyền thống văn hóa và truyền thống nghề nghiệp, hai yếu tố ấy hòa quyện không tách rời nhau đã tạo nên văn hóa làng nghề Văn hóa làng nghề là sự kết tinh, hội tụ các tập quán xã hội, nghi lễ, lễ hội; tri thức dân gian; nghề thủ công truyền thống của cộng đồng, là sắc thái riêng của từng động cồng, nhóm người ở trong mỗi cộng đồng đó Phát triển làng nghề không những tạo động lực trực tiếp giải quyết việc làm, sử dụng hợp lý,
có hiệu quả lao động ở nông thôn mà còn giúp bảo tồn, duy trì, và phát triển được nhiều ngành nghề truyền thống của dân tộc, tạo điều kiện phát triển đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi, bảo lưu và giữ gìn văn hóa dân tộc
Phú Xuyên là vùng đất nổi tiếng với ít nhất 15 làng nghề thủ công truyền thống (Danh mục di sản văn hóa phi vật thể Hà Nội, 2016) trong đó có các làng nghề đặc biệt nổi tiếng như: làng nghề mây tre đan xã Phú Túc, làng nghề khảm trai Chuyên Mỹ, làng nghề sơn mài thôn Bối Khê, Làng nghề may comple veston xã Vân Từ, Làng nghề Tò he Xuân La, Làng nghề da giầy xã Phú Yên, Làng nghề mộc
Trang 9Đại Nghiệp, Đồng Phố xã Tân Dân, Làng thêu Đại Đồng, Làng nghề bánh kẹo Cổ Hoàng,… Các làng nghề với những sản phẩm sáng tạo văn hóa độc đáo có từ lâu đời được trao truyền tồn tại và phát triển cho đến tận ngày nay Cùng với sự phát triển của đất nước trong những năm gần đây, các làng nghề truyền thống xưa dần thay đổi theo hướng mở rộng, phát triển kinh tế, các sản phẩm ngày một nhiều lên
về số lượng, mẫu mã, loại hình Nhưng tỷ lệ nghịch với sự phát triển kinh tế xã hội
là sự mai một của một số giá trị văn hóa cốt lõi tạo nên văn hóa làng nghề Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa làng nghề như là những di sản văn hóa phi vật thể của làng xã, địa phương và quốc gia, tôi quan tâm đến vấn đề này và mong muốn được thực hiện đề tài nghiên cứu để qua đó góp phần vào việc bảo tồn những giá trị văn hóa làng nghề đó Vì vậy, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài
“Hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp
của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Các làng nghề thủ công truyền thống ở huyện Phú Xuyên dù đã có lịch sử mấy trăm năm thế nhưng phải thừa nhận rằng, mức độ quan tâm của các nhà chuyên môn cũng như sự đầu tư cho việc nghiên cứu để có thể đưa ra những công trình và những đầu sách mang tính chuyên sâu hay giáo trình giảng dạy thì hầu như chưa có, nếu có thì chỉ là những bài viết lẻ tẻ mang tính giới thiệu và quảng bá về nghề và làng nghề mà không hề có một hệ thống nhất định nào Tuy nhiên mấy năm trở lại đây đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu hơn về làng
nghề thủ công truyền thống như: Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội (2000)
của tác giả Trần Quốc Vượng và Đỗ Thị Hảo đã đề cập đến các vấn đề liên quan của làng nghề thủ công, vị trí làng nghề trong diễn trình lịch sử Việt Nam và một số quan điểm phát triển làng nghề mới trong đó có nghề mây tre đan như sau:
+ Duy trì hình thức sản xuất theo hộ gia đình vẫn là phương thức hiệu quả nhất với nghề thủ công mây tre đan nói riêng và nghề thủ công nói chung
+ Tác giả nêu ra một loạt khó khăn cho các làng nghề trong đó có mây tre đan
Trang 10+ Hoàn thiện thể chế chính sách, tạo lập môi trường cho nghề thủ công phát triển là vấn đề cấp bách cần thực hiện sớm Thúc đẩy du lịch làng nghề, khôi phục phát triển các giá trị làng nghề trong đó có mây tre đan Đưa ra các giải pháp đi đôi với bảo vệ môi trường như vấn đề xử lý rác thải…[28]
Cuốn“Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá”của tác giả Mai Thế Hởn, nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội 2003 chú tâm nghiên cứu về làng nghề truyền thống trước thách thức phát triển nhanh chóng của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.[11]
Trên Tạp chí Di sản văn hoá số 4 (2003) tác giả Lê Thị Minh Lý có bài viết
“Làng nghề và việc bảo tồn các giá trị văn hoá phi vật thể”ở đó tác giả đã nêu lên được tầm quan trọng trong việc gìn giữ và bảo tồn các giá trị văn hoá vốn là di sản của dân tộc, như việc lưu truyền bí quyết nghề nghiệp trong phạm vi làng xã hay những giá trị tinh thần đậm nét được phản ánh qua các tập tục, tín ngưỡng… Những
tư liệu viết về văn hoá làng nghề nhìn chung rất đa dạng và phong phú qua đó thấy được bức tranh toàn cảnh về lịch sử cũng như tình hình các làng nghề truyền thống
ở nước ta hiện nay Ngoài những công trình nghiên cứu có tính chất thống kê, khái quát về các ngành nghề thủ công thì đã có những khuyên khảo viết về một làng nghề cụ thể như Quê gốm Bát Tràng; làng Đại Bái gò đồng của tác giả Đỗ Thị Hảo hai chuyên khảo này đã viết khá toàn diện từ phong tục tập quán tín ngưỡng thờ tổ nghề, lễ hội làng nghề đến diện mạo cảnh quan làng nghề, quy trình sản xuất và đặc trưng sản phẩm của làng nghề.[15, tr 68-71]
Năm 2013, Tạp chí Doanh nghiệp và thương mại online có đăng bài “Đến với nghề mây tre đan Lưu Thượng xã Phú Túc”của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan [13,tr33-38] Với cách tiếp cận văn hoá, tác giả bài viết đã đề cập đến một số vấn đề
cơ bản của nghệ thuật tạo ra sản phẩm mây tre Trong đó tác giả đi sâu nghiên cứu
và tìm hiểu để thấy được người dân tại đây đã biết sáng tạo ra những sản phẩm độc đáo từ nguyên liệu thô sơ như cỏ mọc hoang, rồi qua quá trình phát triển họ đã biết kết hợp nhiều nguyên liệu khác như: sợi cói, bèo tây, mây, tre, giang… Trên Tạp chí của Bộ xây dựng (2010) có bài viết “Đặc sắc làng nghề mây tre đan ở Hà Nội”trong đó có viết về làng nghề mây tre đan Phú Túc những năm gần đây việc
Trang 11xuất khẩu sản phẩm ra thị trường quốc tế đã có những chuyển biến mạnh mẽ Hơn nữa làng nghề còn là nơi thu hút số lượng lao động lớn và có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn nét văn hoá truyền thống để từ đó có tiền đề phát triển thành điểm
du lịch văn hoá làng nghề.[13]
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều chú trọng đến nghề và làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam, chứ chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá, giá trị di sản của các làng nghề thủ công truyền thống ở huyện Phú Xuyên Tuy nhiên những công trình nghiên cứu nêu trên là cơ sở nền tảng, tư liệu quan trọng không chỉ giúp tôi định hướng mà còn có thể kế thừa, tiếp thu trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài Thông qua nghiên cứu chuyên sâu về đề tài tôi hy vọng góp một phần nào đó vào công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá cho sản phẩm thủ công truyền thống mang nhiều công sức và tâm huyết của người dân nơi đây trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội, đề xuất một số biện pháp chủ yếu nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống ở địa phương này trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nội dung khóa luận cần thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:
Một là, nghiên cứu lý luận về bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề
truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội
Hai là, nghiên cứu thực trạng các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện
Phú Xuyên, thành phố Hà Nội hiện nay và nguyên nhân của thực trạng
Ba là, đề xuất một số biện pháp chủ yếu nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị
của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Trang 124 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội
5 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu các giá trị văn hóa, giá trị lịch
sử và giá trị kinh tế của một số làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội
- Phạm vi không gian: Địa bàn khảo sát ở một số làng nghề truyền thống, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội
- Phạm vi thời gian: từ năm 2011 đến năm 2018
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điền dã, khảo sát thực tế: khảo sát cảnh quan một số làng nghề,
lễ hội làng nghề, các sản phẩm đặc trưng, các cơ sở sản xuất,…
Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn cán bộ huyện Phú Xuyên và các nghệ nhân, thợ nghề, học viên, khách tham quan,… để tìm hiểu thông tin, số liệu liên quan đến thực trạng các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội
Phương pháp lôgic - lịch sử và phương pháp phân tích - tổng hợp, so sánh,…: từ các nguồn ấn phẩm, sách báo, tạp chí, khoá luận,… phân tích tổng hợp để lấy các thông tin cần thiết kết hợp với kết quả điền dã từ đó hình thành đề mục viết luận văn
7 Ý nghĩa của khóa luận
