1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

THI PHAP NGON TU TRONG SO DO CUA VU TRONG PHUNG

24 311 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 161 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách nhìn nhận đánh giá tác phẩm qua góc nhìn của thi pháp học, Khái niệm thi pháp học của Trần Đình Sử, tác giả và tác phẩm Số Đỏ. Vũ Trọng Phụng nhà văn hiện thực. phân tích tác phẩm qua góc nhìn của thi pháp ngôn từ nghệ thuật.

Trang 1

A.ĐẶT VẤN ĐỀ

1.Lý do chọn đề tài:

Xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã trải qua bước chuyển mình ghê gớm Đó chính là quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa kéo theo những “lai căng, kệch cỡm, nhố nhăng” vốn xa lạ với văn hóa Việt Nam từ bao đời nay Xã hội đó đã từng xuất hiện bóng dáng sơ khai trong thơ văn các cụ Nguyễn Khuyến, Tú Xương với những điều được xem là chướng tai gai mắt;

“Khen ai khéo vẽ trò vui thế

Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu”

(Hội Tây – Nguyễn Khuyến)

Những đến hơn 50 năm sau, cái xã hội đang trong quá trình “Âu hóa” đó mới thật sự được phản ánh một cách toàn diện, dữ dội trong các tác phẩm của các nhà văn hiện thực đầu thế kỷ XX mà có thể nói tiêu biểu nhất là tác gia Vũ Trọng Phụng.

Vũ Trọng Phụng là một nhà văn lớn đầy tài năng, là một trong những cây bút xuất sắc nhất của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại những thập niên đầu thế kỷ

XX Sinh ra từ trong một gia đình nghèo khổ, cuộc đời Vũ Trọng Phụng là sự bươn chải mưu sinh, cọ xát với cuộc sống cơm áo gạo tiền Chính vì thế, từ những ngày đầu cầm bút bước vào làng văn, trong khi trận bút chiến nghệ thuật vị nghệ thuật

và nghệ thuật vị nhân sinh đang diễn ra rầm rộ trên văn đàn thì Vũ Trọng Phụng đã dứt khoát đứng về phái nghệ thuật vị nhân sinh Quan điểm sáng tác của Vũ Trọng Phụng trên báo “Ngày nay” hết sức khẳng khái: “Các ông muốn tiểu thuyết cứ là

Trang 2

tiểu thuyết Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết là sự thực

ở đời (…) Các ông muốn theo tiểu thuyết tuỳ thời, chỉ nói cái gì thiên hạ thích nghe, nhất là sự giả dối Chúng tôi chỉ muốn nói cái gì đúng sự thực, thành ra

nguy hiểm, vì sự thực mất lòng” (Để đáp lời báo Ngày nay) Và các sáng tác của

ông trong đó có Số đỏ đã ra rời trước sau đều trên lập trường quan điểm sáng tác

đó.

Vũ Trọng Phụng để lại nhiều tác phẩm ở nhiều thể loại Về thể loại tiểu

thuyết, với Giông tố và Số đỏ cùng ra đời năm 1936 đã đưa tên tuổi Vũ Trọng

Phụng trở thành một cây bút tiểu thuyết xuất sắc nhất những năm 30 của thế kỷ

XX Trong đó, Số đỏ là tác phẩm được đánh giá cao nhất trong toàn bộ tác phẩm

của ông

Nhà văn Bùi Huy Phồn nhận xét: “Trong các tác phẩm của ông Phụng, tôi thích Số đỏ hơn cả”

Nhà văn Nguyễn Khải cho rằng cùng với một số tác phẩm hiện thực khác,

Số đỏ là “cuốn sách ghê gớm có thể làm vinh dự cho mọi nền văn học”.

Nhà phê bình văn học Hoàng Thiếu Sơn đánh giá : “Số đỏ - cuốn “truyện bợm” kì tài”.

