Thi pháp học nghiên cứu hệ thống các phương thức, phương tiện biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học.. Thi pháp học với tư cách là lí luận văn học nhưng khô
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thi pháp học là bộ môn khoa học xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ đại, gắn liền với tên tuổi của Aristote và cuốn Nghệ thuật thi ca của ông Thi pháp học là bộ môn lâu đời nhất
nghiên cứu văn học Nhưng phải đến đầu thế kỷ XX, nó mới thực sự trở thành một môn
khoa học được nhiều người biết đến Thi pháp học nghiên cứu hệ thống các phương thức, phương tiện biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học “Thi pháp học giúp ta công cụ để thâm nhập vào cấu trúc tác phẩm, cốt cách tư duy của tác giả cũng như nắm bắt mã văn hóa nghệ thuật của các tác giả và các thời kì văn học nghệ thuật, từ đó nâng cao năng lực cảm thụ tác phẩm” [9; tr 251] Ở Việt Nam, vấn đề Thi pháp học không còn mới mẻ nhất là sau thời kì đổi mới văn học năm 1986
Có thể nói rằng chỉ khi nào ta soi rọi tác phẩm dưới góc nhìn của thi pháp học thì khi ấy
ta mới nhận chân giá trị của một sáng tác văn học đích thực Qua đó, người tiếp nhận vănhọc nói chung có đủ cơ sở khách quan khoa học để nhìn nhận, cảm thụ, đánh giá tácphẩm dưới lăng kính chủ quan của mình, thi pháp học là “kim chỉ nam” trong nghiên cứuvăn chương Nắm vững thi pháp học là chúng ta đang cầm trong tay chiếc chìa khóa vạnnăng để mở mọi cánh cửa đi vào nghiên cứu văn chương Cần hiểu rằng thi pháp họcgiúp chúng ta khám phá một cách chính xác các cấu trúc hình thức mang tính nội dungcủa tác phẩm văn học, phục vụ cho việc tìm hiểu nội dung tác phẩm một cách đích thực,hoàn toàn không có sự gán ghép hoặc cảm nhận thiếu cơ sở
Đã có hàng trăm công trình nghiên cứu ngành khoa học Thi pháp học và có hơn vài trămnghìn bài viết tìm hiểu tác phẩm văn học dưới góc độ thi pháp học cả trong và ngoàinước Điều đó có tính biện chứng về vai trò to lớn của thi pháp học trong nghiên cứusáng tác văn chương Để cụ thể hóa những điều vừa nêu, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên
cứu tác phẩm “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam dựa trên những Hệ luận của Thi Pháp học với bài Tiểu luận: “Tiếp nhận truyện ngắn Hai đứa trẻ từ góc độ Thi pháp học”.
Hai đứa trẻ là truyện ngắn giàu tính nghệ thuật Tác giả đã rất tinh tế khi xử lí chất liệuhiện thực, lãng mạn Cách lựa chọn chất liệu này gần với Nam Cao, Nguyên Hồng, TôHoài (các nhà văn hiện thực giàu tính nhân đạo), lại kích thích người đọc bằng những ước
mơ, hoài bão tốt đẹp Tinh thần lãng mạn ấy gắn với các nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng,Hoàng Đạo Tất cả các chất liệu lãng mạn và hiện thực hòa quyện với nhau và được tổchức lại nhằm khơi dậy ở người đọc những cảm xúc nghệ thuật thuần khiết Nhà văn đưa
họ vào thế giới của ông, thôi miên họ, sau đó tự để họ ngẫm nghiệm và rút ra những bài
Trang 2học, ý nghĩa nhân sinh cần thiết Có thể nói Hai đứa trẻ là “một bài thơ trữ tình đầy xót thương” mà sức lan tỏa của nó còn vang vọng tới muôn thế hệ hôm nay và mai sau… Thạch lam có quan điểm về văn chương rất lành mạnh và tiến bộ "Văn chương không phải là sự thoát li hay lãng quên, văn chương là vũ khí thanh cao và đắc lực mà chúng ta
có Nó làm thay đổi xã hội giã dối và tàn ác Nó làm cho lòng người trong sạch và phong phú hơn" Khi đến với tác phẩm "Hai đứa trẻ", mỗi người có những hướng tiếp cận riêng.