Khóa luận nhằm làm rõ sự vận dụng quan điểm toàn diện trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống huyện Phú Xuyên, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay Từ đó, đề xuất những biện pháp nhằm khắc phục những thiếu sót trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị tại các làng nghề Phú Xuyên Ngoài ra, khóa luận còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập của sinh viên Khoa Giáo dục chính trị và các khoa, ngành có liên quan
8 Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Khoá luận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về bảo tồn và phát huy các giá trị
Trang 13của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội
Chương 2: Thực trạng một số giá trị cần được bảo tồn và phát huy của các làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội hiện nay và nguyên nhân của thực trạng
Chương 3: Một số nguyên tắc và biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ CỦA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở HUYỆN PHÚ XUYÊN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm Bảo tồn
* Bảo tồn nguyên vẹn
Trước đây đã từng có quan niệm bảo tồn nguyên vẹn, bảo tồn văn hóa được hiểu là các nỗ lực nhằm bảo vệ, gìn giữ sản phẩm văn hóa (vốn được chắt lọc, chưng cất, được thử thách qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử) và không gian tồn tại của nó theo dạng thức vốn có Nghĩa là, những sản phẩm của quá khứ nên được bảo vệ một cách nguyên vẹn như nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật chất và tinh thần cũng như cố gắng cách ly di sản khỏi môi trường
xã hội đương đại Song vấn đề đặt ra, văn hóa luôn gắn bó với đời sống con người, với môi trường xã hội trong sự vận động của nó, nhất là di sản văn hóa phi vật thể Chính vì vậy mà quan điểm bảo tồn nguyên vẹn sẽ không phải là cách tiếp cận của trường hợp nghiên cứu này
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Liêm có bài viết “Bảo tồn và phát huy” hay “kế thừa
và phát triển” văn hoá dân tộc trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” được
in trong cuốn kỷ yếu hội thảo 60 năm đề cương văn hoá Việt Nam (1943-2013) có nêu ra quan điểm: “Bảo tồn” là giữ lại, không để bị mất đi, không thể bị thay đổi, biến hoá hay biến thái…Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái niệm “cải biến”, “nâng cao” hoặc “phát triển” Hơn nữa, khi nói đối tượng bảo tồn
“phải được nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn”.[13, tr.269]
* Bảo tồn trên cơ sở kế thừa
Bảo tồn trên cơ sở kế thừa những giá trị độc đáo của quá khứ dường như là một xu thế khá phổ biến trong giới học giả hiện nay khi bàn đến giá di sản văn hoá
Trang 15nói chung và quản lý di sản văn hoá nói riêng Quan điểm này dựa trên cơ sở mỗi di sản văn hoá cần phải thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể Khi giá trị di sản văn hoá ấy tồn tại ở không gian và thời gian hiện tại,
di sản văn hoá ấy cần phát huy giá trị văn hoá - xã hội phù hợp với xã hội hiện nay
và phải loại bỏ đi những gì không phù hợp với xã hội ấy
Tuy nhiên khi bàn về quan điểm này, nhà nghiên cứu văn hóa Ashworth đã nêu ra những đặc điểm cơ bản của bảo tồn trên cơ sở kế thừa như sau: Không chỉ những đồ tạo tác hay những toà nhà mà cả các bộ sưu tập và các di sản khác cũng được bảo tồn dựa vào kế thừa; Các tiêu chí lựa chọn không phụ thuộc vào bản chất bên trong của di sản mà còn phụ thuộc vào những yếu tố nằm bên ngoài, không thuộc về bản chất của di sản; Bảo tồn trên quan điểm kế thừa quan tâm không chỉ đến hình thức mà còn quan tâm đến cả các chức năng của di sản [1, tr.176-177]
* Ngoài hai quan điểm phổ biến trên, trong quan điểm về bảo tồn còn có Quan điểm bảo tồn để phát triển
“Những người theo quan điểm này không bận tâm tới việc tranh cãi nên bảo tồn y nguyên như thế nào, nên kế thừa cái gì từ quá khứ, mà đặt trọng tâm vào việc làm thế nào để di sản sống và phát huy được tác dụng trong bối cảnh đương đại Nếu như quan điểm truyền thống cho rằng độ chân thực (hay tính xác thực) của di sản là cốt lõi của di sản và phải làm thế nào đề đảm bảo kế thừa được sự chân thực
đó, thì quan điểm bảo tồn phát triển lại đánh giá thấp vai trò của tính chân thực này Người ta cho rằng chân thực hay không không phải là một giá trị khách quan, mà nó được đo bằng trải nghiệm Theo quan điểm này, đối với việc bảo tồn các giá trị làng nghề truyền thống không có mục đích nào được coi là duy nhất, là tốt thượng, là hoàn toàn đúng trong mọi trường hợp”
Từ các giá trị văn hóa truyền thống mang tính đa nghĩa, nhiều mục đích và không ổn định theo thời gian Đây chính là cách bảo tồn trong phát triển mà một số nhà hoạt động văn hóa đã thực hiện đối với một số loại hình di sản phi vật thể như
tổ chức lễ hội như một sự kiện văn hóa, khai thác các diễn xướng dân gian, tổ chức các Festival văn hóa Ta thấy điểm mạnh của mô hình này là tạo nên sức hấp dẫn
Trang 16đối với công chúng đương đại, tạo nên tính sinh động, độc đáo của di sản, tiếp thêm nguồn sinh khí cho di sản Tuy nhiên, mặt trái của nó là dễ sa vào tình trạng sân khấu hóa, thương mại hóa di sản dẫn đến tình trạng tầm thường hóa, thậm chí giải thiêng hóa di sản như đã từng xảy ra đối với trình diễn cồng chiêng Tây Nguyên, trình diễn nhạc cung đình Huế, trình diễn ca trù… phục vụ khách du lịch
1.1.2 Khái niệm Phát huy
Phát huy trên cơ sở sàng lọc, duy trì và làm phong phú thêm những nét đẹp văn hóa vốn có Phát huy giá trị văn hóa là những hành động hướng đích nhằm đưa sản phẩm văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, trở thành tiềm năng và nội lực góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người
Phát huy giá trị văn hóa - đó là những hành động hướng đích nhằm đưa giá trị văn hóa vào trong thực tiễn xã hội với tư cách vừa là môi trường an toàn để bảo tồn
và làm giàu các giá trị văn hóa, vừa là năng lực nội sinh và tiềm năng mang lại những lợi ích về vật chất và tinh thần cho con người, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội
Phát huy các giá trị di sản văn hóa phải biết kế thừa có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của đời trước để lại, làm cho các giá trị của di sản văn hóa thấm sâu, lan tỏa vào đời sống cộng đồng xã hội
“Xét về bản chất, mỗi di tích hay mọi sinh hoạt nghệ thuật, lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, lối sống nếp sống, hoặc các tri thức dân gian về ngành nghề thủ công, y học, ẩm thực, tất cả đều là những giá trị tồn tại dưới những dạng vật chất cụ thể ẩn chứa phía sau những hoạt động hoặc kết quả của các hoạt động tinh thần của con người trong mọi mối quan hệ với tự nhiên, với xã hội và với chính bản thân mình” Những giá trị ấy chính là cái “hồn”, một nơi thể hiện rõ nhất những thành tựu, trình độ và bản sắc văn hóa của một cộng đồng tại một không gian và ở một thời gian nhất định Từ những tích lũy trong quá khứ, qua trường kỳ lịch sử các giá trị đó có thể trở thành một bộ phận quan trọng hợp thành vốn di sản văn hóa quý báu của dân tộc và có thể là của cả nhân loại Vì vậy, phát huy các giá trị di sản văn
Trang 17hóa phải biết kế thừa có chọn lọc phần “hồn”ấy, sáng tạo thêm, làm cho nó thấm sâu, lan tỏa vào đời sống cộng đồng để cộng đồng nhận diện được giá trị, biết trân trọng những giá trị ấy và tránh có cái nhìn phiến diện và khơi lòng tự hào để chung tay vào bảo tồn di sản văn hóa của địa phương, của dân tộc và của cả nhân loại Phát huy giá trị di sản văn hóa là để phát triển kinh tế và phát huy là phải biết
kế thừa những tinh hoa của đời trước để lại Những giá trị đó chính là sự đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn, nếu chúng phù hợp với thời đại mới thì cần được phát huy, nếu chúng lạc hậu, lỗi thời thì phải bỏ đi, đồng thời phải biết sáng tạo thêm những cái mới trên nền tảng những cái truyền thống để vừa làm giàu thêm bản sắc văn hóa, góp phần đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của cư dân đương đại đồng thời cũng là cơ hội để tạo ra thêm nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng giúp phát triển kinh tế bền vững cho địa phương
Phát huy các giá trị văn hóa làng nghề truyền thống phải biết mở rộng giao lưu văn hóa để làm giàu thêm bản sắc văn hóa và làm thăng hoa giá trị văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa
Lịch sử xưa và nay không có nền văn hóa nào tự thân phát triển bằng sự “đóng kín”mà muốn phát triển phải luôn được bồi đắp bởi nhiều nền văn hóa khác Do đó, việc giao lưu, mở rộng văn hóa để làm giàu thêm bản sắc văn hóa, đồng thời làm thăng hoa và lan tỏa văn hóa của mình đến khắp nơi luôn là khuynh hướng của mọi cộng đồng, mọi dân tộc, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Tuy nhiên, giao lưu, tiếp nhận những luồng văn hóa khác là cần thiết nhưng tiếp nhận những cái gì và biến đổi như thế nào để không đánh mất đi giá trị văn hóa của địa phương là việc không dễ dàng
Trong truyền thống làng nghề ở huyện Phú Xuyên các giá trị văn hóa làng nghề luôn có sự giao lưu, tiếp biến văn hóa được thể hiện rất rõ nét Các nền văn hóa Trung Hoa, Chămpa, phương Tây đã từng hội tụ tại các làng nghề Phú Xuyên, nhưng chúng không áp đặt đến văn hóa làng nghề truyền thống của người dân Phú Xuyên, nó được biến đổi và hòa cùng vào văn hóa của người dân nơi đây, tạo thành một văn hóa làng nghề đặc trưng riêng biệt cho huyện Phú Xuyên Tuy nhiên, trong
Trang 18quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên cần phải làm cho văn hoá các làng nghề trong huyện thăng hoa hơn nữa trong nền văn hoá dân tộc và lan toả ra thế giới
Xung quanh vấn đề phát huy di sản văn hoá phi vật thể cũng đặt ra nhiều vấn
đề Song điều quan trọng hơn cả đối với việc phát huy những di sản văn hoá phi vật thể nói chung và giá trị văn hoá làng nghề nói riêng là làm sao khơi dậy được ý thức của cộng đồng, niềm tự hào của cộng đồng về di sản văn hoá phi vật thể, để di sản văn hoá ấy sống trong cộng đồng đúng như bản chất của nó Trong công tác phát huy, vấn đề luôn được đặt ra đó là truyền dạy, tuyên truyền, giáo dục trong cộng đồng, nhất là thế hệ trẻ có những hiểu biết về làng nghề với những giá trị văn hoá truyền thống của nó Chính đây là cây cầu để chúng ta đưa những giá trị văn hoá làng nghề với cộng đồng và hơn thế cộng đồng chính là môi trường không chỉ sản sinh ra văn hoá làng nghề, mà còn là nơi tốt nhất bảo tồn, làm giàu thêm và phát huy nó trong đời sống xã hội
1.1.3 Khái niệm Giá trị
Giá trị trước hết là một một phạm trù triết học, chỉ sự đánh giá những thành quả lao động sáng tạo vật chất và tinh thần của con người Nó có tác dụng định hướng, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động của xã hội nhằm vươn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội
Thuật ngữ “Giá trị”(values) có thể quy chiếu vào những mối quan tâm (interests), những thích thú (duties) trách nhiệm tinh thần (moral obligations), những ước muốn (desires), những đòi hỏi (wants), những nhu cầu(needs), những ác cảm (aversions), những lôi cuốn (attractions) và nhiều hình thái khác nữa của định hướng lựa chọn (Pepper, 1958, tr.7) Nói cách khác giá trị có mặt trong thế giới rộng lớn và đa dạng của hành vi lựa chọn, hoàn toàn có thể cho rằng hành vi theo phản xạ không biểu hiện các giá trị hay sự đánh giá: từ cái nháy mắt bất thần tới cái phản xạ bánh chè hay bất cứ quá trình sinh hóa nào trong cơ thể con người, đều không tạo ra hành vi giá trị Tuy nhiên, bất kỳ định nghĩa mô tả nào cũng có thể xác định đầy đủ phạm vi và tính đa dạng của những hiện tượng giá trị được thừa nhận
Trang 19Một khái niệm giá trị có nội hàm rộng, có thuận lợi là hướng sự chú ý vào những yếu tố giá trị có thể có trong mọi hành vi, tránh những yếu tố tự động hay bản năng nghiêm trọng nhất Một định nghĩa hẹp có ưu điểm là giản đơn và xác định, nhưng có thể dẫn đến sai lầm nếu những hiện tượng bị gạt bỏ không được xem xét thông qua những khái niệm có liên hệ chặt chẽ với ý niệm “giá trị”
Một trong những định nghĩa được chấp nhận rộng rãi hơn trong các tài liệu khoa học xã hội là coi giá trị như những quan niệm về cái đáng mong muốn (desirable) ảnh hưởng tới hành vi lựa chọn Trong định nghĩa hẹp này có sự phân biệt giữa cái được mong muốn và cái đáng mong muốn, chúng được xem như ngang hàng với cái mà chúng ta phải mong muốn Đây là một cách nhìn giá trị đã được xã hội hóa cao, nó loại trừ, chẳng hạn, những giá trị thuần túy mang tính hưởng lạc Trong cách nhìn rộng hơn, thì bất cứ cái gì tốt hay xấu đều là giá trị hay giá trị
là điều quan tâm của một chủ thể là con người Dường như mọi giá trị đều chứa đựng một số yếu tố nhận thức (mặc dù một số định nghĩa không hàm chứa điều này), chúng có tính chất lựa chọn hay hướng dẫn và chúng bao gồm một số yếu tố tình cảm Các giá trị được sử dụng như là những tiêu chuẩn cho sự chọn lựa khi hành động Khi đã được nhận thức một cách công khai và đầy đủ nhất, các giá trị trở thành những tiêu chuẩn cho sự phán xét, sự ưa thích và lựa chọn
Bản chất và ý nghĩa bao quát của giá trị là tính nhân văn Chức năng cơ bản nhất của giá trị là định hướng, đánh giá và điều chỉnh các hoạt động của cá nhân và cộng đồng Giá trị gắn liền với nhu cầu con người Ta thấy nhu cầu của con người rất phong phú, đa dạng và được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Chính nhu cầu là động
cơ thúc đẩy mạnh mẽ hành động của con người, giúp con người tạo nên những giá trị vật chất và tinh thần to lớn Đó là phẩm chất cơ bản cần phải có để đảm bảo con đường sống, chỉ đạo mọi hoàn cảnh thực tiễn Có những giá trị có thể định lượng bởi một giá, nhưng cũng có những giá trị không thể định giá - vô giá: lòng yêu nước, tình yêu tình bạn, các tác phẩm nghệ thuật, Những hành động của con người vì nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu trong quá trình tồn tại của mình ẩn chứa các giá trị văn hóa
Giá trị văn hóa là sự đánh giá mang tính cộng đồng đối với những hiện tượng, sản phẩm văn hóa do con người tạo ra trong bối cảnh xã hội nhất định Những giá
Trang 20trị đó được coi là tốt đẹp, là có ích, đáp ứng nhu cầu của con người trong mọi thời đại Một khi những giá trị đó hình thành và được định hình thì nó có tác dụng chi phối những nhận thức, quan niệm, hành vi, tình cảm của con người trong mỗi cộng đồng ấy Giá trị văn hóa về thực chất là sự khẳng định của con người đối với sự tồn tại vật chất và tinh thần trong đời sống xã hội, quan hệ, trật tự của mình, hành vi, thái độ của mình, khích lệ con người sống và phát triển theo thang giá trị mà cộng đồng xã hội tôn vinh
Bên cạnh những giá trị tổng quát (yêu nước, cộng đồng, cần cù, hiếu học, gắn
bó huyết thống và làng bản) còn tồn tại giá trị bộ phận Giá trị này được thể hiện trong từng lĩnh vực hoạt động của con người như: trong khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong ăn uống, đi lại, phong tục tập quán, lễ hội… Những giá trị bộ phận không phải là những thực thể riêng biệt mà chúng góp phần chung đúc nên các giá trị văn hóa tổng quát và ngược lại
1.1.4 Khái niệm Làng nghề
Quan điểm thứ nhất: theo giáo sư Trần Quốc Vượng có viết thì “làng nghề là
một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một
số nghề phụ khác như đan lát, gốm sứ, làm tương song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”,
“nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” Làng nghề sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất
ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm mặt hàng và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra
cả nước ngoài”(kỷ yếu hội thảo quốc tế “bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống việt nam”tháng 8/1996 [27, tr.38-39]
Quan điểm thứ hai: “Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn,
được cấu thành bởi hai yếu tố là làng và nghề, làng nghề đó tồn tại trong một không gian nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chủ yếu, giữa họ có những mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa”
Trang 21Quan điểm thứ ba: “Làng nghề là một thực thể vật chất và tinh thần được tồn
tại cố định về mặt địa lý, ổn định về nghề nghiệp hay một nhóm các nghề có mối liên hệ mật thiết với nhau để làm ra một sản phẩm, có bề dày lịch sử và được tồn tại lưu truyền trong dân gian”
Về mặt pháp lý, tại Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ quy đinh, theo đó có thể hiểu: Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau
Tác giả Lưu Tuyết Vân trong bài viết “Một số vấn đề về làng nghề ở nước ta hiện nay” đã nêu ra quan niệm về làng nghề như sau:
Làng nghề là một làng có nghề tiểu thủ công đã từng tồn tại trong lịch sử hoặc một thời gian nhất định, có sản phẩm hàng hoá nổi tiếng hoặc có khối lượng hàng hoá lớn có vai trò nhất định đối với thị trường trong nước và quốc tế, có số đông người trong làng cùng làm một hoặc nhiều nghề, dân làng sống chủ yếu bằng các nghề đó Còn các làng nghề truyền thống trước hết phải là một làng nghề, nhưng phải có lịch sử tồn tại lâu dài, đến nay vẫn sản xuất một hoặc nhiều mặt hàng có giá trị trên thị trường trong nước và quốc tế
