Phương diện biểu hiện của thi pháp học, phân tích tác phẩm cụ thể, bài viết dựa trên lí thuyết về thi pháp học của Trần Đình Sử, nêu ra những lí thuyết dễ hiểu nhất. Đồng thời đi sâu nghiên cứu đặc điểm này trong một tác phẩm văn học cụ thể nhằm mang lại cái nhìn tròn vẹn cho người đọc.
Trang 1CHƯƠNG 4: THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
4.1 Khái niệm, cấu trúc và biểu hiện của thời gian nghệ thuật
4.1.1 Khái niệm
Thời gian nghệ thuật là thời gian mà ta có thể thể nghiệm được trong tác phẩm
nghệ thuật với độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với chiều thời gian là hiện
tại, quá khứ hay tương lai Thời gian nghệ thuật là hình tượng nghệ thuật, sản phẩm
sáng tạo của tác giả bằng các phương tiện nghệ thuật nhằm làm cho người thưởng thức
cảm nhận được: hoặc hồi hợp đợi chờ, hoặc thanh thản vô tư, hoặc đắm chìm vào quá
khứ Thiếu sự thụ cảm, tưởng tượng của người đọc thì thời gian nghệ thuật không xuất
hiện Nhưng thời gian nghệ thuật cũng không phải là một hiện tượng của tâm lý cá nhân
người đọc, muốn cảm thụ nhanh chậm thế nào cũng được Thời gian nghệ thuật là một
sáng tạo khách quan trong chất liệu Nếu như một tác phẩm có thể gây hiệu quả hồi hộp
đợi chờ với ai, lúc nào, khi cảm thụ, thời gian ấy đều xuất hiện
Thời gian nghệ thuật là một hình tượng thời gian được sáng tạo nên trong tác
phẩm nghệ thuật Thời gian được dùng làm phương tiện nghệ thuật để phản ánh đời
sống Trong tác phẩm nghệ thuật, thời gian đóng vai trò là hình thức tồn tại của hình
tượng nghệ thuật; là hình thức triển khai hành động, cảm thụ
Thời gian nghệ thuật là một trong những phạm trù quan trọng nhất của thi pháp
học, bởi vì nó thể hiện thực chất sáng tạo nghệ thuật của nghệ sĩ Nghệ sĩ có thể chọn
điểm bắt đầu và kết thúc, có thể kể nhanh hay chậm, có thể kể xuôi hay đảo ngược, có
thể chọn điểm nhìn từ quá khứ, hiện tại, tương lai; có thể chọn độ dài một khoảnh khắc
hay nhiều thế hệ, nhiều cuộc đời Thời gian thể hiện ý thức sáng tạo của nghệ thuật
Thời gian nghệ thuật là phạm trù thi pháp ngày càng có tầm quan trọng bởi vì
con người muốn cảm nhận toàn bộ thế giới qua thời gian và trong thời gian
Thời gian nghệ thuật là phạm trù đặc trưng của văn học, bởi văn học là nghệ
thuật thời gian “Thời gian là đối tượng, là chủ thể, là công cụ miêu tả - là sự ý thức và
cảm giác về sự vận động và đổi thay của thế giới trong các hình thức đa dạng của thời
gian xuyên suốt toàn bộ văn học”
Thời gian trong văn học không còn giản đơn là cái dung chứa các quá trình đời
sống mà là một yếu tố nội dung tích cực, “một kẻ tham gia độc lập vào hành động nghệ
thuật”, là “một trong những phương tiện hữu hiệu nhất để tổ chức nội dung của nghệ
thuật”
