1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận luật TTDS 2015

16 279 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 34,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, những vụ việc dân sự mà Tòa án giải quyết các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ các bên được gọi là vụ án dân sự; những vụ việc dân sự mà Tòa án không giải quyết tranh chấp về qu

Trang 1

Đề số 06: Một số vấn đề về thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án trong tố tụng dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2015.

Lời mở đầu

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm

2016 đã đáp ứng nhu cầu mong mỏi trong quá trình áp dụng thực tiễn pháp luật tại Việt Nam Bên cạnh việc sửa đổi những quy định cũ để đưa vào Bộ luật tố tụng mới, tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã được bổ sung nhiều quy định mới về nhiều vấn đề.Trong đó, vấn đề về thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án nhân dân cũng có những thay đổi nhất định Cũng giống như nhiều nơi trên thế giới, tại Việt Nam, Tòa án nhân dân là cơ quan giữ quyền tư pháp, là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Do đó, việc xác định thẩm quyền của Tòa án có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết các vụ việc dân sự Ở phạm vi nghiên cứu, người viết chỉ

đề cập đến thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án nhân dân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Trang 2

I Một số vấn đề lí luận chung về thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

1 Khái niệm thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án

Theo từ điển Tiếng Việt, “thẩm quyền là quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật” Trong từ điển luật học định nghĩa về thẩm quyền, “thẩm quyền là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống thuộc Bộ máy Nhà nước do pháp luật quy định” Tại điều 1 BLTTDS 2015 quy định Tòa án giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động Các tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động được Tòa án thụ lí giải quyết được gọi là vụ việc dân sự Trong đó, những vụ việc dân sự mà Tòa án

giải quyết các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ các bên được gọi là vụ án dân sự; những vụ việc dân sự mà Tòa án không giải quyết tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên mà chỉ giải quyết yêu cầu được gọi là việc dân sự.Từ

những quy định trong Luật tổ chức tòa án nhân dân 2014 về cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015, chúng ta

có thể hiểu thẩm quyền giải quyết việc dân sự của tòa án nhân dân là toàn bộ những quyền của một tòa án hoặc các tòa án trong hệ thống tòa án nhân dân

do pháp luật quy định, theo đó tòa án nhân dân được tiến hành xem xét, giải quyết những việc dân sự cụ thể theo quy định của pháp luật tố tụng.

2 Ý nghĩa việc xác định thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Việc xác định đúng thẩm quyền giải quyết việc dân sự tránh tình trạng chồng chéo, đùn đẩy công việc cho nhau giữa các TAND; còn là cơ sở để tránh mất thời gian xét xử, tốn kém và đảm bảo việc thi hành án đạt hiệu quả; Ngoài ra, việc xác định đúng thẩm quyền để đảm bảo cho bên yêu cầu bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình không chỉ ở cấp sơ thẩm, mà còn đảm bảo các cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm về sau

Trang 3

II Những quy định về thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án trong tố tụng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

1 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo việc dân sự

1.1 Những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Thứ nhất, yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi dân sự (khoản 1 điều 27) Nhóm

những người trên là nhóm người thành niên nhưng vì lí do thể trạng hoặc tinh thần bị khiếm khuyết mà không đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi Theo yêu cầu của những chủ thể này hoặc những người liên quan, cơ quan tổ chức hữu quan, trên cơ sở giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định những chủ thể này là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, đồng thời chỉ định người giám hộ, người đại diện cho những người này, xác định quyền và nghĩa vụ của người giám hộ, người đại diện Trường hợp nhóm những người trên khôi phục bình thường khả năng nhận thức và làm chủ hành

vi, thì theo yêu cầu của người liên quan, cơ quan tổ chức hữu quan, Tòa án tuyên bô hủy bỏ quyế định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự,

bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức và làm chủ

hành vi dân sự Trong quy định trên, đối tượng người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành viđược bổ sung trong BLTTDS năm 2015.

