1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xu hướng thi pháp học trong thi nhân việt nam

44 478 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xu Hướng Thi Pháp Học Trong “Thi Nhân Việt Nam”
Tác giả Nguyễn Thị Anh
Người hướng dẫn Thầy Giáo Lê Văn Tùng
Trường học Khoa Ngữ Văn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2004
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 261 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính trong tác phẩm này ngoài nhứng vấn đề nh quan niệm về văn học, phơng pháp phê bình… nh các công trình nghiên cứu đã chỉ ra, Hoài Thanh với thực tiễn nghiên cứu, phê bình của mình l

Trang 1

Lời cảm ơn

Khóa luận đợc thực hiện và hoàn thành dới sự hớng dẫn của thầy

giáo Lê Văn Tùng và các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, cùng sự giúp

đỡ, động viên của bàn bè và những ngời thân trong gia đình Tôi xin bày

tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đối với thầy giáo Lê Văn Tùng, các

thầy cô giáo cùng ngời thân bạn bè

Vinh, 05/2004 Tác giả

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài.

Hoài Thanh là một trong những nhà phê bình xuất sắc nhất

của văn học Việt Nam hiện đại Ông đã theo sát từng giai đoạn phát

triển của văn học hiện đại và ở chặng nào tác phẩm phê bình của Hoài

Trang 2

Thanh cũng có ảnh hởng không nhỏ đối với quá trình phát triển của văn

học Việt Nam Định giá về sự nghiệp phê bình văn học của Hoài Thanh

trớc cách mạng, giới nghiên cứu cha thống nhất Có ý kiến gọi thẳng là

phơng pháp phê bình ấn tợng, có nghĩa họ xem phê bình nh đồng sáng

tạo với nhà văn, nhiều khi tự do vào tác phẩm, tìm ra cái hay cái đẹp của

tác phẩm Ngợc lại có ý kiến rất dè dặt khi định danh phơng pháp phê

bình Hoài Thanh.Theo họ, phơng pháp phê bình Hoài Thanh là sự kết

hợp phê bình truyền thống và có dấu ấn của phê bình ấn tợng Nếu

khẳng định phơng pháp phê bình của Hoài Thanh theo ấn tợng chủ nghĩa

là hơi cực đoan Bởi vì, Hoài Thanh không nghiêng hẳn về trờng phái

phê bình nào mà ông đi theo con đờng riêng, vừa có sự kết hợp với phê

bình truyền thống vừa chịu ảnh hởng của chủ nghĩa phê bình ấn tợng

Pháp Chính điều này tạo nên dấu ấn có xu hớng thi pháp học hiện đại

trong “ Thi nhân Việt Nam” Việc khảo sát những dấu ấn đó góp phần

đánh giá đúng hơn “ Thi nhân Việt Nam” và công lao của Hoài Thanh

Tác phẩm “ Thi nhân Việt Nam” là công trình đầu tiên có ý

nghĩa tổng hợp phong trào Thơ mới Đồng thời “ Thi nhân Việt Nam”

cũng đợc đánh giá là công trình nghiên cứu văn học lớn nhất của văn

học Việt Nam lúc bấy giờ Chính trong tác phẩm này ngoài nhứng vấn

đề nh quan niệm về văn học, phơng pháp phê bình… nh các công trình

nghiên cứu đã chỉ ra, Hoài Thanh với thực tiễn nghiên cứu, phê bình của

mình là một trong những ngời đầu tiên tiếp cận văn học để tìm giá trị

độc đáo của nghệ thuật ngôn từ, vốn là mục tiêu của thi pháp học Công

việc Hoài Thanh làm trong “ Thi nhân Việt Nam” dờng nh theo một thứ

lý thuyết “ vô ngôn” nào đó mà ông cảm nhận đợc từ chính quan điểm

của ông: “ Tìm cái đẹp trong tự nhiên là nghệ thuật, tìm cái đẹp trong

nghệ thuật là phê bình” Điều đó khẳng định giá trị của phơng pháp

nghiên cứu theo quan điểm thi pháp học ngay cả khi lý thuyết này cha

chính thức xâm nhập vào Việt Nam

Hoài Thanh là ngời có kinh nghiệm phê bình văn học Vì thế, việc

tìm hiểu “ Xu hớng thi pháp học trong thi nhân Việt Nam” sẽ rút ra đợc

bài học quý giá, những kinh nghiệm bổ ích về sự sáng tạo khoa học, t

duy độc lập, tiếp thu một cách chọn lọc chứ không dập khuôn máy móc

Mặt khác, những ý kiến đánh giá trong “ Thi nhân Việt Nam” đợc giáo

viên và học sinh trích dẫn rất nhiều trong dạy và học Do vậy nghiên cứu

“xu hớng thi pháp học trong thi nhân Việt Nam” góp phần tạo nên cái

nhìn đa diện nhiều chiều về “Thi nhân Việt Nam” để thấy giá trị to lớn

của Thi nhân Việt Nam cũng nh tài năng của Hoài Thanh

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Trang 3

2.1 Trớc khi đi vào kiểm định lịch sử nghiên cứu tác phẩm “Thi

nhân Việt Nam”, chúng ta thử điểm qua lịch trình nghiên cứu về Hoài

Thanh Hoài Thanh là gơng mặt nổi bật của phê bình văn học Việt Nam

hiện đại Hoạt động của ông nằm trọn trong hai giai đoạn quan trọng

của lịch sử văn học Việt Nam Giai đoạn 1930- 1945 với sự hình thành

trọn vẹn và rực rỡ của văn học hiện đại và giai đoạn 1945 - 1975 với sự

xác lập địa vị của văn học cách mạng theo ý thức hệ vô sản trong sự

nghiệp kháng chiến xây dựng quốc gia độc lập, thống nhất theo xu thế

tiến bộ xã hội Gần nửa thế kỷ hoạt động văn học, ở giai đoạn nào Hoài

Thanh cũng đóng góp vai trò đáng kể của vị kiện tớng, để lại dấu ấn

không phai mờ

Hoài Thanh đợc d luận chú ý ngay từ năm 1942 khi “ Thi nhân

Việt Nam” ra đời Với tác phẩm này, Hoài Thanh đã thu hút đợc các cây

bút thời bấy giờ nh Đinh Gia Trinh, Vũ Ngọc Phan, Lê Thanh, Thanh

Lũng, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Tấn Long, Phạm Thế Ngũ…

Đến những năm 1960 khi cuốn “ Tiểu luận và phê bình I, II, III”

ra mắt độc giả, Hoài Thanh lại trở thành đề tài để nhà nghiên cứu phải

tốn giấy mực Đó là các tác giả: Lê Anh Trà, Xuân Tửu, Trương Chính,

Phan Trọng Luận, Phan Cự Đệ… Nói chung có nhiều ý kiến khác nhau

nhưng đều nhận thấy được vai trò, vị trí không thể thiếu trong sự trưởng

thành của ngành nghiên cứu phê bình văn học cách mạng Việt Nam

Năm 1982, Hoài Thanh trở thành người thiên cổ Đất nước đang đổi

thay từng bước trong hòa bình Đồng nghiệp, bố bạn đó bày tỏ lòng

thương tiếc và kính trọng Hoài Thanh qua những bài viết cú tính chất

tưởng niệm Đáng chú ý hơn cả là những bài của Đặng Thai Mai, Huy

Cận, Nguyễn Bảo, Lữ Huy Nguyễn, Từ Sơn, Hoài Chân, Thiếu Mai…

các tác giả đều khẳng định nhân cách đáng quý của Hoài Thanh và trân

trọng những tác phẩm của ông Cho đến nay đó cú gần 70 bài viết về

Hoài Thanh từ nhiều gúc độ khác nhau Điều đó chứng tỏ những tác

phẩm phê bình của Hoài Thanh không phải chỉ có giá trị nhất thời mà

còn có ý nghĩa lâu dài

2.2 Lịch sử nghiờn cứu, đỏnh giỏ về “ Thi nhõn Việt Nam”

Cú thể chia thành 3 giai đoạn rừ rệt:

Trang 4

Giai đoạn trước cách mạng tháng tám, khi “ Thi nhân Việt Nam”

vừa mới xuất hiện, dư luận văn giới không đánh giá cao cuốn hợp tuyển

này Bài viết đầu tiên về Hoài Thanh là Diệu Anh (Đinh Gia Trinh) với

nhan đề “Nói chuyện thơ nhân quyển“ Thi nhân Việt Nam 1932 -1941”

đăng trên báo Thanh Nghị ngày 16/08/1942 Theo Diệu Anh chỉ có

“phần khảo luận về “ Một thời đại trong thi ca” viết rất công phu”, còn

từ tên sách đến việc lựa tuyển và những nhận xét về nhà thơ, Diệu Anh

đều muốn bàn bạc thêm với Hoài Thanh Trong cuốn sách đồ sộ của Vũ

Ngọc Phan, Hoài Thanh còn đứng ở một vị trí khá khiêm tốn, tác giả

“Nhà văn hiện đại” cho rằng Hoài Thanh đã “ làm hợp tuyển không theo

hợp tuyển” mà giống văn học sử “viết cộc lốc” “ chủ quan” “chia ba

dòng không hợp lý” mà không nghĩ rằng Tthi nhân Việt Nam là cuốn

sách có giá trị cao Tuy nhiên, Vũ Ngọc Phan cũng phải thừa nhận năng

lực của Hoài Thanh thể hiện ở những trang viết “mới mẻ hơn” “xếp đặt

có nghệ thuật hơn” Và chính Vũ Ngọc Phan là người đầu tiên chỉ ra đặc

điểm cơ bản của ngòi bút Hoài Thanh “ phê bình rặt cái hay cái đẹp”

Giai đoạn 1945 – 1980 do bối cảnh nhận đường, tìm đường lột

xác để đi theo cách mạng nên hầu hết các nhà văn, nhà thơ hầu như phủ

định thành quả văn học trước cách mạng Thơ mới và những tác phẩm

viết về thơ mới đều bị đối xử khá bất công trong đó có “Thi nhân Việt

Nam” Ở Miền Nam có một số nhà nghiên cứu: Thanh Lãng, Nguyễn

Văn Trung, Nguyễn Tấn Long, Phạm Thế Ngũ Những tác giả này, Hoài

Thanh không phải là trọng tâm nghiên cứu nên họ chỉ dành cho ông

những đánh giá chung về vị trí,quan điểm Nguyễn Văn Trung cho rằng

“Hoài Thanh thời tiền chiến là người chủ trương nghệ thuật vi nghệ

thuật”, “quan điểm phê bình ấn tượng” Phạm Thế Ngũ ghi nhận “ Thi

nhân Việt Nam” là một trong hai tác phẩm đáng chú ý trong những năm

1940 – 1945 vì đã “nghiên cứu phê bình văn học mới trên lập trường

tổng quát” Thanh Lãng tường thuật lại các cuộc tranh luận nghệ thuật

hồi 1935 -1939 và không bình luận gì thêm nhiều Ông đã xếp “Thi

nhân Việt Nam” vào nhóm “ phê bình văn học sử” và cả nhóm “phê

bình xã hội” Nguyễn Tấn Long cũng tường thuật lại cuộc tranh luận

“Thơ mới-Thơ cũ”, “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vi nhân

Trang 5

sinh” và tỏ ý đồng tình với những luận điểm của những người bị Hải

Triều công kích Ông cho rằng “Hoài Thanh có lý khi quan niệm “Bông

hoa chỉ làm thỏa mãn tình cảm con người thôi, không ích lợi gì, nhưng

không phải không có giá trị với cuộc sống” Nguyễn Vĩ là nhà thơ được

Hoài Thanh trích tuyển và ca ngợi trong “Thi nhân Việt Nam” nhưng

Nguyễn Vĩ không mấy thiện cảm về Hoài Thanh, trong cảm nhận của

Nguyễn Vỹ, Hoài Thanh là “nhà phê bình rất chủ quan”, “muốn làmmột

biên khảo về phê bình văn học mà lại thiếu tự trọng, thiếu cả lương tâm

văn nghệ”

Còn ở Miền Bắc, tình hình còn tồi tệ hơn Chính Hoài Thanh “

nhìn lại” và cho rằng ông đã “sai từ gốc sai đi”, “gây tác hại nhiều” Vũ

Đức Phúc khá nặng nề khi tường thuật lại cuộc tranh luận nghệ thuật hồi

1935 – 1939 đã phê phán Hoài Thanh cùng phái “vị nghệ thuật” đã theo

thuyết “bất khả tri”, “ không phân biệt giai cấp” “sợ đế quốc và sợ ca

phong trào cộng sản”

Giai đoạn 1980 đến nay: Trong không khí đổi mới, tất ca các hiện

tượng văn học “có vấn đề” đều được nhìn lại và đánh giá công bằng

hơn Đặc biệt năm 1992, hội thảo khoa học kỷ niệm 50 năm “Thi nhân

Việt Nam”, 10 năm ngày mất nhà văn Hoài Thanh đã được tổ chức Có

hơn 40 tham luận gửi về, trong đó có nhiều bài đều đồng nhất khẳng

định giá trị của “Thi nhân Việt Nam”.GS.TS Nguyễn Duy Quý phát

biểu “Thi nhân Việt Nam” là cuốn sách “đặc sắc” “hiếm thấy một công

trình nghiên cứu-phê bình văn học có sức sống lâu bền và mãnh liệt đến

như vậy, GS Phong Lê cho rằng “rồi người đời sẽ quên dần và quên hết

các chức tước, các trọng trách mà ông giữ, dể chỉ còn và còn mãi mãi

tác giả “Thi nhân Việt Nam” Công trình công phu nhất là của nhà

nghiên cứu Trần Thanh Mại trong cuốn “Sự nghiệp phê bình văn học

của Hoài Thanh “đã bàn về toàn bộ đóng góp của Hoài Thanh đối với

nền văn học, trong đó tác giả đã chỉ ra nhiều bình diện từ quan niệm về

văn học, phương pháp phê bình rồi phong cách phê bình Hoài Thanh

Trần Thanh Mại đánh giá rất cao vị trí Hoài Thanh trong sự nghiệp phê

bình cũng như sự nghiệp văn học

Trang 6

2.3 Về “ xu hướng thi pháp học trong thi nhân Việt Nam”

Đầu tiên phải kể đến GS Hoàng Trình trong bài viết của mình có

đề cập đến những dấu hiệu có ý nghĩa thi pháp học trong “Thi nhân Việt

Nam” nhưng Giáo sư chỉ coi việc phân tích đó là phương tiện, con

đường để khẳng định phong cách Hoài Thanh đọc “Thi nhân Việt Nam,

trước hết ta gặp một nhà thơ ở giữa các nhà thơ” chứ không đi sâu tìm

dẫn chứng, tư liệu trong phong trào Thơ mới để chứng minh Đến GS

Nguyễn Đức Hiểu trong cuốn “Thi pháp hiện đại” đã khẳng định tác

phẩm văn chương của Hoài Thanh “ thấm đượm tinh thần chủ nghĩa ấn

tượng”, Giáo Sư đã vạch ra những dẫn chứng để chứng minh cho luận

điểm của mình Ông phát hiện ra “ nguồn cảm hứng của tác phẩm không

phải là cuộc sống, tình yêu, thiên nhiên mà lại là những bài thơ, những

tập thơ với những cảm xúc dạt dào, những rung động tinh tế”, “ truyền

cho người đọc thế giới tình cảm riêng của mình bằng một bút pháp đầy

chất thơ” “ tạo thế giới thơ hấp dẫn và quyến rũ” Ngoài ra GS Đỗ Đức

Hiểu còn lý giải tại sao “ Thi nhân Việt Nam” lại có sức thuyết phục

mọi người như vậy, đó là do “sự hòa hợp, sự tương ứng kỳ diệu giữa

phong cách Hoài Thanh và linh hồn thơ mới” Hoài Thanh chiếm trọn

một bài, như là một chương trong công trình “ thi pháp hiện đại” của Đỗ

Đức Hiểu, chứng tỏ nhà nghiên cứu trong chừng mực nào đó đã xem

công việc của Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” là công việc của