Ở đây người viết chọn cho mình cách tiếp cận tác phẩm ở góc độ thi pháp hoc, với mongmuốn có được phương pháp tiếp nhận phù hợp và thưởng thức được vẻ đẹp toàn vẹn củatác phẩm văn học
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Truyện ngắn "Hai đứa trẻ" in trong tập "Nắng trong vườn" (1938).Truyện ngắn này có những nét đặc sắc nghệ thuật tiêu biểu cho phong cách của ThạchLam
Phạm vi nghiên cứu của đề tài “Tiếp nhận truyện ngắn Hai đứa trẻ từ góc độ Thi pháp học’ chỉ tập trung chủ yếu vào các phương diện của Thi pháp học, qua đó thể hiện tài
năng sáng tạo của tác giả
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích: để làm rõ những luận điểm được nêu trong tiểu luận
- Phương pháp chứng minh: để khẳng định vấn đề được nêu trong tiểu luận là đúng đắn
và có cơ sở thuyết phục
- Phương pháp tổng hợp: rút ra những nét chung mang tính khái quát, tiêu biểu về tácphẩm
- Vận dụng hướng nghiên cứu Thi pháp học, ngôn ngữ học vào phân tích tác phẩm
4 Cấu trúc tiểu luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tiểu luận gồm 2 chương, 10 tiết:
Chương 1: Những vấn đề chung Thi pháp và Thi pháp học
Chương 2: Thi pháp trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam
Trang 3PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THI PHÁP VÀ THI PHÁP HỌC
1.1 Về thuật ngữ “Thi pháp” và “Thi pháp học”
Từ thi pháp đã xuất hiện từ rất lâu, chúng ta có thể điểm qua một số công trình như sau:
Ở Trung Quốc, các học giả tử đời Tống trở đi thường nói tới thi pháp Nghiêm Vũ, ChuBật, Khương Quỳ, Ngụy Khánh Chi, Thẩm Đức Tiềm, Tiết Tuyết, Ông Phương Cươngđều nói tới thi pháp (Thế kỉ XIII có sách Thi pháp chính tông của Yết Khê Tư, thế kỉXVI có Thi pháp chính luận của Phó Nhược Kim) Tuy nội dung chưa bao quát như ngàynay nhưng nội hàm đã không thu hẹp chỉ là phép làm thơ, vận luật thơ như cách hiểu củaDương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu, mà bao hàm những nguyên tắc tạohình, cấu tứ, cốt cách
Vậy thi pháp ở đây được hiểu như thế nào? Chữ thi ở đây dùng để chỉ toàn bộ văn họcnói chung chứ không chỉ riêng về thơ Còn pháp là phương pháp, là phép tắc Như vậy,thi pháp ở đây có thể hiểu là những biện pháp, cách thức, phép tắc sáng tạo văn chương
Từ thuật ngữ thi pháp mà ta có thuật ngữ thi pháp học Thi pháp học là khoa học nghiêncứu về thi pháp
Thi pháp học với tư cách là lí luận văn học nhưng không đồng nhất với ngành lí luận vănhọc, bởi lí luận văn học nghiên cứu tất cả cá quy luật chung của hiện tượng văn học, cònthi pháp học chỉ nghiên cứu các nguyên tắc đặc thù tạo thành văn học như một nghệ thuật
mà thôi, phạm vi của nó thường đóng khung trong việc nghiên cứu tác phẩm, thể loại,phong cách, ngôn ngữ Thi pháp học với tư cách là khoa học ứng dụng cũng không đồngnhất với phê bình, phân tích tác phẩm cụ thể Bởi phê bình, phân tích có thể xuất phát từnhiều quan điểm, góc độ, đặc biệt là phát hiện, đánh giá nội dung, còn thi pháp họcnghiêng về phát hiện, đánh giá bản thân các quy luật hình thức
Tóm lại, có thể xác định rằng thi pháp học là một bộ phận chuyên biệt của nghiên cứuvăn học, chuyên nghiên cứu tính đặc thù các nguyên tắc nghệ thuật của văn học
1.2 Về khái niệm “Thi pháp” và “Thi pháp học”
Bàn về khái niệm thi pháp và thi pháp học, tính đến nay đã có rất nhiều công trình nghiêncứu trong và ngoài nước nói đến vấn đề này
Trước tiên, trong các công trình của các nhà nghiên cứu nước ngoài được coi là tiênphong trong lĩnh vực thi pháp như: Bàn về nghệ thuật thi ca (Aristot), Nghệ thuật thơ ca
Trang 4(Hôrax) cho đến Bàn về nghệ thuật thơ ca của Boalô, các nhà nghiên cứu đều có chungquan điểm khi nói thi pháp học là “thi pháp là tính đặc thù, tính nghệ thuật của vănchương” Đây là khái niệm mang tính chất truyền thống, nhất quán từ trước tới nay.Trong khái niệm này, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến tính đặc thù của nghệ thuật vănchương, nét cơ bản để phân biệt văn chương với các ngành nghệ thuật khác.