Trang 2
4.1.2 Cấu trúc và biểu hiện của thời gian nghệ thuật
4.1.2.1 Thời gian trần thuật.
Thời gian trần thuật là thời gian vận động theo dòng vận động tuyến tính, một
chiều, của văn bản ngôn từ Người ta nói văn học là nghệ thuật thời gian bởi vì văn học
diễn đạt các sự vật, hiện tượng theo trật tự thời gian của lời nói liên tục, từ câu đầu cho
đến câu cuối cùng, không đảo ngược Khái niệm “trần thuật” đây được dùng với ý
nghĩa rất khái quát – không chỉ là cho loại tự sự, mà cho mọi văn bản văn học, nghĩa là
sự tổ chức văn bản miêu tả, biểu hiện của chủ thể để thể hiện thế giới nghệ thuật của tác
phẩm Trong văn học cổ Việt Nam, người ta gọi thơ trữ tình là “tự tình”, “trần tình”, “tự
thuật”
Thời gian trần thuật là thời gian của người kể, của sự kể Nó có mở đầu và có kết
thúc, do đó là một thời gian hữu hạn Nó có tốc độ và nhịp độ riêng do người kể có thể
kể nhanh hay chậm, có nghĩa là kể lướt hay tỉ mỉ, dừng lại miêu tả chi tiết Khi nào diễn
đạt khái quát thì thời gian lướt nhanh, khi nào sa vào miêu tả chi tiết thời gian như dừng
lại Do nó có tính không đảo ngược cho nên nó có thể sắp xếp lại trật tự của thời gian
của sự việc vào trật tự trước sau của nó Nó có thể đem cái xảy ra sau kể trước và
ngược lại đem cái xảy ra trước kể sau Thời gian trần thuật luôn mang thời hiện tại
Thời hiện tại ngữ pháp của lời nói ứng với thời hiện tại của người nói Khi đọc một bài
thơ trữ tình cổ là ta nhập thời hiện tại của tác giả vào thời hiện tại của người đọc và tạo
thành một thời gian nghệ thuật, chỉ có trong nghệ thuật
4.1.2.2 Thời gian được trần thuật
Thời gian được trần thuật là thời gian của sự kiện được nói tới Đây chưa phải là
thời gian nghệ thuật, nhưng là cơ sở của nó Thời gian được trần thuật bao gồm:
4.1.2.2.1 Thời gian sự kiện là chuỗi liên tục của các sự kiện trong quan hệ liên
tục trước sau, nhân quả Có người gọi đây là thời gian “lịch sử”, thời gian truyện Đó là
các tên gọi ước lệ Thời gian sự kiện có thể được tính theo độ dài thời gian mà nó diễn
ra Trong thời gian sự kiện, người ta chia ra hai lớp thời gian: thời gian tiền sử và thời
gian cốt truyện Thời gian tiền sử thường được kể bổ sung, chấm phá, còn thời gian cốt
truyện thì được trần thuật liên tục Sự phân biệt này có ý nghĩa là: thời gian tiền sử có
giá trị thuyết minh, còn thời gian cốt truyện mới tạo cảm giác vận động cho tác phẩm
4.1.2.2.2 Thời gian nhân vật bao gồm thời gian tiểu sử và thời gian được nếm
trải qua tâm hồn nhân vật Hoạt động tâm lý, ký ức dòng ý thức tạo thành thời gian
nhân vật Nếu nhân vật thiếu đời sống nội tâm thì thời gian của nó chỉ tồn tại trên cấp
Trang 3
độ sự kiện nhân quả, trên cấp độ thời gian đồng hồ và lịch Thời gian nhân vật gắn với
các thời gian điểm có ý nghĩa riêng của nhân vật đó Mỗi nhân vật có một “thời khóa
biểu”, một nhịp độ hoạt động Thời gian nhân vật có độ dài hiện diện trong tác phẩm
khác nhau Chỉ có nhân vật chính là có thời gian bằng thời gian tiền sử và thời gian cốt
truyện
4.1.2.3 Mối quan hệ giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật
Sự sắp xếp, phối trí của thời gian được trần thuật và thời gian trần thuật mới tạo
ra thời gian nghệ thuật thật sự Mối quan hệ này được biểu hiện qua các tương quan sau
đây:
4.1.2.3.1 Tương quan giữa điểm mở đầu – kết thúc của thời gian trần thuật với
thời điểm mở đầu – kết thúc thời gian sự kiện Hai điểm này có thể trùng nhau, như
trong truyện cổ tích, ngụ ngôn, truyện thơ Nôm v.v
Hai điểm mở đầu và kết thúc của hai thời gian trên có thể không trùng nhau, mà