Thứ hai, tại khoản 2, 3, 4 điều 27 BLTTDS năm 2015, các yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lí tài sản của người đó; yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích; yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết Khi

xuất hiện việc vắng mặt của cá nhân tại nơi cư trú trong thời gian lâu dài sẽ xuất hiện các sự kiện pháp lí về nhân thân, về tài sản, về quyền và nghĩa vụ khác của người đó Khi nhận được yêu cầu từ những người liên quan với yêu cầu Tòa án tuyên một người là vắng mặt, mất tích, chết, Tòa án khi nhận được

Trang 4

đơn yêu cầu và tài liệu chứng cứ sẽ xem xét và quyết định tuyên hay bác bỏ yêu cầu Trường hợp Tòa án đã tuyên một người là vắng mặt, mất tích, hay chết mà người đó trở về hoặc có căn cứ cho rằng họ đã có mặt tại nơi cư trú thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án sẽ hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó là mất tích, hoặc đã chết

Thứ ba, yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận, bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam (khoản 5

điều 27 BLTTDS năm 2015)

Thứ tư, yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu (khoản 6 điều 27

BLTTDS năm 2015) Nghĩa vụ chứng minh thuộc bên yêu cầu, bên yêu cầu

và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Tòa ántuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

Thứ năm, hai yêu cầu về dân sự tại khoản 7, 8 điều 27 BLTTDS 2015

được bổ sung mới, cụ thể yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án Quy định này giúp cụ thể hóa nguyên tắc tại điều 5 Quyền quyết định

và tự định đoạt của đương sự và mặt khác, việc công nhận của Tòa án tạo cơ

chế đảm bảo đảm thi hành án Và yêu cầu công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người quản lí đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định tại điểm đ khoản 2 điều 470 BLTTDS năm 2015, quy định này đảm bảo quyền dân sự liên quan với

những trường hợp xác định quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ Theo đó, các chủ thể được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật sẽ được Nhà nước công nhận quyền sở hữu bằng quyết định có hiệu lực của Tòa án

Thứ sáu, yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án và yêu cầu khác theo quy định của Luật thi hành án dân sự (khoản 9 điều 27 BLTTDS năm 2015).

Trang 5

Cuối cùng, các yêu cầu khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật

(khoản 9 điều 27 BLTTDS năm 2015)

1.2 Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Thứ nhất, yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật (khoản 1 điều 29

BLTTDS năm 2015) Việc kết hôn trái pháp luật được quy định cụ thể trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và các văn bản hướng dẫn, có thể hiểu là việc xác lập quan hệ vợ chồng có đăng kí kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn Theo đó, khi xuất hiện tình trạng này, người có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án xem xét và ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật, gửi bản sao cho cơ quan đã thực hiện việc đăng kí kết hôn Căn cứ vào bản sao quyết định của Tòa án, cơ quan đăng kí kết hôn sẽ tiến hành xóa đăng kí kết hôn trong Sổ Đăng kí kết hôn

Thứ hai, yêu cầu công nhận thuận tình li hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi li hôn (khoản 2 điều 29 BLTTDS năm 2015).Cơ sở pháp lý

của loại việc này xuất phát từ Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình

2014: “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn”.Trong thực tế, giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình

li hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi li hôn phức tạp và mất thời gian hơn so với việc giải quyết vụ án Còn đối với trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành và các đương sự không thỏa thuận được về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Tòa án đình chỉ giải quyết

Trang 6

việc dân sự về công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và thụ lý vụ án để giải quyết

Thứ ba, yêu cầu công nhận thỏa thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi li hôn hoặc công nhận việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi li hôn của cơ quan tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình (khoản 3 điều 29 BLTTDS năm 2015) Khi điều

kiện kinh tế từ cha, mẹ sau khi li hôn có sự thay đổi vì những lí do khác nhau, trên cơ sở quyền lợi của cha, mẹ và con, với nguyên tắc tự định đoạt của các bên, pháp luật cho phép các bên cha mẹ có quyền yêu cầu Tòa án công nhận

sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con BLTTDS năm 2015 đã bổ sung trường hợp Tòa án được quyền công nhận việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định pháp luật

Thứ tư, yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc thăm nom con sau khi li hôn (khoản 4 điều 29 BLTTDS năm 2015).