Còn đối với khái niệm thi pháp học, năm 1923, nhà nghiên cứu ngữ văn NgaV.Girmunski đã định nghĩa thi pháp học là “khoa học nghiên cứu văn chương với tư cách
là một nghệ thuật” Năm 1929, M.Bathtin tuyên bố nhiệm vụ của ông là “khám phá nhànghệ sĩ Đôstôievski trong sáng tác của Đôstôievski” Cả hai định nghĩa đều nổi bật vấn
đề nghệ thuật của tác phẩm văn chương Nếu văn chương thiếu đi tính nghệ thuật thìkhông còn gọi là văn chương và nếu viết văn chỉ là việc thể hiện suy nghĩ thành nhữngcon chữ thô kệch thì sẽ không có một nhà văn nào theo đúng nghĩa Cho nên, M.Bathtinnói rằng ông sẽ đi tìm một Đôstôievski trong tác phẩm là hoàn toàn đúng Đó là mộtĐôstôievski thứ hai, khác với Đôstôievski ngoài đời Bởi trong nghệ thuật, nhà văn khônghoàn toàn là chính mình
Trong quyển Lý luận và văn học- vấn đề và suy nghĩ, Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh nêu lênrằng: “Thi pháp là nghệ thuật thi ca, nói một cách chặt chẽ và khái quát hơn là hệ thốngnhững nguyên tắc chỉ đạo quá trình sáng tác và xây dựng tác phẩm văn học, bao gồmnhững nguyên tắc nhận thức và thể hiện cuộc sống một cách nghệ thuật theo qui luật củacái đẹp, qua việc lựa chọn đề tài, khai thác cốt truyện…” Trong định nghĩa này nhànghiên cứu nhấn mạnh nguyên tắc nhận thức và thể hiện cuộc sống một cách nghệ thuật,nghĩa là nhìn cuộc sống bằng đôi mắt của nghệ thuật Có như thế nhà văn mới tìm cáchthể hiện cuộc sống, thể hiện cái đẹp thông qua một nghệ thuật thích hợp Nhà văn khôngphát ngôn để mọi người biết được mà nhà văn thể hiện một cách gián tiếp qua lớp vỏngôn từ
Đỗ Đức Hiểu trong Đổi mới và phê bình văn học định nghĩa “Thi pháp là phương pháptiếp cận tức nghiên cứu phê bình văn học từ các hình thức biểu hiện bằng ngôn từ nghệthuật để tìm hiểu các ý nghĩa hiển hiện hoặc chìm ẩn của tác phẩm như: mỹ học, đạo đức,triết học…” Trong định nghĩa này, ta chú ý đến ngôn từ nghệ thuật Ngôn từ ở đây khôngphải là lời nói thông thường mà là ngôn từ nghệ thuật, nghĩa là ngôn từ được tạo nên từnhững phương thức nghệ thuật mà nhà văn sử dụng để tạo nên lời hay ý đẹp cho tácphẩm Thi pháp học chính là đi sâu nghiên cứu những phương thức đó để tìm đến cái haycái đẹp, cái ý nghĩa của nó
Trang 5Quyển Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp, Nguyễn Thị Dư Khánh quan niệm:
“Nói đến thi pháp chủ yếu là nói đến quá trình sáng tạo những hình thức nghệ thuật củatác phẩm, là nói đến những phương thức, phương tiện, những thao tác nghệ thuật của nhànghệ sĩ ngôn từ” Quan niệm này đề cập đến quá trình sáng tạo nghệ thuật, nghĩa là nhấnmạnh đến tính lịch sử của nghệ thuật Từ lúc xuất hiện, nung nấu ý tưởng đến việc lựachọn hình thức thể hiện sao cho chặt chẽ, hợp lí là cả một qua trình Vấn đề chủ yếu củathi pháp không phải là xem tác giả đề cập đến điều gì, nói cái gì mà là tìm hiểu xem tácgiả nói điều gì đó bằng cách nào, bằng hình thức ra sao Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa
về thi pháp học là “khoa học nghiên cứu về các hình thức nghệ thuật của tác phẩm để giải
mã các văn bản trong một hệ thống mang tính qui luật”
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử là một trong những người có nhiều công trình bàn về thipháp và thi pháp học Trong quyển Lý luận và phê bình văn học và Giáo trình Thi pháphọc, ta bắt gặp định nghĩa: “Thi pháp là hệ thống nghệ thuật của một tác phẩm văn học”
và “thi pháp học là bộ môn chuyên nghiên cứu các hệ thống nghệ thuật đó” Định nghĩa