so le nhau Ví dụ truyện “Vợ nhặt” bắt đầu từ giữa Có trường hợp bắt dầu từ kết quả
của sự kiện đã kết thúc Tương quan này tạo ra quá khứ, tương lai, thời gian nhiều bình
diện
4.1.2.3.2 Tương quan sự kiện trong thời gian trần thuật Các sự kiện trong thời
gian trần thuật có thể: Liên tục nhau, sự kiện này kề theo sau sự kiện trước Giữa các sự
kiện có khoảng cách thời gian ngắn hoặc dài được thông báo, hoặc miêu tả phong cảnh,
môi trường Gối đầu nhau, sự kiện này chưa xong, sự kiện sau đã tới Đảo ngược thời
gian, đòi hỏi hồi tưởng, hồi thuật Trần thuật dồn nén, tĩnh lược, lược thuật Tương quan
này tạo ra nhịp điệu, tốc độ trần thuật
4.1.2.3.3 Tương quan thời gian trần thuật và thời gian nhân vật: Xây dựng thời
gian trần thuật dựa vào quá trình tự ý thức của nhân vật Sự tự ý thức của con người là
một quá trình, từ chưa nhận ra đến nhận ra, theo quá trình phát hiện Ý thức con người
vận động theo quy luật ký ức, liên tưởng
Tương quan này thể hiện rõ trong thơ trữ tình, ở đó thời gian trần thuật trùng với
thời gian trữ tình Sự khúc xạ thời gian vào ý thức nhân vật gây ấn tượng mạnh mẽ
Khúc xạ qua tâm hồn, thời gian mang tính chất cảm xúc
Sự đối chiếu ý thức thời gian của hai nhân vật cũng tạo thành ấn tượng thời gian
Vận dụng ký ức nhân vật để trần thuật là một thủ pháp đặc trưng của văn học
cũng là một thủ pháp hiện đại Trước hết phải nói là vận dụng kí ức để trần thuật vốn là
thủ pháp truyền thống Nghệ thuật trần thuật là kích thích người đọc nhớ lại Ký ức có
Trang 4
tác dụng tô đậm các sự kiện giàu ý nghĩa Ký ức có khả năng tập hợp các sự kiện xa
cách nhau lại
Hồi ức trong văn xuôi hiện đại đang trở thành thủ pháp để tái hiện các “sự kiện
vi mô” của quá khứ, thực hiện những cuộc du hành vào mê cung của hoài niệm
4.1.2.4 Các bình diện thời gian là điều cần ý thức để phân tích thời gian Quan
hệ giữa quá khứ, hiện tại, tương lai chỉ là tương đối, phụ thuộc vào điểm quy chiếu
“bây giờ” Có người cho “hiện tại” có độ dài của hiện trạng sự vật Trên phương diện
tâm lý, nhiều người cho rằng cái “bây giờ” bao chứa cả một phần quá khứ và tương lai
4.1.2.4.1 Trong tác phẩm nghệ thuật, thời hiện tại đóng vai trò chủ đạo bởi đó là
thời gian cảm nhận Hồi tưởng là quay về quá khứ, nhưng đồng thời cũng là sống lại cái
“hiện tại” của quá khứ, mơ ước tương lai cũng là sống với cái “hiện tại” của tương lai
Do đó, sự phân biệt của ba bình diện thời gian này chỉ là tương đối, trong khi đó có một
dòng hiện tại cảm nhận xuyên suốt mọi bình diện Sự phân biệt quá khứ, hiện tại, tương
lai chỉ xuất hiện trong phạm vi thời gian nhân vật và sự kiện Còn hiện tại cảm nhận thì
gắn liền với hiện tại của phát ngôn và hiện tại của người đọc Cho nên Likhasốp đã nói
rất đúng thực chất thời gian nghệ thuật là thời gian ước lệ, và sự phát triển của thời gian
nghệ thuật chủ yếu là phát triển của các hình thức thời gian hiện tại Bởi vì thời gian
hiện tại là thời của sự sống, nghệ thuật đem thời hiện tại ước lệ mà làm sống vĩnh viễn
các giá trị, tức là khắc phục cái thời gian thực tại một đi không trở lại
4.1.2.4.2 Thời gian quá khứ trong văn học xuất hiện rất muộn Trong phần nhiều
thơ trữ tình, trong truyện trung đại, truyện dân gian thời quá khứ không phát triển, do
nhân vật không biết hồi tưởng Chỉ khi nào có ý thức về đời sống nội tâm nhân vật thì
nhân vật mới có khả năng hồi tưởng và mới xuất hiện thời quá khứ Chú trọng quá khứ
là một đặc điểm phổ biến của văn học hiện đại
Quá khứ thể hiện qua hình tượng các ông già, bà già hoặc huyền thoại truyền
thuyết Quá khứ thể hiện trong các dấu tích, phế tích, trong hồi ức, trong giấc mơ