Khi bàn về làng nghề tác giả đã quan tâm đến ba đặc điểm cơ bản của làng nghề: 1/ Sản phẩm và việc tiêu dùng sản phẩm của làng nghề tại thị trường trong nước và quốc tế
2/ Số lượng những người tham gia làm nghề so với tỷ trọng số lượng người dân trong làng
3/ Làng có lịch sử hình thành và tồn tại lâu dài
Khi bàn về làng nghề truyền thống, tác giả nhấn mạnh hai vấn đề chính, thứ nhất là lịch sử tồn tại lâu đời, thứ hai là về sản phẩm nổi tiếng trên thị trường trong nước và quốc tế.” [24, tr.64]
Theo tác giả Phạm Côn Sơn có viết trong cuốn “Làng nghề truyền thống Việt Nam”thì làng nghề theo ông được định nghĩa như sau: “Làng nghề là một đơn vị
Trang 22hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, kỉ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng và làng nghề không những là làng sống chuyên nghề mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển công ăn việc làm Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương” [20, tr11] Tác giả Trương Minh Hằng đưa ra quan niệm của mình về làng nghề như sau: “Làng nghề gắn liền với các vùng nông nghiệp và người nông dân làm nghề thủ công để giải quyết hợp lý sức lao động dư thừa được cơ cấu theo đặc trưng nông nghiệp là mùa vụ… một làng có nghề, đời sống của người dân ổn định và được nâng cao so với các làng thuần nông Nghề thủ công từ vị trí chỉ là nghề phụ được tổ chức và thực thi vào những khi nông nhàn, rồi về sau nhiều nghề trở thành nguồn thu nhập chính của làng… Ở một góc độ nào đó, làng nghề còn mang tính chất của một làng buôn” [9, tr.20-21]
Theo quan niệm trên cần quan tâm đến một số vấn đề cơ bản như sau: người dân trong làng nghề có đời sống ổn định và phần nào được nâng cao hơn so với các làng thuần nông Nghề thủ công trong lịch sử có thể từ vị trí chỉ là nghề phụ, sau đó trở thành nguồn thu nhập chính của làng Làng nghề còn mang tính chất là một làng buôn Nhận định này xuất phát từ thực tiễn khách quan, bởi trên thực tế người dân làng nghề sẽ phải mua các nguồn nguyên liệu để sản xuất hàng hoá và tổ chức tiêu thụ sản phẩm ở các thị trường trong vùng phụ cận của làng nghề Chính đây là đặc trưng để tạo điều kiện cho làng nghề mở rộng ra bên ngoài thị trường
1.1.5 Khái niệm Truyền thống
Truyền thống là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm… chia
sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, để tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng xã hội Truyền thống là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể truyền thống và đối tượng truyền thống và quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều ấy có thể được hình dung qua nguyên tắc bình thông nhau
Trang 23Truyền thống đó là những tập tục, thói quen và nói chung là những kinh nghiệm xã hội được hình thành từ lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ của con người, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác và có nhiều cấp độ khác nhau Có truyền thống gia đình, truyền thống của từng địa phương, đơn vị, truyền thống cách mạng, truyền thống dân tộc Nguyên tắc chung của việc giữ gìn và phát huy truyền thống là phải bảo đảm sự kế thừa biện chứng với 4 nội dung:
+ “Một là, loại bỏ những yếu tố tiêu cực, phản tiến bộ của quá khứ “(tập tục lạc hậu, tàn dư tư tưởng phong kiến, tâm lý sản xuất nhỏ )
+ “Hai là, giữ lại những yếu tố tích cực, tiến bộ” (tinh thần yêu nước, lao động cần cù sáng tạo, tinh thần nhân đạo cao cả )
+ “Ba là, ngay cả các yếu tố tích cực, tiến bộ đó cũng không giữ lại nguyên xi,
mà phải được cải biến cho phù hợp với điều kiện mới, hoàn cảnh mới”
+ “Bốn là, các thế hệ mới phải sáng tạo ra những yếu tố hoàn toàn mới mà các thế hệ cha anh hoặc không có khả năng, hoặc không có điều kiện để thực hiện”
1.1.6 Khái niệm Làng nghề truyền thống
Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 2 năm 2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trang 108 quy định rõ tiêu chí, thủ tục về việc công nhận làng nghề truyền thống, làng nghề, nghề truyền thống:
1 Có tối thiểu 30% số hộ hoặc 50% số lao động làm nghề trong huyện
2 Có tỷ trọng sản xuất từ ngành nghề công nghiệp, xây dựng, tiểu thủ công nghiệp tối thiệu 50% tổng giá trị sản xuất của làng trong năm
3 Hoạt động kinh doanh ổn định, tối thiểu 02 năm liền tính đến thời điểm công nhận
4 Chấp hành đúng đắn các đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, các quy định của chính quyền địa phương
5 Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống: làng nghề truyền thống phải đạt các tiêu chí công nhận làng nghề theo quy định và có tối thiểu 30% số hộ hoặc 50% số lao động làm nghề truyền thống.[5, tr.108]
Tác giả Bùi Văn Vượng cho rằng: “Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công Ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ
Trang 24công Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời làm nghề nông (nôngdân) Nhưng yêu cầu chuyên môn hoá đã tạo thành những thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng của mình.”[25, tr.23] Theo tác giả làng nghề truyền thống phải là một làng có truyền thống lịch sử lâu đời (có thể từ trước năm 1945),
có nhiều thợ giỏi và chính họ vừa làm nghề, lại vừa tham gia sản xuất nông nghiệp Nhưng sản phẩm của những người thợ giỏi đã tạo nên bản sắc của làng nghề nổi tiếng trong và ngoài nước
Nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng cho rằng: “Làng nghề là làng ấy, tuy có trồng trọt theo lối thủ công và chăn nuôi (gà, lợn, trâu ) làm một số nghề phụ khác (thêu, đan lát ) song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có ông trùm, ông phó cả cùng một
số thợ và phó thợ đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử
ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hoá và có quan hệ tiếp thị với thị trường là vùng mở rộng xung quanh với thị trường đô thị, thủ đô và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài” [29, tr101]
Ta thấy các làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính lâu đời, được truyền đi truyền lại qua các thế hệ, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, cũng như bán sản phẩm theo kiểu phường hội, hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí là bán lẻ, họ có cùng tổ nghề, các thành viên luôn có ý thức tuân theo những hương ước, chế độ, gia tộc, cùng phường nghề trong quá trình lịch sử phát triển đã hình thành nghề ngay trên đơn vị cư trú trong xóm của họ
Làng nghề thủ công truyền thống thường có đại đa số hoặc số lượng lớn dân
cư làm nghề cổ truyền, thậm chí là 100% dân cư làm nghề thủ công hoặc một vài dòng họ chuyên làm nghề lâu đời, kiểu cha truyền con nối Tuy nhiên sản phẩm của
họ không những ứng dụng cao mà còn là sản phẩm độc đáo, ấn tượng, tinh xảo
Trang 25Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ngày nay Làng nghề thực sự là đơn
vị kinh tế tiểu thủ công nghiệp có vai trò tác động tích cực rất lớn đến đời sống kinh
tế của người dân
1.1.7 Khái niệm Giá trị của làng nghề truyền thống
Giá trị làng nghề truyền thống là sự đánh giá mang tính cộng đồng đối với những hiện tượng, sản phẩm văn hóa do con người tạo ra trong bối cảnh xã hội nhất định Những giá trị đó được coi là tốt đẹp, là có ích, đáp ứng nhu cầu của con người trong mọi thời đại Một khi những giá trị đó hình thành và được định hình thì nó có tác dụng chi phối những nhận thức, quan niệm, hành vi, tình cảm của con người trong mỗi cộng đồng ấy
Giá trị làng nghề truyền thống về thực chất là sự khẳng định của con người đối với sự tồn tại vật chất và tinh thần trong đời sống xã hội, quan hệ, trật tự của mình, hành vi, thái độ của mình, khích lệ con người sống và phát triển theo thang giá trị
mà cộng đồng xã hội tôn vinh
Giá trị làng nghề truyền thống bao gồm những giá trị về kinh tế, lịch sử và văn hóa- xã hội
Nước ta với một nền kinh tế nông nghiệp lúa nước, do đặc thù hoạt động theo mùa vụ nên đã tạo ra khoảng thời gian nông nhàn cho những người nông dân Do nhu cầu sinh hoạt hàng ngày cần có các vật dụng cho nên những người nông dân đã
sử dụng thời gian nông nhàn của mình để làm ra các sản phẩm Lúc đầu nó chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của chính bản thân họ Sau đó, nó được đem đi trao đổi, buôn bán Dần dần, hoạt động trao đổi tăng và có nhiều trường hợp đưa lại nguồn lợi nhiều hơn so với nghề làm nông nghiệp Việc sản xuất những sản phẩm dần được phát triển và chuyên môn hóa Xuất hiện những làng có thu nhập từ nghề thủ công chiếm tỷ trọng cao hơn nghề nông nghiệp Thông qua đó thu nhập của những người nông dân ở địa phương đồng thời là thợ thủ công của những làng này trội hơn của những người nông dân ở những làng thuần nông Tuy nhiên, không phải vì vậy mà người thợ thủ công thoát ly khỏi nghề làm nông nghiệp Những sản phẩm nông nghiệp luôn là sự đảm bảo, ổn định cần thiết cho họ