đã nói đến vấn đề hệ thống của hình thức nghệ thuật bởi tác phẩm là một chỉnh thể cả vềnội dung lẫn hình thức Thế nên, nói đến thi pháp học không phải là nói đến một bộ mônnghiên cứu hình thức chủ nghĩa mà là nghiên cứu hình thức trong tính hệ thống, tức làhình thức mang nội dung, biểu đạt nội dung, truyền tải ý tưởng, cảm xúc của nhà văn Như vậy, thông qua các công trình nghiên cứu về thi pháp và thi pháp học trong và ngoàinước, ta có thể nhận thấy điểm gặp gỡ của các nhà nghiên cứu trong khi viết về vấn đềtrên là họ đều đề cập đến vấn đề hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn chương Song,mỗi người đều có cách lí giải khác nhau theo quan điểm của mình, khó mà tìm được mộtđịnh nghĩa duy nhất đúng về thi pháp và thi pháp học Tuy nhiên, định nghĩa của TrầnĐình Sử và Girmunski là một trong những định nghĩa cơ bản và dễ hiểu: “Thi pháp làtính đặc thù và các nguyên tắc nghệ thuật của văn học” và “thi pháp học là bộ mônnghiên cứu tất cả mọi phương diện của hình thức nghệ thuật, mọi nguyên tắc, phươngdiện tạo thành nghệ thuật cũng như sự vận động phát triển lịch sử của chúng” hay ngắngọn hơn là “thi pháp học là khoa học nghiên cứu văn chương với tư cách là một nghệthuật”
Tóm lại, có thể hiểu nhiệm vụ của thi pháp học là tìm ra cái lý của nghệ thuật Có thể lànhững tồn tại nghệ thuật của một thời đại, một trào lưu, một tác gia, một tác phẩm… haycũng có thể là những yếu tố nghệ thuật tạo thành tác phẩm như nhân vật, kết cấu, khônggian, thời gian, ngôn từ, chi tiết…
Trang 6CHƯƠNG 2: THI PHÁP TRONG TRUYỆN NGẮN
HAI ĐỨA TRẺ CỦA THẠCH LAM 2.1 Thi pháp nhân vật
Trong truyện “Hai đứa trẻ” nhà văn dụng ý xây dựng nhân vật là hai chị em Liên và An
cùng với những bọn trẻ trong khu phố nghèo Từ cách đặt tên nhân vật “Liên”, “An”,cách gọi tên nhân vật: bác Siêu, chị Tý, ông giáo, chị Thi, Cụ, Liên, An cũng mang nhiều
ý nghĩa “Hai đứa trẻ” (bọn trẻ) - là mầm sống của tương lai, là chủ nhân tương lai của
đất nước Đáng lẽ phải được sống trong sự thương yêu, che chở, đùm bọc của gia đình,của người lớn và của toàn xã hội; phải được hưởng những gì tốt đẹp nhất như: học tập,vui chơi, giải trí Nhưng ngược lại, hình tượng trẻ em trong tác phẩm của Thạch Lam thìhoàn toàn khác hẳn, thậm chí lại còn tệ hại hơn Trẻ em phải tự kiếm sống trong môitrường tối tâm, ẩm thấp và ô nhiễm của tiếng muỗi kêu vo ve, của gió lạnh về đêm, của
hơi đất âm ẩm, thời gian mà đáng lẽ phải được nghĩ ngơi “Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu vang ngoài đồng ruộng”, “muỗi bắt đầu vo ve”, “Một mùi âm
ấp bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc quá”, “ Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía”.
Tên “Liên” nghĩa là sự hồi tưởng, nhớ lại một thời vàng son của tuổi thơ với biết baohạnh phúc, mà nói đúng hơn là của tác giả chăng? Liên rất phù hợp với diễn biến củatruyện, mà như ta đã biết, trong truyện hai yếu tố đan xen vào nhau, hòa quyện vào nhau
đó là sự hồi tưởng về quá khứ và mơ ước đến tương lai tốt đẹp hiện lên trong đôi mắt,trong tâm tưởng của bọn trẻ Vậy là tên “An” lại được tác giả khéo léo vận dụng rất thànhcông và tên hai chị em trong tác phẩm gộp lại chẳng phải là: hồi tưởng về quá khứ tốt đẹpcủa dĩ vãng và mơ ước đến một tương lai bình an và hạnh phúc đó sao Quả thật khôngsai
Những con người xuất hiện trong tác phẩm là ai, là những người đều có tên, có tuổinhưng thân phận của họ thì như thế nào? Điều này ai cũng điều rõ Nhưng tại sao ThạchLam lại gọi họ rất thân mật và trân trọng đến thế: là bác, là chị, là ông, là cụ và thân mậthơn là Liên, An Chỉ thông qua cách gọi tên cũng đủ cho ta biết được tấm lòng nhân áibao la của tác giả Tác giả luôn trân trọng nâng niu và chia sẽ, cảm thông với họ, dù họ lànhững con người nghèo khổ Sự đồng cảm sâu sắc của tác giả