Theo quy định Luật hôn nhân và gia đình 2014, khi cha, mẹ đã bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông coi, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phá tán tài sản của con; có lối sống trụy lạc,…thì theo yêu cầu của cơ quan tố chức, cá nhân theo quy định của pháp luật tố tụng, Tòa án ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm Đối với người còn lại được quyền thăm nom, chăm sóc con, tuy nhiên, lạm dụng việc thăm nom con để gây ảnh hưởng xấu đến con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom côn của người đó

Thứ năm, yêu cầu chấm dứt việc nuôi con (khoản 5 điều 29 BLTTDS

năm 2015) Vì những nguyên nhân khác nhau như mục đích của việc nuôi con nuôi không đạt được hoặc vi phạm các quy định tại điều 13 Luật nuôi con nuôi 2010, thì pháp luật cho phép cha mẹ nuôi, con nuôi đã thành niên, cha

mẹ đẻ hoặc người giám hộ của con nuôi; cơ quan lao động thương binh xã

Trang 7

hội, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi

Thứ sáu, yêu cầu liên quan đến việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (khoản 6 điều 29 BLTTDS năm 2015) Những yêu cầu Tòa án công nhận

hoặc không công nhận liên quan đến việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

có thể kể tới như: công nhận thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, công nhận cha mẹ cho con hay con cho cha mẹ khi thực hiện việc mang thai bằng kĩ thuật thụ tinh nhân tạo, hay thụ tinh trong ống nghiệm…Những quy định này nhằm tương thích và phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014

Thứ bảy, yêu cầu công nhận thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân đã được thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án (khoản 7 điều 29 BLTTDS năm 2015)

Thứ tám, lần lượt tại các khoản 8, 9, 10, 11 điều 29 BLTTDS năm

2015, yêu cầu tuyên bố vô hiệu thỏa thuận về chế độ tài sản vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc

cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; yêu cầu xác định cha mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Ngoài ra, Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu khác về hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật

1.3 Những yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Thứ nhất, yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp

(khoản 1 điều 31 BLTTDS năm 2015) Trong cơ cấu tổ chức của công ti cổ

Trang 8

phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn thì Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên có quyền hạn đưa ra ý kiến và bỏ phiếu theo thẩm quyền và lợi ích của mình, được diễn ra theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Tuy nhiên trên thực tế, không phải mọi quyết định đều đúng với pháp luật và điều lệ công ty, nên để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, các cổ đông và thành viên có thể yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định theo quy định pháp luật

Thứ hai, yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại (khoản 2 điều 31 BLTTDS năm 2015) Việc quy định các thẩm quyền

trọng tài giải quyết do các bên thỏa thuận lựa chọn tại sự linh hoạt trong quá trình giải quyết các vấn đề kinh doanh, thương mại Song, để đạt được hiệu quả khi phương thức giải quyết bằng trọng tài không đạt được hiệu quả, pháp luật tố tụng dân sự quy định các yêu cầu liên quan đến việc trọng tài thương mại giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án bao gồm: chỉ định trọng tài viên, thay đổi trọng tài viên, hủy phán quyết trọng tài, đăng kí phán quyết trọng tài, các việc dân sự khác mà pháp luật về trọng tài thương mại Việt Nam có quy định

Thứ ba, yêu cầu bắt giữ tàu bay, tàu biển theo quy định của pháp luật

về hàng không dân dụng, về hàng hải Việt Nam, trừ trường hợp bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án (khoản 3 điều 31 BLTTDS năm