Trang 26Từ sự tăng trưởng kinh tế làng nghề đã tạo điều kiện cho cộng đồng cư dân có điều kiện xây dựng những công trình tín ngưỡng, tôn giáo quy mô lớn, có giá trị nghệ thuật cao và trong các làng nghề, cùng với việc hình thành đội ngũ thợ thủ công sản xuất tại chỗ cũng xuất hiện những nhóm người đi ra ngoài buôn bán và hành nghề ở xa Đã hình thành nên những hội, phường buôn Cho dù buôn đâu, bán đâu, những người này vẫn có những mối liên hệ chặt chẽ với những người làng Họ xây những nơi thờ vọng Tổ nghề ngay tại nơi sinh sống, buôn bán hàng ngày và bên cạnh đó, họ cũng đóng góp nhiều cho việc xây dựng các công trình công cộng, hỗ trợ tổ chức các hoạt động cộng đồng tại làng Những lễ hội được tổ chức rầm rộ hơn, dài ngày hơn, nhiều hoạt động hơn Các sinh hoạt mang tính cộng đồng đa dạng và phong phú này không chỉ thắt chặt mối quan hệ giữa dân làng với những người đi buôn, bán ở xa mà còn giúp cho người dân trong làng liên kết chặt chẽ hơn Ngoài đặc trưng chung của làng là nơi cộng cảm, cộng cư, trong làng nghề thủ công truyền thống còn là nơi cộng nghề (nơi của những người cùng làm chung nghề) Những người thợ thủ công liên kết với nhau qua các phường, hội Họ liên kết lại, ngoài việc cùng chia sẻ các công việc liên quan đến nghề thì đó cũng là một sự hợp lực quan trọng, cần thiết và hữu ích để tạo nên sức mạnh chung của làng nghề Các tổ chức này cũng chính là nơi để giải quyết những mối bất hòa, xung đột trong quá trình cùng làm nghề, buôn bán Việc hình thành các tổ chức như phường hội cũng góp phần vào việc củng cố, ổn định các mối quan hệ làng xã góp phần vào việc tạo ra sức mạnh tập thể Đó là tiền đề quan trọng để các thành viên dễ ràng giải quyết những vấn đề tập thể có liên quan tới lợi ích của cả cộng đồng, từng hộ kinh
tế gia đình và các thành viên
Văn hóa làng nghề chính là hệ thống những giá trị hình thành qua bao đời trong toàn bộ các hoạt động đó, và đến lượt mình, nó cũng chính là công cụ, là phương tiện tổ chức và duy trì toàn bộ các hoạt động này Nó đi vào ký ức người Việt Nam bằng hàng loạt những giá trị vật chất và tinh thần rất gần gũi Thế giới đầy mầu sắc của văn hóa làng được quy ước thành lệ làng đúc kết trong hương ước làng, bộc lộ một cách phong phú qua hội làng Tất cả chắt lọc lại, tạo nên bản sắc
Trang 27văn hóa làng, mà trong đó tính cộng đồng làng và tính tự trị của làng là những giá trị nổi trội nhất Bên cạnh đó còn là các phẩm chất quan trọng khác như: tính ưa hài hòa, khuynh hướng thiên về âm tính (mà tính trọng tình, hay tình làng là một biểu hiện của nó), tính tổng hợp và tính linh hoạt
Đến nay đã trải qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc, văn hóa làng Việt đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt của mình và sau lũy tre làng, bên giếng làng, dưới mái đình làng, trong bầu không khí thân thương của những ngày hội làng, mọi người sống với nhau nặng tình nặng nghĩa, giúp đỡ nhau lúc tắt lửa tối đèn Quan hệ láng giềng ràng buộc con người trong nếp sống làng, xã có kỷ cương, trong sáng và thanh cao
Văn hoá làng được sản sinh từ các làng tụ cư cổ truyền ở nông thôn của người Việt Từ khi xuất hiện làng của người Việt cổ cũng là lúc xuất hiện văn hoá làng, bởi vì văn hoá là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần, cộng đồng dân cư sáng tạo ra trong quá trình tồn tại và phát triển Đó là những phong tục, tập quán, lối sống, nếp sống, tín ngưỡng, tôn giáo, ma chay, cưới xin …
Thứ hai là văn hóa làng nghề, Trong cuốn “Từ điển Bách khoa Văn hoá học”của A.A.Radugin xuất bản vào những năm 90 của thế kỷ XX có định nghĩa về thủ công mỹ nghệ dân gian như sau: “Thủ công mỹ nghệ dân gian là một bộ phận quan trọng của nền văn hoá dân gian, dựa trên sáng tạo tập thể phát triển truyền thống văn hoá tại địa phương” [1, tr.521] Trong công trình “Văn hoá dân gian trong các nghề”của tác giả Robert MsCart đăng trong tác phẩm “Một số thuật ngữ đương đại”của hai tác giả Ngô Đức Thịnh và Frank Proschan đã nêu ra quan niệm về nghề thủ công: “Các khía cạnh biểu cảm của nơi làm việc với sự chú trọng đến đặc biệt đến các chuyện kể, kĩ xảo và nghi lễ được biết đến bằng cách không chính thức và được trao truyền từ thế hệ người lao động này đến thế hệ người lao động khác…” [20, tr.393]
Nghề thủ công Việt Nam gắn liền với làng xã nên việc định dạng thuật ngữ làng nghề là điều tất yếu Văn hoá làng nghề bao gồm văn hoá làng và văn hoá nghề trong đó văn hoá làng, là nền tảng còn văn hoá nghề được coi là nhân tố quyết định
Trang 28cho sự hình thành nên đặc trưng của văn hoá làng nghề Các yếu tố cấu thành văn hoá làng gồm: Cơ cấu tổ chức, diện mạo làng xã… văn hoá vật thể gồm: đình, đền, miếu, chùa, nhà thờ họ, nhà ở; văn hoá phi vật thể: luật tục, phong tục tập quán, ứng
xử giữa xóm làng, lễ hội, tín ngưỡng dân gian…Các yếu tố cấu thành văn hoá nghề: thợ thủ công đặt trong mối quan hệ với nghề nghiệp với làng xóm, gia đình, dòng họ…; phường hội nghề, bí quyết và quy trình nghề, tín ngưỡng thờ tổ nghề, tập tục riêng biệt của tổ nghề
1.2 Một số giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố
Hà Nội cần đƣợc bảo tồn và phát huy
1.2.1 Các giá trị văn hóa
Trong bản tuyên bố chung tại hội nghị quốc tế ở Mexico do UNESCO chủ trì họp từ 26/7 đến 6/8/1982, người ta chấp nhận một quan niệm văn hóa như sau:
“Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng” [39]
Ở Việt Nam từ quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng - toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”[10, tr.431] đến nội hàm khái niệm văn hóa
mà hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương khóa VIII xác định: “Văn hóa
là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy tự phát triển kinh tế - xã hội”[7, tr.54-55]
Giá trị văn hóa ở các làng nghề truyền thống huyện Phú Xuyên từ khi được hình thành trải qua các thời kỳ : thời kỳ phong kiến, thời kỳ chống thực dân Pháp, thời kỳ chống Mỹ, thời kỳ đất nước đổi mới cha ông ta đã gìn giữ và phát huy đến ngày nay, các giá trị văn hóa với đặc trưng là trí tuệ, năng lực sáng tạo, khát vọng
Trang 29nhân văn của con người huyện Phú Xuyên được thể hiện trong hoạt động sống của
cá nhân, cộng đồng người trong huyện như: ăn mặc, đi lại, ở, giao tiếp xã hội, giáo dục tập quán tín ngưỡng, văn hóa làng nghề của huyện Phú Xuyên còn thể hiện rất
rõ trong quá trình lao động sản xuất tại từng địa phương mỗi làng nghề khác nhau Mỗi một sản phẩm được ra đời và mỗi một mẫu mã được thiết kế ra cũng thể hiện một nét văn hóa đặc sắc riêng biệt tạo nên các giá trị văn hóa riêng của huyện Phú Xuyên Các giá trị văn hóa ở huyện Phú Xuyên còn được thể hiện rõ nét qua các lễ hội như: lễ hội truyền thống làng Mai Trang xã Minh Tân, lễ hội nặn tò he thôn Xuân La xã Phượng Dực, lễ hội mây tre đan ở xã Phú Túc…Giá trị văn hóa là những thành tựu của một cá nhân hay một dân tộc đã đạt được trong quan hệ với thiên nhiên, với xã hội và trong sự phát triển bản thân mình; nói tới giá trị văn hóa cũng là nói tới thái độ, trách nhiệm, những quy tắc ứng xử của mỗi người trong quan hệ của bản thân với gia đình với xã hội với thiên nhiên; nói tới giá trị văn hóa cũng là nối tới những biểu tượng của chân- thiện- mỹ của những người dân huyện Phú Xuyên
Phú Xuyên là mảnh đất nằm ở phía Nam Thành phố Hà Nội - Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phú Xuyên có vinh hạnh được sinh ra trong cái nôi của nền văn minh Đồng bằng sông Hồng Vùng đất cổ xứ Đoài, trấn Sơn Nam xưa Cho nên còn lưu giữ được những nét văn hóa cổ truyền của dân tộc nói chung và của Kinh đô Thăng Long nói riêng
“Từ trống đồng Hoàng Hạ (xã Văn Hoàng) hiện đang trưng bày tại bảo tàng, đây là loại trống cổ của cả nước, chế tác từ thế kỷ thứ VII trước Công nguyên Rồi 8 ngôi mộ thuyền tìm thấy ở Châu Can ngày 15/9/1974 Đó là cách mai táng từ thời các Vua Hùng (Cắt một đoạn gỗ to xẻ đôi, khoét rỗng giữa, đặt người chết vào, chằng buộc kỹ đem chôn Cùng những ngôi mộ tìm thấy ở Xuân La (xã Phượng Dực) mà trong đó đồ tùy táng là những mũi tên bằng đồng”
Trong kho tàng Di sản Văn hóa của huyện Phú Xuyên, không thể không kể đến những Lễ hội cổ truyền nổi tiếng như hội đánh gậy ở Thượng Liễu (xã Tân Dân), hội vật cầu, Hội chạy lợn ở Trại Diền (xã Hồng Thái), Hội rước nước ở Cát