Tất cả câu chuyện chỉ xoay quanh tâm trạng của một cô gái tên Liên - nhân vật chínhtrong tác phẩm, và em cô tên là An Hình ảnh hai chị em Liên hầu như chẳng làm gì từlúc hoàng hôn buông xuống đến tận đêm khuya Nhưng cuộc sống nghèo nàn nơi phố
Trang 7huyện chỉ là cái nền để tác giả nói tới quan hệ giữa những người dân mộc mạc trong cảnhsống bình thường Cái tình người chân chất cứ nhẹ nhàng thấm sâu khắp thiên truyện, nótỏa ra trong mọi mối quan hệ: giữa chị em Liên với nhau; chị em Liên với những ngườixung quanh Người đọc cảm thấy ấm lòng trước tình thương và sự cảm thông của nhữngcon người nơi đây Khi miêu ta từng nhân vật, Thạch Lam không quan tâm đến ngoạihình, hành động mà ông tập trung chủ yếu vào thế giới nội tâm, cái hiện thực tâm hồn vớinhững cảm giác, cảm xúc mong manh, mơ hồ Bằng cách ấy, Thạch Lam đã khắc họa
được những xao động trong tâm hồn Liên lúc chiều về trên phố huyện "lòng buồn man mác"; thấy mấy đứa trẻ lom khom nhặt nhạnh ở chợ mà "động lòng thương nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng nó"; Cả cái hãnh diện của Liên về chiếc xà tích
có gắn chìa khóa "vì nó tỏ ra chị là người con gái lớn và đảm đang"; cái ước mơ chập chờn ‘thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi"… Qua đó thức tỉnh những tâm hồn chán
chường mòn mỏi tấm long khao khát thoát khỏi số phận của mình
Thạch Lam đã hiểu sâu sắc những con người bé nhỏ trong bóng tối này với những ướcvọng đáng thương của họ Sống trong bóng tối, trong yên lặng, trong buồn chán, đêm
đêm chị em Liên cố thức để được nhìn chuyến tàu đi qua “tàu đến chị đánh thức em dậy nhé!” Nghe lời dặn của bé An ta cảm thấy hai đứa trẻ tha thiết với chuyến tàu đêm đến
biết chừng nào Rồi đèn ghi ra Rồi tiếng còi xe lửa ở đâu vọng lại trong đêm khuya kéo
dài ra theo ngọn gió xa xôi Và chỉ cần nghe chị Liên gọi: “Dậy đi An! Tàu đến rồi!” là
Anh nhổm dậy dụi mắt và tỉnh hẳn Rồi tiếng còi rít lên, đoàn tàu rầm rộ đi tới Liên quan
sát rất kĩ đoàn tàu, thèm khát như được nhìn một thế giới xa lạ “Liên chỉ thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh và các cửa kính sáng” Rồi chiếc tàu đi vào đêm tối, để lại những đốm than đỏ bay tung trên
đường sắt Chuyến tàu đã xáo trộn cả cõi yên tĩnh của phố huyện Chuyến tàu gợi cho
Liên mơ tưởng: “Họ ở Hà nội về! Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo”.
Rõ ràng là Liên và An đợi tàu không phải để bán ít quà vặt cho khách đi đường mà là mộtnhu cầu bức xúc về tinh thần của hai đứa trẻ, muốn trong chốc lát được thoát ra khỏi cuộc
sống buồn chán tối tăm này “Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua Một thế giới khác hẳn, đối với Liên khác hẳn các vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu” Dưới mắt hai đứa trẻ, chiếc tàu là hình ảnh của một thế giới văn minh, giàu
sang, nhộn nhịp, huyên nào và đầy ánh sáng
Qua tâm trạng đợi tàu của hai đứa trẻ, tác phẩm thể hiện một niền xót thương vô hạn đốivới những kiếp người nhỏ bé vô danh không bao giờ được biết ánh sáng và hạnh phúc
Trang 8Cuộc sống mãi mãi bị chôn vùi trong tăm tối nghèo đói, buồn chán nơi phố huyện và nóirộng ra trên đất nước còn chìm đắm trong cảnh nô lệ và đói nghèo Qua tâm trạng Liên,tác giả đồng thời cũng muốn thức tỉnh tâm hồn uể oải đang lụi tắt ngọn lửa lòng khaokhát được sống một cuộc sống có ý nghĩa hơn, khao khát thoát khỏi cuộc đời tăm tốiđang chôn vùi họ.