4.1.2.4.3 Thời tương lai cũng được thể hiện qua giấc mơ, qua dự kiến, ước mơ.
Tương lai thể hiện trong hình ảnh trẻ con, thể hiện trong hình ảnh người phụ nữ
mang thai
4.1.2.4.4 Ngoài các bình diện trên, trong văn học còn có bình diện vĩnh viễn
trường tồn, “ngoài thời gian”, như thiên nhiên tuần hoàn Thời gian ngoài thời gian thể
hiện ở tính không ai biết Thời gian vĩnh viễn là thời gian không có quá khứ và tương
Trang 5
lai, chỉ có một sự kéo dài bất biến Trong thơ và truyện có thể tìm thấy bình diện vĩnh
viễn trong thời gian tiên cảnh, vừa bất biến, kéo dài, vừa không ai biết
4.1.2.5 Độ đo thời gian
Độ đo thời gian thể hiện ý thức về thời gian Độ đo thời gian là một đại lượng
ước lệ và mang tính quan niệm Một phút bằng hai mươi năm hoặc một năm trong chớp
mắt,… Mỗi thời gian có độ đo riêng, làm cho chúng khác biệt nhau: năm, tháng, phút,
giây, mùa, thế kỉ, thời đại,… Đơn vị thời gian càng nhỏ thì người ta có dịp nhìn sâu vào
thực tại, đơn vị càng lớn thì đem lại cái nhìn bao quát
Độ đo thời gian gắn với đặc trưng thể loại và đặc trưng thẩm mĩ của từng thời
đại Trong kịch, do chia hồi, thời gian trong mỗi hồi được tính theo đồng hồ, thời gian
giữa các hồi tính theo lịch Thời gian trong trữ tình và tự sự thì được tính tự do, đa
dạng
4.1.2.6 Thời gian khép kín và thời gian mở
Thời gian khép kín là thời gian của truyện vận động theo các dữ kiện đã cho cho
đến khi kết thúc Thời gian mở là thời gian của tiến trình sự kiện, trong đó xuất hiện
những khả năng mới, bước ngoặt mới mà không hề do ai hay do việc gì định trước Do
đó tác phẩm kết thúc không theo các dữ kiện ban đầu, mà theo dữ kiện mới, có viễn
cảnh mới Hầu hết kịch, tiểu thuyết hiện đại đều có thời gian mở
4.2 Thời gian nghệ thuật qua các thời kỳ văn học
4.2.1 Thời gian trong thần thoại
Thời gian của thần thoại gắn liền với bản chất của thần thoại Trong thần thoại
không có thời gian thuần túy nằm ngoài hoặc xuyên qua sự vật một cách trừu tượng
Thời gian thần thoại gắn chặt với sự vật Là các thần linh thể hiện các hiện tượng tự
nhiên và chức năng của chúng thời gian có tính chất tuần hoàn, quay vòng tròn của các
sự vật một cách vĩnh viễn
Mặt khác, người nguyên thủy đồng nhất bản chất sự vật với cội nguồn sự vật, do
đó trong thần thoại rất nhiều chuyện về sự khởi đầu, phát sinh, làm cho thời gian thần
thoại trở thành thời gian của sự sáng tạo Hầu hết nhân vật đều có tính khởi đầu
Thời gian của thần thoại là thời gian của vũ trụ khép kín cho nên nó cũng có
tính khép kín, không có liên hệ trực tiếp với một thời gian lịch sử nào Nó nằm ngoài
lịch sử Bên trong thần thoại thì không có đầu và cuối, không có trật tự cho nên hành
động bắt đầu từ đâu và kết thúc khi nào cũng được, và người ta không bao giờ cảm thấy
thiếu thời gian, không bao giờ phải hồi hộp Đó là cách tư duy của người cổ đại Do đó
Trang 6
phạm trù thời gian thần thoại là một phạm trù có tính văn hóa hơn là phạm trù nghệ
thuật
4.2.2 Thời gian trong sử thi
Thời gian trong sử thi là thời gian quá khứ tuyệt đối, cũng là thời gian khép kín.