Bi (xã Thụy Phú)
Trang 30Ngoài ra, nhân dân Phú Xuyên còn lưu giữ được những chứng tích phi vật thể rất có giá trị như "Hò cửa đình và múa hát bài bông”ở làng Phú Nhiêu (xã Quang Trung) Nghề nặn tò he ở thôn Xuân La (xã Phượng Dực) và hát ca trù ở Chanh Thôn xã Văn Nhân) Ba nơi trên đều được Trung ương Hội Văn Nghệ dân gian Việt Nam công nhận là Địa chí Văn Nghệ dân gian Đồng thời phong danh hiệu cho các bậc nghệ nhân này Các làng nghề truyền thống như: Khảm trai sơn mài Chuyên
Mỹ, Giầy da Phú Yên, Cỏ tế Phú Túc, mộc Tân Dân, may Vân Từ
Phú Xuyên thực sự xứng danh là một vùng Văn hóa đậm đà góp thêm phần làm phong phú đa dạng vào sự phát triển văn hóa của đất nước
1.2.2 Các giá trị lịch sử
Làng nghề truyền thống huyện Phú Xuyên
Từ năm 2011, huyện Phú Xuyên chọn ngày 26/10 hằng năm là ngày vinh danh làng nghề của huyện, từ đó đến nay Lễ hội đã tổ chức thành công 5 lần (2 năm quy
mô cấp huyện, 3 năm quy mô cấp xã) Năm 2017, Lễ hội tiếp tục được tổ chức quy
mô cấp huyện
Sở dĩ huyện thường niên tổ chức Lễ hội vinh danh làng nghề là nhằm tri ân những bậc tiền nhân đã có công truyền nghề Khuyến khích sự phát triển và tạo cơ hội để quảng bá, tiếp thị, mở rộng thị trường, xây dựng thương hiệu sản phẩm của làng nghề; Biểu dương, khen thưởng, động viên, ghi nhận các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện có thành tích trong việc đóng góp lữu giữ, xây dựng, phát triển nghề, làng nghề Bên cạnh đó, Lễ hội còn khẳng định vai trò, vị trí của làng nghề đối với
sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, xây dựng nông thôn mới của huyện Đồng thời củng cố, nâng cao giá trị văn hóa, lịch sử của các làng nghề và vị thế mảnh đất, con người Phú Xuyên
“Đồng thời với 101 di tích văn hóa được các cấp công nhận và xếp hạng, đình thôn Giẽ Hạ (Kiến trúc đời Lê Chính Hòa – 1686) đã được xếp hạng cấp quốc gia Theo Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng đã ghi trong cuốn "Theo dòng lịch sử” NXB -VHTT-Hà Nội-1999 tại trang 374 rằng: "Đình Giẽ Hạ cực kỳ hoành tráng và hiếm quý Một trong mười ngôi đình còn sót lại đến nay" Rồi bia chùa Diên Phúc,
4 bia đá thời Lê ở cổng đình Giẽ Hạ, trong đó có bia Lê Phúc Thái - 1647 - đứng
Trang 31trên lưng rùa, giống như 82 bia đá ở Văn Miếu - đã được UNESCO công nhận là di sản Văn hóa thế giới”.[26]
“Đình Mai Xá ở xã Quang Lãng, Phú Xuyên Hà Nội thờ Lục vị đại vương, họ Nguyễn tên Vật, Lôi, Quảng, Quán, Linh, Lặc công giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân”.[40]
“Đình Sảo Thượng ở xã Quang Lãng, Phú Xuyên [40] Hà Nội thờ Nguyễn Vật
- hiệu Hiển Vật đại vương có công giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân Đặc biệt, Đạo quân của ông Nguyễn Vật đã tiến về Trường Châu đánh thắng sứ quân Trần Hồ”
“Phú Xuyên còn là một trong những huyện có nhiều tướng nhất trong cả nước:
Có tới 9 vị tướng trong một huyện Đó là: Thượng tướng Phùng Thế Tài, Trung tướng Nguyễn Phúc Thanh, Trung tướng Nguyễn Đức Soát, Trung tướng Nguyễn Đức Sơn, Thiếu tướng Nguyễn Đình Ngọc, Thiếu tướng Hoàng Văn Hoặc, Thiếu tướng Mai Văn Lý, Thiếu tướng Phùng Thế Quảng và Thiếu tướng Nguyễn Kim Cách Cựu phó thủ tướng Vũ Khoan, ông tổ nghề báo Nguyễn Văn Vĩnh ở Phượng Dực, Tiến sĩ Tạ Đăng Vọng, thủy tổ họ tạ ở Nam Quất Ông Lê bạch hồng,cựu thứ trưởng, Tổng giám đốc bảo hiểm Việt Nam quê ở làng Đào Xá”
1.2.3 Các giá trị kinh tế
Phú Xuyên là huyện có nhiều nghề và nhiều làng nghề truyền thống lâu đời Nhằm tôn vinh Tổ nghề, tri ân các bậc tiền nhân đã có công tạo dựng nghề và truyền nghề cho các thế hệ con cháu, từ năm 2011 huyện lấy ngày 26 tháng 10 hằng năm là “Ngày vinh danh làng nghề truyền thống huyện Phú Xuyên” Năm 2011,
2014, 2017 tổ chức Lễ hội vinh danh làng nghề truyền thống cấp huyện; năm 2012,
2013, 2016 tổ chức Lễ hội vinh danh làng nghề cấp xã (Khảm trai, sơn mài Chuyên
Mỹ, Da giầy Phú Yên, Cỏ tế Phú Túc) Toàn huyện có 156/156 làng, cụm dân cư có nghề, chiếm 100%, có 78 làng nghề được duy trì và phát triển mạnh; 40 làng nghề
đã được UBND thành phố Hà Nội công nhận làng nghề truyền thống Tiêu biểu là các làng nghề khảm trai (xã Chuyên Mỹ), mây tre đan (xã Phú Túc), chế biến lâm sản, nông sản, thực phẩm, dệt may (xã Vân Từ), cơ khí (thị trấn Phú Minh), dệt lưới chã (xã Quang Trung), da giầy (xã Phú Yên), đồ mộc (xã Văn Nhân, Tân Dân), sản
Trang 32xuất hương (xã Văn Hoàng), bánh kẹo (xã Hoàng Long) … Đứng thứ 3/30 quận, huyện của Thủ đô về số làng có nghề.[35]
“Số hộ sản xuất TTCN năm 2017: có 24.500 hộ; Số lao động sản xuất TTCN
là 39.939 chiếm 37,3 %; Giá trị sản xuất TTCN làng nghề ước đạt 4.550,00 tỷ đồng; Thu nhập bình quân của lao động làm nghề đạt 52 triệu đồng/năm Có 385 công ty, doanh nghiệp; 06 HTX công nghiệp; 08 tổ chức, quỹ tín dụng; 03 hiệp hội sản xuất, kinh doanh liên quan về sản xuất TTCN, làng nghề”.[35]
"Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của Phú Xuyên giai đoạn 2008 - 2017 đạt 5,36% năm Tổng giá trị sản xuất năm 2017 cao gấp 5,56 lần so với năm 2008,
cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực " - Chánh Văn phòng UBND huyện Phú Xuyên Trương Đại Dương.[32]
“Định hướng phát triển kinh tế của huyện Phú Xuyên theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Phú Xuyên lần thứ XXIII đã đề ra đó là: Cơ cấu kinh tế: CN-TTCN-
XD chiếm 40%; NN chiếm 26%; TM-DV chiếm 34% Thu ngân sách tăng 15% trở lên Xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá ổn định, bền vững, tạo nên giá trị sản xuất cao trên một ha canh tác để cung cấp lương thực, thực phẩm cho thành phố Tập trung xây dựng khu công nghiệp phụ trợ phía Nam Thủ đô Hà Nội với quy mô khoảng 500 ha, Phát triển tiểu thủ công nghiệp đặc biệt là các nghề truyền thống của địa phương để giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân”
1.3 Sự cần thiết phải bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội
* “ Các làng nghề ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội vẫn còn lưu giữ nhiều giá trị có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương ”
“Phú Xuyên được coi là một trong những mảnh đất vàng cho du lịch làng nghề, bởi nơi đây tập trung nhiều làng nghề nổi tiếng nhất của Hà Nội hiện nay Nhiều làng nghề được hình thành từ rất lâu đời, cách đây hàng vài trăm năm như: làng nghề khảm trai Chuyên Mỹ có từ thế kỷ XI; nặn Tò he ở Xuân La xã Phượng Dực có cách đây 300 năm; nghề đan cỏ tế ở xã Phú Túc ”
Trang 33“Các làng nghề ở huyện Phú Xuyên ngày càng phát triển cùng với sự phát triển công nghiệp hóa của đất nước đã tạo ra những giá trị kinh tế giúp cho người dân ở địa bàn huyện Phú Xuyên có công ăn việc làm giảm thiểu tình trạng thất nghiệp, các mặt hàng không những được trao đổi buôn bán trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài, bên cạnh những giá trị về kinh tế các làng nghề truyền thống huyện Phú Xuyên còn đem lại những giá trị văn hóa đặc trưng của làng nghề tạo nên sự phong phú, đa dạng góp phần thúc đẩy sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước”
Các làng nghề truyền thống ở huyện Phú xuyên đã góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung ở huyện Phú Xuyên Những năm gần đây, các làng nghề đã tạo
ra sản phẩm, mẫu mã đa dạng, mang đậm nét văn hóa riêng biệt, tìm được thị trường ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… Một số sản phẩm mây giang đan được xuất khẩu sang các nước trên thế giới như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản… Phát huy thế mạnh là huyện có nhiều làng nghề để quảng bá giới thiệu sản phẩm, mang lại hiệu quả kinh tế bền vững, thực hiện Nghị quyết Đảng bộ huyện khóa XXIV (nhiệm kỳ 2015 - 2020), Huyện ủy Phú Xuyên đã ban hành Chương trình số 05-CTr/HU về phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch giai đoạn 2015 -
2020 Từ đây, UBND huyện đã tích cực phối hợp với các sở, ngành triển khai xây dựng thương hiệu và tuyến du lịch cho các làng nghề "Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của Phú Xuyên giai đoạn 2008 - 2017 đạt 5,36% năm Tổng giá trị sản xuất năm 2017 cao gấp 5,56 lần so với năm 2008, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực “(Chánh Văn phòng UBND huyện Phú Xuyên Trương Đại Dương).[32]
“Tính đến nay, huyện có 156/156 làng, cụm dân cư làm nghề, chiếm 100%, có
78 làng nghề được duy trì và phát triển Trong đó, có 9 làng khảm trai, 10 làng đan