người làm thi pháp học, mặc dù chưa có tài liệu nào cho biết lý thuyết

này vào thời đó ( trước 1942) đã có mặt hay chưa ở Việt Nam Chúng

tôi sẽ theo hướng đi này, từ góc độ lý thuyết thi pháp học hiện đại tìm ra

những yếu tố có ý nghĩa thi pháp học trong “ Thi nhân Việt Nam” và lấy

dẫn chứng trong phong trào Thơ mới để chứng minh cho những nhận

xét của mình

3 Phương pháp nghiên cứu.

3.1 Tìm hiểu xu hướng thi pháp học trong “ Thi nhân Việt

Nam”có nghĩa là tìm các dấu hiệu thi pháp học hiện đại có trong “ Thi

nhân Việt Nam” Trước hết chúng tôi cần khảo sát thống kê, phân tích

và đối chiếu các dấu hiệu đó của “ Thi nhân Việt Nam” với các khía

Trang 7

cạnh lý thuyết thi pháp học tương ứng để thấy rõ được tính xu hướng,

sức sống của “Thi nhân Việt Nam” khi chính tác giả của nó chưa có lý

thuyết này

3.2 “ Thi nhân Việt Nam” vừa là công trình nghệ thuật vừa là tác

phẩm phê bình văn học Do đó chúng tôi sẽ tiến hành so sánh với trường

phái phê bình “ vị nhân sinh” để thấy được nét độc đáo của phong cách

phê bình Hoài Thanh Đồng thời các cuộc luân chiến văn học diễn ra

trước và cùng thời để thấy được giá trị sâu xa của các luận điểm Hoài

chúng tôi phải xuất phát từ một số lý thuyết thi pháp học để nhìn vào

“Thi nhân Việt Nam” xem Hoài Thanh đã đáp ứng được những yếu tố

nào của thi pháp học hiện đại

4.2 Phạm vi đề tài

Khóa luận này, chúng tôi nghiên cứu xu hướng thi pháp học

trong “Thi nhân Việt Nam, một công trình phê bình văn học đầu tiên có

giá trị khẳng định vai trò nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình văn học của

Hoài Thanh

5 Nhiệm vụ của đề tài.

Để khám phá xu hướng thi pháp học trong “ Thi nhân Việt

Nam” trước hết phải hiểu khái niệm thi pháp học và các phạm trù thi

pháp học về mặt lý thuyết một cách cơ bản để làm cơ sở cho việc đánh

giá

Đi sâu nghiên cứu xu hướng thi pháp học hiện trong “Thi nhân

Việt Nam” trên 4 bình diện cơ bản trong rất nhiều bình diện khác

+) Quan niệm nghệ thuật về con người

+) Không gian nghệ thuật

Trang 8

+) Thời gian nghệ thuật.

+) Ngụn từ nghệ thuật

6 Cấu trúc luận văn.

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn đợc triển khai ba chơng

Chơng I: Về thi pháp học và hớng nghiên cứu phê bình văn học theo

thi pháp học

Chơng II: “Thi nhânViệt Nam “ và xu hớng thi pháp học

Chơng III: Thành công và giới hạn của “ Thi nhân Việt Nam” từ góc

nhìn thi pháp học

Chơng I về thi pháp học và hớng nghiên cứu phê bình

văn học theo thi pháp học

I.1 Thi phỏp học và cỏc khỏi niệm cơ bản.

I.1.1 Khỏi niệm thi phỏp học

Thi phỏp học ra đời rất sớm, cỏch chỳng ta ngày nay khoảng 2.400

năm với cụng trỡnh “ Thi phỏp học” của Arixtốt nghiờn cứu về văn học

cổ đại Hy Lạp, thi phỏp từ khi ra đời cho hết thế kỷ XIX được gọi là thi

phỏp học truyền thống (Thi phỏp học dành cho người sỏng tạo) Thi

phỏp học hiện đại ra đời trờn thế giới từ đầu thế kỷ XX và đạt cao điểm

những năm 30 của thế kỷ XX (Nga, Tiệp Khắc) Nhưng phải mói những

năm 60, nú mới bựng nổ thành trào lưu nghiờn cứu văn học ở tất cả cỏc

nước trờn thế giới trong đú cú Việt Nam Thi phỏp hiện đại miờu tả cỏc

sỏng tỏc, tức là nghiờn cứu cỏc phương thức nghệ thuật mà nhà thơ, nhà

văn sỏng tạo trong tỏc phẩm của mỡnh Từ đú hiểu hết ý nghĩa đa dạng

của nú

Về định nghĩa thi phỏp học Theo GS Hà Minh Đức cú hơn 50

định nghĩa Trờn thế giới hiện nay cú rất nhiều trường phỏi thi phỏp học,

mỗi trường phỏi cú cỏch định nghĩa, cỏc yếu tố khỏc nhau, nhưng cỏc

yếu tố này thường là cỏc yếu tố phụ, mở rộng, đi sau cũn yếu tố chủ yếu

vẫn cú sự thống nhất giữa cỏc trường phỏi

Trang 9

“Từ điển thuật ngữ văn học” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi chủ biên) định nghĩa “ Thi pháp học là khoa học nghiên cứu

thi pháp tức là hệ thống phương thức, phương tiện biểu hiện đời sống

bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học.(256, 6)

I.1.2 Hướng nghiên cứu theo quan điểm thi pháp học

Trong lịch sử nghiên cứu văn học có nhiều hướng đi vào khai thác, đào

sâu tìm hiểu về tác phẩm văn học Chẳng hạn theo hướng xã hội

học, ký hiệu học và hướng nghiên cứu theo quan điểm thi pháp học

cũng là một trong nhiều phương pháp nghiên cứu văn học Hướng

nghiên cứu này chủ yếu đi vào nghiên cứu những khám phá nghệ thuật

của nhà văn, qua hình thức nghệ thuật trong văn bản để trả nghệ thuật về

cho nghệ thuật Nhưng như vậy không có nghĩa là nghiên cứu sáng tạo

nghệ thuật tách biệt cuộc sống con người( nhân sinh) ngược lại nó là

một con đường đi sâu vào thế giưới bí ẩn “Con Người”, vào năng lực,

phẩm giá, số phận của con người Bởi vì nghệ thuật do con người sáng

tạo ra và nghệ thuật là của con người, nhằm nói về cuộc sống vật chất

cũng như tâm hồn của con người

Hướng nghiên cứu này trong thế kỷ XX đã đạt nhiều thành tích

lớn, mở ra con đường thuận lợi, hợp lý để đi vào thế giới sáng tạo nghệ

thuật của nhà văn Nước đầu tiên đi theo nghiên cứu này phải kể đến

nước Nga với các nhà nghiên cứu lừng danh Khrapchencô và Bakhtin

Đặc biệt là Bakhtin, người ta gọi Bakhtin là nhà bác học về văn học, ông

đã từng có nhiều công trình nghiên cứu về triết học, mĩ học, lý luận văn

học rộng lớn Các tác phẩm tiêu biểu “Những vấn đề thi pháp

Đoxtôiepxki (1929, 1968, 1967, 1979), “Sáng tác của Phrăngxoa

Robơle và văn học dân gian thời trung đại và phục hưng” (1965),

“ Những vấn đề văn học và mĩ học” (1975) “Mĩ học sáng tác ngôn từ”

(1979)

Ở Việt Nam, lý thuyết thi pháp học xâm nhập vào Miền Nam từ

những năm 50, 60 của thế kỷ XX (ảnh hưởng trực tiếp của phương Tây)

đến đầu những năm 80 mới trở thành một lý thuyết nghiên cứu văn học

được thừa nhận trong cả nước Từ đó đến nay, những công trình nghiên

Trang 10

cứu văn học theo hướng thi pháp học đã đạt những thành công lớn và có

hiệu quả cao trong đời sống văn học của thời đại Hàng trăm luận án

tiến sĩ, luận án thạc sĩ, cử nhân vài chục năm lại đẩy phần lớn tiến hành

theo xu hướng nghiên cứu thi pháp học

Trên đây là hướng nghiên cứu theo thi pháp học hiện đại Còn theo

hướng thi pháp học cổ truyền Ở phương tây, người đầu tiên ta phải kể

đến là Arixtốt Ở phương Đông phải kể đến Lưu Hiệp với cuốn “Văn

tâm điêu long” Còn ở Việt Nam thời Trung đại, tuy không có những

công trình chuyên khảo nhưng các ý kiến về thơ văn tập hợp trong cuốn

“Từ trong di sản” nhiều ý kiến có xu hướng thi pháp học Như vậy một

người nghiên cứu văn học trong một thời đại chưa biết đến một lý

thuyết nghiên cứu mới vẫn có thể nghiên cứu bằng những thao tác,

phương pháp của lý thuyết đó Điềi này tạo ra một thứ lý thuyết “ vô

ngôn”, “Thi nhân Việt Nam” ở vào trường hợp đó

I.2.Một số khái niệm khác của thi pháp học.

