Chính trong tác phẩm này ngoài nhứng vấn đề nh quan niệm về văn học, phơng pháp phê bình… nh các công trình nghiên cứu đã chỉ ra, Hoài Thanh với thực tiễn nghiên cứu, phê bình của mình l
Trang 1Lời cảm ơn
Khóa luận đợc thực hiện và hoàn thành dới sự hớng dẫn của thầy
giáo Lê Văn Tùng và các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, cùng sự giúp
đỡ, động viên của bàn bè và những ngời thân trong gia đình Tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đối với thầy giáo Lê Văn Tùng, các
thầy cô giáo cùng ngời thân bạn bè
Vinh, 05/2004 Tác giả
Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài.
Hoài Thanh là một trong những nhà phê bình xuất sắc nhất
của văn học Việt Nam hiện đại Ông đã theo sát từng giai đoạn phát
triển của văn học hiện đại và ở chặng nào tác phẩm phê bình của Hoài
Trang 2Thanh cũng có ảnh hởng không nhỏ đối với quá trình phát triển của văn
học Việt Nam Định giá về sự nghiệp phê bình văn học của Hoài Thanh
trớc cách mạng, giới nghiên cứu cha thống nhất Có ý kiến gọi thẳng là
phơng pháp phê bình ấn tợng, có nghĩa họ xem phê bình nh đồng sáng
tạo với nhà văn, nhiều khi tự do vào tác phẩm, tìm ra cái hay cái đẹp của
tác phẩm Ngợc lại có ý kiến rất dè dặt khi định danh phơng pháp phê
bình Hoài Thanh.Theo họ, phơng pháp phê bình Hoài Thanh là sự kết
hợp phê bình truyền thống và có dấu ấn của phê bình ấn tợng Nếu
khẳng định phơng pháp phê bình của Hoài Thanh theo ấn tợng chủ nghĩa
là hơi cực đoan Bởi vì, Hoài Thanh không nghiêng hẳn về trờng phái
phê bình nào mà ông đi theo con đờng riêng, vừa có sự kết hợp với phê
bình truyền thống vừa chịu ảnh hởng của chủ nghĩa phê bình ấn tợng
Pháp Chính điều này tạo nên dấu ấn có xu hớng thi pháp học hiện đại
trong “ Thi nhân Việt Nam” Việc khảo sát những dấu ấn đó góp phần
đánh giá đúng hơn “ Thi nhân Việt Nam” và công lao của Hoài Thanh
Tác phẩm “ Thi nhân Việt Nam” là công trình đầu tiên có ý
nghĩa tổng hợp phong trào Thơ mới Đồng thời “ Thi nhân Việt Nam”
cũng đợc đánh giá là công trình nghiên cứu văn học lớn nhất của văn
học Việt Nam lúc bấy giờ Chính trong tác phẩm này ngoài nhứng vấn
đề nh quan niệm về văn học, phơng pháp phê bình… nh các công trình
nghiên cứu đã chỉ ra, Hoài Thanh với thực tiễn nghiên cứu, phê bình của
mình là một trong những ngời đầu tiên tiếp cận văn học để tìm giá trị
độc đáo của nghệ thuật ngôn từ, vốn là mục tiêu của thi pháp học Công
việc Hoài Thanh làm trong “ Thi nhân Việt Nam” dờng nh theo một thứ
lý thuyết “ vô ngôn” nào đó mà ông cảm nhận đợc từ chính quan điểm
của ông: “ Tìm cái đẹp trong tự nhiên là nghệ thuật, tìm cái đẹp trong
nghệ thuật là phê bình” Điều đó khẳng định giá trị của phơng pháp
nghiên cứu theo quan điểm thi pháp học ngay cả khi lý thuyết này cha
chính thức xâm nhập vào Việt Nam
Hoài Thanh là ngời có kinh nghiệm phê bình văn học Vì thế, việc
tìm hiểu “ Xu hớng thi pháp học trong thi nhân Việt Nam” sẽ rút ra đợc
bài học quý giá, những kinh nghiệm bổ ích về sự sáng tạo khoa học, t
duy độc lập, tiếp thu một cách chọn lọc chứ không dập khuôn máy móc
Mặt khác, những ý kiến đánh giá trong “ Thi nhân Việt Nam” đợc giáo
viên và học sinh trích dẫn rất nhiều trong dạy và học Do vậy nghiên cứu
“xu hớng thi pháp học trong thi nhân Việt Nam” góp phần tạo nên cái
nhìn đa diện nhiều chiều về “Thi nhân Việt Nam” để thấy giá trị to lớn
của Thi nhân Việt Nam cũng nh tài năng của Hoài Thanh
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Trang 32.1 Trớc khi đi vào kiểm định lịch sử nghiên cứu tác phẩm “Thi
nhân Việt Nam”, chúng ta thử điểm qua lịch trình nghiên cứu về Hoài
Thanh Hoài Thanh là gơng mặt nổi bật của phê bình văn học Việt Nam
hiện đại Hoạt động của ông nằm trọn trong hai giai đoạn quan trọng
của lịch sử văn học Việt Nam Giai đoạn 1930- 1945 với sự hình thành
trọn vẹn và rực rỡ của văn học hiện đại và giai đoạn 1945 - 1975 với sự
xác lập địa vị của văn học cách mạng theo ý thức hệ vô sản trong sự
nghiệp kháng chiến xây dựng quốc gia độc lập, thống nhất theo xu thế
tiến bộ xã hội Gần nửa thế kỷ hoạt động văn học, ở giai đoạn nào Hoài
Thanh cũng đóng góp vai trò đáng kể của vị kiện tớng, để lại dấu ấn
không phai mờ
Hoài Thanh đợc d luận chú ý ngay từ năm 1942 khi “ Thi nhân
Việt Nam” ra đời Với tác phẩm này, Hoài Thanh đã thu hút đợc các cây
bút thời bấy giờ nh Đinh Gia Trinh, Vũ Ngọc Phan, Lê Thanh, Thanh
Lũng, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Tấn Long, Phạm Thế Ngũ…
Đến những năm 1960 khi cuốn “ Tiểu luận và phê bình I, II, III”
ra mắt độc giả, Hoài Thanh lại trở thành đề tài để nhà nghiên cứu phải
tốn giấy mực Đó là các tác giả: Lê Anh Trà, Xuân Tửu, Trương Chính,
Phan Trọng Luận, Phan Cự Đệ… Nói chung có nhiều ý kiến khác nhau
nhưng đều nhận thấy được vai trò, vị trí không thể thiếu trong sự trưởng
thành của ngành nghiên cứu phê bình văn học cách mạng Việt Nam
Năm 1982, Hoài Thanh trở thành người thiên cổ Đất nước đang đổi
thay từng bước trong hòa bình Đồng nghiệp, bố bạn đó bày tỏ lòng
thương tiếc và kính trọng Hoài Thanh qua những bài viết cú tính chất
tưởng niệm Đáng chú ý hơn cả là những bài của Đặng Thai Mai, Huy
Cận, Nguyễn Bảo, Lữ Huy Nguyễn, Từ Sơn, Hoài Chân, Thiếu Mai…
các tác giả đều khẳng định nhân cách đáng quý của Hoài Thanh và trân
trọng những tác phẩm của ông Cho đến nay đó cú gần 70 bài viết về
Hoài Thanh từ nhiều gúc độ khác nhau Điều đó chứng tỏ những tác
phẩm phê bình của Hoài Thanh không phải chỉ có giá trị nhất thời mà
còn có ý nghĩa lâu dài
2.2 Lịch sử nghiờn cứu, đỏnh giỏ về “ Thi nhõn Việt Nam”
Cú thể chia thành 3 giai đoạn rừ rệt:
Trang 4Giai đoạn trước cách mạng tháng tám, khi “ Thi nhân Việt Nam”
