1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận Luật HNGĐ 2014

18 325 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 27,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phân tích- kiến nghị Điều kiện kết hôn theo luật HNGĐ 2014. hay

Trang 1

Đề số 01: Điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

LỜI MỞ ĐẦU

Ca dao Việt Nam xưa có câu: “Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà- Trong ba việc ấy

ắt là khó thay” để chỉ những công việc “khó khăn”, quan trọng trong cuộc đời của một người đàn ông Ngày nay, những việc trọng đại ấy vẫn được coi là tiêu chí để đánh giá một khía cạnh nào đó khi chọn vợ chọn chồng Bước sang thời kì mới của đất nước, trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc

“lấy vợ lấy chồng” (theo cách nói dân gian) càng được pháp luật quan tâm và điều chỉnh Để tránh việc kết hôn không theo một điều kiện, tiêu chí nào, tránh sự tùy tiện của những phong tục lạc hậu, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 trên cơ sở hoàn thiện, sửa đổi bổ sung từ các Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, năm

1986, năm 2000 đã đặt ra những điều kiện kết hôn nhất định mà chỉ khi tuân theo điều đó, công dân mới được nhà nước bảo hộ, đảm bảo, bảo vệ, công nhận là hôn nhân hợp pháp Vậy luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã quy định những điều kiện như thế nào về điều kiện kết hôn ?

Trang 2

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I. Một số vấn đề lí luận chung về điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân

và Gia đình 2014:

1 Một số khái niệm:

Về khái niệm kết hôn, theo từ điển Tiếng Việt, kết hôn là việc nam-nữ chính thức lấy nhau thành vợ thành chồng Dưới góc độ pháp lí, kết hôn là một chế định, chế định kết hôn là tổng hợp những quy phạm pháp luật điều chỉnh việc xác lập quan hệ vợ chồng, bao gồm các quy phạm pháp luật về điều kiện kết hôn, đăng kí kết hôn và hình thức xử lí đối với những trường hợp vi phạm kết hôn Theo sự kiện pháp lí, kết hôn là sự kiện pháp lí được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác lập quan hệ vợ chồng giữa nam và nữ, khi hai bên nam nữ tuân thủ quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn

Theo khoản 5- điều 3 luật Hôn nhân và Gia đình 2014, kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn

Về điều kiện kết hôn, tại điều 8 luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:

“1 Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 điều 5 của luật Hôn nhân và Gia đình

2 Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”

Về đăng kí kết hôn, tại điều 9 luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:

Trang 3

“ 1 Việc kết hôn phải được đăng kí và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của luật Hôn nhân và Gia đình và pháp luật về hộ tịch

Việc kết hôn không được đăng kí theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lí

2 Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng kí kết hôn ”

Trong phạm vi đề tài, người viết chỉ đề cập về điều kiện kết hôn theo luật Hôn nhân và Gia đình 2014

2 Ý nghĩa của các khái niệm:

Việc Luật hóa quy định cụ thể về các khái niệm giúp thể hiện quyền tự nhiên cơ bản của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Thêm nữa, điều đó tạo cơ sở pháp lí để nhà nước bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người kết hôn, mặt khác giúp mỗi công dân tạo dựng gia đình hợp pháp, góp phần duy trì và thức đẩy sự phát triển của xã hội

II Điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:

1 Tuổi kết hôn:

Tại điểm a- khoản 1 điều 8 luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định: “ Nam từ

đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” được kết hôn Việc quy định độ tuổi như vậy không phải sự tùy tiện của nhà làm luật, những nhà làm luật dựa trên cơ sở tâm lí, sinh lí và điều kiện kinh tế chung, cũng như văn hóa Việt Nam mà quyết định độ tuổi Trước khi luật Hôn nhân và Gia đình ban hành có hiệu lực, trong dự thảo luật và các ý kiến khác nhau cho rằng nên lùi độ tuổi về nam từ đủ 18 tuổi trở lên và nữ từ đủ 16 tuổi trở lên như một số nước Châu Âu, hay tăng độ tuổi lên như Trung Quốc với nam từ đủ 22 tuổi trở lên, nữ từ đủ 20 tuổi trở lên… Tuy nhiên,

Trang 4

cuối cùng các nhà làm luật vẫn quyết định giữ điều kiện về độ tuổi với nam từ đủ

20 tuổi trở lên và nữ từ đủ 18 tuổi trở lên được kết hôn, “từ đủ” nghĩa là tròn từ đủ tuổi đó trở đi