2.2 Thi pháp cốt truyện
Mỗi tác phẩm thường có một cốt truyện hoàn chỉnh, nhưng không hẳn thế ở nhiều tácphẩm người ta lại không chú ý nhiều lắm đến cốt truyện mà chý ý nhiều hơn về cách kể,vấn đề đặc ra trong truyện .tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam là một tác phẩm nhưthế, nó đã thể hiện được tài năng nghệ thuật của Thạch Lam, đó là một truyện ngắn không
có cốt truyện Ngòi bút của Thạch Lam đã vẽ nên bức tranh phố huyện nghèo để làm nổibậc tâm trạng của chị em Liên và An Đọc hai đứa trẻ điều dễ nhận thấy nhất là truyện màkhông có chuyện, Thạch Lam đã tập trung tiếp cận và diễn tả trạng thái tâm hồn của nhânvật hoàn toàn lấn át khiến cho cốt truyện bị lu mờ, mờ nhạt đi Hai đứa trẻ có kết cấu dựatheo diễn biến tâm lý trong tâm hồn của nhân vật Liên hơn là theo tình huống truyện “mởđầu, phát triển, đỉnh điểm, mở nút, kết” đó là diễn biến tinh tế của một tâm trạng buồn,vừa mơ hồ vừa khắc khoải lúc chiều về và càng xao động hơn khi về đêm Với cách xâydựng truyện không có cốt truyện như vậy đã làm cho chất của truyện lan trải rộng ra,rung động hơn qua những tâm hồn ngày ấy Đồng thời, càng thể hiện cuộc sống tù đọngmòn mỏi nơi phố huyện nghèo xơ xác Qua đó, cho ta thấy bút pháp nghệ thuật độc đáocủa Thạch Lam, tác giả viết về những sự vật, sự việc rất đỗi tầm thường, đơn điệu mà vẫnlôi cuốn, đã phá vỡ cái gọi là sự chế ngự của vật liệu, vật liệu chỉ thông qua nhữngphương thức, phương tiện diễn tả đặc thù Lối kết cấu truyện không có cốt truyện nhưvậy càng làm cho ta thấy rõ sự bình lặng của phố huyện cứ ngày này qua ngày khác.Chính vì truyện không có cốt truyện Toàn bộ mạch truyện được dẫn dắt bởi suy nghĩ vàtâm trạng của Liên, An Mỗi ngày có một chuyến tầu từ Hà Nội sẽ qua phố huyện trongmấy phút Mỗi đêm, hai đứa trẻ lại chờ đợi Hẳn các em phải chờ chuyến tầu ấy qua suốtmột ngày buồn tẻ Nỗi chờ đợi càng trở nên khắc khoải hơn khi đêm đổ xuống: đèn thắpsáng ở các nhà xung quanh, ngọn đèn leo lét nơi hàng nuước nhà chị Tí, cái chấm lửa nhỏcủa bác phở Siêu đó chính là những điểm mốc, bước đi của thời gian đang cho các emxích lại gần với chuyến tàu Nên mặc dù đã buồn ngủ ríu cả mắt, hai em vẫn cố gượng, và
cho đến khi không thể chờ thêm được nữa, An vẫn còn dặn chị: “tàu đến thì chị đánh thức em nhé” Hai chị em khao khát chờ đón đoàn tàu như chờ đón một sự kiện trọng đại.
Trang 9Bởi chính chuyến tàu đêm đã mang một thế giới khác đến gợi cho các em nhớ lại mộtvùng sáng rực rỡ lấp lánh có nhiều thứ quà ngon lạ, đưuợc uống những cốc nưuớc lạnhxanh đỏ, mà giờ đây với các em đã là một thứ xa xỉ nhiều tiền không bao giờ mua đưuợc Chính đoàn tàu gợi cho các em nhớ lại một hồi ức đẹp.