(Quá khứ tuyệt đối đối với người nghe, còn thời gian trần thuật là thời gian hiện tại
tuyệt đối) Với ba ý nghĩa như sau: Đó là quá khứ của dân tộc Nó tuyệt đối vì không có
quá khứ nào trước nó, nó là quá khứ đầu tiên Đó là ký ức, ký ức cộng đồng chứ không
phải ký ức cá nhân, không phải là nhận thức Đó là thế giới tách hẳn với hiện tại, tách
hẳn thời của người kể, người kể không thể nhìn thấy được thời đó, không sờ mó, xâm
nhập được vào đó, không thể có quan điểm riêng đối với nó
Đi vào cấu trúc của sử thi thì thời gian của nó có một số đặc điểm đặc thù Sử thi
có loại cổ sơ, gắn liền với thần thoại, đậm tính dân gian thường được gọi là sử thi thần
thoại và sử thi cổ điển, có sự gia công của nghệ sĩ Sử thi thể hiện sức mạnh của thị tộc,
của tập thể ở một thời xa xưa, không gắn liền với hiện tại
“Thời gian trong sử thi” đã có yếu tố đã chờ nhưng không phát triển, nó vẫn là
thời gian mang tính không gian Nhân vật ý thức thời gian qua đơn vị “ngày”, có mở
đầu bằng trời sáng và kết thúc bằng trời đêm, còn ban ngày muốn dài bao nhiêu cũng
được Chính đặc điểm trên cho phép sử thi có thể miêu tả sự kiện và nhân vật một cách
tĩnh tại, khoan thai, tường tận và hoành tráng
4.2.3 Thời gian trong cổ tích
Thời gian trong truyện cổ tích thể hiện trong tính liên tục của các biến cố Đó là
thời gian nén chặt, vì chỉ đo bằng sự kiện Thay vì thời gian không được miêu tả thành
dòng chảy, thời gian truyện cổ tích tạo thành từ các thời điểm khác nhau và các điểm
cách quãng Thời gian được tính bằng ngày, đêm, hoặc bằng các vật thể Trong truyện
cổ tích thời gian mang tính chất sự kiện, không có thời gian tâm lý, thời gian đợi chờ
Đó cũng là thời gian khép kín, bao giờ nó cũng là “chuyện đời xưa” Nhân vật
không biết hồi tưởng, không biết ước mơ, nghĩa là nhân vật luôn luôn sống với hiện tại
Do đó không xác định được lịch sử, không thể nối liền thời gian cổ tích với một thời
gian lịch sử nào
4.2.4 Thời gian trong văn học viết trung đại
Thời gian trong văn học viết trung đại chịu ảnh hưởng nhiều của văn học dân
gian, cho nên nhiều tác phẩm tự sự cũng mang tính chất thời gian sử thi, cổ tích
Trang 7
Trong thơ trữ tình, (thơ Đường) là thời gian sinh mệnh của đời người Cuộc đời
ngắn ngủi, chóng qua, vô thường nhất là khi so với những gì bất biến Ý thức về thời
gian đời người khiến thi nhân chỉ hứng thú với thời hiện tại, sợ hiện tại trôi mất Thời
gian vũ trụ, thiên nhiên, đây là thời gian bất biến, vĩnh cửu, hóa thân vào thiên nhiên để
tìm thấy sự yên tĩnh của tâm hồn Thời gian lịch sử cảm thấy sự hưng vong, thịnh suy.