“Văn học là khoa học về con người” (Gorki) Quan niệm văn

học không gì khác hơn ngoài phản ánh, thể hiện con người, vì con

người con người là đối tượng chủ yếu của văn học Dù miêu tả thần

linh, ma quái, miêu tả đồ vật, hoặc đơn gian miêu tả các nhân vật, văn

học đều thể hiện con người Lý giải thơ văn không thể không xem xét

đối tượng con người thể hiện trong đó

Con người trong văn học không phải là con người hiện thực trong

cuộc sống, nhà văn không sao chép, quy chụp nguyên si con người

ngoài cuộc đời Con người trong văn học được phản ánh, miêu tả thông

qua lăng kính chủ quan của người nghệ sỹ, nó bị thế giới quan, lập

trường, tư tưởng nhà văn quy định, nó được nghệ thuật hóa một cách

thẩm mĩ

Mỗi nhà văn miêu tả nhân vật dưới mỗi góc độ khác nhau, vì thế,

khám phá, tìm hiểu đối tượng phản ánh, tìm hiểu sự lựa chọn đối tượng

phản ánh, ta có thể thấy được thái độ của nhà văn, nhà thơ đó

Trang 11

Vậy thực chất “quan niệm nghệ thuật về con người” là gì? Theo

GS Trần Đình Sử “ quan niệm nghệ thuật về con người là sự lý giải, cắt

nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các kiện pháp thể

hiện con người trong văn học, tạo giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các

hình tượng nhân vật đó”.(41, 8)

Tác giả Nguyễn Thị Bích Hải trong “ Thi pháp thơ Đường” quan

niệm “ quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù rất quan

trọng của thi pháp học Nó hướng ta nhìn về đối tượng chủ yếu của văn

học, trung tâm của quan niệm thẩm mĩ của nghệ sĩ Hình tượng nghệ

thuật (nhân vật con người) xuất hiện trong tác phẩm bao giờ cũng mang

tính quan niệm, tức là cách phản ánh, miêu tả, thể hiện nhân vật, con

người bao giờ cũng mang trong nó quan niệm của tác giả”.(35, 3)

Tiếp thu các quan niệm trên, đồng thời theo cách hiểu của các nhà

thi pháp học hiện đại, chúng ta có thể lý giải một cách ngắn gọn, đơn

giản về khái niệm này Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm

trù cơ bản, quan trong của thi pháp học hiện đại, khái niệm “ quan niệm

nghệ thuật” về con người là cách cắt nghĩa, lý giải của nhà văn, nhà thơ

về con người, cách phát hiện khám phá thế giới tâm linh của con người

với ước mơ, khát vọng đối với cuộc đời, với tương lai

Con người là ẩn số luôn luôn biến đổi Do đó quan niệm nghệ

thuật về con người cũng biến đổi Hơn nữa, tác phẩm văn học là tác

phẩm của một thời đại nhất định cho nên nó chịu sự chi phối của điều

kiện lịch sử xã hội, tùy vào từng thời đại, dân tộc đặc biệt phụ thuộc vào

quan niệm sống của cá nhân nhà văn

Trong thế giới khách quan, bất cứ sự vật nào cũng tồn tại trong

thời gian nhất định Không có sự vật nào tồn tại ngoài thời gian Mọi

dạng tồn tại của vật chất đều có thời gian của mình, nghệ thuật là một

dạng đặc thù nó cũng có thời gian riêng, là phương thức tồn tại của thế

giới vật chất, thời gian cũng đi vào thế giới nghệ thuật cùng với cuộc

sống được phản ánh như là một yếu tố của nó Nếu như mọi hiện tượng

của thế giới khách quan khi đi vào nghệ thuật được soi sáng bằng tư

tưởng và tình cảm, được nhào nặn và sáng tạo để trở thành một hiện

Trang 12

tượng nghệ thuật phù hợp với một thế giới khách quan, phương pháp

sáng tác, phong cách, truyền thống và thể loại nghệ thuật nhất định thì

thời gian trong tác phẩm cũng thế Cũng như thời gian trong thế giới

khách quan, thời gian nghệ thuật là một tập hợp của nhiều thời gian cá

biệt Các thời gian này tác động vào nhau, liên hệ nhau tạo thành cái

nhịp độ chung của sự vận động đời sống

Thời gian nghệ thuật khác với thời gian khách quan do bằng lịch

và bằng đồng hồ Thời gian nghệ thuật do nhà văn sáng tạo ra, nó được

cảm nhận qua chân lý nhân vật với chuỗi các biến cố, sự kiện có nghĩa

thẩm mĩ, là thời gian tâm lý nên trong một tác phẩm có thể là một đời

người, thậm chí nhiều đời người như trong “Tam quốc diễn nghĩa”,

trong “Trăm năm cô đơn”, “Tiếng chim hót trong bụi mận gai” nhưng

cũng có những tác phẩm viết rất dài nhưng thời gian lài chỉ có vài ngày

trong “Và một ngày dài hơn thế kỷ” của Aitmôtov hoặc câu nói của

Trần Đăng Khoa:

“ Có những phút giây dài bằng cả đời người”

Thời gian trong văn học được tổ chức trên nhiều mối quan hệ đa

chiều nhiều lớp, cũng có thời gian hiện tại, quá khứ, tương lai, có khi

đồng hiên Nhiều lúc thời gian cũng thuận chiều hòa nhịp với thiên

nhiên, có lúc thời gian nghệ thuật ngược chiều, có lúc kéo dài giãn cách,

có lúc đứng yên thời gian trong thế giới nghệ thuật có nhiều hình thức

biểu hiện khác nhau, có lúc nó hiện lên trong những từ ngữ thời gian

bằng thời gian, cách tính thời gian Thời gian còn có dấu hiệu như tuổi

trẻ, tuổi già, xuân, hạ, thu, đông, biểu hiện bằng sự vật, các hiện tượng

thiên nhiên: tiếng chim quốc kêu gọi hè, tuyết rơi, mai nở

Xuân đáo bách hoa khai Xuân khứ bách hoa lạc

( Cáo tật thị chung-Mãn Giác Thiền sư)Thời gian nghệ thuật trong thơ là thời gian tâm lý, thời gian của

cảm xúc nhà thơ tạo ra nên nó mang tính quan niệm của nhà thơ Tùy

vào ý đồ của nhà văn mà thời gian được tổ chức theo kiểu nào có khi có

Trang 13

sự chồng chộo đan xen thời gian Điều này do đặc trưng loại hỡnh văn

học qui định Văn học là nghệ thuật ngụn từ, để dựng chõn dung miờu tả

được thế giới tõm hồn con người, nhà văn chỉ cú phương tiện duy nhất

là ngụn ngữ Do vậy, nhà văn phải sắp xếp thời gian hỡnh ảnh, nhịp điệu

sao cho nờu rừ được tư tưởng, chủ đề tỏc phẩm “thời gian thể hiện ý

thức sỏng tạo nghệ thuật”.(63, 8)

Trong hiện thực , không gian và thời gian là hình thức tồn tại của

vật chất Trong năm học, không ghian nghệ thuật là hình thức tồn tại của

thế giới nghệ thuật đồng thời cũng là một thành tố của thế giới nghệ

thuật không gian trong nghệ thuật có mối quan hệ với không gian khách

quan nhng bao giờ chúng cũng có khoảng cách và đặc biệt riêng Đây là

không gian trong quan niệm, trong cách cảm thụ của nhà văn Không

gian trong văn học vừa là hình ảnh không gian vật chất vừa là sự hiện

diễn của không gian trong tâm tởng Đó là không gian đợc tổ chức theo

một trờng nhìn, một điểm nhìn đợc soi sáng qua tâm điểm con ngời và

các mối quan hệ Trong lịch sử văn học, không gian nghệ thuật không

chỉ hiển hiện ở kích thớc, tầm nhìn xa mà quan trọng hơn là ơt phơng

diện định tính không gian nghệ thuật trong ca dao Việt Nam ngày xa là

không gian làng quê thân thuộc sau luỹ tre làng với những hồ ao, giếng

nớc, sân đình Không gian làng quê đợc bao bọc bởi luỹ tre làng, ngăn

cách bởi núi cao:

Núi cao chi lắm núi ơi Che cả mặt trời chẳng thấy ngời thơng.