Luận giải về quyết định này, có thể nói về khía cạnh sinh học, giai đoạn này nam và nữ đã cơ bản hoàn thiện khả năng sinh sản, tâm lí ổn định hơn so với giai đoạn bắt đầu dậy thì và trong giai đoạn dậy thì Nói “ cơ bản hoàn thiện” bởi theo nghiên cứu mới được công bố thì các nhà khoa học cho rằng hiện nay nam giới và

nữ giới vẫn tiếp tục phát triển về sinh học đến 25 tuổi với nam và 23 tuổi với nữ Với quy định về độ tuổi như vậy giúp con cái sinh ra được đảm bảo khỏe mạnh, điều kiện phát triển tốt cả thể lực và trí lực Về khả năng nhận thức và chịu trách nhiệm, điều này nhằm thống nhất với các quy định chung của Bộ luật Dân sự, khoản 1 điều 20 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “ Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên”, người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, từ đó kéo theo các ảnh hưởng về quyền và lợi ích pháp luật khác cũng được đảm bảo Trên cơ sở phong tục tập quán truyền thống và điều kiện đảm bảo kinh tế, độ tuổi

từ đủ 20 tuổi trở lên đối với nam và từ đủ 18 tuổi trở lên đối với nữ giúp đảm bảo điều kiện về kinh tế hơn do đang trong giai đoạn dồi dào của tuổi trẻ, từ đó đảm bảo các điều kiện về kinh tế cho gia đình, đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng con cái, xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, tiến bộ

Tại Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP cũng quy định rõ cách tính tuổi đối với những trường hợp không xác định được ngày sinh, tháng sinh thì được thực hiện như sau tại khoản 1 điều 2: “ a) Nếu xác định được năm sinh nhưng không xác định được tháng sinh thì tháng sinh được xác định

là tháng một của năm sinh b) Nếu xác định được năm sinh, tháng sinh nhưng không xác định được ngày sinh thì ngày sinh được xác định là ngày mùng một của tháng sinh”

Trang 5

2 Sự tự nguyện của hai bên:

“Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” (điểm b khoản 1 điều 8 luật Hôn nhân và Gia đình 2014), “Nam, nữ có quyền kết hôn Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau” (khoản 1 điều 36 Hiến pháp 2013) Tự nguyện là tự do trong ý chí và tự

do bày tỏ ý chí, thống nhất hai mặt bên trong và bên ngoài của chủ thể Như vậy, từ quy định này cấm người đại diện trong kết hôn Khách quan là hành vi tự nguyện của hai bên tự nguyện đến đăng kí kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Chính các bên có nhu cầu kết hôn với nhau tự nguyện cả về ý chí bên trong và hành động bên ngoài quyết định việc kết hôn của họ Theo đó, cấm các hành vi: cưỡng ép , cản trở, lừa dối trong kết hôn từ bất kì cá nhân, cơ quan tổ chức nào Thứ nhất, “ cưỡng ép kết hôn” quy định tại khoản 9 điều 3 luật Hôn nhân và Gia đình 2014 là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ ngược đãi, yêu sách của cải hoặc các hành vi khác buộc người khác phải kết hôn trái với ý muốn của họ Uy hiếp tinh thần là hành vi đe dọa sẽ gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm cho người khác khiến cho họ rơi vào trạng thái hoảng loạn, lo sợ nên phải thực hiện hành vi trái với ý muốn của họ Hành hạ ngược đãi là thực hiện các hành vi đối xử một cách tồi tệ, khiến cho người khác đau đớn về thể chất, tinh thần đến mức không chịu được nên quyết định phải làm theo trái ý muốn của họ Khoản

12 điều 3 luật Hôn nhân và Gia đình quy định về yêu sách của cải trong kết hôn là việc đòi hỏi về vật chất một cách quá đáng và coi đó là điều kiện để kết hôn nhằm cản trở việc kết hôn tự nguyện của nam, nữ

Thứ hai, “ cản trở kết hôn” quy định khoản 10 điều 3 luật Hôn nhân và Gia đình 2014 là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và Gia đình trái với ý muốn của họ

