PHƯƠNG PHÁP SO SÁNH LỊCH ĐẠI PP so sánh lịch đại NTGiáp gọi là pp lịch sử so sánh: Diachronico-comparative method • Khác với PP so sánh - lịch sử ở chỗ mục tiêu của nó là sự phát triể
Trang 1PHƯƠNG PHÁP SO SÁNH LỊCH ĐẠI
PP so sánh lịch đại (NTGiáp gọi là pp lịch sử so
sánh: Diachronico-comparative method)
• Khác với PP so sánh - lịch sử ở chỗ mục tiêu
của nó là sự phát triển lịch sử của một ngôn
ngữ riêng biệt với những quy luật bên trong và bên ngoài của nó
==> thực chất những vấn đề thuộc về PP so sánh vẫn có thể vận dụng, tuy nhiên, cần quan tâm đến một số khác biệt
Trang 21 Thủ pháp phục nguyên bên trong
• Căn cứ vào đặc điểm ngữ âm, ngữ pháp
• Dữ liệu có thể là văn bia, bản thảo, tài liệu cổ
• Có thể đặt ra và chứng minh cho một giả định:
Chúng ta phát hiện những ngoại lệ đối với một
mô hình nào đó có trong NN ta đang xét
Giả định rằng trước đây những ngoại lệ ấy là hợp
lệ Chúng ta xác định những thay đổi đã làm cho
nó trở nên ngoại lệ
==> Về bản chất, phục nguyên bên trong là thủ
pháp phân tích đồng đại một trạng thái NN để rút
ra kết luận lịch đại (NTG 162)
Trang 3• Các biểu hiện của NN thân thuộc chỉ được dùng để kiểm tra
Vd: NTG phương ngữ Bắc Trung bộ, thấy: *i > ây, ay;
*u > âu, au
chí - chấy ni - này
tru – trâu cụ - cậu
So với tiếng Mường: có lý, vì tiếng Mường:
chấy: chí này: ni trâu: tlu cậu: cũ
Tiếng Nghệ An:
cơn: cây chắn: cháy nghẹn: nghệ
==> giả thuyết: trong t.Việt cổ những từ này có phụ âm cuối Có lẽ đúng, vì trong t.Mường:
cây: câl cháy: chẳl mây: mầl nghệ: nghêl
Trang 42 Thủ pháp niên đại hóa
• Xác định thời gian tuyệt đối và tương đối cho các sự kiện NN
• Căn cứ vào các di chỉ văn tự, tài liệu cổ >
phát hiện, miêu tả
• Có thể sử dụng thủ pháp ngữ thời học
Trang 53 Thủ pháp phân tích lịch sử cấu tạo từ
• Có thể sử dụng cách phân tích về mặt cấu tạo
từ để giải thích các hiện tượng tiếng Việt;
chẳng hạn:
con – non; giết - chết; bồ nông, bồ câu;
nhền nhện, cày - cày, bừa - bừa, v.v
đặt giả thuyết
• Hai căn cứ:
– Phụ tố cấu tạo từ
– Xu hướng đơn tiết hóa:
• Rụng yếu tố nằm ngoài âm tiết điển hình
• Âm tiết hóa
Trang 6• Tiếng Nam Á cổ còn dấu vết:
par (bay) - pnar (ná) kol (thắt nút) - knol (nút)
Tiếng Khmú:
(i) rn: kep (nhổ lông) – krnep (cái kẹp, nhíp);
pơơy (quạt) – prnơơy (cái quạt)
(ii) r: klơm (khiêng trên vai) – krlơm (đòn khiêng)
cmool (chọc lỗ trồng cây) – crmool (gậy chọc lỗ)
(iii) n: jriayh (chải tóc) – cndriayh (cái lược)
prak (đặt, để) – prndrak (kệ, giá)
Ferlus: t.Việt: đan - nan ; chêm – nêm; chọc – nọc; kẹp –
nẹp; đắp – nắp; đút – nút; đeo – neo
dấu vết trung tố
Trang 7• Tk 17, t.Việt còn nhóm phụ âm /bl/, /tl/, ml/
• Tiền thân /bl/,/tl/ là /kl/ (còn trong t.Mường (klống – trống, Nôm: cự lống)
• Ở Tđ A de Rohdes /bl/ và /tl/ vẫn còn giá trị khu biệt:
– blỏ (bộ phận bí mật: lỗ) – tlỏ: (trỏ ngón tay)
– blai: (con trai) – tlai: (trai biển)
– blái: (trái tim, núi) – tlái (tay trái, trái lẽ)
• Cuối tk 17: /bl/ và /tl/ chuyển thành /tr/ ở Trung, Nam, và /gi/ ở Bắc:
– blời > trời, giời; blầu > trầu, giầu; blo > tro, gio
– blăng > trăng, giăng, tlai > trai, giai; tlâu > trâu
Có khi là rụng hậu tố:
– blàn > bàn; blám > bám (mực); blệt > bệt (ngồi)