cỏ tế, 10 làng sản xuất đồ mộc, 12 làng may mặc và làm giày; 40 thôn được TP công nhận làng nghề; 497 công ty, DN, 6 HTX công nghiệp, 3 hiệp hội hoạt động sản xuất, kinh doanh liên quan đến sản xuất tiểu thủ công nghiệp (TTCN), làng nghề Hiện, toàn huyện có 24.500 hộ sản xuất TTCN, với 39.939 lao động, chiếm 37,3% Giá trị sản xuất TTCN làng nghề ước đạt 4.550 tỷ đồng, thu nhập bình quân lao động làm nghề đạt 52 triệu đồng/năm Hoạt động sản xuất, kinh doanh của các
Trang 34DN, làng nghề ngày một phát triển góp phần giải quyết việc làm, thúc đẩy phát triển kinh tế.” [35]
“Cùng với quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế là quá trình phát huy thế mạnh
du lịch Trưởng phòng Kinh tế huyện Phú Xuyên Nguyễn Hữu Chi phấn khởi cho biết: Thời gian qua, sản xuất công nghiệp - xây dựng từng bước tăng trưởng mạnh
mẽ, tỷ trọng ngành trong cơ cấu kinh tế tăng từ 51% năm 2008 lên 66,05% năm
2017 Tính đến giữa năm 2018, số làng nghề của huyện tăng 32 làng so với năm
2008 Trong đó, số làng được công nhận làng nghề truyền thống tăng từ 37 làng năm 2008 lên 43 làng năm 2018 Số lượng làng nghề ngày một tăng đã giúp giải quyết việc làm cho lao động trong các làng nghề và vùng phụ cận Nhờ có làng nghề, đời sống Nhân dân được cải thiện, đẩy lùi số hộ nghèo, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội.”[32]
Chủ tịch UBND huyện Phú Xuyên Nguyễn Ngọc Sơn chia sẻ, thời gian qua, UBND huyện cùng các cơ quan, Doanh nghiệp gấp rút hoàn thiện đưa vào hoạt động khu công nghiệp hỗ trợ Nam Hà Nội rộng gần 80ha và 3 cụm công nghiệp làng nghề xã Đại Thắng, Phú Túc, Phú Yên Cùng với đó, 11 xã đã bố trí được 227,78ha đất để quy hoạch thêm 19 cụm công nghiệp làng nghề Đây được coi là tiền đề quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế và du lịch làng nghề “Nhờ có sự quan tâm của thành phố và huyện trong việc đầu tư vào du lịch làng nghề giúp số lượng khách du lịch đến tham quan, mua sắm tại làng nghề ngày một tăng Từ năm 2016 đến nay, toàn huyện đã thu hút trên 300 đoàn khách trong và ngoài nước với gần 6.000 lượt người đến tham quan, mua sắm các sản phẩm làng nghề”.[32]
“Bên cạnh đó các làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên còn góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ở nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo: Người nông dân tham gia sản xuất nông nghiệp thường theo mùa
vụ nên thường xuyên có những thời gian nhàn rỗi dẫn đến dư thừa sức lao động Trong lúc nhàn rỗi, người nông dân có thể tham gia vào sản xuất các sản phẩm truyền thống Không những sức lao động sẽ được sử dụng triệt để mà việc sản xuất còn tăng thu nhập cho các hộ gia đình, đảm bảo cuộc sống Đặc biệt, các ngành
Trang 35nghề truyền thống không kén chọn nên có thể sử dụng lao động với độ tuổi rất phong phú Có thể là người già, trẻ em và cả người khuyết tật Chính vì thế, làng nghề truyền thống đã, đang và sẽ giải quyết vấn đề việc làm cho rất nhiều người, giảm bớt gánh nặng cho nhà nước”
Bên cạnh việc thúc đẩy kinh tế phát triển thì cùng với đó là sự phát triển của văn hóa, xã hội “Theo Bà Phạm Hải Hoa - Bí thư Huyện ủy Phú Xuyên: Năm
2017, với sự quyết liệt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành, huyện Phú Xuyên đã đạt được những kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội Tổng giá trị sản xuất đạt trên 8.000 tỷ đồng (bằng 102,1% kế hoạch đề ra); Trong đó: Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản là 1.604,3 tỷ đồng (đạt 100,5% kế hoạch, tăng 3,16% so với năm 2016) Giá trị sản xuất Công nghiệp - Xây dựng 4.861,4 tỷ đồng (đạt 102,2% kế hoạch, tăng 9% so với năm 2016) Giá trị sản xuất Thương mại - Dịch vụ là 1560.01 tỷ đồng (đạt 103,7% kế hoạch, tăng 7,8% so với năm 2016) Tốc
độ tăng trưởng kinh tế cả năm đạt 7,2%, vượt kế hoạch đề ra (từ 6,5-7,0%).”[37]
“Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tính đến ngày 30/11/2017 là: 172 tỷ đồng (đạt 162% so với dự toán thành phố Hà Nội giao 172/106 tỷ đồng; đạt 107,5%
so với dự toán HĐND huyện giao 172/160 tỷ đồng) Trong năm 2017, trên địa bàn huyện Phú Xuyên có 5 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; Có 7 trường công lập đạt chuẩn quốc gia và có 04 xã hoàn thành Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Đời sống văn hóa xã hội của người dân được đáp ứng và ngày càng được nâng cao.” [37]
* Việc bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội góp phần quan trọng vào công tác bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống ở nước ta nói chung Từ đó, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc
“Đánh giá về tiềm năng phát triển du lịch làng nghề ở huyện Phú Xuyên, ông Nguyễn Xuân Hoản - đại diện Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Nội - cho biết: “Việc phát triển du lịch làng nghề sẽ khai thác được giá trị văn hoá của nghề, làng nghề và
Trang 36hỗ trợ phát triển sản xuất, quảng bá thương hiệu, tăng cường khả năng tiêu thụ sản phẩm theo hướng “xuất khẩu tại chỗ”thông qua chào bán sản phẩm cho khách du lịch đến địa phương”.[38] Và rõ ràng, trên thực tế, các làng nghề ở Phú Xuyên ngoài các sản phẩm truyền thống, còn có rất nhiều tiềm năng về du lịch gắn liền với giá trị về cảnh quan, sinh thái, di tích văn hoá đình, chùa, ẩm thực…và các làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên không những đem lại những giá trị văn hóa lịch sử mà còn mang lại những giá trị kinh tế nhằm phát triển kinh tế làng nghề góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước.”
“Phát huy các giá trị làng nghề truyền thống kết hợp với mở rộng giao lưu văn hóa đã làm giàu thêm bản sắc văn hóa và làm thăng hoa giá trị văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa.”
“Từ xưa đến nay không có nền văn hóa nào tự thân phát triển bằng sự “đóng kín” mà muốn phát triển phải luôn được bồi đắp bởi nhiều nền văn hóa khác Vì vậy, việc giao lưu, mở rộng văn hóa đã làm giàu thêm bản sắc văn hóa, đồng thời làm thăng hoa và lan tỏa văn hóa của mình đến khắp nơi luôn là khuynh hướng của mọi cộng đồng, mọi dân tộc, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.”
* Các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội hiện nay đang có nguy cơ bị mai một do tác động của nền kinh tế thị trường và
do việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang bùng nổ, với sự mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại sự đa dạng sản phẩm của các làng nghề truyền thống của huyện Phú Xuyên không chỉ buôn bán trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài
và chịu sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường
“Tuy nhiên ngày nay, việc giữ được những nghề truyền thống là vô cùng khó khăn, khi có thầy giỏi, nhưng trò lại hiếm, và để có thể học nghề rồi trở thành một nghệ nhân còn là một con đường dài hơn nữa Nhiều nghề truyền thống đang dần bị mai một, nhiều làng nghề truyền thống dần bị mất đi, hoạt động đơn lẻ Nó kéo theo việc mất đi giá trị kinh tế có đóng góp không nhỏ trong sự phát triển kinh tế đất
Trang 37nước, trong việc quảng bá hình ảnh của Việt Nam bởi mảnh đất vàng cho du lịch làng nghề truyền thống huyện Phú Xuyên một trong những nét đẹp truyền thống, văn hóa truyền thống của người Việt Vì vậy, việc tìm biện pháp để bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống là cần thiết…”
“Trong thời kì hội nhập quốc tế, chuyển dần sang nền kinh tế thị trường, công nghiệp hóa hiện đại hóa, các làng nghề truyền thống đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thử thách Có hai nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này Nguyên nhân khách quan là do sản phẩm làng nghề làm ra không có thị trường tiêu thụ Thay vì sử dụng những sản phẩm thủ công, khách hàng sẽ ưu tiên lựa chọn những sản phẩm công nghiệp có giá thành rẻ và nhiều mẫu mã hơn Nguyên nhân chủ quan phát triển từ chính bên trong các làng nghề truyền thống Số thợ làng nghề, các nghệ nhân đã ở tuổi “xưa nay hiếm”, còn lớp trẻ chưa thật sự có tình yêu với nghề truyền thống Chính vì vậy, trước biến cố của thời gian, nhiều làng nghề đang có nguy cơ
bị xóa sổ Ví dụ như làng nghề khảm trai truyền thống xã chuyên mỹ đặc biệt là ở thôn Thượng phát triển mạnh mẽ làng nghề trong giai đoạn năm 2002 đến năm
2010 trong thôn chiếm đến hơn 95% hộ gia đình làm nghề khảm trai truyền thống, Tuy nhiên trong giai đoạn mấy năm gần đây từ năm 2015 đến năm 2019 thì trong thôn đã giảm đi số lượng hộ gia đình làm nghề truyền thống chỉ còn đến 70% Tiếp đến là làng nghề đan võng thôn Thao Nội đã giảm từ 90% hộ gia đình theo nghề xuống còn 65% Làng nghề đan tơ lưới thôn Thao Ngoại cũng giảm đáng kể và không còn phát triển mạnh.”