Còn không gian trong ca dao bao bọc của nho sĩ trung đại là một

không gian vắng vẻ, trầm u, nhàn dật, với núi cao suối vắng, mây ngàn

hạc nội Đó là không gian vũ trụ vô tận mà không gian trân thế chỉ

chiếm một phần rất nhỏ Đến giai đoạn 1930-1945 văn học hiện đại phê

phán lại đi sâu miêu tả không gian trần thế nhỏ hẹp, tiêu điều, quẩn

quanh với những giới hạn vây bủa kiếp ngời nghèo khổ Không gian

nghệ thuật là hình tợng không gian mang tính chủ quan và tợng trng

Dẫu tin tởng: Chung một trời một mộng

Em là em, anh vẫn là anh

Có thể nào vợt qua vạn lý trờng thành Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật.

Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại chủ quan của hình tợng,

chia thành những ranh giới giá trị Trong “Vợ chồng A phủ” có sự phân

chia giữa thế giới địa ngục Hồng Ngài và xứ sở giải phóng ở Phiềng Sa

Trang 14

Cũng nh trong “Đôi mắt” có thể giới của nông dân kháng chiến cởi mở,

lạc quan và bên kia bức tờng là thế giới khép kín của anh Hoàng Không

gian trong văn học đợc hiển hiện bằng các không gian điểm mang tính

-ớc lệ, tợng tợng: Tây trúc, thiên đình, thợng giới, làng quê, bến sông

mô hình hoa các bức tranh thế giới Không gian đợc biểu thị bằng các từ

uốn đợc mã hoá sẵn về ý nghĩa trong đời sống trên cao, dới thấp, tả

khuynh, hữu khuynh Đều đợc dùng để biểu hiện các phạm vi giá trị,

phẩm chất của đời sống xã hội Các yếu tố này làm không gian thấm

đ-ợm nội dung văn hoá truyền thống Không gian nghệ thuật chẳng những

cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ trợng trng

mà còn cho thấy các quan niệm về thế giới chiều sâu cảm thụ của tác giả

hay một giai đoạn văn học Không gian nghệ thuật là mô hình nghệ

thuật về cái thế giới mà con ngời đang sống, đang cảm thấy vị trí số

phận của mình trong đó

Văn học là nghệ thuật ngôn từ Nhà văn đã nghệ thuật hoá ngôn

ngữ hiện quan niệm, cách nhìn của nhà văn Ngôn ngữ nghệ thuật có

quan hệ mật thiết với ngôn ngữ toàn dân tuy nhiên nó không đồng nhất

Ngôn từ văn học là ngôn từ đợc lựa chọn, đợc tổ chức thành văn bản cố

định sao cho nói 1 lần mà có thể giao tiếp mãi mãi Tình hình tợng của

ngôn từ trớc hết phái sinh từ tình hình tợng của việc sáng tạo thế giới

bằng tởng tợng mà ngôn ngữ đều do tác giả phân thân ra mà phát hiệu

một cách hình tợng Nhờ tính hình tợng này trong văn học không chỉ

con ngời mà cỏ cây, muông thú dũng đều có thể phát ngôn, ngời chết,

ma quỷ đều có ngôn từ của chúng Thấp thoáng đằng sau ngôn ngữ là

hình bóng con ngời tác giả

Thông thờng ngời ta hiểu tính hình tợng của ngôn từ qua các

ph-ơng thức tu từ ẩn dụ, nhân hoá Ngoài ra, tính hình tợng của ngôn từ văn

học thể hiện ở chỗ toàn bộ, ngôn từ ở đó đều là ngôn từ miêu tả, thể hiện

ở vần, nhịp từ, câu, tổ hợp câu đuề có chức năng biểu diễn nh diễn viên

sâu khấu nhằm tác hiện thực tại nghệ thuật Do đó ngôn từ văn học

không đơn giản chi ra một thực đại ngoài nó mà là tái hiện trong bản

thân nó Chẳng hạn khi Thạch Lam mở đầu “Hai đứa trẻ” với câu “Tiếng

trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ, từng tiếng một vang để gọi

buổi chiều thì câu văn không chỉ thông báo mà tái hiện cả cái nhịp chậm

chạp, uể oái của buổi chiều nơi phố huyện nhỏ trong thơ ca, bản thân lời

thơ với vần, nhịp diệu, hình ảnh là hình tợng về ngôn từ đẹp giàu cảm

xúc

Các khái niệm trên cha phải là toàn bộ thì pháp học Đấy chỉ đa

ra để định hớng cho việc khảo sát “ Thi nhân Việt Nam”

Trang 15

Chơng II

“Thi nhân Việt Nam” và xu hớng thi pháp học

II.1 Quan niệm nghệ thuật về con ngời.

II.1.1 Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong thơ mới đợc “Thi nhân

Việt Nam” khai thác nh thế nào ?

Thơ mới là phong trào thơ hiện đại xuất hiện trong những năm

1932 - 1945 Dòng thơ này hình thành xác lập một quan niệm mới về

con ngời, đó là con ngời với t cách là cái tôi cá nhân cá thể trọn vẹn

Trang 16

nhất Hoài Thanh - một “siêu độc giả” lúc bấy giờ, đã dựng lại diễn biến

của phong trào Thơ mới, nhà phê bình đã thể công lao theo dõi, gắn bó

bó với những hoạt động của phong trào thơ ca trên khắp cả nớc trong

một khoảng thời gian không ngắn

Nghiên cứu Thơ mới từ khuynh hớng t tởng, Hoài Thanh đã chỉ ra

“cái tôi cá nhân” chính là nội dung quan trọng nhất để phân biệt thơ mới

thơ cũ: “Cứ đại thể thì tất cả tinh thần thời xa - hay thơ cũ- và thời

nay-hay thơ mới - có thể gần lại trong hai chữ Tôi và Ta Ngày trớc là thời

đại chữ tôi bây giờ là thời chữ tôi” (45,13) Điều này cũng đã thể hiện

đợc cách nghiên cứu, phê bình của Hoài Thanh xuất phát từ nhân tố

trung tâm - con ngời Nhân tố con ngời với sự thức tỉnh cái tôi cá nhân

đã làm nên một chẳng đờng mới của thơ ca Việt Nam Hoài Thanh viết

“Ngày thứ nhất, ai biết từ ngày nào, chữ Tôi xuất hiện trên thi đàn Việt

Nam, nó thực bỡ ngỡ Nó lạc loài nơi đất khách Bởi nó mang theo một

quan niệm cha từng thấy ở xứ này: Quan niệm cá nhân” (45, 13)

Khẳng định vai trò của “cái tôi cá nhân” trong việc hình thành

một thời đại thi ca, Hoài Thanh nhận ra những dáng vẻ sinh động của cái

tôi trong Thơ mới cùng với những giới hạn của nó Hoài Thanh đã viết

những dòng tài hoa nhất trong cuộc đời cầm bút phê hình văn học của

ông “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề

sâu, nhng càng đi sâu càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu

lu trong trờng tình cùng lu trọng l, ta điên cuồng cùng hàn Mặc Tử, Chế

Lan Viên, ta đắm say cùng xuân Diệu Những động tiên đã khép, tình

yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngẫn ngơ trở

về hồn ta cùng Huy Cận” ( 46, 13)