vừa mới xuất hiện, dư luận văn giới không đánh giá cao cuốn hợp tuyển
này Bài viết đầu tiên về Hoài Thanh là Diệu Anh (Đinh Gia Trinh) với
nhan đề “Nói chuyện thơ nhân quyển“ Thi nhân Việt Nam 1932 -1941”
đăng trên báo Thanh Nghị ngày 16/08/1942 Theo Diệu Anh chỉ có
“phần khảo luận về “ Một thời đại trong thi ca” viết rất công phu”, còn
từ tên sách đến việc lựa tuyển và những nhận xét về nhà thơ, Diệu Anh
đều muốn bàn bạc thêm với Hoài Thanh Trong cuốn sách đồ sộ của Vũ
Ngọc Phan, Hoài Thanh còn đứng ở một vị trí khá khiêm tốn, tác giả
“Nhà văn hiện đại” cho rằng Hoài Thanh đã “ làm hợp tuyển không theo
hợp tuyển” mà giống văn học sử “viết cộc lốc” “ chủ quan” “chia ba
dòng không hợp lý” mà không nghĩ rằng Tthi nhân Việt Nam là cuốn
sách có giá trị cao Tuy nhiên, Vũ Ngọc Phan cũng phải thừa nhận năng
lực của Hoài Thanh thể hiện ở những trang viết “mới mẻ hơn” “xếp đặt
có nghệ thuật hơn” Và chính Vũ Ngọc Phan là người đầu tiên chỉ ra đặc
điểm cơ bản của ngòi bút Hoài Thanh “ phê bình rặt cái hay cái đẹp”
Giai đoạn 1945 – 1980 do bối cảnh nhận đường, tìm đường lột
xác để đi theo cách mạng nên hầu hết các nhà văn, nhà thơ hầu như phủ
định thành quả văn học trước cách mạng Thơ mới và những tác phẩm
viết về thơ mới đều bị đối xử khá bất công trong đó có “Thi nhân Việt
Nam” Ở Miền Nam có một số nhà nghiên cứu: Thanh Lãng, Nguyễn
Văn Trung, Nguyễn Tấn Long, Phạm Thế Ngũ Những tác giả này, Hoài
Thanh không phải là trọng tâm nghiên cứu nên họ chỉ dành cho ông
những đánh giá chung về vị trí,quan điểm Nguyễn Văn Trung cho rằng
“Hoài Thanh thời tiền chiến là người chủ trương nghệ thuật vi nghệ
thuật”, “quan điểm phê bình ấn tượng” Phạm Thế Ngũ ghi nhận “ Thi
nhân Việt Nam” là một trong hai tác phẩm đáng chú ý trong những năm
1940 – 1945 vì đã “nghiên cứu phê bình văn học mới trên lập trường
tổng quát” Thanh Lãng tường thuật lại các cuộc tranh luận nghệ thuật
hồi 1935 -1939 và không bình luận gì thêm nhiều Ông đã xếp “Thi
nhân Việt Nam” vào nhóm “ phê bình văn học sử” và cả nhóm “phê
bình xã hội” Nguyễn Tấn Long cũng tường thuật lại cuộc tranh luận
“Thơ mới-Thơ cũ”, “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vi nhân
Trang 5sinh” và tỏ ý đồng tình với những luận điểm của những người bị Hải
Triều công kích Ông cho rằng “Hoài Thanh có lý khi quan niệm “Bông
hoa chỉ làm thỏa mãn tình cảm con người thôi, không ích lợi gì, nhưng
không phải không có giá trị với cuộc sống” Nguyễn Vĩ là nhà thơ được
Hoài Thanh trích tuyển và ca ngợi trong “Thi nhân Việt Nam” nhưng
Nguyễn Vĩ không mấy thiện cảm về Hoài Thanh, trong cảm nhận của
Nguyễn Vỹ, Hoài Thanh là “nhà phê bình rất chủ quan”, “muốn làmmột
biên khảo về phê bình văn học mà lại thiếu tự trọng, thiếu cả lương tâm
văn nghệ”
Còn ở Miền Bắc, tình hình còn tồi tệ hơn Chính Hoài Thanh “
nhìn lại” và cho rằng ông đã “sai từ gốc sai đi”, “gây tác hại nhiều” Vũ
Đức Phúc khá nặng nề khi tường thuật lại cuộc tranh luận nghệ thuật hồi
1935 – 1939 đã phê phán Hoài Thanh cùng phái “vị nghệ thuật” đã theo
thuyết “bất khả tri”, “ không phân biệt giai cấp” “sợ đế quốc và sợ ca
phong trào cộng sản”
Giai đoạn 1980 đến nay: Trong không khí đổi mới, tất ca các hiện
tượng văn học “có vấn đề” đều được nhìn lại và đánh giá công bằng
hơn Đặc biệt năm 1992, hội thảo khoa học kỷ niệm 50 năm “Thi nhân
Việt Nam”, 10 năm ngày mất nhà văn Hoài Thanh đã được tổ chức Có
hơn 40 tham luận gửi về, trong đó có nhiều bài đều đồng nhất khẳng
định giá trị của “Thi nhân Việt Nam”.GS.TS Nguyễn Duy Quý phát
biểu “Thi nhân Việt Nam” là cuốn sách “đặc sắc” “hiếm thấy một công
trình nghiên cứu-phê bình văn học có sức sống lâu bền và mãnh liệt đến
như vậy, GS Phong Lê cho rằng “rồi người đời sẽ quên dần và quên hết
các chức tước, các trọng trách mà ông giữ, dể chỉ còn và còn mãi mãi
tác giả “Thi nhân Việt Nam” Công trình công phu nhất là của nhà
nghiên cứu Trần Thanh Mại trong cuốn “Sự nghiệp phê bình văn học
của Hoài Thanh “đã bàn về toàn bộ đóng góp của Hoài Thanh đối với
nền văn học, trong đó tác giả đã chỉ ra nhiều bình diện từ quan niệm về
văn học, phương pháp phê bình rồi phong cách phê bình Hoài Thanh
Trần Thanh Mại đánh giá rất cao vị trí Hoài Thanh trong sự nghiệp phê
bình cũng như sự nghiệp văn học
Trang 62.3 Về “ xu hướng thi pháp học trong thi nhân Việt Nam”
Đầu tiên phải kể đến GS Hoàng Trình trong bài viết của mình có
đề cập đến những dấu hiệu có ý nghĩa thi pháp học trong “Thi nhân Việt
Nam” nhưng Giáo sư chỉ coi việc phân tích đó là phương tiện, con
đường để khẳng định phong cách Hoài Thanh đọc “Thi nhân Việt Nam,
trước hết ta gặp một nhà thơ ở giữa các nhà thơ” chứ không đi sâu tìm
dẫn chứng, tư liệu trong phong trào Thơ mới để chứng minh Đến GS
Nguyễn Đức Hiểu trong cuốn “Thi pháp hiện đại” đã khẳng định tác
phẩm văn chương của Hoài Thanh “ thấm đượm tinh thần chủ nghĩa ấn
tượng”, Giáo Sư đã vạch ra những dẫn chứng để chứng minh cho luận
điểm của mình Ông phát hiện ra “ nguồn cảm hứng của tác phẩm không
phải là cuộc sống, tình yêu, thiên nhiên mà lại là những bài thơ, những
tập thơ với những cảm xúc dạt dào, những rung động tinh tế”, “ truyền
cho người đọc thế giới tình cảm riêng của mình bằng một bút pháp đầy
chất thơ” “ tạo thế giới thơ hấp dẫn và quyến rũ” Ngoài ra GS Đỗ Đức
Hiểu còn lý giải tại sao “ Thi nhân Việt Nam” lại có sức thuyết phục
mọi người như vậy, đó là do “sự hòa hợp, sự tương ứng kỳ diệu giữa
phong cách Hoài Thanh và linh hồn thơ mới” Hoài Thanh chiếm trọn
một bài, như là một chương trong công trình “ thi pháp hiện đại” của Đỗ
Đức Hiểu, chứng tỏ nhà nghiên cứu trong chừng mực nào đó đã xem
công việc của Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” là công việc của