Vũ Trọng Phụng là một nhà văn lớn đầy tài năng Ông đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của nền văn học Việt Nam theo hướng hiện đại hóa, trước hết là ở lĩnh vực tiểu thuyết Nhưng có lẽ đặc sắc và quan trọng hơn

cả, cái làm nên phần hồn của tiểu thuyết “Số đỏ” đó là nghệ thuật ngôn từ Với lối dùng từ sắc sảo, với giọng điệu đầy tính hài hước, đùa bỡn, tác giả đã phơi bày mặt trái của xã hội đương thời Và cũng thông qua cách xây dựng nhân vật, cách dùng

từ độc đáo, tác giả đã thể hiện niềm khát vọng vô biên của mình về cuộc sống

Trang 3

Tiếp cận tác phẩm kiệt xuất này từ góc nhìn thi pháp ngôn từ sẽ giúp ta hiểu hơn về giá trị của tác phẩm Và đây cũng là lí do mà bản thân người viết muốn

chọn để trình bày với niềm say mê đối với Số đỏ của Vũ Trọng Phụng.

2.Phạm vi đề tài:

Nghiên cứu thi pháp là nghiên cứu cách thức, phương pháp, phương thức tạo

ra tác phẩm văn học mà nhà văn đã sử dụng trong quá trình sáng tác; tức là nghiên cứu thủ pháp, kỹ thuật của nhà văn trong tác phẩm Tuy nhiên, muốn khảo sát những điều trừu tượng như vậy thì không có con đường nào khác ngoài việc phải tiếp cận các yếu tố hình thức của tác phẩm Bới vì chỉ duy nhất ở đó, các biện pháp

có tính chất kỹ thuật mới có lý do tồn tại Có ba phương diện chủ yếu thường được chú ý khi nghiên cứu thi pháp là: Ngôn từ nghệ thuật, thế giới hình tượng, tổ chức tác phẩm.

Cả ba phương diện này đều được thể hiện hết sức phong phú trong Số đỏ.

Với phạm vi hạn hẹp của bài viết, người viết chỉ muốn bàn đến phương diện thi pháp ngôn từ trong tác phẩm này.

3.Phương pháp nghiên cứu:

Đọc hiểu, nghiên cứu tài liệu, thống kê, phân tích, tổng hợp

B.THI PHÁP NGÔN TỪ TRONG SỐ ĐỎ

Trang 4

Muốn đánh giá đúng một tác phẩm nghệ thuật, phải nắm được đặc điểm thể loại và khuynh hướng cảm hứng của nó Theo ý kiến giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh

“Số đỏ là một cuốn tiểu thuyết trào phúng được viết theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa” Nếu xem xét tác phẩm trên phương diện nghệ thuật thì trào phúng là giá trị nghệ thuật điển hình của tác phẩm này.Ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm cũng góp phần tạo nên giá trị nghệ thuật đó.

Thi pháp ngôn từ trong Số đỏ thể hiện ở trên những phương diện:

1.Ngôn từ nghệ thuật trong Số đỏ mang tính hình tượng sâu sắc và được

thể hiện trên những mặt cơ bản sau:

1.1 Đó chính là sự mô phỏng, phỏng nhại cái hiện thực xã hội ở Việt Nam những năm 30 của thế kỷ XX.

Số đỏ nhại cái trò Âu hóa, tức là một nền văn minh phương Tây cho những

dân tộc dã man phương Đông Vũ Trọng Phụng đã chọn giai đoạn ầm ĩ nhất, rầm

rộ nhất, phong trào Mặt trận bình dân để nhại Với Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã đặt

lên một sân khấu hài kịch mà ở đó ông dựng lại, mô phỏng lại cuộc đời với mọi giai tầng trong xã hội, nhại lại các trào lưu văn hóa, trào lưu chính trị, trào lưu văn học, trào lưu nghệ thuật Trong Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã nhại lại biết bao nhiêu

cái “hóa” của một xã hội hỗn loạn: Âu hóa, bình dân hóa, lãng mạn hóa, đô thị hóa,