Thời gian tiên cảnh tính bằng vĩnh viễn Thời gian sinh hoạt tính bằng buổi, ngày, với
các sự thực thực tế Mỗi hình thức thời gian có độ đo của nó Thời gian thể hiện qua
những khoảnh khắc bừng ngộ
Trong truyện trung đại, đáng chú ý là thời gian vũ trụ Thời gian tuần hoàn, luân
hồi làm cho con người có thể hóa kiếp, chết sống đắp đổi Thời gian biên niên sử là nét
rất đặc trưng, thường là thời gian triều đại, thể hiện ý thức văn sử bất phân Nhiều
trường hợp yếu tố biên niên chỉ gây ảo giác về tính chân thực, có thực
Trong truyện thơ Nôm đã có các hình thức thời gian đa dạng Trong Truyện
Kiều, đáng chú ý là thời gian sự kiện gấp khúc, thời gian tâm trạng Truyện Kiều có thời
gian giữa các sự kiện: Sen tàn cúc lại nở hoa, Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân”,
tạo tiết tấu nhịp nhàng cho truyện Cảm giác thời gian của nhân vật khá phát triển, luôn
vội vàng hành động, lo lắng cho tương lai…
Trong thể ngâm khúc có những hình thức thời gian mới, thời gian kéo dài thời
gian tiễn đưa chinh phu ra trận; dùng nhiều hệ thống tính: tính mùa, tính buổi, tính
ngày, tính năm để thấy thời gian trông ngóng dài dằng dặc Trong Cung oán ngâm có
thời gian hư ảo
Nhìn chung, thời gian nghệ thuật trong văn học trung đại, nhìn qua văn học Nga
cổ, theo Likhasốp, có những đặc điểm sau:
Thời gian trần thuật phụ thuộc vào mật độ sự kiện nhiều hay ít Phương diện chủ
quan của thời gian trần thuật chưa được phát hiện cho nên khép kín trong sự kiện, mặc
dù tính khép kín được khắc phục dần
Do tác động của quy luật cảm thụ toàn vẹn, khi kể một truyện người ta kể từ đầu
cho đến cuối sự kiện, không bao giờ kể từ giữa, hay từ một bộ phận của nó Do vậy,
thời gian nghệ thuật luôn có tính đơn hướng, lời kể đều đặn, lặng lẽ
4.2.5 Thời gian trong văn học cận, hiện đại
Thời gian trong văn học cận đại đặc biệt phong phú với nhiều hình thức đa dạng,
như thời gian tâm lý, thời gian sinh hoạt, thời gian lịch sử…
Trang 8
4.2.5.1 Thời gian trong tiểu thuyết cận, hiện đại trước thế kỷ XX đánh dấu sự
phát triển chủ quan của nó, sự đa dạng hóa các hình thức trần thuật, làm cho thời gian
nghệ thuật thoát khỏi sự ràng buộc của thời gian sự kiện, nhà văn có khả năng chủ động
bao quát và biểu hiện những phương diện mới của con người
Văn học hiện thực chủ nghĩa thế kỷ XIX đổi mới quan niệm về hiện tại Thời
hiện tại đã phân hóa thành hiện tại xã hội (trạng thái xã hội) và thời gian cá nhân – mỗi
nhân vật có riêng thời gian của mình Người ta khám phá thời gian theo các bình diện
khác nhau Thời gian sinh hoạt là một cống hiến của văn học hiện thực phê phán thế kỷ
XIX Các nhà văn hiện thực chủ nghĩa cũng đưa vào văn học một thời gian lịch sử, thời
gian xã hội (Thời gian vận động xã hội, thời gian của những biến thiên lịch sử, của
những cuộc cách mạng) Nhưng trong chủ nghĩa hiện thực phê phán thời gian lịch sử
chưa được tái hiện một cách hoàn thiện
Thời gian lịch sử bộc lộ rõ nhất trong chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa - Ở
đó thời gian gắn liền với một phương diện tồn tại của hiện thực nên việc mở rộng
không ngừng giới hạn của thời gian chính là một sự phát triển của văn học
Tóm lại, trong văn học cận, hiện đại trước thế kỉ XX, trước hết là trong tiểu
thuyết đã phát hiện yếu tố thời gian chủ quan trong thời gian trần thuật và thời gian
nhân vật, giải phóng sức sáng tạo của nhà văn và mở đường đi vào thế giới nội tâm
nhân vật Việc vận dụng thời gian xã hội, thời gian lịch sử và thời gian sinh hoạt đời
