1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận luật thương mại VN

11 323 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 28,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thanh lý tài sản phá sản theo quy định PLVN

Trang 1

Đề số 06: Thanh lí tài sản phá sản theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện

hành?

Lời mở đầu

Hiến pháp 2013 đã thừa nhận: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” (khoản1 điều 51) và thừa nhận quyền

tự do kinh doanh của mỗi cá nhân, tổ chức: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” (điều 33), “nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh” (khoản 3 điều 51) Đi kèm với quyền và lợi ích luôn luôn là nghĩa vụ, trách nhiệm, sự cạnh tranh khốc liệt trong nền kinh tế thị trường khiến nhiều doanh nghiệp thắng lợi, nền kinh tế ngày một phát triển, song cũng khiến không ít doanh nghiệp lâm vào tình trạng làm ăn thua lỗ dẫn đến phá sản Như vậy phá sản là tình trạng tất yếu trong nền kinh tế đang phát triển Để điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến phá sản, Luật Phá sản 2014 đã ra đời, trong đó quy định nhiều vấn đề giúp tháo gỡ vướng mắc của cá nhân, tổ chức về vấn đề phá sản

Trong phạm vi bài viết, người viết chỉ đề cập đến vấn đề: Thanh lí tài sản phá sản theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.

Trang 2

Nội dung

I Một số vấn đề lí luận chung về thanh lí tài sản phá sản theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành:

1 Khái niệm phá sản, tài sản phá sản:

“Phá sản” hay theo những cách dùng từ dân gian còn gọi là “vỡ nợ”, “khánh tận”, “khánh kiệt” là chỉ tình trạng hết sạch của cải, tài sản, do lâm vào tình trạng khó khăn (theo Từ điển Tiếng Việt) Còn theo Luật Phá sản 2014, tại khoản 2 điều

4 quy định: “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản” Trong định nghĩa trên cần phải hiểu “doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán” và “quyết định của Tòa án nhân dân tuyên bố phá sản” Đầu tiên, tại khoản 1 điều 4 Luật Phá sản

2014 có giải thích: “ Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn phải thanh toán” Như vậy, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán phải đảm bảo đủ hai điều kiện: không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ và việc không thực hiện nghĩa vụ đó trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán Quy định một giai đoạn chờ là ba tháng kể từ ngày đến hẹn thanh toán, nhà lập pháp đã tạo thêm cơ hội để doanh nghiệp thanh toán nợ, mặt khác giảm sức ép, áp lực từ phía chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Tại điều 5 Luật Phá sản 2014 có quy định cơ sở để chủ nợ và các chủ thể khác có liên quan nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, cũng là căn cứ để Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục phá sản theo điều 42 Luật Phá sản Thứ hai, “quyết định của Tòa án nhân dân tuyên bố phá sản”, tại điều

8 Luật phá sản 2014 quy định thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân, như vậy Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết phá sản Việc giải quyết phá sản thông qua ra quyết định của Tòa án, quyết định này không bị kháng cáo kháng

Trang 3

nghị, có hiệu lực pháp luật Như vậy, chỉ khi đáp ứng đầy đủ hai điều kiện trên, thì một doanh nghiệp, hợp tác xã mới bị coi là phá sản

Tài sản phá sản có thể hiểu là tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán được xác định từ thời điểm Tòa án thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Theo điều 64 Luật Phá sản quy định, tài sản phá sản bao gồm:

- Tài sản và quyền tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có tại thời điểm tòa án thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Theo điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”;

- Tài sản và quyền tài sản các tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có được sau ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản;

- Giá trị của tài sản bảo đảm thực vượt quá khoản nợ có bảo đảm mà doanh nghiệp, hợp tác xã phải thanh toán cho chủ nợ có bảo đảm;

- Giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai;

- Tài sản thu hồi từ hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;

- Tài sản và quyền tài sản có được do thu hồi từ giao dịch vô hiệu;

- Tài sản là vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã Trường hợp, thanh lý tài sản là vật đảm bảo thực hiện nghĩa vụ được trả cho chủ

nợ, nếu giá trị vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ vượt quá khoản nợ đối với chủ nợ thì phần vượt quá sẽ trả lại, là tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã

- Các tài sản khác theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, đối với những loại hình doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn thì còn bao gồm toàn bộ tài sản của chủ doanh nghiệp

Trang 4

2 Thủ tục thanh lý tài sản phá sản:

Quyết định mở thủ tục thanh lí tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã tình trạng mất khả năng thanh toán phải được Tòa án gửi cho doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản, Viện kiểm sát cùng cấp và đăng trên báo địa phương nơi doanh nghiệp, hợp tác

xã mất khả năng thanh toán, thông báo cho các chủ nợ của doang nghiệp, hợp tác

xã có nghĩa vụ thực hiện về tài sản

Thủ tục phá sản quy định trong Luật phá sản 2014 bao gồm hai thủ tục chính, một là thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và thủ tục tuyên bố phá sản- thủ tục đòi nợ, thanh lí nợ tài sản Thủ tục thanh lí tài sản được thực hiện sau khi có quyết định tuyên bố doanh nghiệp là phá sản

Theo Luật Phá sản 2014, thủ tục thanh lí tài sản phá sản được thực hiện theo trình tự như sau: 1 Xác định giá trị nghĩa vụ về tài sản; 2 Xác định tiền lãi đối với khoản nợ; 3 Xử lí khoản nợ có đảm bảo; 4 Thứ tự phân chia tài sản

II Phân tích thanh lí tài sản phá sản theo quy định của pháp luật Việt

Nam hiện hành:

1 Xác định giá trị nghĩa vụ về tài sản:

Việc xác định giá trị nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã có thể là trước khi Tòa án nhân dân ra quyết định, có thể là sau khi Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản Khi xác định giá trị nghĩa vụ về tài sản, giá trị đó có thể là giá trị đong đếm được bằng tiền mặt, hoặc cũng có thể là vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

Trường hợp 1, điều 51- khoản 1 Luật phá sản 2014 quy định: “ Nghĩa vụ về tài

sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác lập trước khi Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản được xác định vào thời điểm ra quyết định mở thủ tục phá sản” Thời hạn gửi và thông báo quyết định mở thủ tục thanh lí tài sản phá sản là

03 ngày, kể từ ngày Tòa án nhân dân ra quyết định Có thể hiểu rằng, trước khi Tòa

Trang 5

án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản, nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã (ví dụ: kí kết các hợp đồng trước khi Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản, thì thời điểm ra quyết định mở thủ tục phá sản là thời điểm hình thành nghĩa vụ của bên nợ với bên chủ nợ) chính là thời điểm ra quyết định mở thủ tục phá sản Để Tòa án nhân dân có thể ra quyết định mở thủ tục phá sản cần phải

có việc đệ đơn của các chủ nợ lên Tòa án Theo khoản 3 điều 4 Luật Phá sản 2014, chủ nợ là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ, bao gồm chủ nợ không có bảo đảm, chủ

nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ có bảo đảm; việc đệ đơn lên Tòa án là vì lợi ích của chủ nợ, với mong muốn được thanh toán về nghĩa vụ tài sản từ doanh nghiệp, hợp tác xã Khi Tòa án đồng ý thụ lý, quyết định mở thủ tục phá sản theo khoản 1 điều 43 Luật phá sản 2014, Tòa án sẽ “xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản trong trường hợp cần thiết”, sau khi chủ nợ nộp lệ phí nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (còn gọi là lệ phí phá sản, khoản 11 điều 4 Luật Phá sản giải thích là khoản tiền mà người yêu cầu mở thủ tục phá sản phải nộp để Tòa án nhân dân thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản) và tạm ứng chi phí phá sản (khoản 14 điều 4 Luật phá sản quy định là khoản tiền do Tòa án nhân dân quyết định để đăng báo, tạm ứng chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lí, thanh lí tài sản)

Trường hợp 2, khoản 2 điều 51 Luật Phá sản 2014 đề cập tới vấn đề: “ Nghĩa vụ

về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác lập sau khi Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản được xác định vào thời điểm ra quyết định tuyên bố phá sản” Nghĩa là, những nghĩa vụ về tài sản như: kí kết hợp đồng sau khi Tòa án

ra quyết định mở thủ tục phá sản, thì thời điểm ra quyết định tuyên bố phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã chính là thời điểm xác định được nghĩa vụ giữa hai bên kí kết hợp đồng, cụ thể là nghĩa về tài sản của bên nợ với bên chủ nợ

Trang 6

Không phải trong mọi người trường hợp, bên có nghĩa vụ cũng có thể thực hiện nghĩa vụ bằng tiền mặt với bên có quyền Nhiều trường hợp, khi chủ nợ không bán được hàng hóa, hàng tồn kho còn nhiều, tiền mặt không có thì không thể bắt bên nợ phải trả bằng tiền mặt cho bên chủ nợ được Dù là nghĩa vụ đó xác lập trước khi hay sau khi Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản, thì đương nhiên, trong trường hợp này Tòa án nhân dân phải xác định giá trị nghĩa vụ về tài sản đó bằng tiền (khoản 3 điều 51 Luật Phá sản 2014)

2 Xác định tiền lãi đối với khoản nợ:

“Kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, các khoản nợ được tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận nhưng được tạm dừng việc trả lãi” (khoản 1 điều 52 luật Phá sản 2014) Nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã khi chưa thực hiện được nghĩa vụ thì vẫn phải tính lãi tương ứng với số ngày chưa thực hiện được nghĩa vụ trả nợ, trường hợp mức lãi hay cách tính khác có thể theo thỏa thuận Mặc dù lãi vẫn được tính trên phần nợ gốc, nhưng bên có nghĩa vụ được tạm dừng việc trả lãi Với quy định này, có thể nhà làm luật muốn cho bên có nghĩa vụ về tài sản phải thực hiện hết các nghĩa vụ về nợ gốc trước rồi mới tính đến trả lãi sau, tránh trường hợp “lãi mẹ đẻ lãi con”

Tuy nhiên, cũng có trường hợp ngoại lệ với việc xác định tiền lãi trên khoản nợ,

đó là trong trường hợp Thẩm phán ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản, hay đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh thì việc tạm dừng trả lãi chấm dứt, các bên tiếp tục thực hiện việc trả lãi theo thỏa thuận Trường hợp quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản quy định tại điều 86 luật Phá sản 2014 Với trường hợp đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh được quy định tại điểm

a khoản 1 điều 95 cùng luật quy định : “Doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện xong phương án phục hồi hoạt động kinh doanh” Với quy định trên vừa cho phép đảm bảo lợi nhuận, phần lãi sinh ra từ nghĩa vụ gốc chưa được thực hiện của bên

Trang 7

chủ nợ từ phía con nợ, vừa đảm bảo việc phải bảo đảm thực hiện nghĩa vụ từ phía con nợ trên cơ sở đã có những thuận lợi nhất định

Kết hợp quy định khoản 2 điều 51 và khoản 2 điều 52 luật Phá sản 2014, ta có thể thấy, sau khi Tòa án mở thủ tục phá sản đến thời điểm tuyên bố phá sản thì vẫn xảy ra những trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã có những giao dịch dân sự như

kí kết hợp đồng mua bán… thì trong trường hợp này, nghĩa vụ về tài sản được xác định vào thời điểm ra quyết định tuyên bố phá sản còn tiền lãi của khoản nợ đó xác định theo thỏa thuận, nhưng không trái với quy định của pháp luật Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “1 Lãi suất vay do các bên thỏa thuận Trường hợp các

bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay…” Như vậy, tiền lãi sau khi mở thủ tục phá sản đến thời điểm

tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì mức lãi cao nhất được xác định là 20%/năm Như vậy, thời hạn để tính lãi tối đa chỉ tính đến trước ngày ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản

3 Xử lí khoản nợ có bảo đảm:

Khoản nợ có bảo đảm là khoản nợ đối với chủ nợ có bảo đảm quy định tại khoản 5 điều 4 luật Phá sản 2014: cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba Việc xử lí khoản nợ có bảo đảm được thực hiện sau khi mở thủ tục phá sản Trong việc xử lí khoản nợ có bảo đảm có thể thấy rõ vai trò của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lí, thanh lí tài sản trong việc đề xuất với Thẩm phán để xử lí khoản nợ có bảo đảm đã

bị tạm đình chỉ:

Trường hợp thứ nhất, tài sản bảo đảm được sử dụng để thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh, thủ tục phục hồi kinh doanh là một trong hai thủ tục chính của thủ

Trang 8

tục phá sản, thì việc xử lí đối với tài sản bảo đảm theo Nghị quyết của Hội nghị chủ

nợ được quy định tại điều 83 luật Phá sản 2014

Trường hợp thứ hai, tài sản bảo đảm không cần thiết cho việc thực hiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc khi không thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh thì được xử lí đối với hợp đồng bảo đảm đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ Trường hợp thứ ba, đối với hợp đồng có bảo đảm chưa đến hạn mà tài sản bảo đảm không cần thiết cho việc thực hiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc khi không thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh, trước khi tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì Tòa án nhân dân tiến hành đình chỉ hợp đồng có bảo đảm chưa đến thời hạn đó và xử lí các khoản nợ có bảo đảm

Trường hợp thứ tư, tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có nguy cơ bị phá hủy hoặc bị giảm đáng kể về giá trị thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lí, thanh lí tài sản đề nghị xử lí ngay tài sản có bảo đảm đó

Việc xử lí cụ thể tài sản bảo đảm theo quy định pháp luật về phá sản được thực hiện theo quy định tại điều 53 luật Phá sản 2014 Trường hợp các khoản nợ có bảo đảm được xác lập trước khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì được thực hiện nghĩa vụ về tài sản bằng chính tài sản bảo đảm đó Như vậy sẽ xảy ra hai trường hợp Khi giá trị tài sản không bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thì phần nghĩa vụ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lí tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã Còn khi giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn số nợ thì phần còn lại sau khi thực hiện nghĩa vụ được trả lại và nhập vào giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã

4 Thứ tự phân chia tài sản:

a Thứ tự phân chia:

Theo quy định tại điều 54 luật Phá sản 2014, Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản thì tài sản của doanh nghiệp, hợp tác được phân chia theo thứ tự như sau:

Trang 9

- Chi phí phá sản (1);

- Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã kí kết (2);

- Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt đông kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã (3);

- Nghĩa vụ về tài chính đối với nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ (4)

b Nguyên tắc thực hiện phân chia tài sản:

Thứ nhất, phải thực hiện theo đúng như thứ tự quy định như trên, thực hiện hết nghĩa vụ thứ nhất thì thực hiện sang nghĩa vụ thứ hai, thứ ba, thứ tư

Thứ hai, khi giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo quy định như trên thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỉ lệ phần trăm tương ứng với số nợ

Thứ ba, giá trị tài sản sau khi đã thanh toán đủ các khoản mà vẫn còn thừa thì phần còn lại thuộc về: thành viên hợp tác xã, hợp tác xã thành viên; chủ doanh nghiệp tư nhân; chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, cổ đông của công ty

cổ phần; thành viên Công ty hợp danh

III Nhận xét và kiến nghị về thanh lí tài sản phá sản theo quy định của

pháp luật Việt Nam hiện hành:

Thứ nhất, trên thực tế vẫn có không ít trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã vẫn

còn tài sản nhưng không bán được hoặc còn khoản nợ phải thu nhưng chưa thu hồi được, nếu như làm tiến hành thủ tục thanh lí tài sản phá sản, có chăng là tiến hành quá sớm ? Mặt khác, điều đó khiến cho phương án thanh lí phân chia tài sản phá

Trang 10

sản chưa được thực hiện triệt để, nên không thể kết thúc thủ tục thanh lí tài sản phá sản, thủ tục phá sản Từ đó, không thể ra quyết định được Đây là vướng mắc thực

tế, chưa có cơ chế giải quyết

Thứ hai, tại điểm d khoản 1 điều 64 luật Phá sản 2014 còn quy định quyền sử

dụng đất và tài sản gắn liền với đất cũng là tài sản mất khả năng thanh toán, điều này khiến cho gặp nhiều vướng mắc giải quyết: về thời gian kéo dài thủ tục giải quyết thanh lí tài sản, ảnh hưởng tới quyền lợi của cả chủ nợ và con nợ

Thứ ba, điều 37 luật phá sản 2014 quy định về thương lượng giữa chủ nợ nộp

đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, trong đó vẫn để “trống” các biện pháp mà các bên có thể thương lượng trong quá trình thanh lí tài sản phá sản

Kết luận:

Có thể nói, Luật Phá sản 2014 được ban hành và có hiệu lực trên thực tế đã đem lại những lợi ích đáng kể, giúp “cởi trói” nhiều mặt thủ tục phá sản doanh nghiệp Trong đó, việc thanh lí tài sản phá sản đã có bước chuyển, trước đó từ một thủ tục riêng biệt được tiến hành trước khi ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã tuyên bố phá sản trở thành được thực hiện sau khi có quyết định tuyên

bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại số ít hạn chế, người viết mong trong các lần sửa đổi bổ sung luật về sau sẽ sớm khắc phục được những hạn chế

Ngày đăng: 08/12/2017, 19:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w