Hồi ức đó, ưuớc mơ đó như trong truyện cổ tích nhưng chẳng khác gì một ảo ảnh, vụtchớp sáng rồi vụt qua ngay, xa dần, xa dần để rồi ngày mai lại xuất hiện, lại hi vọng mơ
hồ Đoàn tàu còn là niềm an ủi nỗi khát khao mơ hồ, ước mơ không bao giờ tắt về mộtchút tuơi sáng cho sự nghèo khổ hàng ngày Đoàn tàu qua, tiếng rầm rộ của đoàn tàu,tiếng ồn ào của hành khách, cả cái ánh đèn sáng trắng chiếu xuống đường làm phố huyệnnhuư bừng tỉnh trong chốc lát Chuyến tàu là niềm vui duy nhất giải toả tâm lí sau mộtngày mệt mỏi buồn chán
Nhuưng rồi chuyến tàu cũng nhanh chóng xa dần, khuất dần Phố huyện hết sức náođộng, chỉ có bóng đêm lồng với bóng nguười đi về Chị Tí sửa soạn đồ đạc Bác phở Siêugánh hàng vào làng, vợ chồng bác Xẩm ngủ gục trên manh chiếu tự bao giờ Liên nhưchiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ cũng ngập dần vào giấc ngủyên tĩnh nhuư đêm trong phố huyện tịch mịch và đầy bóng tối Sự xuất hiện của chuyếntàu đêm càng làm nổi bật cuộc sống buồn tẻ tù đọng đáng thuơng nơi phố huyện
Nhịp sống ở đây lặp đi lặp lại quẩn quanh uể oải đơn điệu buồn tẻ Hàng loạt chi tiết gây
cảm giác về sự lặp lại một cách đơn điệu buồn tẻ: “Chị Tí chiều nào cũng dọn hàng từ tối đến nửa đêm Bác phở Siêu thổi lửa Chị em Liên đêm nào cũng ra ngồi trên chiếc chõng tre dưới gốc cây bàng trong bóng tối” Tất cả phố xá trong huyện đều thu nhỏ nơi hàng
nuớc của chị Tí Và trong tác phẩm hình ảnh ngọn đèn con hàng nước nhà chị Tí được tácgiả nhắc đi nhắc lại nhiều lần Ngọn đèn con được nhắc lại 4 lần, tuượng truưng chonhững kiếp ngưuời nhỏ bé vô danh, vô nghĩa sống leo lét trong đêm tối mênh mang của
xã hội cũ Họ sống không hạnh phúc không tương lai, những kiếp người như cát bụi
"Chừng ấy con ngưuời trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng".
Với lối kết cấu vòng tròn, câu chuyện không có cốt truyện, xuất phát từ điểm nhìn củamột tấm lòng nhân ái, tác giả giúp người đọc hình dung được cuộc sống, số phận củanhững con người bé nhỏ nơi phố huyện nghèo bế tắc, không có tương lai Với giọng điệutâm tình chứa đầy chất thơ, nhà văn Thạch Lam góp phần chuyên chở tấm lòng nhân đạothấm thía của tác giả Thông qua đó, nhà văn giúp người đọc hình dung được một bứctranh hiện thực của xã hội đương thời
2.3 Thi pháp không gian nghệ thuật
Trang 10Không gian cụ thể trong tác phẩm là làng quê nông thôn, phố huyện nghèo nàn xơ xác,
tối tâm “ Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều”, “Trời đã bắt đầu đêm, môt đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối”.
Không gian đó được nhìn dưới con mắt của Liên - Chị của An Với cái nhìn của ngườitrong cuộc làm cho bức tranh của phố huyện nghèo hiện lên càng chân thật hơn, bộc lộđược chiều sâu tâm trạng của nhân vật hơn, giúp cho người đọc càng thấm thía hơn vớicuộc sống ở làng quê tiêu điều xơ xác và qua đó bộc lộ được những khát vọng về mộttương lai tươi sáng hơn của những đứa trẻ - tương lai còn đó với biết bao hi vọng và tươiđẹp
Tính chất của không gian đó là hẹp, tĩnh lặng mặc dù còn đó những sự sống Không giannghệ thuật còn là hình tượng con tàu, ánh sáng con tàu Con tàu trong tác phẩm mangmột ý nghĩa biểu tượng đối với nhân vật Liên Đối với những đứa trẻ khác cùng nhữngcon người trong khu phố nghèo, họ mong con tàu đến để có thể bán được một ít hàng,hay để nhìn thấy được ánh sáng của ngọn đèn điện Còn đối với Liên, con tàu và ánh sángcủa nó mang lai một thế giới khác hẳn nó như ngôi sao băng vút qua bầu trời, sáng cảkhông gian và tâm hồn con người Ánh sáng cháy rực trong tiềm thức Liên, đó là ánh
sáng của ước mơ, là quá khứ tốt đẹp của Liên “mẹ Liên dọn ngay từ khi cả nhà bỏ Hà Nội về quê ở, vì thầy Liên mất việc”, con tàu đi qua làm liên sống lại những ngày tháng
sống hạnh phúc với gia đình ở Hà Nội, Liên nhớ về tuổi thơ vui vẻ, hạnh phúc như baođứa trẻ khác mỗi lần được nhìn thấy con tàu mang ánh sáng, mang cuộc sống từ Hà Nội
về “ Liên nhớ lại khi ở Hà Nội chị được hưởng những thức quà ngon, lạ - bấy giờ mẹ Liên nhiều tiền - được đi chơi Bờ Hồ,…”.