trừu tượng hóa, chính trị hóa

Số đỏ chỉ khoảng trên dưới ba mươi nhân vật có tên và không tên mà đã tập

hợp thành đủ các hạng người trong xã hội thành thị Việt Nam vào những năm 30 của thế kỷ XX, từ vú em, u già, anh bếp, đứa bé nhặt banh quần, chị hàng mía, ông thầy số, mấy cụ lang băm, những thành viên của một gia đình trưởng giả tứ đại đồng đường, những me Tây, những vua thuốc lậu kiêm chủ khách sạn, những nhà hoạt động xã hội, nhà cải cách Âu hóa: chính khách, nhà báo, nghệ sĩ, nhà thể thao,

Trang 5

thầy thuốc, thi sĩ, ông hội viên hội khai trí tiến đức, ông sư kiêm chủ bút gõ mõ, những người Nhà nước như: cò, cẩm, mật thám, cảnh sát giới, đến cả giám đốc Chính trị Đông Dương, đến cả vua nước láng giềng với những cố vấn quân sư người Đức, người Nhật.

Trước hết, Số đỏ là cái cười nhại tầm cỡ lớn về xã hội đang trên đà Âu hóa –

không khí lãng mạn hóa đô thị Hà Nội lúc bấy giờ Cái không khí lãng mạn trên văn đàn Tự lực văn đoàn, những vụ tự tử ở Hồ Gươm, hồ Trúc Bạch là có thật, đã

được nhại thành mốt “tôi có hai cái tình” với những nhân vật “bán sử nữ” như cô Tuyết với những lời sáo rỗng: “Em sung sướng quá đi mất! Em muốn chết anh ạ!

Em muốn tự tử!”, hay cô gái lãng mạn Hoàng Hôn “người đàn bà đức hạnh, tân tiến” chủ trương người đàn bà “muốn ra giống đàn bà” thì phải giữ trinh tiết với hai người Hay phong trào áo tân thời Lemur đã được nhại thành “cải cách bề ngoài”, “cải cách bề trong” với các kiểu áo Ngây thơ, Lưỡng lự, Hãy chờ một phút ; Hội họa trừu tượng thì nhại thành “những cái thẹo lộn xuôi, lộn ngược”.

Thơ lãng mạn cũng không thoát khỏi cái cười nhại Đây là chàng thi sĩ lãng mạn chính cống, mặt hốc hác, thân gầy còm –kẻ si tình cô Tuyết, muốn “bắt chim” nàng

và ngêu ngao những vần thơ tuyệt vọng Tức mình, Xuân Tóc Đỏ dõng dạc ngâm bài thơ “Giải cảm” châm biếm không thua gì thơ Tú Mỡ khiến chàng thi sĩ phải đỏ mặt rút lui Hay cái không khí tân thời lây lan rất nhanh trong các giai tầng xã hội

thậm chí đến giới tu hành cũng “tân thời” theo lối nhại sư Tăng Phú: “Tín đồ nhà Phật chúng tôi bút chiến nguyền rủa nhau là ghẻ ruồi, ghẻ Tàu, ghẻ lào, hắc lào, hóa hủi, cụt chân, cụt tay, thế cơ”.

Số đỏ còn là cái cười nhại tầm cỡ về những cái được gọi là trò chơi chính trị

của bộ máy chính quyền đương thời Vũ Trọng Phụng chẳng ngần ngại gì mà không lôi tuột cả bộ máy chính trị khổng lồ ấy xuất hiện ở đoạn cuối truyện với quan Toàn quyền, Thống sứ, vua Xiêm, vua nội các, các quan hầu Đức, Nhật với kèn nổi lên, cờ xí rợp trời Vũ Trọng Phụng lại chọn cái sân quần bất hủ (cái sân