người làm thi pháp học, mặc dù chưa có tài liệu nào cho biết lý thuyết
này vào thời đó ( trước 1942) đã có mặt hay chưa ở Việt Nam Chúng
tôi sẽ theo hướng đi này, từ góc độ lý thuyết thi pháp học hiện đại tìm ra
những yếu tố có ý nghĩa thi pháp học trong “ Thi nhân Việt Nam” và lấy
dẫn chứng trong phong trào Thơ mới để chứng minh cho những nhận
xét của mình
3 Phương pháp nghiên cứu.
3.1 Tìm hiểu xu hướng thi pháp học trong “ Thi nhân Việt
Nam”có nghĩa là tìm các dấu hiệu thi pháp học hiện đại có trong “ Thi
nhân Việt Nam” Trước hết chúng tôi cần khảo sát thống kê, phân tích
và đối chiếu các dấu hiệu đó của “ Thi nhân Việt Nam” với các khía
Trang 7cạnh lý thuyết thi pháp học tương ứng để thấy rõ được tính xu hướng,
sức sống của “Thi nhân Việt Nam” khi chính tác giả của nó chưa có lý
thuyết này
3.2 “ Thi nhân Việt Nam” vừa là công trình nghệ thuật vừa là tác
phẩm phê bình văn học Do đó chúng tôi sẽ tiến hành so sánh với trường
phái phê bình “ vị nhân sinh” để thấy được nét độc đáo của phong cách
phê bình Hoài Thanh Đồng thời các cuộc luân chiến văn học diễn ra
trước và cùng thời để thấy được giá trị sâu xa của các luận điểm Hoài
chúng tôi phải xuất phát từ một số lý thuyết thi pháp học để nhìn vào
“Thi nhân Việt Nam” xem Hoài Thanh đã đáp ứng được những yếu tố
nào của thi pháp học hiện đại
4.2 Phạm vi đề tài
Khóa luận này, chúng tôi nghiên cứu xu hướng thi pháp học
trong “Thi nhân Việt Nam, một công trình phê bình văn học đầu tiên có
giá trị khẳng định vai trò nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình văn học của
Hoài Thanh
5 Nhiệm vụ của đề tài.
Để khám phá xu hướng thi pháp học trong “ Thi nhân Việt
Nam” trước hết phải hiểu khái niệm thi pháp học và các phạm trù thi
pháp học về mặt lý thuyết một cách cơ bản để làm cơ sở cho việc đánh
giá
Đi sâu nghiên cứu xu hướng thi pháp học hiện trong “Thi nhân
Việt Nam” trên 4 bình diện cơ bản trong rất nhiều bình diện khác
+) Quan niệm nghệ thuật về con người
+) Không gian nghệ thuật
Trang 8+) Thời gian nghệ thuật.
+) Ngụn từ nghệ thuật
6 Cấu trúc luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn đợc triển khai ba chơng
Chơng I: Về thi pháp học và hớng nghiên cứu phê bình văn học theo
thi pháp học
Chơng II: “Thi nhânViệt Nam “ và xu hớng thi pháp học
Chơng III: Thành công và giới hạn của “ Thi nhân Việt Nam” từ góc
nhìn thi pháp học
Chơng I về thi pháp học và hớng nghiên cứu phê bình
văn học theo thi pháp học
I.1 Thi phỏp học và cỏc khỏi niệm cơ bản.
I.1.1 Khỏi niệm thi phỏp học
Thi phỏp học ra đời rất sớm, cỏch chỳng ta ngày nay khoảng 2.400
năm với cụng trỡnh “ Thi phỏp học” của Arixtốt nghiờn cứu về văn học
cổ đại Hy Lạp, thi phỏp từ khi ra đời cho hết thế kỷ XIX được gọi là thi
phỏp học truyền thống (Thi phỏp học dành cho người sỏng tạo) Thi
phỏp học hiện đại ra đời trờn thế giới từ đầu thế kỷ XX và đạt cao điểm
những năm 30 của thế kỷ XX (Nga, Tiệp Khắc) Nhưng phải mói những
năm 60, nú mới bựng nổ thành trào lưu nghiờn cứu văn học ở tất cả cỏc
nước trờn thế giới trong đú cú Việt Nam Thi phỏp hiện đại miờu tả cỏc
sỏng tỏc, tức là nghiờn cứu cỏc phương thức nghệ thuật mà nhà thơ, nhà
văn sỏng tạo trong tỏc phẩm của mỡnh Từ đú hiểu hết ý nghĩa đa dạng
của nú
Về định nghĩa thi phỏp học Theo GS Hà Minh Đức cú hơn 50
định nghĩa Trờn thế giới hiện nay cú rất nhiều trường phỏi thi phỏp học,
mỗi trường phỏi cú cỏch định nghĩa, cỏc yếu tố khỏc nhau, nhưng cỏc
yếu tố này thường là cỏc yếu tố phụ, mở rộng, đi sau cũn yếu tố chủ yếu
vẫn cú sự thống nhất giữa cỏc trường phỏi
Trang 9“Từ điển thuật ngữ văn học” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi chủ biên) định nghĩa “ Thi pháp học là khoa học nghiên cứu
thi pháp tức là hệ thống phương thức, phương tiện biểu hiện đời sống
bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học.(256, 6)
I.1.2 Hướng nghiên cứu theo quan điểm thi pháp học
Trong lịch sử nghiên cứu văn học có nhiều hướng đi vào khai thác, đào
sâu tìm hiểu về tác phẩm văn học Chẳng hạn theo hướng xã hội
học, ký hiệu học và hướng nghiên cứu theo quan điểm thi pháp học
cũng là một trong nhiều phương pháp nghiên cứu văn học Hướng
nghiên cứu này chủ yếu đi vào nghiên cứu những khám phá nghệ thuật
của nhà văn, qua hình thức nghệ thuật trong văn bản để trả nghệ thuật về
cho nghệ thuật Nhưng như vậy không có nghĩa là nghiên cứu sáng tạo
nghệ thuật tách biệt cuộc sống con người( nhân sinh) ngược lại nó là
một con đường đi sâu vào thế giưới bí ẩn “Con Người”, vào năng lực,
phẩm giá, số phận của con người Bởi vì nghệ thuật do con người sáng
tạo ra và nghệ thuật là của con người, nhằm nói về cuộc sống vật chất
cũng như tâm hồn của con người
Hướng nghiên cứu này trong thế kỷ XX đã đạt nhiều thành tích
lớn, mở ra con đường thuận lợi, hợp lý để đi vào thế giới sáng tạo nghệ
thuật của nhà văn Nước đầu tiên đi theo nghiên cứu này phải kể đến
nước Nga với các nhà nghiên cứu lừng danh Khrapchencô và Bakhtin
Đặc biệt là Bakhtin, người ta gọi Bakhtin là nhà bác học về văn học, ông
đã từng có nhiều công trình nghiên cứu về triết học, mĩ học, lý luận văn
học rộng lớn Các tác phẩm tiêu biểu “Những vấn đề thi pháp
Đoxtôiepxki (1929, 1968, 1967, 1979), “Sáng tác của Phrăngxoa
Robơle và văn học dân gian thời trung đại và phục hưng” (1965),
“ Những vấn đề văn học và mĩ học” (1975) “Mĩ học sáng tác ngôn từ”
(1979)
Ở Việt Nam, lý thuyết thi pháp học xâm nhập vào Miền Nam từ
những năm 50, 60 của thế kỷ XX (ảnh hưởng trực tiếp của phương Tây)
đến đầu những năm 80 mới trở thành một lý thuyết nghiên cứu văn học
được thừa nhận trong cả nước Từ đó đến nay, những công trình nghiên
Trang 10cứu văn học theo hướng thi pháp học đã đạt những thành công lớn và có
hiệu quả cao trong đời sống văn học của thời đại Hàng trăm luận án
tiến sĩ, luận án thạc sĩ, cử nhân vài chục năm lại đẩy phần lớn tiến hành
theo xu hướng nghiên cứu thi pháp học
Trên đây là hướng nghiên cứu theo thi pháp học hiện đại Còn theo
hướng thi pháp học cổ truyền Ở phương tây, người đầu tiên ta phải kể
đến là Arixtốt Ở phương Đông phải kể đến Lưu Hiệp với cuốn “Văn
tâm điêu long” Còn ở Việt Nam thời Trung đại, tuy không có những
công trình chuyên khảo nhưng các ý kiến về thơ văn tập hợp trong cuốn
“Từ trong di sản” nhiều ý kiến có xu hướng thi pháp học Như vậy một
người nghiên cứu văn học trong một thời đại chưa biết đến một lý
thuyết nghiên cứu mới vẫn có thể nghiên cứu bằng những thao tác,
phương pháp của lý thuyết đó Điềi này tạo ra một thứ lý thuyết “ vô
ngôn”, “Thi nhân Việt Nam” ở vào trường hợp đó
I.2.Một số khái niệm khác của thi pháp học.