2015) Khi có yêu cầu, Tòa án cấp tỉnh nơi có cảng biển, cảng thủy nội địa mà tàu biển bị yêu cầu bắt giữ đang hoạt động hàng hải có thẩm quyền giải quyết Trường hợp cảng có nhiều bến cảng thuộc các địa phận các tỉnh thành phố khác nhau, thì Tòa án cấp tỉnh nơi có bến cảng mà tàu biển bị yêu cầu bắt giữ đang hoạt động hàng hải có thẩm quyền quyết định bắt giữ tàu biển đó

Thứ tư, yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận, bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài mà không

có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt

Trang 9

Nam phán quyết kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước ngoài (khoản 4,

khoản 5 điều 31 BLTTDS năm 2015) Thực tiễn cho thấy quy định pháp luật

về giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài ở nước ta còn hạn chế, nên đa phần do Tòa án nước ngoài giải quyết Vì vậy, khi bản án, quyết định của Tòa án, trọng tài nước ngoài muốn được thi hành tại Việt nam thì các bên có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận thì phải thỏa mãn những điều kiện do pháp luật quy định

Cuối cùng, các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật (khoản 6 điều 31 BLTTDS năm 2015)

1.4 Những yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Theo điều 33 BLTTDS năm 2015, các yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án gồm: yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu; yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình công; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định lao động của tòa

án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định lao động của Tòa án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; yêu cầu công nhận và cho thi hành quyết định lao động của Trọng tài nước ngoài; và các yêu cầu khác về lao động, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật

2 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo các cấp

Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án các cấp là quyền của từng cấp Tòa án trong hệ thống Tòa án thực hiện các thủ tục giải quyết một việc dân sự cụ thể theo thủ tục sơ thẩm Việc phân định giải quyết việc dân sự theo thủ tục sơ thẩm giữa TAND cấp Huyện và TAND cấp Tỉnh chịu sự điều chỉnh của quy định về tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án nhân dân

2.1 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp Huyện

Trang 10

Về nội dung việc dân sự, BLTTDS năm 2015 đã mở rộng thẩm quyền giải quyết việc dân sự cho TAND cấp Huyện, theo đó, TAND cấp Huyện có thẩm quyền giải quyết hầu hết những việc dân sự thuộc thẩm quyền chung về dân sự của Tòa án Tại điều 35 BLTTDS năm 2015 quy định TAND cấp Huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những yêu cầu sau: thứ

nhất, yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9, 10 điều 27; thứ hai, yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4,

5, 6, 7, 8, 10, 11 điều 29; thứ ba, yêu cầu về kinh doanh thương mại tại khoản 1 và 6 điều 31; thứ tư, yêu cầu về lao động quy định tại khoản 1, 2, 5 điều 33.

Về tính chất việc dân sự, nếu những yêu cầu dân sự nêu trên có một trong các yếu tố sau thì cần phải xem xét: yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, các yêu cầu về nhận cha mẹ con, nuôi con nuôi, giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của pháp luật thì thuộc thẩm quyền TAND cấp Huyện (khoản 4 điều 35 BLTTDS năm 2015)

2.2 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp Tỉnh

Tại điều 37 BLTTDS năm 2015 quy định thẩm quyền giải việc dân sự của TAND cấp Tỉnh như sau: yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động theo quy định tại các điều 27, 29, 31 và 33 của BLTTDS năm 2015; những yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp Tỉnh quy định tại khoản 3 điều 35 BLTTDS 2015 (hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012); ngoài ra, tại khoản 2 điều

37 còn quy định TAND cấp Tỉnh có thẩm quyền giải quyết việc dân sự theo thủ tục sơ thẩm mà thẩm quyền đó thuộc TAND cấp Huyện quy định tại điều

35 BLTTDS 2015 mà xét thấy cần thiết, TAND cấp Tỉnh có thể tự mình lấy lên để giải quyết hoặc theo đề nghị của TAND cấp Huyện

BLTTDS 2015 đã bổ sung thẩm quyền của các Tòa chuyên trách cấp Tỉnh bao gồm: Tòa dân sự, Tòa gia đình và người chưa thành niên, Tòa kinh

Ngày đăng: 31/12/2017, 14:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w