Trang 6

quần ở đầu truyện uể oải với tiếng ve sầu buồn bã và kết thúc truyện với sự náo nhiệt, oai hùng) làm thành “vũ đài chính trị’ mà quyền lực chuyển giao rất nhanh Với ngôn từ của Vũ Trọng Phụng, cái uy nghiêm ấy phút chốc mà sụp đổ trở thành

cái bỡn cợt đầy lố bịch: nước Xiêm bị Đức, Nhật “xui khôn xui dại”, từ những tiếng hô “Nước Pháp dân chủ vạn tuế:, “Thánh cung vạn tuế”, “Chính phủ Bình dân vạn tuế” nhường bước cho tiếng hô “Xuân Tóc Đỏ vạn tuế”, “Sự đại bại vạn tuế”, “Líp líp lơ” Cái chớt nhả lấn át cái trịnh trọng, chính thống Bài hùng biện

cuối truyện của Xuân Tóc Đỏ có thể nói là một cái cười nhại lớn nữa của Vũ Trọng Phụng đối với các bài diễn văn của các nhà chính khách lúc bấy giờ Bài diễn văn

“rất Tây” với những từ ngữ đao to búa lớn: “hòa bình”, “Tổ quốc”, “nạn can qua”, “hy sinh”, “cao thượng” kết hợp với ngôn ngữ điệu bộ rất kịch của Xuân Tóc Đỏ: “Nó vỗ vào ngực”, “Nó đấm tay xuống không khí”, “Nó giơ cao tay lên”,

“Nó đập tay xuống” đã tạo thành cảnh thăng hoa kiệt xuất của Xuân, đưa nó trở

thành một “vĩ nhân” trong mắt quần chúng Vỡi cái nhại cuối cùng này, Vũ Trọng Phụng đã vạch rõ bản chất giả dối, lừa bịp, mị dân của toàn thể bộ máy chính trị thực dân lúc bấy giờ Hay đồng nhất cái chính quyền ấy với bản chất bịp bợm, khôn lỏi của hạng người ma cà bông mà thằng Xuân là tiêu biểu.

1.2 Hình tượng Xuân Tóc Đỏ mang tính cách điển hình.

Nếu nói Số đỏ với các đám nhân vật điển hình đủ các hạng người, với những

hoàn cảnh điển hình từ gia đình ra xã hội, từ vỉa hè và nhà xăm đến nơi đón rước vua chúa đã làm nên bộ sử thi về xã hội thành thị Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc thì cũng chẳng có gì là quá Giữa cái xã hội nhố nhăng đó, giữa lúc nhúc những nhân vật kệch cỡm và lố bịch đó thì hình tượng Xuân Tóc Đỏ là nhân vật trung tâm mang những nét tính cách điển hình của cái gọi là “Âu hóa” ấy.

Vậy Xuân Tóc Đỏ là ai? Với thiên tiểu thuyết dài hai mươi chương, ngôn từ của Vũ Trọng Phụng đã tung hoành đầy hứng thú, đã vẽ ra trước mắt mọi người

Trang 7

một vùng hoang tưởng khủng khiếp để rồi Xuân Tóc Đỏ từ một tên ma-cà-bông đã trở thành một vĩ nhân cứu quốc.

Trước hết có thể nói, Xuân Tóc Đỏ là một hình tượng cụ thể Vũ Trọng Phụng đã tạo dựng một nhân vật có đầy đủ tên gọi, hình dáng, điệu bộ cử chỉ, cách nói năng Ngôn từ của ông rất thống nhất trong việc tái hiện nhân vật trung tâm này nhưng đồng thời nhà văn cũng luôn sử dụng những đối nghịch để thể hiện tính nhiều mặt của nhân vật.

Ngay cái tên “Xuân Tóc Đỏ” cũng mang những ý nghĩa trái ngược Tóc đỏ

là dấu hiệu điển hình để nhận diện nhân vật này, là kết quả của những năm tháng

bươn chải của kiếp ma cà bông khốn khổ: “Mẹ kiếp, chứ xưa nay có mua mũ bao giờ mà tóc chả đỏ” Thế nhưng với cặp trai gái tân thời ở khách sạn Bồng Lai lại tán dương: “Bẩm, tóc ngài nhuộm đẹp lắm, rất hợp thời trang”.