Truyện được tạo dựng chủ yếu xuất phát từ điểm nhìn về mình của nhà văn, do vậykhông gian nghệ thuật trong truyện ngắn của ông cũng tuân theo điểm nhìn chủ quan, vớinhững ẩn ức trong bản thân.Vì vậy, không gian nghệ thuật xuất hiện trong các truyện làkhông gian tâm tưởng, với chiều sâu dồn nén tâm lí Để tạo lập không gian tâm tưởng,Thạch Lam chú trọng vào các tình thế trọng yếu gợi khoảng lặng nội tâm nhân vật, tạonên những co giãn không gian giữa hai chiều: Không gian thực (Cái gợi ký ức) vàokhông gian chiều sâu tâm lý (những giấc mơ: Giấc mơ thức và giấc mơ ngủ) tạo nên sựday dứt giữa hiện thực và tâm trạng con người Không gian về một Hà Nội tráng lệ trongHai đứa trẻ vẫn gợi lại những ẩn ức đứt quãng, chỉ còn là những hình ảnh mơ hồ chồng
lớp hiện về trong tưởng tượng (giấc mơ thức): Một “ Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực
Trang 11vui vẻ và huyên náo” được gửi về phố huyện trên con tàu đêm, để rồi khi con tàu đi qua
không gian hiện thực trở lại với những cảm nhận mơ hồ nửa tỉnh nửa mê (sự dai dẳng của
Hà nội) trong hiện tại: “ An và Liên lặng ngước mắt lên nhìn các vì sao để tìm sông Ngân
Hà và con vịt theo sau ông Thần Nông Vũ trụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ đầy bí mật, xa lạ và làm mỏi trí nghĩ, nên chỉ một lát hai chị em lại cúi về mặt đất, về quãng sáng thân mật chung quanh ngọn đèn lay động trên chõng hàng chị Tý”.
Với việc xây dựng một không gian như vậy là nhà văn đã đưa lại cho chúng ta những ký
ức về một không gian tươi sáng nơi Hà Thành đã ám ảnh, lùi sâu vào vô thức bọn trẻ,khiến đôi mắt buồn trũng muốn yên giấc nhưng vẫn không sao dập tắt cái khao khát đượcchứng kiến con tàu đêm của An Bởi lẽ chỉ có chứng kiến con tàu đêm, với ánh sáng điệnmới khỏa lấp những mong muốn đang trỗi dậy trong sâu thẳm tâm trí An và nó đòi hỏiphải được giải tỏa Vì vậy mặc dù rơi vào trạng thái nửa tỉnh nửa mơ nhưng An vẫn cố
mở to đôi mắt trước khi chìm sâu vào vô thức của giấc mộng mà với dặn Liên: “Tàu đến chị đánh thức em dạy nhé” Không gian tâm tưởng trong truyện được Thạch Lam đặt
cạnh không gian thực tại, gợi cảm giác hoài cổ về một nơi trong dĩ vãng
Ngoài ra trong tác phẩm có một không gian đặc biệt nữa xuất hiện nữa là không gianbóng tối, không gian bóng tối có một giá trị rất lớn trong việc tạo ấn tượng cho ngườiđọc Hình ảnh cuộc sống và con người cứ chìm dần, khuất hẳn trong bóng tối Nó gợi sựxót xa và thương cảm của người đọc dành cho những con người, những cuộc đời, nhữngkhông gian như thế Bóng tối càng dày đặc, cảnh sống của con người càng thê lương theocấp số cộng của cảnh đó thì lòng nhân đạo của nhà văn nhìn từ cảnh và người ấy cũngtheo cấp số nhân mà phát triển lên Bên cạnh đó, thỉnh thoảng ta cũng bắt gặp không gian
của ánh sáng Bảy lần nhà văn nhắc đến ánh sáng của các ngọn đèn “Các nhà đã lên đèn
cả rồi, đèn treo trong nhà bác phở Mĩ, đèn hoa kì leo lét trong nhà ông Cửu, và đèn dây sáng xanh trong hiệu khách.” Nhưng ở đây không phải là ánh sáng xua tan đi bóng tối,
mà đó là ánh sáng lẻ loi, đơn độc Ánh sáng xuất hiện với mục đích là để làm nền chobóng tối, làm cho bóng tối xuất hiện càng dày đặc hơn, bao trùm cả đất trời Điều nàycàng giúp cho người đọc hình dung, cảm nhận được số phận đáng thương của người dântrong phố nghèo khổ, bế tắc, không có tương lai., càng giúp ta thấy được tấm lòng nhânđạo của nhà văn đối với cuộc sống bất hạnh của con người
2.4 Thi pháp thời gian nghệ thuật
Thời gian trong truyện ngắn Hai đứa trẻ là một cảnh chiều tàn nơi phố huyện nghèo trôi
đi rất chậm chạp, báo hiệu cuộc sống tẻ nhạt, đơn điệu của những con người nơi đây Cấu