“Văn học là khoa học về con người” (Gorki) Quan niệm văn
học không gì khác hơn ngoài phản ánh, thể hiện con người, vì con
người con người là đối tượng chủ yếu của văn học Dù miêu tả thần
linh, ma quái, miêu tả đồ vật, hoặc đơn gian miêu tả các nhân vật, văn
học đều thể hiện con người Lý giải thơ văn không thể không xem xét
đối tượng con người thể hiện trong đó
Con người trong văn học không phải là con người hiện thực trong
cuộc sống, nhà văn không sao chép, quy chụp nguyên si con người
ngoài cuộc đời Con người trong văn học được phản ánh, miêu tả thông
qua lăng kính chủ quan của người nghệ sỹ, nó bị thế giới quan, lập
trường, tư tưởng nhà văn quy định, nó được nghệ thuật hóa một cách
thẩm mĩ
Mỗi nhà văn miêu tả nhân vật dưới mỗi góc độ khác nhau, vì thế,
khám phá, tìm hiểu đối tượng phản ánh, tìm hiểu sự lựa chọn đối tượng
phản ánh, ta có thể thấy được thái độ của nhà văn, nhà thơ đó
Trang 11Vậy thực chất “quan niệm nghệ thuật về con người” là gì? Theo
GS Trần Đình Sử “ quan niệm nghệ thuật về con người là sự lý giải, cắt
nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các kiện pháp thể
hiện con người trong văn học, tạo giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các
hình tượng nhân vật đó”.(41, 8)
Tác giả Nguyễn Thị Bích Hải trong “ Thi pháp thơ Đường” quan
niệm “ quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù rất quan
trọng của thi pháp học Nó hướng ta nhìn về đối tượng chủ yếu của văn
học, trung tâm của quan niệm thẩm mĩ của nghệ sĩ Hình tượng nghệ
thuật (nhân vật con người) xuất hiện trong tác phẩm bao giờ cũng mang
tính quan niệm, tức là cách phản ánh, miêu tả, thể hiện nhân vật, con
người bao giờ cũng mang trong nó quan niệm của tác giả”.(35, 3)
Tiếp thu các quan niệm trên, đồng thời theo cách hiểu của các nhà
thi pháp học hiện đại, chúng ta có thể lý giải một cách ngắn gọn, đơn
giản về khái niệm này Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm
trù cơ bản, quan trong của thi pháp học hiện đại, khái niệm “ quan niệm
nghệ thuật” về con người là cách cắt nghĩa, lý giải của nhà văn, nhà thơ
về con người, cách phát hiện khám phá thế giới tâm linh của con người
với ước mơ, khát vọng đối với cuộc đời, với tương lai
Con người là ẩn số luôn luôn biến đổi Do đó quan niệm nghệ
thuật về con người cũng biến đổi Hơn nữa, tác phẩm văn học là tác
phẩm của một thời đại nhất định cho nên nó chịu sự chi phối của điều
kiện lịch sử xã hội, tùy vào từng thời đại, dân tộc đặc biệt phụ thuộc vào
quan niệm sống của cá nhân nhà văn
Trong thế giới khách quan, bất cứ sự vật nào cũng tồn tại trong
thời gian nhất định Không có sự vật nào tồn tại ngoài thời gian Mọi
dạng tồn tại của vật chất đều có thời gian của mình, nghệ thuật là một
dạng đặc thù nó cũng có thời gian riêng, là phương thức tồn tại của thế
giới vật chất, thời gian cũng đi vào thế giới nghệ thuật cùng với cuộc
sống được phản ánh như là một yếu tố của nó Nếu như mọi hiện tượng
của thế giới khách quan khi đi vào nghệ thuật được soi sáng bằng tư
tưởng và tình cảm, được nhào nặn và sáng tạo để trở thành một hiện
Trang 12tượng nghệ thuật phù hợp với một thế giới khách quan, phương pháp
sáng tác, phong cách, truyền thống và thể loại nghệ thuật nhất định thì
thời gian trong tác phẩm cũng thế Cũng như thời gian trong thế giới
khách quan, thời gian nghệ thuật là một tập hợp của nhiều thời gian cá
biệt Các thời gian này tác động vào nhau, liên hệ nhau tạo thành cái
nhịp độ chung của sự vận động đời sống
Thời gian nghệ thuật khác với thời gian khách quan do bằng lịch
và bằng đồng hồ Thời gian nghệ thuật do nhà văn sáng tạo ra, nó được
cảm nhận qua chân lý nhân vật với chuỗi các biến cố, sự kiện có nghĩa
thẩm mĩ, là thời gian tâm lý nên trong một tác phẩm có thể là một đời
người, thậm chí nhiều đời người như trong “Tam quốc diễn nghĩa”,
trong “Trăm năm cô đơn”, “Tiếng chim hót trong bụi mận gai” nhưng
cũng có những tác phẩm viết rất dài nhưng thời gian lài chỉ có vài ngày
trong “Và một ngày dài hơn thế kỷ” của Aitmôtov hoặc câu nói của
Trần Đăng Khoa:
“ Có những phút giây dài bằng cả đời người”
Thời gian trong văn học được tổ chức trên nhiều mối quan hệ đa
chiều nhiều lớp, cũng có thời gian hiện tại, quá khứ, tương lai, có khi
đồng hiên Nhiều lúc thời gian cũng thuận chiều hòa nhịp với thiên
nhiên, có lúc thời gian nghệ thuật ngược chiều, có lúc kéo dài giãn cách,
có lúc đứng yên thời gian trong thế giới nghệ thuật có nhiều hình thức
biểu hiện khác nhau, có lúc nó hiện lên trong những từ ngữ thời gian
bằng thời gian, cách tính thời gian Thời gian còn có dấu hiệu như tuổi
trẻ, tuổi già, xuân, hạ, thu, đông, biểu hiện bằng sự vật, các hiện tượng
thiên nhiên: tiếng chim quốc kêu gọi hè, tuyết rơi, mai nở
Xuân đáo bách hoa khai Xuân khứ bách hoa lạc
( Cáo tật thị chung-Mãn Giác Thiền sư)Thời gian nghệ thuật trong thơ là thời gian tâm lý, thời gian của
cảm xúc nhà thơ tạo ra nên nó mang tính quan niệm của nhà thơ Tùy
vào ý đồ của nhà văn mà thời gian được tổ chức theo kiểu nào có khi có
Trang 13sự chồng chộo đan xen thời gian Điều này do đặc trưng loại hỡnh văn
học qui định Văn học là nghệ thuật ngụn từ, để dựng chõn dung miờu tả
được thế giới tõm hồn con người, nhà văn chỉ cú phương tiện duy nhất
là ngụn ngữ Do vậy, nhà văn phải sắp xếp thời gian hỡnh ảnh, nhịp điệu
sao cho nờu rừ được tư tưởng, chủ đề tỏc phẩm “thời gian thể hiện ý
thức sỏng tạo nghệ thuật”.(63, 8)
Trong hiện thực , không gian và thời gian là hình thức tồn tại của
vật chất Trong năm học, không ghian nghệ thuật là hình thức tồn tại của
thế giới nghệ thuật đồng thời cũng là một thành tố của thế giới nghệ
thuật không gian trong nghệ thuật có mối quan hệ với không gian khách
quan nhng bao giờ chúng cũng có khoảng cách và đặc biệt riêng Đây là
không gian trong quan niệm, trong cách cảm thụ của nhà văn Không
gian trong văn học vừa là hình ảnh không gian vật chất vừa là sự hiện
diễn của không gian trong tâm tởng Đó là không gian đợc tổ chức theo
một trờng nhìn, một điểm nhìn đợc soi sáng qua tâm điểm con ngời và
các mối quan hệ Trong lịch sử văn học, không gian nghệ thuật không
chỉ hiển hiện ở kích thớc, tầm nhìn xa mà quan trọng hơn là ơt phơng
diện định tính không gian nghệ thuật trong ca dao Việt Nam ngày xa là
không gian làng quê thân thuộc sau luỹ tre làng với những hồ ao, giếng
nớc, sân đình Không gian làng quê đợc bao bọc bởi luỹ tre làng, ngăn
cách bởi núi cao:
Núi cao chi lắm núi ơi Che cả mặt trời chẳng thấy ngời thơng.