Để lý giải sự ra đời của cái tôi cá nhân với muôn hình dáng vẻ phong

phú, Hoài Thanh khẳng định do ảnh hởng văn hoá phơng Tây đã đi đến

chỗ sâu nhất trong hồn ta Vì vậy thị hiếu thẩm mỹ của lớp thanh niên

mới thay đổi, Hoài Thanh đã dẫn lời của Lu Trọng L để nói về điều này

“Các cụ a những màu đỏ chót; ta lại a những màu xanh nhạt Các cụ

bâng khuông vì tiếng trùng đếm khuya, ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng

ngọ Nhìn một cố giá xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi nh đã làm một điều

tội lỗi; ta thì cho là mất mẻ nhừ từng trớc một cách đồng xanh Cái ai

tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhng đối với chúng ta thì trăms

hình muôn trạng, cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gủi,

cái tình xa xôi cái tình trọng giấy phút, cái tình ngăn thu (17, 13)

Chính từ những nhân tố trên mà Thơ mới ra đời với quan niệm nghệ

thuật về con ngời đã thay đổi, với những chân dung tâm hồn đặc sắc

II.2, Chân dung văn học trong “Thi nhân Việt Nam”

II.2.1 Chân dung tâm hồn:

Trang 17

Cùng với việc tổng kết một phong trào, “Thi nhân Việt Nam” có giá

trị đặc biệt còn bởi những bài phê bình tác giả ngắn gon và chính xác

Có thể nói, Hoài Thanh đã thể hiện năng lực có thể nói Hoài Thanh đã

thể hiện năng lực nắm bắt diện mạo phong cách của nhà thơ mới nh là

năng khiếu thiên bẩm, tập hợp 45 nhà thơ, 45 tác giả, nhà phê bình đã

dựng lên chân dung tâm hồn mỗi ngời trong một bài viết không dài Với

quan niệm “xem thơ tôi chỉ muốn hiểu một con ngời” Hoài Thanh chủ

yếu dựa trên những văn bản thơ để phán đoán về đặc sắc của hồn ngời

Vợt qua lời thơ, giọng thơ, Hoài thanh tiếp cận “hồn thơ” bằng những

cảm nhận tinh tế và chính xác Sau hơn 50 năm, những nhận xét của

Hoài Thanh về thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử,

Vũ Hoàng Chơng những gơng mặt tiêu biểu của Thơ mới, vẫn là

những điểm tựa đáng tin cậy đối với những nhà nghiên cứu sau này khi

tìm hiểu về họ Theo Hoài Thanh, Xuân Diệu là nhà thơ “mới nhất trong

các nhà thơ mới”, Huy cận “buồn sầu ảo não” bởi “nhác thấy cái xa

thẩm của không gian và thời gian”, “Điêu tàn” (Chế Lan Viên) xuất hiện

giữa làng thơ Việt Nam nh một niềm kinh dị”, Đoàn Phú Tứ “ghi lại

bằng thơ những nét mỏng manh, những cảm giác nhẹ nhàng”, Nguyễn

Bính “đánh thức ngời nhà quê ẩn náu trong lòng ta”, làm cho ta cảm

nhận đợc “hồn xa của đất nớc”, còn Hàn Mặc Tử với “vờn thơ rộng rinh

không bến bờ, càng đi càng ớn lạnh”

Trong thực tế sau mỗi chân dung tâm hồn, Hoài Thanh lựa tuyển

những bài thơ hay có giá trị đối với phong trào Thơ mới, tiêu biểu đặc

sắc cho hồn thơ đó Chẳng hạn nhà thơ Xuân Diệu, Hoài Thanh nhận xét

là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” Bởi vì Xuân Diệu luôn

sống hết mình, tận hởng hết thảy mọi nguồn vui cuộc đời “Xuân Diệu

say đắm tình yêu, say đắm cảnh đời, sống vội vàng, sống quống quýt,

muốn tận hởng cuộc đời ngắn ngủi của mình Khi vui cũng nh khi buồn,

ngời đều nồng nàn, tha thiết” (106, 13) Suy cho cùng đây chính là cái

náo nức, cái xôn xao của thi sĩ Việt Nam lúc bấy giờ mà Xuân Diệu làm

đại biểu Xuân Diệu tìm mọi cách tận hởng hết hơng vị cuộc đời mà thời

gian là ám ảnh tâm lý lớn nhất đối với Xuân Diệu Thời gian mang tính

lỡng trị, nó vừa mang màu xuân, tuổi trẻ, tình yêu đến cho thi nhân Mặt

khác, nó cũng mang đến bao sự phôi pha, héo úa, tàn phai Tuổi trẻ, tình

yêu cũng không cỡng lại đợc sự nghiệt ngã của thời gian Chính vì vậy,

tâm hồn thi nhân rơi vào 2 trạng thái đối lập, hoặc nhộn nhịp vui vẻ hoặc

đau đớn tuyệt vọng Những bài thơ hay nói về những trạng huống cảm

xúc phức tạp của thi sĩ đều lọt vào “ mắt xanh” của Hoài Thanh:

“Trăng”, “Huyền diệu”, “Tình trai”, “Nhị hồ”, “Đây mùa thu tới”, “Vội

vàng”, “Chiều”, “Viễn khách”, “Tơng t, chiều”, “Lới kỹ nữ”, “Nguyệt

cầm”, “Giục giã” Hay khi đánh giá về “Điêu tàn” của Chế Lan Viên,

Trang 18

Hoài Thanh coi sự xuất hiện của nó nh là “ niềm kinh dị” Kinh dị không

chỉ vì tác giả nhỏ tuổi, lúc viết “Điều tàn”, Chế Lan Viên cha đây 17

tuổi - mà còn vì chính nội dung tập thơ Ngợc dòng thời gian, Chế Lan

Viên nh sống với một đất nớc chỉ có trong tâm tởng:

Đây những tháp gầy mòn mong đợi Những đền xa đổ nát dới thời gian.

Những sông vắng lê mình trong bóng tối Những tợng Chàm lở lói rỉ rên than.

Trong tởng tợng, Chế Lan Viên dựng lên một thế giới yêu

mà-một thế giới đầy xơng xọ, đầy máu

Rồi lấy ra một khớp xơng rợn trắng Nút bao dòng huyết đẩm khí tanh hôi Tìm những miếng “trần gian” trong tuỷ cạn Rồi say sa vang cất tiếng reo cời.

Đây chính là khung cảnh của đất Chiêm Thành bị đổ nát, những câu

chuyện kể truyền miệng nhau đã dựng lên bức tranh đổ nát trong tâm

t-ởng thi nhân, thi nhân luôn luôn tht-ởng nối tiếc Hoài thanh đã đa vào

“Thi nhân Việt Nam” những bài thơ hay, “kịch dị”: “Ta”, “Trên đờng

về”, “Điêu tàn”, “Hôn trôi”

Đối với Nguyễn Bính, Hoài Thanh cho rằng “Nguyễn Bính đã

đánh thức ngời nhà quê ẩn náu trong lòng ta” (343, 13) Thơ Nguyễn

Bính thờng hớng về miêu tả những con ngời chân quê, cảnh sinh hoạt

bình dị ở những niềm quê Đó là tâm trạng “nhớ nhau” của thanh niên

nam nữ diễn ra ở không gian thôn Đoài, thôn Đông trong “Tơng t”, giấc

mơ không thực hiện đợc của anh lái đò về cuộc sống lứa đôi hạnh phúc

trong “Giấc mơ anh lái đò” Tâm trạng tơng t man mác của chàng trai

trong “Ngời hàng xóm” Đọc những bài thơ này, ta luôn có tâm trạng vui

buồn man mát, thấp thoáng kí ức gợi về

Việc lựa chọn những bài thơ hay đã thể hiện tài năng cảm thụ văn

học hiếm có của Hoài Thanh Trong cuộc thăm dò bình chọn 10 bài Thơ

mới tiêu biểu nhất đã thấy mỗi ngời có cách lựa chọn khác nhau Mới

chỉ đề nghị 8 ngời lựa chọn, kết quả thành ra đã là 19 bài Thơ mới hay

nhất đợc chọn Nếu coi đây là một kết luận tin cậy thì cũng rất đáng

mừng cho tuyển tập thơ Hoài Thanh Bởi hầu nh tất cả “các bài thơ mới

hay nhất” đó đều có trong “Thi nhân Việt Nam”, đều lọt vào “mắt xanh”

của nhà phê bình từ nửa thế kỷ trớc Nói về tình hình nghiên cứu Thơ

mới sau Hoài Thanh hơn nửa thế kỉ, Lại Nguyên Ânn nhận xét rằng”

Trang 19

Hầu nh chúng ta chỉ đọc đợc Thơ mới (1932-1945) trong những nguồn

mà Hoài Thanh (ở Thi nhân Việt Nam) đã đọc Theo Lại Nguyên Ân,

đây là “một điều đáng ngạc nhiên nhng không đáng vui cho ngời nghiên

cứu” bởi trên cơ sở cùng một nguồn t liệu ấy, khó mà đi xa hơn Hoài

Thanh đợc Nhng, chính từ thông tin “không đáng vui” mà Lại Nguyên

Ân cung cấp này cho thấy, Hoài Thanh và luyện tập Thơ mới đầu tiên

của ông đã có giá trị to lớn nh thế nào Hoài Thanh đã cung cấp t liệu

đáng tin cậy cho các nhà nghiên cứu Thơ mới

II.2.2 “Lấy hồn tôi để hiểu hồn ngời”.

