Bài viết trình bày việc so sánh kết quả đo chiều dài làm việc của răng bằng máy định vị chóp với chiều dài tính toán (qua phim tia X) và chiều dài thật (đo bằng thước kẹp).
Trang 1SO SÁNH CHIỀU DÀI LÀM VIỆC ĐO BẰNG MÁY ĐỊNH VỊ CHÓP
VÀ CHIỀU DÀI CỦA RĂNG
Nguyễn Thị Hiền Ngân*, Phạm Văn Khoa**
TÓM TẮT
Mở đầu: Xác định chiều dài làm việc bằng máy định vị chóp đã trở nên phổ biến trên thế giới Tuy rằng, việc
chụp phim tia X để xác định chiều dài làm việc nội nha là phương pháp truyền thống nhưng chưa có nhiều nghiên cứu so sánh giữa phương pháp này và dùng máy định vị chóp
Mục tiêu: So sánh kết quả đo chiều dài làm việc của răng bằng máy định vị chóp với chiều dài tính toán (qua
phim tia X) và chiều dài thật (đo bằng thước kẹp)
Phương pháp: Chọn 20 răng cửa đã nhổ ở người, có chóp đã trưởng thành Mở tủy, lấy tủy và đo chiều dài
làm việc bằng máy định vị chóp Apex N.R.G (Medic NRG Ltd, Tel Aviv, Israel) với chân răng được đặt trong môi trường alginate Đo chiều dài răng bằng phim tia X với dụng cụ dũa K nằm bên trong ống tủy và theo nguyên tắc tam suất Đo chiều dài thật của răng bằng thước kẹp, với các mốc đo là từ rìa cắn đến chóp răng So sánh chiều dài làm việc đo bằng máy định vị chóp và chiều dài tính toán qua phim tia X với chiều dài của răng
thật đo bằng thước kẹp Xử lý thống kê bằng phép kiểm phi tham số Friedman và Wilcoxon
Kết quả: Có sự khác biệt có thống kê (p< 0,05) giữa trung bình chiều dài răng tính toán bằng phim tia X
(21,93 ± 1,83 mm) và trung bình chiều dài răng thật đo bằng thước kẹp (22,35 ± 1,805 mm) Trung bình chiều dài làm việc đo bằng máy định vị chóp (21,68 ± 1,88 mm) ngắn hơn trung bình chiều dài răng thật đo bằng thước kẹp (22,35 ± 1,805 mm) (p< 0,05) Trung bình sự khác biệt này là -0,675 ± 0,295 mm Trung bình chiều dài làm việc (21,93 ± 1,83 mm) ngắn hơn trung bình chiều dài răng tính toán bằng phim tia X (21,93 ± 1,83 mm) Trung bình
sự khác biệt này là -0,3 ± 0,39 mm
Kết luận: Chiều dài tính toán qua phim tia X đủ tin cậy về mặt lâm sàng nội nha Máy định vị chóp Apex
N.R.G có độ tin cậy cao trong việc xác định chiều dài làm việc
Từ khóa: máy định vị chóp, chiều dài ống tủy, chiều dài răng
ABSTRACT
COMPARISON OF WORKING LENGTHS MEASURED BY ELECTRONIC APEX LOCATOR AND
THE LENGTHS OF TEETH
Nguyen Thi Hien Ngan, Pham Van Khoa
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 171 - 176
Background: Electronic apex locators were used widely in working length determination Although the
determination of working length using X-ray was the conventional method but there were not many studies in comparison of this method with the electronic apex locator in working length determination
Objectives: Comparison of working lengths measured by electronic apex locator and computed lengths of
teeth (using radiographs) and the true lengths of teeth (using measure stick)
Methods: Twenty extracted human incisors that had matured apices were chosen These teeth were
accessed, pulps extirpated and measured the working lengths using electronic apex locator (Apex N.R.G)
* Bác sĩ RHM 2004-2010, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh
** Bộ Môn Chữa Răng – Nội Nha, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Trang 2while roots were inserted into alginate environment Lengths of teeth were computed using radiographs that had K-file inside the root canals with the rule of three True lengths of teeth were measured using measure stick, from incisal to the apex Compare the working lengths measured by electronic apex locator to lengths
of teeth measured using radiographs and to the true lengths of teeth measured using measure stick Friedman and Wilcoxon tests were used
Results: There were significant differences between average of radiography lengths (21.93 ± 1.83 mm) and
average of the true lengths measured by measure stick (22.35 ± 1.80 mm) (p < 0.05) Average of working lengths measured by electronic apex locator (21.68 ± 1.88 mm) was shorter than that of the true lengths of teeth measured
by measure stick (p < 0.05) Average of this difference was -0.675 ± 0.295 mm Average of working lengths was shorter than that of radiography lengths Average of this difference was -0.3 ± 0.39 mm
Conclusions: The radiography lengths of teeth were reliable as to clinical endodontic The electronic apex
locator Apex N.R.G was high reliability in endodontic working length determination
Key words: electronic apex locator, root canal length, length of tooth
MỞ ĐẦU
Trong điều trị nội nha, làm sạch và tạo dạng
ống tủy là một trong những giai đoạn quan
trọng nhất Bước quan trọng trong quá trình làm
sạch và tạo dạng là xác định chiều dài làm việc,
được định nghĩa là khoảng cách từ điểm mốc ở
thân răng tới một điểm mà việc tạo dạng và trám
bít ống tủy sẽ dừng tại đó Nếu không xác định
được chiều dài làm việc, ống tủy không được
làm sạch, tạo dạng và trám bít không đúng, dẫn
đến thất bại trong điều trị(2)
Xác định chiều dài làm việc bằng phương
pháp chụp phim tia X đã được sử dụng nhiều
năm Phim tia X cung cấp hình ảnh 2 chiều của
một cấu trúc 3 chiều, nó cung cấp thông tin về bề
rộng của ống tủy, độ cong của ống tủy, số lượng
chân răng và mối quan hệ giữa nhiều ống tủy
trong cùng một chân răng, sự hiện diện của bệnh
lý(3,7) Việc chụp phim tia X trước khi điều trị nội
nha là một việc làm cần thiết, được xem như là
một hướng dẫn ban đầu trong công việc điều trị
Nghiên cứu của Hembrough và cs (1993) đã
kết luận rằng phim tia X là không thể thiếu được
khi xác định chiều dài làm việc (dẫn theo
Gordon và cs(4)) Ingle(11) đã cho rằng phương
pháp xác định chiều dài làm việc bằng chụp
phim tia X là một trong những phương pháp
phổ biến và đáng tin cậy nhất Tuy nhiên, vẫn có
khó khăn để đạt đến sự chính xác đối với
phương pháp này; do điểm thắt chóp không thể thấy được trên phim tia X, tính biến đổi của kỹ thuật, góc chụp và sự phơi sáng của hình ảnh dễ dẫn đến những biến đổi của hình ảnh, từ đó dẫn đến sai lầm trong việc xác định lỗ chóp(8)
Xác định chiều dài làm việc bằng máy định
vị chóp ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới
và tại Việt Nam Độ chính xác và tin cậy của máy định vị chóp trong việc xác định chiều dài làm việc đã được đánh giá trên nhiều nghiên cứu, đa
số đánh giá cao độ chính xác và tin cậy của thiết
bị này Trong một số nghiên cứu thì độ chính xác của máy định vị chóp bị ảnh hưởng bởi điều kiện điện phân trong ống tủy, và ngoài ra máy định vị chóp không chính xác trong các trường hợp lỗ chóp mở rộng và ống tủy bị vôi hóa(11) Mặc dù độ chính xác của máy định vị chóp được đánh giá trên nhiều nghiên cứu, nhưng đa
số là các nghiên cứu so sánh giữa các loại máy định vị chóp khác nhau Chưa có nhiều nghiên cứu so sánh việc xác định chiều dài làm việc giữa máy định vị chóp và chụp phim tia X
Mục tiêu của nghiên cứu này bao gồm: xác định độ nhạy của máy định vị chóp, so sánh chiều dài làm việc của ống tủy xác định bằng máy định vị chóp với chiều dài của răng (tính toán qua phim tia X) và với chiều dài thật của răng đo bằng thước kẹp
Trang 3VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Thiết kế nghiên cứu
Thử nghiệm in vitro
Chọn 20 răng cửa giữa đã nhổ ở người, có
chóp răng đã trưởng thành Mở tủy bằng mũi
Martin số 2 và Endo Z (Dentsply, Maillefer,
Ballaigues, Switzerland) và lấy tủy bằng trâm
gai Điều chỉnh bờ cắn bằng mũi khoan kim
cương sao cho có điểm tham chiếu tốt và chắc
chắn cho việc đo chiều dài
Xác định độ nhạy của máy định vị chóp
Apex N.R.G:
Alginate (GC, Japan) được trộn đồng nhất
với tỷ lệ theo hướng dẫn của nhà sản xuất, cho
vào hộp nhựa đường kính 50mm, cao 25mm
Một đầu điện cực đặt trong alginate, đầu điện
cực còn lại nối với cây trâm số 15 Trên bề mặt
alginate, đặt một tấm phim kích thước 30mm X
30mm Đưa cây trâm trượt nhẹ từ bề mặt phim
đến khi tiếp xúc vào alginate Đánh giá độ nhạy
của máy là cao nếu đèn đỏ báo hiệu ngay khi cây
trâm vừa tiếp xúc với alginate
Hình 1 Mô hình thử nghiệm độ nhạy của máy
Tiến hành các phép đo
Đo chiều dài làm việc của ống tủy bằng máy
định vị chóp:
Tạo thiết bị định vị mẫu răng nhằm giúp
định vị răng trong môi trường alginate khi
tiến hành đo chiều dài làm việc bằng máy
định vị chóp Thiết bị này là một ống nhựa
hình trụ có đường kính 30 mm, cao 25 mm
bằng nhựa trong Một lượng vừa đủ alginate (GC, Japan) được pha theo chỉ dẫn của nhà sản xuất Alginate được cho vào thiết bị định
vị mẫu răng Đặt răng vào alginate chỉ để phần thân răng lộ trên bề mặt Giữ răng ở vị trí này cho đến khi alginate đông Thực hiện
đo chiều dài làm việc trong vòng 120 phút để đảm bảo alginate còn ẩm Bơm rửa ống tủy bằng dung dịch NaOCl 2,5% Dùng bông gòn thấm dung dịch còn dư trên bề mặt răng và dung dịch bị tràn Thấm khô buồng tủy, hút nước trong ống tủy bằng bơm tiêm Đặt một điện cực của máy định vị chóp Apex N.R.G trong alginate Điện cực còn lại được nối với dũa K số 15 Đưa dụng cụ dũa K số 15 nhẹ nhàng vào ống tủy cho đến khi máy định vị chóp sáng tại mức “Apex”, chứng tỏ đầu dụng
cụ đã đến lỗ chóp sinh học Đèn báo hiệu màu
đỏ sáng liên tục và không chớp trong vòng 5 giây, để đảm bảo đầu dụng cụ nằm ổn định tại
vị trí này Đặt nút chặn cao su tại vị trí tham chiếu đã xác định Đo chiều dài từ nút chặn cao su đến đầu dụng cụ, ta có chiều dài xác định bằng máy định vị chóp
Đo chiều dài răng thật bằng cách tính toán qua phim tia X
Đưa trâm K số 15 (Mani, Inc, Japan) vào ống tủy theo chiều dài ước lượng Chụp phim tia X bằng kỹ thuật song song (máy chụp phim lưu động APPARATUS, P 200D, Japan), dùng phim quanh chóp (CEADIC, E speed, size 2, Sweden) Theo nguyên tắc tam suất ta có lltrâm thật
trâm phim = llR thật
Rphim Từ
đó ta tính chiều dài răng trên phim (chiều dài tính toán)
Đo chiều dài răng thật bằng thước kẹp:
Dùng thước kẹp đo khoảng cách từ rìa cắn răng cửa đến chóp răng, ta có được chiều dài của răng thật đo bằng thước kẹp, với độ chính xác 0,1 mm
Xử lý thống kê bằng phép kiểm phi tham số
Friedman và Wilcoxon
Trang 4KẾT QUẢ
Qua 10 lần thử nghiệm độ nhạy của máy, cả
10 lần đèn đỏ đều báo hiệu ngay khi đầu trâm
vừa tiếp xúc với alginate
Kích thước trung bình của chiều dài làm việc