“Một số làng nghề truyền thống cần được tạo điều kiện để góp phần bảo tồn và phát triển như: Làng nghề đan võng thôn Thao Nội (xã Sơn Hà, huyện Phú Xuyên); Làng nghề đan tơ lưới thôn Thao Ngoại (xã Sơn Hà, huyện Phú Xuyên); Làng nghề đan guột tế thôn Trung Lập (xã Trí Trung, huyện Phú Xuyên); Làng nghề thêu Đại Đồng (Thị trấn Phú Xuyên, huyện Phú Xuyên), làng nghề khảm trai truyền thống (thôn ngọ, xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên)…”
“Nhà nước, chính quyền địa phương cần phải có những biện pháp hỗ trợ để quy hoạch và phát triển làng nghề Bên cạnh đó, chính bản thân các làng nghề cần
Trang 38phải có những bước thay đổi về mẫu mã, tích cực quảng bá thương hiệu,…để giúp làng nghề tồn tại trong thời kì đổi mới và cả sau này.”
1.4 Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội
1.4.1 Các văn bản, chính sách đối với hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống
“Chính sách của nhà nước ảnh hưởng lớn tới sự tồn tại phát triển của làng nghề Trong một thời gian dài trước đây (mà chúng ta thường gọi trước đổi mới), chúng ta phủ nhận các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Chính vì vậy hoạt động sản xuất kinh doanh trong làng nghề đều là hợp tác, tập thể với chế độ ăn chia quân bình cho các lao động khoẻ, yếu già trẻ, làm nhiều, ít, tích cức hay không tích cực đều ngang nhau Trên thực tế chính sách này không kích thích được sự phát triển kinh tế nói chung và kinh tế làng nghề nói riêng Nhận thấy những hạn chế trong đường lối chính sách phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện công cuộc đổi mới mà quan trọng nhất là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Trong sự đổi mới này Đảng và Nhà nước ta đã thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh
tế (như kinh tế hộ, kinh tế tư nhân ) Chính sách kinh tế mới đã phù hợp với mong muốn của nhân dân và thời kỳ mới nên đã thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế Các làng nghề có điều kiện thuận lợi để khôi phục và phát triển.”
“Từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), đặc biệt sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1988) với chính sách kinh tế nhiều thành phần, hộ gia đình được công nhận là chủ thể kinh tế thì các làng nghề phát triển mạnh mẽ.”
“Sau những năm 1990, mô hình kinh tế thị trường và chính sách mở cửa, đặc biệt quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo điều kiện mở rộng thị trường cho làng nghề, đồng thời còn làm cho làng nghề phải cạnh tranh với nhiều loại sản phẩm trên thị trường.”
“Nhờ có các văn bản chính sách của Nhà nước về hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống huyện Phú Xuyên đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ở nông thôn, góp phần xóa đói giảm
Trang 39nghèo: người nông dân có thể tham gia vào sản xuất các sản phẩm truyền thống Không những sức lao động sẽ được sử dụng triệt để mà việc sản xuất còn tăng thu nhập cho các hộ gia đình, đảm bảo cuộc sống Đặc biệt, các ngành nghề truyền thống không kén chọn nên có thể sử dụng lao động với độ tuổi rất phong phú Có thể là người già, trẻ em và cả người khuyết tật Chính vì thế, làng nghề truyền thống
đã, đang và sẽ giải quyết vấn đề việc làm cho rất nhiều người, giảm bớt gánh nặng cho nhà nước đồng thời đời sống xã hội của người dân được cải thiện và nâng cao cũng góp phần thúc đẩy hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống trong huyện.”
1.4.2 Sự nhận thức và trình độ tay nghề của con người tham gia vào quá trình sản xuất ở các làng nghề truyền thống
Các làng nghề ở Phú Xuyên là kết hợp giữa làm ruộng với nghề thủ công lúc nông nhàn nhưng mỗi người thợ thủ công đều trân trọng giá trị làng nghề, họ luôn nhắc nhở con cháu phải sống chết với nghề, vì với họ nghề của mình như hơi thở, như một nét truyền thống văn hóa không thể nào thiếu Dù đã có những lúc trong lịch sử, do những biến động xã hội mà nghề phải trải qua những thăng trầm biến cố tưởng như không thể gượng nổi nhưng với lòng yêu nghề, những người thợ thủ công làng nghề Phú Xuyên đã gìn giữ được nét văn hóa làng nghề cho đến tận ngày nay, điều này thể hiện rõ nhất thông qua lịch sử trăm năm tồn tại và phát triển của các làng nghề nơi đây Trân trọng các giá trị làng nghề còn được thể hiện ở việc người dân huyện Phú Xuyên từ lâu đời đã có những thiết chế tôn vinh các nghệ nhân trong làng có công lưu giữ và truyền dạy những bí quyết nghề gia truyền bằng hình thức ghi công vào gia phả của làng nghề
Ứng xử của những người làm nghề tại Phú Xuyên với xã hội đầu tiên được thể hiện ở chữ tín trong kinh doanh Dân ta có câu: “Một lần bất tín, vạn lần bất tin” Ví
dụ như hương ước của làng nghề mây tre đan Phú Túc ghi rõ: Người nào làm đồ giả
để lừa người khác, gây sự bất tín thì phải phạt thật nặng, đem đánh đòn và xóa tên khỏi phường nghề Điều này chứng tỏ chữ tín luôn được dân làng nghề Phú Túc nói riêng cũng như các làng nghề ở huyện Phú Xuyên rất coi trọng, nhưng chữ tín của
Trang 40người thợ thủ công không chỉ dừng lại ở sự coi trọng mà còn chính là đạo đức nghề nghiệp và trình độ của người thợ
Chữ tín cũng như trình độ tay nghề đối với người dân làng nghề được đánh giá qua chất lượng sản phẩm, bởi thời gian giao hàng, quan hệ khách hàng, bạn hàng, quan hệ giữa một bên là cung cấp nguyên nhiên liệu, một bên là người sản xuất và những người làm thuê Tất cả những yếu tố này được thể hiện rõ nhất qua số lượng sản phẩm tiêu thụ và chất lượng sản phẩm Số lượng sản phẩm bao nhiêu và chất lượng sản phẩm bao nhiêu thể hiện uy tín của làng Muốn giữ uy tín thì phải có sản phẩm tốt, muốn làm được như vậy thì người thợ thủ công phải tỉ mẩn trong từng công đoạn, từ việc chọn lựa nguyên liệu cho đến khâu thành phẩm Chính vì vậy trong làm ăn thì chữ tín được đặt lên hàng đầu, chữ tín nó thể hiện ở trình độ nhận thức của người làm nghề cao hay thấp và nó cũng thể hiện một phần trình độ tay nghề của người nghệ nhân và hai yếu tố này cũng góp phần thúc đẩy quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên
1.4.3 Chất lượng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và lưu thông các sản phẩm ở làng nghề truyền thống
“Cơ sở hạ tầng ở các làng nghề nói riêng còn nghèo nàn, có nhiều cản trở sự phát triển các làng nghề Mặc dù hiện nay hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, hệ thống điện phần nào đáp ứng được nhu cầu cho các làng nghề tuy nhiên đang còn nhiều bất cập, giao thông còn khó khăn, ách tắc do vậy việc giao lưu kinh tế phát triển, thị trường tiêu thụ sản phẩm không chỉ ở địa phương mà còn vươn tới thị trường gặp nhiều cản trở hơn nữa nguồn nguyên liệu phải vận chuyển từ các nơi xa
về thì hệ thống giao thông quyết định trực tiếp chi phí hạ giá thành.”
“Hệ thống cung cấp điện nước tốt, giá rẻ không qua các đơn vị quản lý trung gian, sẽ giúp làng nghề sản xuất liên tục, giảm chi phí, tăng năng suất, đảm bảo chất lượng sản phẩm Tiếp theo, hệ thống dịch vụ thông tin tốt sẽ giúp các cơ sở sản xuất kinh doanh trong làng nghề nắm bắt kịp thời những thông tin về nhu cầu, giá cả, mẫu mã, chất lượng, thị hiếu để có sự điều chỉnh kịp thời nhanh nhạy, đáp ứng yêu cầu thị trường Khi chất lượng cơ sở hạ tầng được cải thiện và nâng cao thì mọi