Có khi là rụng tiền tố:
– tlíu tlo > líu lo; tlộn tlạo > lộn lạo; tlúc tlắc > lúc lắc
• /ml/ có biến thể /mnh/ (mlầm – mnhầm, mlẽ - mnhẽ); sau thành /nh/, /l/:
– mlời > nhời, lời; mnhầm > nhầm, lầm; mlớn > nhớn, lớn; mlẹn > nhẹn, lẹn
• Không xác định được thời điểm: tự (Hán) > chữ; tốt (cuối cùng) > chót
Trong chữ Nôm: /t/ cũng dùng ghi /ch/: tài: chài; tốt: chốt; tồn: chồn
Ss các t.Mường: tí – chí/chấy; tuồng – chuồng, tém – chém; tăng - chăng
Trang 83 Thủ pháp biểu đồ phương ngữ
• Đường đồng ngữ (isoglosses): đường vẽ chỉ ra ranh giới địa
lý mà một đặc trưng NN được sử dụng
• Rất ít đường đồng ngữ trùng nhau, dù chúng có thể đi chéo
ở tất cả các hướng
• Các đường đồng ngữ thường chạy theo cùng một hướng
• Một số vùng (vùng tiêu điểm: focal area) có ít đường
• Chỗ các vùng tiêu điểm hợp nhất có nhiều đường đồng
ngữ, thể hiện sự biến thiên về NN Chỗ này gọi là vùng
chuyển tiếp (transition area)
• Một đặc trưng có thể bị cô lập, nếu sự biến đổi tác động đến vùng chung quanh nó Vùng di tích (relic area) là vùng bảo tồn nhiều hình thái cổ
• Thường thấy: những đặc trưng của một vùng rộng lớn
thường cổ hơn những hiện tượng ở một vùng hẹp và
những hiện tượng ở vùng ven (dù có có nhiều từ vay mượn nhưng lại thường cổ hơn vùng trung tâm)
Trang 9• Theo Hoàng Thị Châu: nơi nào là cái nôi lịch sử dân tộc nơi ấy có nhiều thổ ngữ; nơi nào mới thì vắng mặt thổ ngữ
– Người ta thường dùng đường đồng ngữ để xác
định phương ngữ, nhưng các đường đồng ngữ
không trùng nhau:
-n/-ng và -t/-k từ Huế vào; nhưng hệ thanh điệu trầm (chuẩn cho miền Trung) lại gồm Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế
==> vùng Thừa Thiên - Huế vừa thuộc Nam, vừa thuộc Trung
– Có phương ngữ xem là biến thể, có phương ngữ không: hoa / oa / qua
Trang 10– Phân tích 3 trường hợp tiêu biểu:
đun: (đẩy vào) - giữa nguyên nghĩa trong "đun củi, đun
rơm"; "đun củi nấu cơm"
"đun cơm" (nói gọn) ==> đun có nghĩa là nấu;
"đun cơm, đun nước" thì nghĩa "đẩy" mất đi, còn nghĩa mới là "nấu" , nghĩa "đẩy" chỉ còn là phương
ngữ
từ 1 nghĩa vị > 2 nghĩa vị > 1 nghĩa vị khác (bất biến thể - 2 biến thể - bất biến)
-eng, -ec, -oong, -ooc là hình thức cổ, giống Mường;
vẫn bảo lưu ở phương ngữ Bắc Trung bộ Vậy:
-anh, -ach, ong, -oc là biến đổi sau ở pn Bắc bộ, rồi
thâm nhập qua từ vựng vào Bắc Trung bộ
nhiều nơi còn giữa lại âm cổ, ở một số từ chỉ vật
dụng, nhưng từ mới thì không
Trang 11 Âm ŋ*-ng]
Âm cuối [- ŋ+ đi sau ư, â, a, ă là nguyên âm dòng giữa
Khi đi với I, ê, e dòng trước, [- ŋ+ nhích về phía trước do đồng hóa, trở thành âm mặt lưỡi - ngạc hóa [-ɲ+ chưa không còn là gốc lưỡi - ngạc nữa [-ŋ+
Khi đứng sau nguyên âm dòng sau tròn môi u, ô, o, [- ŋ+ biến
[~]: tlão, lão, cá bõu : trong, lòng, cá bống
PN Nam bộ và Nam Trung bộ chỉ có 2/3 biến thể trở thành
âm vị [-ng] [- ŋm], còn [- ɲ+ thì thành [-n] (mện lện, chứn trị)
==> [- ŋ+ có thể sau nguyên âm dòng trước, giữa, sau: (léng, weng, chéng, làng, koong, noóng)
• [- ŋ, - ŋm] đều có thể đi sau nguyên âm dòng sau tròn môi (ôn-ôông, ông-ôngm, con-koong, cong-congm), tức cùng
xuất hiện trong bối cảnh ngữ âm như nhau > không có thể phân bố bổ sung ==> 2 âm vị