Trang 6

Thứ ba, theo khoản 3 điều 2 Thông tư liên tịch 01/2016- TANDTC-VKSNDTC- BTP về “ lừa dối kết hôn”, lừa dối kết hôn là hành vi cố ý của một bên hoặc hai bên hoặc của người thứ 3 để che đậy sự thật về nhân cách hoặc lí lịch

tư pháp đặc biệt xấu nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch dẫn đến việc đồng ý kết hôn; nếu không có hành vi này thì bên lừa dối đã không đồng ý kết hôn

Như vậy, sự tự nguyện của hai bên nam nữ là yếu tố rất quan trọng trong quy định về điều kiện kết hôn và đảm bảo cho hôn nhân được tồn tại bên vững lâu dài

3 Người kết hôn phải là người không bị mất năng lực hành vi dân sự:

Nam nữ kết hôn với nhau phải “ không bị mất năng lực hành vi dân sự” ( điểm

c khoản 1 điều 8 luật Hôn nhân và Gia đình 2014) Người “ mất năng lực hành vi dân sự” theo điều 22 Bộ luật Dân sự 2015: “Khi một người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần…” Theo đó, quyết định của Tòa án là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ chối đăng kí kết hôn nếu người đó có tờ khai đăng kí kết hôn Đối với người bị mất năng lực hành vi dân sự, pháp luật không cấm họ kết hôn mà chỉ coi là không đủ điều kiện kết hôn để tránh tâm lí nặng nề của các bên kết hôn, chịu đựng của chủ thể kết hôn

Quy định nguyên tắc này, nhà nước nhằm bảo hộ cho người kết hôn được đảm bảo về giống nòi, đảm bảo trách nhiệm làm vợ chồng, cha mẹ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng và của con cái, các thành viên khác trong gia đình Đồng thời đảm bảo quyền tự do kết hôn của mỗi cá nhân, có nghĩa là người kết hôn phải được tự mình lựa chọn và quyết định việc kết hôn của mình

Trang 7

4 Việc kết hôn không thuộc các trường hợp cấm kết hôn tại điểm a, b, c

và d khoản 2 điều 5 luật Hôn nhân và Gia đình 2014:

Thứ nhất, điểm a khoản 2 điều 5 luật Hôn nhân và Gia đình 2014 cấm: “ kết hôn giả tạo” Theo khoản 11 điều 3 cùng luật quy định, “ kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh- nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài để hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác

mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình” Mục đích chính của việc kết hôn là xây dựng gia đình, gia đình là tế bào xã hội, gia đình tự nguyện, tiến bộ, hạnh phúc,

ấm no sẽ giúp xã hội phát triển, việc vụ lợi hay vì một mục đích nào đó mà không phải mục đích xây dựng gia đình mà kết hôn thì đều vi phạm pháp luật

Thứ hai, điểm b khoản 2 điều 5 luật Hôn nhân và Gia đình 2014 cấm: “Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn” Tảo hôn là việc kết hôn khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình Vi phạm điều kiện tảo hôn là vi phạm quy định của pháp luật

về điều kiện kết hôn, có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại điều 47 Nghị định 110/2013/NĐ-CP hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Bộ luật Hình sự Các quy định cấm cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn như đã giải thích ở trên cũng đều là các hành vi mà một khi vi phạm sẽ trái với quy định của pháp luật và có thể phải chịu trách nhiệm pháp lí nhất định tùy mỗi trường hợp cụ thể

Thứ ba, điểm c khoản 2 điều 5 luật Hôn nhân và Gia đình 2014 cấm: “Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có vợ, có chồng” “Người đang có vợ hoặc có chồng” được giải thích

Trang 8

tại khoản 4 điều 2 Thông tư liên tịch 01/2016- TANDTC-VKSNDTC- BTP là người thuộc một trong các trường hợp sau:

“ a) Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;

b) Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng kí kết hôn và chưa li hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;

c) Người đã kết hôn với người khác vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và chưa li hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên

bố là đã chết.”