Quán triệt phơng châm “lấy hồn tôi để hiểu hồn ngời.” “Hồn

ng-ời” chính là đối tợng nhận thức của Hoài Thanh Hoài Thanh không sử

dụng những khái niệm khoa học của các lý thuyết hiện đại, Hoài Thanh

đã tìm thấy những hồn đồng điêu trong cách dùng từ ngữ của truyền

thống “phê” “điểm” phơng Đông “Hồn” là khái niệm rất quan trọng

trong văn học phơng Đông “Hồn ngời” cũng là một cách nói về con

ng-ời, cách quan niệm về con ngời ở cõi tâm linh sâu nhất “Hồn ngời” của

một thi nhân chính là cái nhìn tự nhận thức, t hiểu hiện cái lõi sâu nhất

ấy thành những cấu trúc nghệ thuật trên các thi phẩm của thi nhân Nắm

bắt đợc “hồn”, “thần”, chính là khám phá đợc bản chất, là chiếm lĩnh đối

tợng trong trạng thái “chỉnh thể, sinh động” phơng pháp của Hoài Thanh

tỏ ra hiệu quả Bằng cách dùng hình tợng, Hoài Thanh đã phát hiện đợc

những “hồn ngời”, của thi nhân chỉ trong vài dòng “Thế Lữ nh vầng sao

đột hiện ảnh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam” Trong cảm nhận của

Hoài Thanh, nhà thơ Thế Lữ nh một đấng siêu phàm đã có vai trò, vì thế

trong quá trình hình thành Thơ mới Những đóng góp của Thế Lữ cũng

phi thờng một cách tự nhiên “Thế Lữ không bàn về Thơ mới, không

bênh vực Thơ mới, không bút chiến, không diễn thuyết, Thế Lữ chỉ lặng

lẻ, chi điềm nhiên bớc những bớc vững vàng mà trong khoảnh khắc cả

hàng ngũ thơ xa phải tan vỡ” (50, 13)

Còn Xuân Diệu lại đợc hình dung nh một chàng trai hấp dẫn tuy

có hơi lạ lẫm “Ngời đến giữa chúng ta với ý phục tối tân và chúng ta đã

rụt rè không muốn làm thân với con ngời có hình thức phơng xa ấy

Nh-ng rồi ta cũNh-ng quen dần, vì Nh-ngời với ta tình đồNh-ng hơNh-ng vẫn nặNh-ng ” (105,

13)

Nói Hoài Thanh đã dùng hình thợng để truyền đạt, chính là nói

đến việc tạo dựng những hình ảnh - khái niệms một cách có hiệu quả và

phổ biến trong tác phẩm của ông Việc dùng hình tợng để diễn đạt khái

niệm trong tác phẩm phê bình văn học không phải là độc quyền của

Hoài Thanh mà đơng thời còn có Vũ Ngọc Phan, Xuân Diệu, Nguyễn

Trang 20

Tuân chính việc sử dụng hình tợng nghệ thuật( ở mực độ những hình

ảnh khái niệm) Hoài Thanh đã thực hiện phơng pháp truyền đạt hiệu quả

cao, phù hợp với đặc trng nghệ thuật tạo đợc mĩ cảm với ngời đọc Ta

hãy lắng nghe cách Hoài Thanh nắm bắt cái “ hồn ngời” thi sĩ của Đoàn

Văn Cừ “Cái tên Đoàn Văn Cừ trong trí tôi lẫn với màu bánh chng, mùi

thuốc pháo, vị mứt gừng, cứ mỗi lúc xuân về ngời lại gửi trên báo một

chuỗi cời ngũ sắc Tiếng cời ta còn nghe vẳng thì ngời đã hiểu đâu rồi và

ta đành chờ mùa xuân khác” (179, 13) Để những lời nhận xét của mình

có sức thuyết phục, Hoài Thanh thờng đa ra những dẫn chứng chính xác,

tinh tế, ông chú ý giới thiệu những bài thơ hay, những câu thơ đẹp và

hầu nh không bỏ sót Công việc này có vai trò rất quan trọng bởi vì phê

bình văn học là một hoạt động tác động Nhà văn phê bình có nhiệm vụ

phát hiện, giới thiệu những tài năng trẻ Bình luận có du dơng, nhận xét

hay đến mấy mà không có thành quả hiện hữu thì e khó chiếm đợc lòng

tin Chính vì vậy sau khi đã dựng lên những chân dung văn học, Hoài

Thanh thờng trích dẫn rất nhiều bài thơ tiêu biểu cho tác giả để bạn đọc

dợc thực mục sở thì

II.2 Không gian nghệ thuật “Thơ mới” qua cảm nhận của Hoài

Thanh.

Nhận xét về văn học lãng mạn giai đoạn 1932-1945, giáo s Trần

Đình Sử đã viết “ thời đại lãng mạn chính là thời đại cách mạng, thời đại

của những rung chuyển xã hội, trong đó con ngời bị hất ra ngoài các

quan hệ cố định, nhng cũng cha tìm thấy vị trí của mình trong cuộc đời

Thời đại mà mỗi con ngời tự cảm thấy mình là những cá nhân cô đơn lạc

lỏng, bơ vơ, đang đi tìm vị trí của mình Đó là thời đại của buồn sầu

chán nản, mộng mơ, đợi chờ, mong ớc vô định” (33, 11) Chính vì vậy,

mỗi thi nhân tự thiết lập ra cho mình một thế giới riêng để “tháng ngày

lẩn trốn” Hoài Thanh với t cách nhà phê bình, ông đã theo dõi rất sát tất

cả những diễn biến tinh vi, phức tạp của cả phong trào nói chung và của

các nhà thơ nói riêng Trong “ Thi nhân Việt Nam” mặc dù không nói rõ

ra nhng bằng cách này hay cách khác, Hoài Thanh đã phát hiện và phản

ánh những khoảng không riêng của từng nhà thơ Ngay trong bài tổng

luận “ Một thời đại thi ca”, Hoài Thanh đã lu tâm tới điều này “Ta thoát

lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lu trong trờng hình cùng Lu Trọng L, ta

điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu

Nhng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rối tỉnh, say

đắm vẫn bơ vơ Ta ngẩn ngơ trở về hồn ta cùng Huy Cận” (47, 13)

II.2.1 Không gian trên cao:

Hoài Thanh với t cách là ngòi “môi giới” giữa nhà văn với độc

giả, ông đã dùng lối văn giàu hình tợng để dựng lại một cách chân thực

Trang 21

nhất về chân dung một nhà thơ Trên cơ sở đó ngời đọc có cơ hội tiếp

xúc với thi nhân, tiếp xúc với tác phẩm một cách dễ dàng hơn Nếu trong

văn học trung đại, không gian trong thơ ca thờng gắn với vũ trụ, xa với,

với những rừng sâu núi cao mây ngàn hạc nội và thi nhân lên đó để đợc

ngàm vịnh, để đợc thanh toát tâm hồm Thơ mới cùng vậy, một số thi

nhân đã “thoát khỏi vờn trần” vơn tới không gian bao la rộng lớn của

thiên nhiên và mỗi thi nhân lại chọn cho mình khoảng không riêng

thoát vào vũ trụ bao la, ngời đâu tiên phải kể đến là Huy Cận Bằng

những hình ảnh bóng bẩy, Hoài Thanh vẽ ra “ngôi nhà” thi nhân đang

trú ẩn “ngời thấy mình lạc loài giữa cái mênh mông của đất trời, cái xa

vắng của thời gian (128, 13) Trong cảm nhận Hoài Thanh, Huy Cận

trốn tránh cuộc đời thờng nhật vào không gian bao la của đất trời Đó là

cái mênh mông trên sông nớc (Tràng giang), không gian mộng mơ trong

vuờn Địa đàng Mảnh vừơn hoang sơ đầy hoa trinh nữ trong “Ngậm

ngùi” là nơi con ngời đợc mông mơ Tất cả không gian đó là nơi trú ngụ

của cái tôi cá nhân mang nặng mối sầu nhân gian Cho dù thoát đi đâu,

Huy cận vẫn buồn, cái buồn đã chất chứa tự đáy lòng “ta ngẩn ngơ trở về

hồn ta cùng Huỵ Cận” Có thể nói cái không gian bát ngát của vũ trụ là

nỗi ám ảnh lớn nhất đối với nhà thơ Huy Cận

Bên cạnh vũ trụ mênh mông cũng có thi nhân chọn bồng lai tiên

cảnh, chọn tôn giáo làm điểm tựa tâm hồn Ngay trong bải tổng luận”

Một thời đại thi ca”, Hoài Thanh đã dựng lại không gian trong thơ Thế

Lữ “ ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ” đến bài riêng về tác giả, Hoài Thanh

mở rộng “Ngời lu luyến cánh tiên trọng tởng tợng, phảng phất nghe

tiếng sao tiên, mãi mê nhìn những nàg tiên” (51, 13) Để chứng minh

cho ý kiến của mình có cơ sở, Hoài Thanh đã dẫn những vần thơ tiêu

biểu “ đờng đi giữa đờng phố rộn rịp, bổng trông thấy những cánh đào

cành mai là ngời đã:”

Tởng nhớ cảnh quê quê hơng Bồng lại muốn thửa vờn xuân thắm.

Sàn lạn, u huyền, trong khói hơng

Đơng cùng bầu hạn uống rợu, vừa ngà ngà say là ngời đã thoát

tràn bè bạn hữu ở lại để đi về chốn:

Lung linh vàng dội cung quỳnh Nhịp nhàng biến hiện những mình tiên nga.

ở xứ ta từ khi có ngời nói chuyện tiên, nghĩa là từ khi có thi sĩ,

cha bao giờ ta thấy thế giới trên có nhiều vẻ nh thế ” (51, 13) Nh vậy

tiên cảnh trở thành nơi Thế Lữ thờng lui tới vui chơi, thởng ngoạn, nhng

Trang 22

dù trến đi đâu cũng không thoát cuộc sống trần thế Vì vậy cảnh tiên

th-ờng là những hình ảnh có thực ngoài đời

Cũng trốn thoát khỏi vờn trần , có thi nhân lại lấy tôn giáo làm nơi

trú ngụ tâm hồn, Hoài Thanh đã nhận xét J Leiba “chán nản đa ngời về

tôn giáo Thơ Jleiba hồi sau có bài đợm mùi Phật, mặc dầu chứa đứng

hẳn với tinh thần đạo Phật” (233, 13)

Cùng với sự phong phú của cái tôi cá nhân trong Thơ mới đó là sự

đa dạng của không gian nghệ thuật Tuỳ vào uốn sống, thị hiếu thảm mĩ

mà mỗi nhà thơ lựa chọn cho mình một không gian nghệ thuật riêng

Hoài Thanh là đọc giả theo dõi rất sát từng bớc đi của phong trào Thơ

mới, ông nhận ra mọi khải huyền cực lạc cũng là nơi trú ngụ tâm hồn

của một số thi nhân Viết về Quách Tấn “Theo gót nhà thơ, tôi đi dần

vào một thế giới huyền diệu ở đây ngời ta nói rất khẽ và bớc rất êm”

(267, 13)

II.2.2 Không gian trên mặt đất.

Xã hội Việt Nam trong những năm phong trào Thơ mới thai

nghén, ra đời phát triển và tiêu vong là xã hội thc dân nửa phong kiến,

một xã hội o ép, kìm hãm sự phát triển tự do có nhân Mỗi thế hệ tuỳ vào

điều kiện tiếp thu t tởng tiến bộ mà có phản ứng, con đờng đấu tranh

khác nhau Nếu có chí khí, có điều kiện tiếp thu t tởng tiến bộ của nhân

loại họ tiến hành cuộc cách mạng hoặc cầm bút trực tiếp đấu tranh

chống đế quốc còn phần đông thanh niên tầng lớp tiểu t sản trí thức, họ

viết văn Mặc dù không trực tiếp đấu tranh nhng cũng là thái độ bất hợp

tác với bọn thực dân nửa phong kiến Có những thi nhân trốn tránh cuộc

sống thực tại, mải đuổi theo thể giới mộng ảo riêng, cũng có những thi

nhân “bám riết” lấy cuộc sống thực tại để sống và hởng thụ Tình yêu

đ-ợc coi là mảnh đất thơ mộng, màu mỡ lôi cuốn nhiều thi nhân đặt chân

Trong “Một thời đại thi ca”, Hoài Thanh đã ghi nhận “ta phiêu lu trong

trờng tình cùng Lu Trọng L ta đắm say cùng Xuân Diệu” Đây đợc coi

là 2 đại biểu cho một thế hệ nhà thơ bám riết cuộc sống tình yêu

Đối với Lu Trọng L, “trờng tình” của ông có sự xen kẽ giữa mộng

và thực Hoài Thanh cảm nhận “mỗi khi kể lại những chuyện thực trong

đời mình ngời để xen vào ấy rất nhiều chuyện mộng Từ kỉ niệm tơi

sáng về ngời mẹ đã Cho đến bao nhiêu buồn thơng, bao nhiêu chán nản,

bao nhiêu đâu khổ vì tình yêu, cái cảnh đời giá lạnh của đôi vợ chồng

lúc “tình đà xế bóng” cùng cái thú ngây ngất của cuộc đời “giang hồ” ,

Lũ đều kể cho nghe một cách rất cảm động” (285, 13) Hoài Thanh còn

khẳng định “Mộng ! đó mới là quê hơng của L” Từ những nhận xét

trên, nhà phê bình đã dẵn những câu thơ tiêu biểu cho hồn thơ:

“Còn đâu ánh trăng vàng

Ngày đăng: 27/12/2013, 21:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Đức Hiểu-Thi pháp hiện đại-NXB Hội nhà văn, H.2002 Khác
2. Lê Bá Hán (Chủ biên), Tinh hoa Thơ mới, thẩm bình và suy nghĩ, NXB Giáo dục, H.1998 Khác
3. Nguyễn Thị Bích Hải, Thi pháp thơ Đờng, NXB Thuận hóa, 1995 Khác
4. Phơng Lựu (chủ biên), Lý luận văn học, NXB Giáo dục, 2003 Khác
5. Trần Thanh Mại, Sự nghiệp phê bình văn học của Hoài Thanh, NXB Giáo dục, 2003 Khác
6. Nguyễn Khắc Phi ( chủ biên) Từ điển thuật ngữ học, NXB Khác
7. Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, T.2, NXB Văn học, H.1998 Khác
8. Trần Đình Sử, Dẫn luận thi pháp, NXB Giáo dục, 1999 Khác
9. Trần Đình Sử, Thi pháp học Trung Đại, NXB Giáo dục, 1999 Khác
10. Trần Đình Sử, Lý luận phê bình văn học, NXB Hội nhà văn, H.1996 Khác
11. Trần Đình Sử, Những thế giới nghệ thuật thơ, NXB Đại học Quốc gia Hà nội, 2001 Khác
12. Đỗ Lai Thúy, Mắt thơ, NXB Văn hóa thông tin, 2000 Khác
13.Hoài Thanh-Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB văn học, H.2000 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w