đo bằng máy định vị chóp, chiều dài răng đo
bằng phim tia X và chiều dài răng đo bằng thước
kẹp được trình bày trong Bảng 5
Bảng 5 Kích thước trung bình của chiều dài làm việc,
chiều dài răng đo bằng máy định vị chóp, phim tia X
và thước kẹp (mm)
Các chiều dài Trung
bình
Độ lệch chuẩn
Chiều dài làm việc đo bằng máy
Chiều dài răng đo bằng phim tia X 21,98 1,83
Chiều dài răng đo bằng thước kẹp 22,35 1,81
Độ lệch giữa các chiều dài làm việc đo bằng
máy định vị chóp, chiều dài răng đo bằng phim
tia X và chiều dài răng đo bằng thước kẹp được
trình bày trong Bảng 6
Bảng 6 Độ lệch giữa các chiều dài
Độ lệch Trung
bình
Độ lệch chuẩn
Chiều dài răng đo bằng phim tia X và
Chiều dài làm việc và chiều dài răng
Chiều dài làm việc và chiều dài răng
Kết quả xử lý thống kê sự khác biệt giữa các chiều
dài đo được trình bày trong Bảng 7
Bảng 7 Kết quả xử lý thống kê so sánh chiều dài đo
được qua các phép đo
Chiều dài làm việc
Chiều dài răng tính toán
Chiều dài răng thật đo
Chiều dài răng tính toán p = 0.014
Có sự khác biệt thống kê giữa chiều dài làm
việc đo bằng máy định vị chóp và chiều dài răng
tính toán bằng phim tia X (p< 0,05)
Có sự khác biệt thống kê giữa chiều dài làm
việc đo bằng máy định vị chóp và chiều dài răng
thật đo bằng thước kẹp (p< 0,01)
Có sự khác biệt thống kê giữa chiều dài răng tính toán qua phim tia X và chiều dài răng thật
đo bằng thước kẹp (p<0,05)
BÀN LUẬN
Các nghiên cứu trên máy định vị chóp đã được thực hiện nhiều trên thế giới, tuy nhiên đa
số là các nghiên cứu đánh giá về độ chính xác của máy định vị chóp trong việc xác định chiều dài làm việc, chưa có nghiên cứu nào thực hiện đánh giá về độ nhạy của máy định vị chóp Trong nghiên cứu này, thay vì dùng cây trâm đưa và ống tủy để tiến hành đo đạc, chúng tôi để cây trâm bên ngoài ống tủy nhằm mục đích thử nghiệm độ nhạy của máy Và kết quả cho thấy, ngay khi đầu trâm tiếp xúc với alginate, đèn đỏ của máy báo hiệu ngay Qua 10 lần thử nghiệm, kết quả vẫn không thay đổi Chứng tỏ máy định vị chóp Apex N.R.G có độ nhạy cao trong việc xác định chiều dài làm việc Trong một số nghiên cứu, sau khi chụp phim tia X, phim thường được quét lên máy vi tính và
sử dụng phần mềm để đo đạc(6) Trong nghiên cứu của chúng tôi, với mong muốn thực hiện ở điều kiện gần với lâm sàng nhất, chúng tôi dùng thước nội nha để tiến hành đo đạc
Một số nghiên cứu trước đây sử dụng thiết
bị định vị răng phức tạp, chụp phim theo nhiều góc độ ngang khác nhau để tính chiều dài ống tuỷ và xác định vị trí mong muốn của đầu dụng
cụ đối với chóp răng trên phim tia X(9,10) Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi sử dụng nguyên tắc tam suất để tính chiều dài răng Đây
là một phương pháp tương đối đơn giản và tiết kiệm thời gian mà lại được ứng dụng phổ biến
và lâu năm trong thực hành lâm sàng
Trong tài liệu chúng tôi thu thập được, lỗ chóp răng không phải lúc nào cũng nằm ngay tại chóp răng mà có khi nằm một bên của chóp răng Theo Dummer và cs (1984) khoảng cách từ
lỗ chóp đến chóp răng là 0,36mm; trong khi nghiên cứu của Kuttler (1955) thì khoảng cách này là 0,48 mm ở người già và là 0,6mm ở người trẻ (dẫn theo Gordon và cs(4)) Trong nghiên cứu
Trang 5của Martinez và cs vào năm 2001(9), độ chính xác
của phim tia X thông thường là 50,6% trong việc
xác định chiều dài làm việc
Trong nghiên cứu của Shanmugarai và cs
vào năm 2007(11), tuy cũng áp dụng phương pháp
chụp phim song song giống phương pháp của
chúng tôi, tuy nhiên họ cộng hoặc trừ trực tiếp
khoảng cách từ đầu dụng cụ đến chóp răng trên
phim tia X vào chiều dài trâm thật để xác định vị
trí mong muốn của đầu dụng cụ Kết quả cho
thấy phim tia X đạt độ chính xác 76,6% trong giới
hạn ± 0,5 mm khi xác định chiều dài làm việc
Kết quả mà chúng tôi thu được, có sự khác
biệt thống kê giữa chiều dài răng tính toán bằng
phim tia X và chiều dài răng thật đo bằng thước
kẹp (p= 0,004<0,05) Chiều dài răng tính toán
bằng phim tia X ngắn hơn chiều dài răng thật đo
bằng thước kẹp khoảng 0,375 ± 0,395 mm Kết
quả này khẳng định thêm kết quả nghiên cứu
của Dummer và Kuttler Từ đó cho phép nhận
thấy, chiều dài tính toán bằng phim tia X đủ mặt
tin cậy về lâm sàng thực hành nội nha
Như đã trình bày ở trên, chúng tôi mô
phỏng giống điều kiện lâm sàng khi dùng máy
định vị chóp đo chiều dài ống tủy bằng cách
đặt răng và một đầu điện cực vào trong môi
trường alginate Trong các nghiên cứu mà
chúng tôi tham khảo được, có nhiều môi
trường đượcc sử dụng trong các nghiên cứu in
vitro: dung dịch NaCl 0,9 %(6,7,9); alginate(1,8) …
Tuy nhiên trong nghiên cứu của Járcio và cs
(2007) về hiệu quả của các môi trường dẫn
điện trong các nghiên cứu in vitro về máy
định vị chóp, kết quả cho thấy alginate là môi
trường thuận lợi nhất cho nghiên cứu(5) Hơn
nữa, alginate lại là một vật liệu dễ kiếm và
thông dụng trong thực hành lâm sàng, vì thế
chúng tôi quyết định sử dụng vật liệu này làm
môi trường dẫn điện trong nghiên cứu
của mình
Trong nghiên cứu của Martínez và cs(9), các
tác giả đã dùng máy Apit EM-S3 locator (Osada
Electric Co Ltd, Tokyo, Japan), răng được đặt
trong dung dịch nước muối và lấy mốc lỗ chóp chân răng làm điểm tham chiếu, kết quả cho thấy máy định vị chóp đạt 67,8% độ chính xác trong giới hạn ± 0,5 mm
Trong nghiên cứu của Pratten và cs, các tác giả đã thực hiện trên răng của tử thi, máy định vị chóp sử dụng là máy Endex apex locator, dùng mốc tham chiếu là điểm thắt chóp Kết quả cho thấy máy định vị chóp đạt dộ chính xác đến 82% khi xác định điểm thắt chóp(10)
Năm 2008, Chopra và cs đã thực hiện nghiên cứu trên 10 răng người đã nhổ, lấy mốc tham chiếu là lỗ chóp chân răng và môi trường dẫn điện là alginate giống với nghiên cứu của chúng tôi, nhằm so sánh độ chính xác của 2 máy định vị chóp Raypex (VDW) và Neosono Co-pilot systems (SATALEC) Kết quả cho thấy độ tin cậy của máy Neosono Co-pilot là từ 80% đến 85%, còn đối với máy Raypex là từ 85% đến 90%(1) Nghiên cứu của Siu và cs (2009), cũng sử dụng máy định vị chóp Apex N R G nhưng dụng cụ đo là trâm Ni-Ti thì kết quả cho thấy máy Apex N.R.G đạt độ chính xác 46,43% khi xác định điểm thắt chóp nếu dùng trâm Ni-Ti quay tay(12)
Nghiên cứu của Kuttler (1955), Dummer và
cs (1984), Stein và Corcoran (1990) cho thấy khoảng cách từ điểm thắt chóp đến lỗ chóp là khoảng 0,5 mm ở người trẻ và 0,8 mm ở người già (dẫn theo Gordon và cs(4))
Nghiên cứu của chúng tôi không đánh giá
độ chính xác của máy định vị chóp qua việc đo khoảng cách từ đầu trâm đến lỗ chóp hay điểm thắt chóp, mà so sánh chiều dài làm việc của ống tủy đo bằng máy định vị chóp với chiều dài của răng tính toán bằng phim tia X Kết quả cho thấy
có sự khác biệt thống kê về chiều dài làm việc đo bằng máy định vị chóp với chiều dài răng tính toán bằng phim tia X (p=0,014<0,05) Trung bình
sự khác biệt là -0,3 ± 0,39 mm Kết quả này khẳng định thêm kết quả nghiên cứu của Kuttler (1955) (dẫn theo Gordon và cs(4)) Từ đó cho thấy, chiều dài làm việc của ống tủy xác định bằng máy định
Trang 6vị chóp có độ tin cậy chấp nhận được về mặt lâm
sàng nội nha
Tương tự như khi bàn luận về việc so sánh
chiều dài làm việc của ống tủy đo bằng máy
định vị chóp với chiều dài răng đo tính toán
bằng phim tia X, chúng tôi so sánh chiều dài làm
việc của ống tủy đo bằng máy định vị chóp với
chiều dài thật đo bằng thước kẹp Kết quả cho
thấy có sự khác biệt thống kê giữa chiều dài làm
việc của ống tủy đo bằng máy định vị chóp và
chiều dài răng thật đo bằng thước kẹp
(p=0,000<0,05) Trung bình sự khác biệt là -0,675
± 0,295 mm Tức là chiều dài làm việc ngắn hơn
chiều dài răng thật khoảng -0,675 ± 0,295 mm
Kết quả này khẳng định thêm kết quả của các
nghiên cứu trước đây và phù hợp với quan niệm
về chiều dài làm việc trong thực hành lâm sàng
nội nha
KẾT LUẬN
Chiều dài tính toán qua phim tia X đủ tin cậy
về mặt lâm sàng nội nha Máy định vị chóp
Apex N.R.G có độ tin cậy cao trong việc xác định
chiều dài làm việc
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Chopra V., Grover S., Datta P (2008) In vitro evaluation of the
accuracy of two electronic apex locators J Conserv Dent; 11:
82-85
2 Cohen S and Burn RC (1998) Pathway of the Pulp, 7th Editon,
Mosby
3 Dunlap C., Remeikis N., BeGole E., Rauschenberger C.(1998)
An invivo evaluation of an electronic apex locator that uses
the ratio method in vital and necrotic canals Journal of Endodontics; 24, 1:48-50
4 Gordon M., Chandler N P (2004) Review: Electronic apex locators International Endodontic Journal; 37, 425-437
5 Járcio V Baldi, Fausto R Victorino, Ricardo A Bernardes, Ivaldo G de Moraes, Clovis M Bramante, Roberto B Garcia, Norberti Bernardineli.(2007) Infuence of embedding media on the assessmenr of electronic apex locator Journal of Endodontics; 33, 4: 476-479
6 Krajczár K., Marada G., Gyulai G., Toth V (2008) Comparison
of radiographic and electronical working length determination on palatal and mesio-buccal root canals of extracted upper molars Oral Surg Oral Med Oral Pathol Oral Radiol Endod; 106:90-93
7 Leonardo M R, Silva L A B, Filho P Nelson, Silva R A B, Raffaini M G G (2008) Ex vivo evaluation of the accuracy of two electronic apex locators during root canal length determination in primary teeth International Endodontics Journal; 41:377-321
8 Lucena M, Robles G., Ferrer L., et al (2004) In vitro evaluation
of the accuracy of three electronic apex locator Journal of Endodontics; 30,4:231-233
9 Martinez L., Navarro L Forner, Cortes J L Sanchez, Puy C Liena (2001) Methodological considerations in the determination of working length International Endodontic Journal; 34, 371-376
10 Pratten D., MacDonald N J (1996) Comparision of radiographic and electronic working length Journal of Endodontics; 22, 4:173-176
11 Shanmugaraj M., Nivedha R., Mathan R., et al (2007) Evaluation of working length determination methods: An in vivo/ ex vivo study Indian J Dent Res; 18:60-62
12 Siu C., Gordon M., Craig B (2009) An in vivo comparison of the Root ZX, the Apex NRG XFR, and Mini Apex locator by using Nikel-Titanium files Journal of Endodontics; 35, 7:
962-965
Ngày nhận bài báo: 18/01/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 13/02/2016 Ngày bài báo được đăng: 25/03/2016