Còn không gian trong ca dao bao bọc của nho sĩ trung đại là một
không gian vắng vẻ, trầm u, nhàn dật, với núi cao suối vắng, mây ngàn
hạc nội Đó là không gian vũ trụ vô tận mà không gian trân thế chỉ
chiếm một phần rất nhỏ Đến giai đoạn 1930-1945 văn học hiện đại phê
phán lại đi sâu miêu tả không gian trần thế nhỏ hẹp, tiêu điều, quẩn
quanh với những giới hạn vây bủa kiếp ngời nghèo khổ Không gian
nghệ thuật là hình tợng không gian mang tính chủ quan và tợng trng
Dẫu tin tởng: Chung một trời một mộng
Em là em, anh vẫn là anh
Có thể nào vợt qua vạn lý trờng thành Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật.
Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại chủ quan của hình tợng,
chia thành những ranh giới giá trị Trong “Vợ chồng A phủ” có sự phân
chia giữa thế giới địa ngục Hồng Ngài và xứ sở giải phóng ở Phiềng Sa
Trang 14Cũng nh trong “Đôi mắt” có thể giới của nông dân kháng chiến cởi mở,
lạc quan và bên kia bức tờng là thế giới khép kín của anh Hoàng Không
gian trong văn học đợc hiển hiện bằng các không gian điểm mang tính
-ớc lệ, tợng tợng: Tây trúc, thiên đình, thợng giới, làng quê, bến sông
mô hình hoa các bức tranh thế giới Không gian đợc biểu thị bằng các từ
uốn đợc mã hoá sẵn về ý nghĩa trong đời sống trên cao, dới thấp, tả
khuynh, hữu khuynh Đều đợc dùng để biểu hiện các phạm vi giá trị,
phẩm chất của đời sống xã hội Các yếu tố này làm không gian thấm
đ-ợm nội dung văn hoá truyền thống Không gian nghệ thuật chẳng những
cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ trợng trng
mà còn cho thấy các quan niệm về thế giới chiều sâu cảm thụ của tác giả
hay một giai đoạn văn học Không gian nghệ thuật là mô hình nghệ
thuật về cái thế giới mà con ngời đang sống, đang cảm thấy vị trí số
phận của mình trong đó
Văn học là nghệ thuật ngôn từ Nhà văn đã nghệ thuật hoá ngôn
ngữ hiện quan niệm, cách nhìn của nhà văn Ngôn ngữ nghệ thuật có
quan hệ mật thiết với ngôn ngữ toàn dân tuy nhiên nó không đồng nhất
Ngôn từ văn học là ngôn từ đợc lựa chọn, đợc tổ chức thành văn bản cố
định sao cho nói 1 lần mà có thể giao tiếp mãi mãi Tình hình tợng của
ngôn từ trớc hết phái sinh từ tình hình tợng của việc sáng tạo thế giới
bằng tởng tợng mà ngôn ngữ đều do tác giả phân thân ra mà phát hiệu
một cách hình tợng Nhờ tính hình tợng này trong văn học không chỉ
con ngời mà cỏ cây, muông thú dũng đều có thể phát ngôn, ngời chết,
ma quỷ đều có ngôn từ của chúng Thấp thoáng đằng sau ngôn ngữ là
hình bóng con ngời tác giả
Thông thờng ngời ta hiểu tính hình tợng của ngôn từ qua các
ph-ơng thức tu từ ẩn dụ, nhân hoá Ngoài ra, tính hình tợng của ngôn từ văn
học thể hiện ở chỗ toàn bộ, ngôn từ ở đó đều là ngôn từ miêu tả, thể hiện
ở vần, nhịp từ, câu, tổ hợp câu đuề có chức năng biểu diễn nh diễn viên
sâu khấu nhằm tác hiện thực tại nghệ thuật Do đó ngôn từ văn học
không đơn giản chi ra một thực đại ngoài nó mà là tái hiện trong bản
thân nó Chẳng hạn khi Thạch Lam mở đầu “Hai đứa trẻ” với câu “Tiếng
trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ, từng tiếng một vang để gọi
buổi chiều thì câu văn không chỉ thông báo mà tái hiện cả cái nhịp chậm
chạp, uể oái của buổi chiều nơi phố huyện nhỏ trong thơ ca, bản thân lời
thơ với vần, nhịp diệu, hình ảnh là hình tợng về ngôn từ đẹp giàu cảm
xúc
Các khái niệm trên cha phải là toàn bộ thì pháp học Đấy chỉ đa
ra để định hớng cho việc khảo sát “ Thi nhân Việt Nam”
Trang 15Chơng II
“Thi nhân Việt Nam” và xu hớng thi pháp học
II.1 Quan niệm nghệ thuật về con ngời.
II.1.1 Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong thơ mới đợc “Thi nhân
Việt Nam” khai thác nh thế nào ?