Việc quy định cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn nhằm xây dựng một gia đình tiến bộ một vợ một chồng hạnh phúc, tránh tình trạng dư luận lên án về chuyện đời sống vợ chồng không chung thủy, nhà nước cấm tình trạng “ năm thê bảy thiếp” như thời phong kiến mà hướng tới gia đình mới tiến bộ

Thứ tư, điểm d khoản 2 điều 5 luật Hôn nhân và Gia đình 2014 cấm: “Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời…” “Những người cùng dòng máu về trực hệ” là những người có quan hệ huyết thống, trong đó người này sinh ra người kia

kế tiếp nhau ( khoản 17 điều 3 luật Hôn nhân và Gia đình 2014) “Những người có

họ trong phạm vi ba đời” là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba (khoản

Trang 9

18 điều 3 luật Hôn nhân và Gia đình 2014) Việc quy định như vậy nhà nước muốn đảm bảo cho con sinh ra được khỏe mạnh, giống nòi phát triển, bởi theo y học, sinh con cận huyết trong phạm vi ba đời dễ sinh ra quái thái, dị hình dị dạng thai nhi… Thêm nữa, đảm bảo được lành mạnh các mối quan hệ gia đình, phù hợp với đạo đức xã hội và phong tục tập quán Việt Nam

Chưa hết, điểm d khoản 2 điều 5 còn quy định: cấm kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng “giữa cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi, hoặc giữa người đã từng

là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng” Quy định này có ý nghĩa giúp ổn định các mối quan hệ trong gia đình, mặt khác đảm bảo thuần phong mĩ tục trong quan hệ hôn nhân và gia đình, ngăn chặn hiện tượng lợi dụng các mối quan hệ phụ thuộc có thể xảy ra các hành vi khác vi phạm pháp luật hôn nhân gia đình

5 Người kết hôn phải là hai người khác giới tính:

Theo quy định tại khoản 2 điều 8 luật Hôn nhân và Gia đình 2014: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” So với quy định tại khoản 5 điều 10 luật Hôn nhân và Gia đình 2000: “ Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính”, quy định này đã “mở” hơn rất nhiều bởi “ không công nhận” có nghĩa là những người cùng giới tính có thể chung sống với nhau như vợ chồng, nhưng pháp luật không công nhận quan hệ chung sống đó, còn “cấm” là quy phạm cấm đoán, không được thực hiện hành vi đó, khi thực hiện là đã vi phạm pháp luật Như vậy việc nhà nước “ không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” có nghĩa khi họ đi đăng kí kết hôn thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng

kí kết hôn từ chối yêu cầu đăng kí kết hôn của họ, đồng thời những người này không bị xử phạt vi phạm hành chính Thêm nữa, việc chung sống giữa những người cùng giới tính với nhau mà sau đó chấm dứt việc chung sống, nếu xảy ra

Trang 10

tranh chấp sẽ được giải quyết như đối với trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng Có thể nói đây là tín hiệu mở cho quy định này, khiến người viết có thể dự đoán trong tương lai, quy định này sẽ được bãi bỏ cho “hội nhập” với quy định chung của nhiều nước trong quá trình hội nhập hóa của Việt Nam

III Nhận xét, bình luận về điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn

nhân và Gia đình 2014:

1 Mặt tích cực của điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:

Thứ nhất, về tuổi kết hôn, quy định “từ đủ” giúp hoàn thiện cơ chế rõ ràng với việc xác định tuổi đủ và thống nhất chung với các quy định khác của pháp luật về

độ tuổi

Thứ hai, pháp luật không quy định độ tuổi tối đa mà chỉ quy định độ tuổi tối thiểu, không quy định độ chênh lệch độ tuổi của nam nữ kết hôn, điều đó giúp củng cố tinh thần Hiến Pháp 2013 tại điều 36, mặt khác không phạm các quyền dân

sự chung của con người, công dân : quyền tự do mưu cầu hạnh phúc, quyền kết hôn…

Thứ ba, quy định về việc người mất năng lực hành vi dân sự không đủ điều kiện kết hôn, có thể nói đây là một quy định nhân đạo, bởi nhà nước không “cấm” mà chỉ coi những người mất năng lực hành vi dân sự là “ không đủ điều kiện để kết hôn”, điều đó tránh tâm lí nặng nề cho các bên, tránh gánh nặng về kinh tế trong những trường hợp khó khăn

Thứ tư, về trường hợp sửa từ “ cấm” sang “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” thể hiện tư duy làm luật mới mẻ hơn, cởi mở hơn, cho thấy cái nhìn bao quát về sự thay đổi của xã hội, mà dần các quan hệ xã hội về hôn nhân mà gia đình được quy định trong luật sẽ đáp ứng được các nhu cầu thực tế,

Ngày đăng: 08/12/2017, 18:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w