thường tạo khả năng lý giải cuộc sống được sâu sắc, giàu nội dung triết lý
4.2.5.2 Văn học thế kỷ XX đã có thêm nhiều hình thức thời gian nghệ thuật mới.
Xáo trộn các bình diện thời gian Miêu tả quá khứ trong ký ức, khắc họa ấn
tượng thời gian kéo dài trong tâm hồn so với thời gian ngắn ngủi trong thực tế Các nhà
văn hiện đại có xu hướng rút ngắn khung thời gian sự kiện bên ngoài mà kéo dài thời
gian bên trong tâm hồn
Các hình thức thời gian trên đây gắn liền với quan niệm nghệ thuật về con người
“Con người là tổng thể của mọi ký ức” (M.Prust), “Con người là tổng thể mọi quá khứ
của họ” (Fốcnơ) Quan niệm nghệ thuật về thời gian của các nhà văn hiện đại có ưu và
nhược điểm, nhưng mỗi người đều mở ra những khía cạnh mới
4.3 Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.
4.3.1 Vài nét về Thạch Lam
Thạch Lam (1910-1942), là em ruột của 2 nhà văn Nhất Linh và Hoàng Đạo, cả
ba đều là thành viên của nhóm Tự lực Văn Đoàn Thuở nhỏ sống ở quê ngoại, phố
Trang 9
huyện Cẩm Giàng, Hải Dương, sau này trở thành không gian nghệ thuật cho nhiều sáng
tác của Thạch Lam Ông là người đôn hậu, điềm đạm và tinh tế Có biệt tài về truyện
ngắn, chủ yếu khai thác thế giới nội tâm nhân vật Mỗi truyện như một bài thơ trữ tình
đượm buồn, giọng điệu điềm đạm Văn Thạch Lam trong sáng, giản dị mà thâm trầm,
sâu sắc
Ông phủ định khuynh hướng thoát li hiện thực, khẳng định sự gắn bó không thể
tách rời giữa văn học nghệ thuật và đời sống xã hội Khi nhìn nhận vai trò của văn
chương, Thạch Lam nghiêng về thiên chức nâng đỡ và hoàn thiện tâm hồn con người
Đó là một quan điểm rất tiến bộ và sâu sắc
Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” được trích từ tập “Nắng trong vườn” (1938); đây là
tác phẩm tiêu biểu cho phong cách truyện ngắn Thạch Lam Hai đứa trẻ (Liên – An)
được mẹ giao trông coi một gian hàng nhỏ Chiều nào cũng vậy, sau khi dọn hàng xong,
hai đứa trẻ cố thức để đợi chuyến tàu đêm từ Hà Nội về ngang qua phố huyện Đây là
một phố huyện nghèo trước cách mạng, hiện lên trong tác phẩm ở ba thời điểm lúc
chiều tối, đêm khuya và khi chuyến tàu đến rồi đi qua
4.3.2 Về thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”
“Thời gian khách quan luôn tuân theo quy luật một chiều trong mối tương quan
của vũ trụ: Quá khứ - Hiện tại – Tương lai, đó là chiều của mũi tên thời gian”
(S.W.Hawking) “Tuy nhiên thời gian trong tác phẩm văn học được tái tạo lại mang
tính chủ quan của tác giả Cả về chiều dài, quy mô, hướng vận động của nó đều tùy
thuộc vào cảm quan cá nhân của nhà văn” (Nguyễn Thị Bích Hải) Trong tác phẩm
này, ta thấy, thời gian vừa được miêu tả theo trình tự thời gian sự kiện từ chiều đến tối
và về khuya Đồng thời, Truyện ngắn này của Thạch Lam chủ yếu là từ điểm nhìn của
nhân vật trong truyện, với những liên tưởng quá khứ, cho nên thời gian trong truyện
ngắn “Hai đứa trẻ” chiếm phần nhiều là thời gian tâm lý, thời gian ký ức.