Thơ mới là phong trào thơ hiện đại xuất hiện trong những năm
1932 - 1945 Dòng thơ này hình thành xác lập một quan niệm mới về
con ngời, đó là con ngời với t cách là cái tôi cá nhân cá thể trọn vẹn
Trang 16nhất Hoài Thanh - một “siêu độc giả” lúc bấy giờ, đã dựng lại diễn biến
của phong trào Thơ mới, nhà phê bình đã thể công lao theo dõi, gắn bó
bó với những hoạt động của phong trào thơ ca trên khắp cả nớc trong
một khoảng thời gian không ngắn
Nghiên cứu Thơ mới từ khuynh hớng t tởng, Hoài Thanh đã chỉ ra
“cái tôi cá nhân” chính là nội dung quan trọng nhất để phân biệt thơ mới
thơ cũ: “Cứ đại thể thì tất cả tinh thần thời xa - hay thơ cũ- và thời
nay-hay thơ mới - có thể gần lại trong hai chữ Tôi và Ta Ngày trớc là thời
đại chữ tôi bây giờ là thời chữ tôi” (45,13) Điều này cũng đã thể hiện
đợc cách nghiên cứu, phê bình của Hoài Thanh xuất phát từ nhân tố
trung tâm - con ngời Nhân tố con ngời với sự thức tỉnh cái tôi cá nhân
đã làm nên một chẳng đờng mới của thơ ca Việt Nam Hoài Thanh viết
“Ngày thứ nhất, ai biết từ ngày nào, chữ Tôi xuất hiện trên thi đàn Việt
Nam, nó thực bỡ ngỡ Nó lạc loài nơi đất khách Bởi nó mang theo một
quan niệm cha từng thấy ở xứ này: Quan niệm cá nhân” (45, 13)
Khẳng định vai trò của “cái tôi cá nhân” trong việc hình thành
một thời đại thi ca, Hoài Thanh nhận ra những dáng vẻ sinh động của cái
tôi trong Thơ mới cùng với những giới hạn của nó Hoài Thanh đã viết
những dòng tài hoa nhất trong cuộc đời cầm bút phê hình văn học của
ông “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề
sâu, nhng càng đi sâu càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu
lu trong trờng tình cùng lu trọng l, ta điên cuồng cùng hàn Mặc Tử, Chế
Lan Viên, ta đắm say cùng xuân Diệu Những động tiên đã khép, tình
yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngẫn ngơ trở
về hồn ta cùng Huy Cận” ( 46, 13)
Để lý giải sự ra đời của cái tôi cá nhân với muôn hình dáng vẻ phong
phú, Hoài Thanh khẳng định do ảnh hởng văn hoá phơng Tây đã đi đến
chỗ sâu nhất trong hồn ta Vì vậy thị hiếu thẩm mỹ của lớp thanh niên
mới thay đổi, Hoài Thanh đã dẫn lời của Lu Trọng L để nói về điều này
“Các cụ a những màu đỏ chót; ta lại a những màu xanh nhạt Các cụ
bâng khuông vì tiếng trùng đếm khuya, ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng
ngọ Nhìn một cố giá xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi nh đã làm một điều
tội lỗi; ta thì cho là mất mẻ nhừ từng trớc một cách đồng xanh Cái ai
tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhng đối với chúng ta thì trăms
hình muôn trạng, cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gủi,
cái tình xa xôi cái tình trọng giấy phút, cái tình ngăn thu (17, 13)
Chính từ những nhân tố trên mà Thơ mới ra đời với quan niệm nghệ
thuật về con ngời đã thay đổi, với những chân dung tâm hồn đặc sắc
II.2, Chân dung văn học trong “Thi nhân Việt Nam”
II.2.1 Chân dung tâm hồn:
Trang 17Cùng với việc tổng kết một phong trào, “Thi nhân Việt Nam” có giá
trị đặc biệt còn bởi những bài phê bình tác giả ngắn gon và chính xác
Có thể nói, Hoài Thanh đã thể hiện năng lực có thể nói Hoài Thanh đã
thể hiện năng lực nắm bắt diện mạo phong cách của nhà thơ mới nh là
năng khiếu thiên bẩm, tập hợp 45 nhà thơ, 45 tác giả, nhà phê bình đã
dựng lên chân dung tâm hồn mỗi ngời trong một bài viết không dài Với
quan niệm “xem thơ tôi chỉ muốn hiểu một con ngời” Hoài Thanh chủ
yếu dựa trên những văn bản thơ để phán đoán về đặc sắc của hồn ngời
Vợt qua lời thơ, giọng thơ, Hoài thanh tiếp cận “hồn thơ” bằng những
cảm nhận tinh tế và chính xác Sau hơn 50 năm, những nhận xét của
Hoài Thanh về thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử,
Vũ Hoàng Chơng những gơng mặt tiêu biểu của Thơ mới, vẫn là
những điểm tựa đáng tin cậy đối với những nhà nghiên cứu sau này khi
tìm hiểu về họ Theo Hoài Thanh, Xuân Diệu là nhà thơ “mới nhất trong
các nhà thơ mới”, Huy cận “buồn sầu ảo não” bởi “nhác thấy cái xa
thẩm của không gian và thời gian”, “Điêu tàn” (Chế Lan Viên) xuất hiện
giữa làng thơ Việt Nam nh một niềm kinh dị”, Đoàn Phú Tứ “ghi lại
bằng thơ những nét mỏng manh, những cảm giác nhẹ nhàng”, Nguyễn
Bính “đánh thức ngời nhà quê ẩn náu trong lòng ta”, làm cho ta cảm
nhận đợc “hồn xa của đất nớc”, còn Hàn Mặc Tử với “vờn thơ rộng rinh
không bến bờ, càng đi càng ớn lạnh”
Trong thực tế sau mỗi chân dung tâm hồn, Hoài Thanh lựa tuyển
những bài thơ hay có giá trị đối với phong trào Thơ mới, tiêu biểu đặc
sắc cho hồn thơ đó Chẳng hạn nhà thơ Xuân Diệu, Hoài Thanh nhận xét
là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” Bởi vì Xuân Diệu luôn
sống hết mình, tận hởng hết thảy mọi nguồn vui cuộc đời “Xuân Diệu
say đắm tình yêu, say đắm cảnh đời, sống vội vàng, sống quống quýt,
muốn tận hởng cuộc đời ngắn ngủi của mình Khi vui cũng nh khi buồn,
ngời đều nồng nàn, tha thiết” (106, 13) Suy cho cùng đây chính là cái
náo nức, cái xôn xao của thi sĩ Việt Nam lúc bấy giờ mà Xuân Diệu làm
đại biểu Xuân Diệu tìm mọi cách tận hởng hết hơng vị cuộc đời mà thời
gian là ám ảnh tâm lý lớn nhất đối với Xuân Diệu Thời gian mang tính
lỡng trị, nó vừa mang màu xuân, tuổi trẻ, tình yêu đến cho thi nhân Mặt
khác, nó cũng mang đến bao sự phôi pha, héo úa, tàn phai Tuổi trẻ, tình
yêu cũng không cỡng lại đợc sự nghiệt ngã của thời gian Chính vì vậy,
tâm hồn thi nhân rơi vào 2 trạng thái đối lập, hoặc nhộn nhịp vui vẻ hoặc
đau đớn tuyệt vọng Những bài thơ hay nói về những trạng huống cảm
xúc phức tạp của thi sĩ đều lọt vào “ mắt xanh” của Hoài Thanh:
“Trăng”, “Huyền diệu”, “Tình trai”, “Nhị hồ”, “Đây mùa thu tới”, “Vội
vàng”, “Chiều”, “Viễn khách”, “Tơng t, chiều”, “Lới kỹ nữ”, “Nguyệt
cầm”, “Giục giã” Hay khi đánh giá về “Điêu tàn” của Chế Lan Viên,
Trang 18Hoài Thanh coi sự xuất hiện của nó nh là “ niềm kinh dị” Kinh dị không
chỉ vì tác giả nhỏ tuổi, lúc viết “Điều tàn”, Chế Lan Viên cha đây 17
tuổi - mà còn vì chính nội dung tập thơ Ngợc dòng thời gian, Chế Lan
Viên nh sống với một đất nớc chỉ có trong tâm tởng:
Đây những tháp gầy mòn mong đợi Những đền xa đổ nát dới thời gian.
Những sông vắng lê mình trong bóng tối Những tợng Chàm lở lói rỉ rên than.
Trong tởng tợng, Chế Lan Viên dựng lên một thế giới yêu
mà-một thế giới đầy xơng xọ, đầy máu
Rồi lấy ra một khớp xơng rợn trắng Nút bao dòng huyết đẩm khí tanh hôi Tìm những miếng “trần gian” trong tuỷ cạn Rồi say sa vang cất tiếng reo cời.
Đây chính là khung cảnh của đất Chiêm Thành bị đổ nát, những câu
chuyện kể truyền miệng nhau đã dựng lên bức tranh đổ nát trong tâm
t-ởng thi nhân, thi nhân luôn luôn tht-ởng nối tiếc Hoài thanh đã đa vào
“Thi nhân Việt Nam” những bài thơ hay, “kịch dị”: “Ta”, “Trên đờng
về”, “Điêu tàn”, “Hôn trôi”
Đối với Nguyễn Bính, Hoài Thanh cho rằng “Nguyễn Bính đã
đánh thức ngời nhà quê ẩn náu trong lòng ta” (343, 13) Thơ Nguyễn
Bính thờng hớng về miêu tả những con ngời chân quê, cảnh sinh hoạt
bình dị ở những niềm quê Đó là tâm trạng “nhớ nhau” của thanh niên
nam nữ diễn ra ở không gian thôn Đoài, thôn Đông trong “Tơng t”, giấc
mơ không thực hiện đợc của anh lái đò về cuộc sống lứa đôi hạnh phúc
trong “Giấc mơ anh lái đò” Tâm trạng tơng t man mác của chàng trai
trong “Ngời hàng xóm” Đọc những bài thơ này, ta luôn có tâm trạng vui
buồn man mát, thấp thoáng kí ức gợi về
Việc lựa chọn những bài thơ hay đã thể hiện tài năng cảm thụ văn
học hiếm có của Hoài Thanh Trong cuộc thăm dò bình chọn 10 bài Thơ
mới tiêu biểu nhất đã thấy mỗi ngời có cách lựa chọn khác nhau Mới
chỉ đề nghị 8 ngời lựa chọn, kết quả thành ra đã là 19 bài Thơ mới hay
nhất đợc chọn Nếu coi đây là một kết luận tin cậy thì cũng rất đáng
mừng cho tuyển tập thơ Hoài Thanh Bởi hầu nh tất cả “các bài thơ mới
hay nhất” đó đều có trong “Thi nhân Việt Nam”, đều lọt vào “mắt xanh”
của nhà phê bình từ nửa thế kỷ trớc Nói về tình hình nghiên cứu Thơ
mới sau Hoài Thanh hơn nửa thế kỉ, Lại Nguyên Ânn nhận xét rằng”
Trang 19Hầu nh chúng ta chỉ đọc đợc Thơ mới (1932-1945) trong những nguồn
mà Hoài Thanh (ở Thi nhân Việt Nam) đã đọc Theo Lại Nguyên Ân,
đây là “một điều đáng ngạc nhiên nhng không đáng vui cho ngời nghiên
cứu” bởi trên cơ sở cùng một nguồn t liệu ấy, khó mà đi xa hơn Hoài
Thanh đợc Nhng, chính từ thông tin “không đáng vui” mà Lại Nguyên
Ân cung cấp này cho thấy, Hoài Thanh và luyện tập Thơ mới đầu tiên
của ông đã có giá trị to lớn nh thế nào Hoài Thanh đã cung cấp t liệu
đáng tin cậy cho các nhà nghiên cứu Thơ mới
II.2.2 “Lấy hồn tôi để hiểu hồn ngời”.
Quán triệt phơng châm “lấy hồn tôi để hiểu hồn ngời.” “Hồn
ng-ời” chính là đối tợng nhận thức của Hoài Thanh Hoài Thanh không sử
dụng những khái niệm khoa học của các lý thuyết hiện đại, Hoài Thanh
đã tìm thấy những hồn đồng điêu trong cách dùng từ ngữ của truyền
thống “phê” “điểm” phơng Đông “Hồn” là khái niệm rất quan trọng
trong văn học phơng Đông “Hồn ngời” cũng là một cách nói về con
ng-ời, cách quan niệm về con ngời ở cõi tâm linh sâu nhất “Hồn ngời” của
một thi nhân chính là cái nhìn tự nhận thức, t hiểu hiện cái lõi sâu nhất
ấy thành những cấu trúc nghệ thuật trên các thi phẩm của thi nhân Nắm
bắt đợc “hồn”, “thần”, chính là khám phá đợc bản chất, là chiếm lĩnh đối
tợng trong trạng thái “chỉnh thể, sinh động” phơng pháp của Hoài Thanh
tỏ ra hiệu quả Bằng cách dùng hình tợng, Hoài Thanh đã phát hiện đợc
những “hồn ngời”, của thi nhân chỉ trong vài dòng “Thế Lữ nh vầng sao
đột hiện ảnh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam” Trong cảm nhận của
Hoài Thanh, nhà thơ Thế Lữ nh một đấng siêu phàm đã có vai trò, vì thế
trong quá trình hình thành Thơ mới Những đóng góp của Thế Lữ cũng
phi thờng một cách tự nhiên “Thế Lữ không bàn về Thơ mới, không
bênh vực Thơ mới, không bút chiến, không diễn thuyết, Thế Lữ chỉ lặng
lẻ, chi điềm nhiên bớc những bớc vững vàng mà trong khoảnh khắc cả
hàng ngũ thơ xa phải tan vỡ” (50, 13)
Còn Xuân Diệu lại đợc hình dung nh một chàng trai hấp dẫn tuy
có hơi lạ lẫm “Ngời đến giữa chúng ta với ý phục tối tân và chúng ta đã
rụt rè không muốn làm thân với con ngời có hình thức phơng xa ấy
Nh-ng rồi ta cũNh-ng quen dần, vì Nh-ngời với ta tình đồNh-ng hơNh-ng vẫn nặNh-ng ” (105,
13)
Nói Hoài Thanh đã dùng hình thợng để truyền đạt, chính là nói
đến việc tạo dựng những hình ảnh - khái niệms một cách có hiệu quả và
phổ biến trong tác phẩm của ông Việc dùng hình tợng để diễn đạt khái
niệm trong tác phẩm phê bình văn học không phải là độc quyền của
Hoài Thanh mà đơng thời còn có Vũ Ngọc Phan, Xuân Diệu, Nguyễn
Trang 20Tuân chính việc sử dụng hình tợng nghệ thuật( ở mực độ những hình
ảnh khái niệm) Hoài Thanh đã thực hiện phơng pháp truyền đạt hiệu quả
cao, phù hợp với đặc trng nghệ thuật tạo đợc mĩ cảm với ngời đọc Ta
hãy lắng nghe cách Hoài Thanh nắm bắt cái “ hồn ngời” thi sĩ của Đoàn
Văn Cừ “Cái tên Đoàn Văn Cừ trong trí tôi lẫn với màu bánh chng, mùi
thuốc pháo, vị mứt gừng, cứ mỗi lúc xuân về ngời lại gửi trên báo một
chuỗi cời ngũ sắc Tiếng cời ta còn nghe vẳng thì ngời đã hiểu đâu rồi và
ta đành chờ mùa xuân khác” (179, 13) Để những lời nhận xét của mình
có sức thuyết phục, Hoài Thanh thờng đa ra những dẫn chứng chính xác,
tinh tế, ông chú ý giới thiệu những bài thơ hay, những câu thơ đẹp và
hầu nh không bỏ sót Công việc này có vai trò rất quan trọng bởi vì phê
bình văn học là một hoạt động tác động Nhà văn phê bình có nhiệm vụ
phát hiện, giới thiệu những tài năng trẻ Bình luận có du dơng, nhận xét
hay đến mấy mà không có thành quả hiện hữu thì e khó chiếm đợc lòng
tin Chính vì vậy sau khi đã dựng lên những chân dung văn học, Hoài
Thanh thờng trích dẫn rất nhiều bài thơ tiêu biểu cho tác giả để bạn đọc
dợc thực mục sở thì
II.2 Không gian nghệ thuật “Thơ mới” qua cảm nhận của Hoài
Thanh.
Nhận xét về văn học lãng mạn giai đoạn 1932-1945, giáo s Trần
Đình Sử đã viết “ thời đại lãng mạn chính là thời đại cách mạng, thời đại
của những rung chuyển xã hội, trong đó con ngời bị hất ra ngoài các
quan hệ cố định, nhng cũng cha tìm thấy vị trí của mình trong cuộc đời
Thời đại mà mỗi con ngời tự cảm thấy mình là những cá nhân cô đơn lạc
lỏng, bơ vơ, đang đi tìm vị trí của mình Đó là thời đại của buồn sầu
chán nản, mộng mơ, đợi chờ, mong ớc vô định” (33, 11) Chính vì vậy,
mỗi thi nhân tự thiết lập ra cho mình một thế giới riêng để “tháng ngày
lẩn trốn” Hoài Thanh với t cách nhà phê bình, ông đã theo dõi rất sát tất
cả những diễn biến tinh vi, phức tạp của cả phong trào nói chung và của
các nhà thơ nói riêng Trong “ Thi nhân Việt Nam” mặc dù không nói rõ
ra nhng bằng cách này hay cách khác, Hoài Thanh đã phát hiện và phản
ánh những khoảng không riêng của từng nhà thơ Ngay trong bài tổng
luận “ Một thời đại thi ca”, Hoài Thanh đã lu tâm tới điều này “Ta thoát
lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lu trong trờng hình cùng Lu Trọng L, ta
điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu
Nhng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rối tỉnh, say
đắm vẫn bơ vơ Ta ngẩn ngơ trở về hồn ta cùng Huy Cận” (47, 13)
II.2.1 Không gian trên cao:
Hoài Thanh với t cách là ngòi “môi giới” giữa nhà văn với độc
giả, ông đã dùng lối văn giàu hình tợng để dựng lại một cách chân thực
Trang 21nhất về chân dung một nhà thơ Trên cơ sở đó ngời đọc có cơ hội tiếp
xúc với thi nhân, tiếp xúc với tác phẩm một cách dễ dàng hơn Nếu trong
văn học trung đại, không gian trong thơ ca thờng gắn với vũ trụ, xa với,
với những rừng sâu núi cao mây ngàn hạc nội và thi nhân lên đó để đợc
ngàm vịnh, để đợc thanh toát tâm hồm Thơ mới cùng vậy, một số thi
nhân đã “thoát khỏi vờn trần” vơn tới không gian bao la rộng lớn của
thiên nhiên và mỗi thi nhân lại chọn cho mình khoảng không riêng
thoát vào vũ trụ bao la, ngời đâu tiên phải kể đến là Huy Cận Bằng
những hình ảnh bóng bẩy, Hoài Thanh vẽ ra “ngôi nhà” thi nhân đang
trú ẩn “ngời thấy mình lạc loài giữa cái mênh mông của đất trời, cái xa
vắng của thời gian (128, 13) Trong cảm nhận Hoài Thanh, Huy Cận
trốn tránh cuộc đời thờng nhật vào không gian bao la của đất trời Đó là
cái mênh mông trên sông nớc (Tràng giang), không gian mộng mơ trong
vuờn Địa đàng Mảnh vừơn hoang sơ đầy hoa trinh nữ trong “Ngậm
ngùi” là nơi con ngời đợc mông mơ Tất cả không gian đó là nơi trú ngụ
của cái tôi cá nhân mang nặng mối sầu nhân gian Cho dù thoát đi đâu,
Huy cận vẫn buồn, cái buồn đã chất chứa tự đáy lòng “ta ngẩn ngơ trở về
hồn ta cùng Huỵ Cận” Có thể nói cái không gian bát ngát của vũ trụ là
nỗi ám ảnh lớn nhất đối với nhà thơ Huy Cận
Bên cạnh vũ trụ mênh mông cũng có thi nhân chọn bồng lai tiên
cảnh, chọn tôn giáo làm điểm tựa tâm hồn Ngay trong bải tổng luận”
Một thời đại thi ca”, Hoài Thanh đã dựng lại không gian trong thơ Thế
Lữ “ ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ” đến bài riêng về tác giả, Hoài Thanh
mở rộng “Ngời lu luyến cánh tiên trọng tởng tợng, phảng phất nghe
tiếng sao tiên, mãi mê nhìn những nàg tiên” (51, 13) Để chứng minh
cho ý kiến của mình có cơ sở, Hoài Thanh đã dẫn những vần thơ tiêu
biểu “ đờng đi giữa đờng phố rộn rịp, bổng trông thấy những cánh đào
cành mai là ngời đã:”
Tởng nhớ cảnh quê quê hơng Bồng lại muốn thửa vờn xuân thắm.
Sàn lạn, u huyền, trong khói hơng
Đơng cùng bầu hạn uống rợu, vừa ngà ngà say là ngời đã thoát
tràn bè bạn hữu ở lại để đi về chốn:
Lung linh vàng dội cung quỳnh Nhịp nhàng biến hiện những mình tiên nga.
ở xứ ta từ khi có ngời nói chuyện tiên, nghĩa là từ khi có thi sĩ,
cha bao giờ ta thấy thế giới trên có nhiều vẻ nh thế ” (51, 13) Nh vậy
tiên cảnh trở thành nơi Thế Lữ thờng lui tới vui chơi, thởng ngoạn, nhng
Trang 22dù trến đi đâu cũng không thoát cuộc sống trần thế Vì vậy cảnh tiên
th-ờng là những hình ảnh có thực ngoài đời
Cũng trốn thoát khỏi vờn trần , có thi nhân lại lấy tôn giáo làm nơi
trú ngụ tâm hồn, Hoài Thanh đã nhận xét J Leiba “chán nản đa ngời về
tôn giáo Thơ Jleiba hồi sau có bài đợm mùi Phật, mặc dầu chứa đứng
hẳn với tinh thần đạo Phật” (233, 13)
Cùng với sự phong phú của cái tôi cá nhân trong Thơ mới đó là sự
đa dạng của không gian nghệ thuật Tuỳ vào uốn sống, thị hiếu thảm mĩ
mà mỗi nhà thơ lựa chọn cho mình một không gian nghệ thuật riêng
Hoài Thanh là đọc giả theo dõi rất sát từng bớc đi của phong trào Thơ
mới, ông nhận ra mọi khải huyền cực lạc cũng là nơi trú ngụ tâm hồn
của một số thi nhân Viết về Quách Tấn “Theo gót nhà thơ, tôi đi dần
vào một thế giới huyền diệu ở đây ngời ta nói rất khẽ và bớc rất êm”
(267, 13)
II.2.2 Không gian trên mặt đất.
Xã hội Việt Nam trong những năm phong trào Thơ mới thai
nghén, ra đời phát triển và tiêu vong là xã hội thc dân nửa phong kiến,
một xã hội o ép, kìm hãm sự phát triển tự do có nhân Mỗi thế hệ tuỳ vào
điều kiện tiếp thu t tởng tiến bộ mà có phản ứng, con đờng đấu tranh
khác nhau Nếu có chí khí, có điều kiện tiếp thu t tởng tiến bộ của nhân
loại họ tiến hành cuộc cách mạng hoặc cầm bút trực tiếp đấu tranh
chống đế quốc còn phần đông thanh niên tầng lớp tiểu t sản trí thức, họ
viết văn Mặc dù không trực tiếp đấu tranh nhng cũng là thái độ bất hợp
tác với bọn thực dân nửa phong kiến Có những thi nhân trốn tránh cuộc
sống thực tại, mải đuổi theo thể giới mộng ảo riêng, cũng có những thi
nhân “bám riết” lấy cuộc sống thực tại để sống và hởng thụ Tình yêu
đ-ợc coi là mảnh đất thơ mộng, màu mỡ lôi cuốn nhiều thi nhân đặt chân
Trong “Một thời đại thi ca”, Hoài Thanh đã ghi nhận “ta phiêu lu trong
trờng tình cùng Lu Trọng L ta đắm say cùng Xuân Diệu” Đây đợc coi
là 2 đại biểu cho một thế hệ nhà thơ bám riết cuộc sống tình yêu
Đối với Lu Trọng L, “trờng tình” của ông có sự xen kẽ giữa mộng
và thực Hoài Thanh cảm nhận “mỗi khi kể lại những chuyện thực trong
đời mình ngời để xen vào ấy rất nhiều chuyện mộng Từ kỉ niệm tơi
sáng về ngời mẹ đã Cho đến bao nhiêu buồn thơng, bao nhiêu chán nản,
bao nhiêu đâu khổ vì tình yêu, cái cảnh đời giá lạnh của đôi vợ chồng
lúc “tình đà xế bóng” cùng cái thú ngây ngất của cuộc đời “giang hồ” ,
Lũ đều kể cho nghe một cách rất cảm động” (285, 13) Hoài Thanh còn
khẳng định “Mộng ! đó mới là quê hơng của L” Từ những nhận xét
trên, nhà phê bình đã dẵn những câu thơ tiêu biểu cho hồn thơ:
“Còn đâu ánh trăng vàng