Còn về điệu bộ, cử chỉ và cách nói năng của Xuân Tóc Đỏ Nếu theo dõi theo hành trình “số đỏ” của Xuân thì người đọc không khó nhận ra những hành động rất quen thuộc của nhân vật này đã dần dần thích nghi với hoàn cảnh và phát huy quyền lực của nó theo sự thăng hoa của Xuân Tóc Đỏ

“Xuân Tóc Đỏ cứ sấn sổ đưa tay ra toan cướp giật ái tình ”, “Xuân Tóc

Đỏ lại cười hí hí như ngựa ” (chương I)

“Xuân Tóc Đỏ bắt tay xong, ưỡn ngực lên cất giọng lanh lảnh nói to:

-Thưa ngài, ngài là một người chồng mọc sừng” (chương VIII)

“Xuân Tóc Đỏ cứ đứng vênh váo ưỡn ngực ra nhận cái chức đồng nghiệp với ông giám đốc sở.” (chương XIII)

“Xuân Tóc Đỏ” ưỡn ngực lên, dõng dạc nói:

-Còn tôi, thì tôi đang giáo dục cái xác thịt cho cậu ấy và cả mẹ cậu ấy!”

(chương VIII)

“Xuân Tóc Đỏ ưỡn ngực ra mà rằng:

-Me sừ Xuân, giáo sư quần vợt, cái hi vọng của Bắc Kì” (chương XVI)

Trang 8

Đặc biệt là màn hùng biện kết hợp với ngôn ngữ điệu bộ rất ăn ý với nhau:

“nó vỗ vào ngực”, “nó đấm tay xuống không khí”, “nó giơ cao tay lên”, “nó đập tay xuống”, “Như một bậc vĩ nhân nhũn nhặn, nó giơ quả đấm chào loài người ” (chương XX)

Còn về ngôn ngữ hay cách nói năng thì Vũ Trọng Phụng đã duy trì cho nhân vật này một lớp từ vựng rất điển hình mà ông hội viên hội Khai trí tiến đức muốn xin phép nó để đưa vào từ điển Đó là lớp từ vựng đầu đường xó chợ của xuất thân kiếp ma cà bông như nó nhưng lớp từ đó cứ mặc nhiên theo Xuân đi vào giới thượng lưu và được chấp nhận cũng như một thứ mốt Hãy thử điểm lại những phát ngôn của Xuân Tóc Đỏ:

“-Chả nước mẹ gì cả! Than ôi cái cảnh đêm thu tịch mịch càng làm như gợi khách đa sầu!” (Chương I)

“-Mẹ kiếp! Chứ xưa nay có mua mũ bao giờ mà tóc chả đỏ!” (Chương I)

“-Nước mẹ gì! Bóp với chả bóp!” (chương II)

“-Mẹ kiếp! Chứ con với chả cái!” (chương II)

“-thế này thì nước mẹ gì” (chương III )

“-Mẹ kiếp! Quần với chả áo!” (chương III)

“-Mẹ kiếp! Đồ láo” (chương XVII)

“-Thế thì nước mẹ gì cơ chứ” (chương XX)

Về phương diện bề ngoài là như thế, còn khi miêu tả tính cách của Xuân Tóc Đỏ, ngôn từ của Vũ Trọng Phụng đã thỏa sức tung hứng Tính cách của Xuân Tóc Đỏ chính là những mặt đối lập hoạt kê được thể hiện qua sự tung hứng của các nhân vật bâu quanh nó.

Xuân Tóc Đỏ là ai? Người kể chuyện thì bảo nó là “một đứa vô giáo dục”,

“tinh quái”, “thạo đời” và khi nó “bắt đền” vị tiết phụ thì đánh giá nó là đứa “còn biết gì là nghĩa lý, là đạo đức nữa”, thế nhưng lúc khác, người kể chuyện lại bảo

“nó thông minh tính bẩm”, nó có nhân nghĩa vì lúc đổi đời thì không quên ơn ông

Trang 9

thầy số nghèo; ở chót đỉnh vinh quang, nó vẫn không quên “bà bạn gái” Phó Đoan

để xin cho bà cái bằng “Tiết hạnh khả phong Xiêm La” Vợ chồng nhà Văn Minh thì thừa nhận Xuân Tóc Đỏ “nhanh mồm nhẹ miệng, cử chỉ ngộ nghĩnh” và nhờ nó

mà cửa hiệu may Âu hóa phát đạt Bà Phó Đoan đánh giá nó là “người thông minh,

có học thức, bụng dạ hào hiệp” Đốc tờ Trực Ngôn gọi nó là “ông bạn thân” Cụ

bà cố Hồng gọi nó là “quan bác sĩ” Sửng sốt nhất là Victor Ban, ông ta như không

tin ở mắt mình nữa: thằng Xuân Tóc Đỏ từ thằng ma cà bông thổi loa bán thuốc lậu

di tinh, mộng tinh giờ trở thành trang phong lưu quân tử giữa đám người thượng lưu với cách đánh ban rất sang, với giọng điệu trịch thượng Đó là những nhận định

đầy mâu thuẩn Ngôn từ Số đỏ tạo nên một nhân vật đầy bí ẩn.

Buồn cười nhất là ngay cả chính Xuân tóc Đỏ cũng không hiểu được mình

là ai Có khi nó nói “Tôi thì danh giá gì! Hạ lưu! Ma cà bông! Nhặt ban quần!” hoặc có khi nó bảo với vợ chồng văn Minh “ Con thì không cha, không mẹ, lêu lổng từ bé, nhặt quần, bán phá xa, đã làm nhiều nghề hèn ”, có khi nó thành thực bảo với cụ bà cố Hồng: “Thưa cụ, quả con vô học, xưa nay nhặt ban quần, hạ lưu, không biết thuốc ạ!” Nhưng có khi nó ưỡn ngực tự giới thiệu: “Me sừ Xuân, giáo

sư quần vợt, cây hi vọng của Bắc Kỳ”, hoặc “Me sừ Xuân nguyên sinh viên trường thuốc, giáo sư quần vợt, giám đốc hiệu Âu hóa, phụ nữ tân thời” Nhưng thật nực

cười, lúc nó là nó thì mọi người không chấp nhận Lúc nó không phải là nó thì mọi người xun xoe phỉnh nịnh Thành thử thằng Xuân Tóc Đỏ ngỡ ngàng không hiểu

nó là ai? Xuân Tóc Đỏ tuy vô học nhưng không phải là kém thông minh Vì thông minh lại thêm tính cách bịp bợm, láu cá, lừa đảo và tinh quái mà nó sớm thích nghi

và từng bước khai thác triệt để cái hoàn cảnh “số đỏ” của nó Lúc đầu, nó là đối tượng lợi dụng của xã hội thượng lưu tư sản đó Nhưng dần dần nó đã biến cái xã hội ấy thành đối tượng lợi dụng của nó Sống trong sự trọng vọng của xã hội tư sản, Xuân dần dần trở nên kiêu ngạo, coi khinh tất cả và thật kì lạ, chính thái độ kiêu ngạo này càng khiến mọi người càng thêm kính sợ Cái uy tín của Xuân, vì

Trang 10

thế cứ “to tướng mãi ra” đến mức nó ưỡn ngực xưng “ta” và gọi quần chúng là

“mi” khi diễn thuyết Nhưng thật kì lạ chính đám đông cuồng nộ kia đã nhất loạt tung hô “Xuân Tóc Đỏ vạn tuế!” Xuân Tóc Đỏ chính là sự tổng hợp của nhiều tính cách khác nhau, Hoài Anh đã nhận xét rằng “Vũ Trọng Phụng, nhà hóa học của những tính cách” cũng là vì vậy Ngôn từ Số đỏ đã tạo dựng nên một cái cười nhại

đầy tầm cỡ Số đỏ tái hiện một chế độ nực cười, đầy ảo ảnh.

Có thể nói Xuân Tóc Đỏ là một hình tượng văn học với những nét tính cách điển hình đại diện cho một tầng lớp xã hội lúc bấy giờ Nếu dùng biện pháp chiếu ứng giữa nhân vật này với hiện thực xã hội đô thị Việt Nam dưới chế độ thực dân thì Xuân Tóc Đỏ là hình mẫu sống động cho cái xã hội “Âu hóa”, cho phong trào Bình dân giả tạo mà giới cầm quyền đang phỉnh nịnh dân chúng Xuân Tóc

Đỏ là cái cầu nối giữa hai giai tầng xã hội hay chính xác hơn là sự kết hợp của hai giai tầng xã hội: tầng lớp thượng lưu kệch cỡm, lố lăng và tầng lớp hạ lưu ma cà bông nghèo hèn, gian manh Với hình tượng Xuân Tóc Đỏ, Vũ Trọng Phụng đã vạch trần bản chất văn minh Âu hóa, phong trào Bình dân giả dối, mị dân của chế

độ cầm quyền Cái văn minh Âu hóa, cái Mặt trận Bình dân do thực dân Pháp chủ trương chẳng qua chỉ là những trò gian manh, bịp bợm, nhố nhăng, lố bịch của những hạng người như Xuân Tóc Đỏ và giới bạn bè thượng lưu của nó mà thôi

2.Tính mơ hồ, đa nghĩa của ngôn từ trong Số đỏ:

2.1“Những lớp sóng ngôn từ trong Số đỏ” (từ dùng của Đỗ Đức Hiểu)

Quả đúng như vậy, “Với Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã sáng tạo ra một thể

loại tiểu thuyết mới, tiểu thuyết cười, tiểu thuyết đa thanh, đa âm, đa sắc diện, để tái hiện một xã hội đang chuyển động dữ dội, đang hóa thân một cách quái dị” Và

để tái hiện được cái không khí náo nhiệt, xô bồ đó, Vũ Trọng Phụng đã khai thác triệt để khả năng tái hiện của ngôn từ tạo nên tầng tầng lớp lớp những đợt sóng

ngôn từ xô đẩy, giằng xé lẫn nhau Xã hội được mô phỏng trong Số đỏ với sự xuất

Trang 11

hiện của nhiều tầng lớp xã hội, với những phong trào chính trị, những trào lưu văn hóa nghệ thuật hổ lốn, trộn lẫn vào nhau Nhưng giữa những cái ngập ngụa đó vẫn

dễ dàng nhận thấy những giọng điệu, những lớp ngôn từ khác nhau của từng lớp

người trong Số đỏ.

Trước hết, lớp ngôn từ của vỉa hè thể hiện rõ ngay từ những chương đầu của tiểu thuyết Đó là không gian vắng lặng, tiêu điều với vài người bán chanh ế

ẩm, cô hàng mía đanh đá, ông thầy số ngáp vặt với ngổn ngang những từ ngữ đầu

đường xó chợ “chả nước mẹ gì”, “hàng đã ế bỏ mẹ ra thế này ”, “xin một tị! Một

tị tỉ tì ti thôi!” Đó là không gian chật hẹp nơi bóp cảnh sát, gồm bà bán bún chả

“đa tư lự”, một thằng ma cà bông đang co ro nằm ngủ “ngáy như kéo gỗ” và vợ chồng con cái người ăn mày bắt chấy cho nhau “rất nên thơ”.

Tiếp đến, là lớp sóng ngôn từ của giới thượng lưu, những ông chủ, bà chủ, những nhà trí thức dự phần vào công cuộc “cải cách xã hội” Đó là bà Phó Đoan

“nhất định thủ tiết với hai ông”, cụ cố Hồng với kiểu ôm ngực ho sù sụ tuy chẳng biết gì nhưng lúc nào cũng “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”, vợ chồng Văn Minh lúc nào cũng “Âu hóa”, “coi trọng Bình dân thôi! Để chỗ cho Bình dân! Bình dân vạn tuế!”, nhà cải cách y phục Týp phờ nờ “Tôi yêu phụ nữ”, thêm vào đó là ông Phán dây thép lúc nào cũng huênh hoang “tôi là một người chồng mọc sừng”, rồi nào là

đốc tờ Trực Ngôn, ông Joseph Thiết , rồi điểm xuyết thêm là cậu Phước đã lớn

tồng ngồng nhưng lúc nào cũng ngúng nguẩy “Em chã” Tất cả ngôn ngữ đó vừa

lôm côm vừa buồn cười đáo để.

Rồi phải kể đến ngôn ngữ “tân thời” của các cô gái tân thời nhại theo văn chương lãng mạn lúc bấy giờ như cô Hoàng Hôn, cô Tuyết với ngôn từ thơ mộng

“Tôi là một trang bán sử nữ, nghĩa là còn trinh một nữa ”, “Ê, ê, đốt anh đi”,

“Em sung sướng quá! Em muốn chết, anh ạ! Em muốn tự tử ” v.v Thậm chí, các nhà sư “tân thời” cũng góp mặt trong sân khấu hài Số đỏ như sư Tăng Phú -“vị

sư tân thời”, “dốc lòng mộ đạo” với ngôn ngữ đắc thắng: “Bần tăng mà kiện tại

Trang 12

tòa thì phải thua hộc máu mồm” và “Tín đồ nhà Phật chúng tôi bút chiến nguyền rủa nhau là ghẻ ruồi, ghẻ Tàu, ghẻ Lào, hắc lào, hóa hủi, cụt chân, cụt tay, thế cơ” Ngôn từ của các nhà sư “tân thời” là sự trộn lẫn giữa những từ ngữ đạo Phật

vì một nỗi “dân chúng chỉ vì báo chí mà đâm ra văn minh, không còn Cẩm phạt nhiều như trước nữa”.

Điểm tô thêm vào bức tranh ngôn từ đa sắc, đa thanh đó là mớ ngôn ngữ lai căng, hỗn tạp của người Việt đang “Tây hóa” hay của cảnh sát Tây, lính Tây với

thứ Tiếng Việt lơ lớ nào là “Ơ voa nhé! Mai nhé!”, “Được lắm! Dernieres creations!”, “A bas Xuan! A bas Xuan” Nhưng lợm cợm giữa cái “hiện đại" đó

lại là lớp từ Hán Việt đầy tính nghiêm trang để trở thành lố bịch trong lá số tử vi

của ông thầy bói “ Tuần triệt đương đầu kiếp không thân mệnh Âm dương tuần triệt tại tiền” hay màn đón tiếp vua Xiêm đi thăm Bắc kì với những lời tung hô:

“Nước Pháp dân chủ vạn tuế!”, “Thánh thượng vô cương!”

Có thể nói, ngôn ngữ của đủ hạng người đã tạo thành “lớp sóng ngôn từ” trong Số đỏ Chúng tồn tại đan xen lẫn nhau, tương phản đối lập nhau, tâng bốc nịnh bợ nhau, thâm nhập lẫn nhau tạo thành một tập hợp hổn loạn những phong cách kì dị, quái gở để biểu đạt chính cái xã hội quái gở ấy.

2.2 “Sự phá sản của ngôn ngữ” (từ dùng của Võ Thị Quỳnh).

Với nghệ thuật trào phúng bậc thầy trong cách dùng từ, đặt câu, Vũ Trọng

Phụng đã mang đến cho Số đỏ những lớp nghĩa thật hài hước đến lạ lùng Nhà văn

đã sử dụng biện pháp “đánh tráo khái niệm” , tạo ra những “chân lý” mang đầy

Ngày đăng: 10/01/2018, 00:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w