4.3.2.1 Thời gian sự kiện
Thời gian sự kiện là chuỗi liên tục của các sự kiện trong quan hệ liên tục trước
sau, nhân quả Có người gọi đây là thời gian “lịch sử”, thời gian truyện Đó là các tên
gọi ước lệ Thời gian sự kiện có thể được tính theo độ dài thời gian mà nó diễn ra Theo
thời gian sự kiện, “Hai đứa trẻ” được bố cục thành ba cảnh: Phố huyện lúc chiều
xuống, phố huyện lúc đêm về, phố huyện lúc đoàn tàu đêm đi qua Cảnh quan trọng
nhất là cảnh cuối (chứa đựng hình ảnh sáng, vui, nhộn nhịp, được chờ đợi nhiều nhất)
thì lại được miêu tả ngắn nhất Điều này rất ăn nhịp với cảm giác về nhịp điệu thời
Trang 10
gian: với tâm trạng chờ đợi khắc khoải thời gian trở nên như chậm rãi hơn, với cái nhìn
đắm say và tâm trạng khao khát, tiếc nuối, thời gian trôi đi gấp gáp hơn
Truyện khởi đầu bằng những câu văn miêu tả tiếng trống thu không trên chòi
canh của huyện nhỏ với những âm rền thong thả, chậm rãi từng tiếng một vang ra như
để gọi buổi chiều: “Tiếng trống thu không trên cái chợ của huyện nhỏ; từng tiếng một
vang xa để gọi buổi chiều Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh
hồng như hòn than sắp tàn Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền
trời.
Chiều, chiều rồi Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran
ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào Trong cửa hàng hơi tối, muỗi đã bắt đầu vo
ve” Dù là phố huyện nhưng cách đo thời gian nơi đây có vẻ vẫn theo lối cổ xưa, điểm
bước đi của thời gian và sinh hoạt của một vùng bằng tiếng trống Nét đặc biệt ấy gợi ý
thức về thời gian giúp tác giả dẫn người đọc theo dõi cảnh quay chi tiết hình ảnh một
buổi chiều tàn với những nét rực rỡ: “Phương Tây đỏ rực như lửa cháy và những đám
mây ánh hồng như hòn than sắp tàn” Cả mặt trời lúc sắp xuống núi lẫn những đám
mây từ phía chân trời đều như đang bốc cháy lần cuối trước khi từ giã ban ngày,
nhường chỗ cho cảnh tượng dãy tre làng (như thể đã bị đốt cháy) đen lại, cắt hình rõ rệt
trên nền trời” Tất cả những hình ảnh ấy đều được Thạch Lam dùng để miêu tả sự vận
động của thời gian, nó chuyển động từng chút, từng chút một Nhà văn đã dùng màu
sắc để miêu tả sự vận động của thời gian: bắt đầu từ cái màu “đỏ rực như lửa cháy” để
miêu tả khoảng thời khắc hoàng hôn, và tiếp theo là “đám mây ánh hồng như hòn than
sắp tàn” và để kết thúc khoảnh khắc ngắn ngủi của hoàng hôn ấy là “dãy tre làng trước
mặt đen lại” Tiếp theo, là âm thanh Bên cạnh màu sắc, hình ảnh, Thạch Lam đã dùng
âm thanh để miêu tả thời gian rất độc đáo Nhà văn đã mô tả được cái thần của buổi
chiều nơi phố huyện nghèo với hàng loạt âm thanh đặc trưng: tiếng trống thu không,
tiếng ếch nháy kêu ran ngoài đồng ruộng, tiếng muỗi vo ve,… Những âm thanh ấy gợi
nên không khí tĩnh lặng của buổi chiều quê Hình ảnh mặt trời lặn cũng mang theo vẻ
êm đềm, bình dị và thân thuộc Rõ ràng đây là khoảng thời gian của một buổi hoàng
hôn yên ả, thanh bình, được miêu tả bằng những hình ảnh, âm thanh quen thuộc
Ngòi bút của tác giả thực sự trở nên linh hoạt và sống động khi miêu tả sự vận động
của thời gian qua những diễn biến của cảnh vật Lúc đầu là cảnh “nhá nhem tối” khi
ánh sáng và bóng tối đan xen qua hình ảnh “những hòn đá nhỏ một bên sáng, một bên
tối” Sau đó là hoàng hôn bao phủ: “Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy