Các quy định của pháp luật Việt Nam về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động so với nguyên tắc giao kết hợp đồng thông thường khác.
Trang 1Đề tài số 02: Các quy định của pháp luật Việt Nam về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động so với nguyên tắc giao kết hợp đồng thông thường khác Lời mở đầu
Trong bất kì nền kinh tế nào, yếu tố lao động luôn được coi là một trong các yếu tố quan trọng nhất Nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa đặc biệt coi trọng vấn đề về quan hệ lao động Bởi quan hệ lao động trong thị trường giữ vị trí là loại quan hệ sản xuất đặc biệt do có yếu tố con người đóng vai trò trung tâm,đặc biệt là với “hàng hóa sức lao động” do chính con người tạo
ra lại là vấn đề ngày càng được chú trọng hơn.Hẳn nhiên, vì những lẽ trên mà cần thiết phải có một hình thức pháp lí nhất định để vừa tạo ra hành lang lưu thông bình thường cho các quan hệ lao động, vừa bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp các bên trong quan hệ lao động, bởi thế mà hợp đồng lao động được ra đời Hợp đồng lao động được các bên trong quan hệ lao động thiết lập trên cơ sở các nguyên tắc nhất định, và những nguyên tắc trong giao kết hợp đồng có những điểm căn bản khác với các nguyên tắc giao kết hợp đồng thông thường khác Vậy các nguyên tắc trong giao kết hợp đồng lao động là những nguyên tắc như thế nào, khác với các nguyên tắc trong giao kết hợp đồng khác ra sao?
Trang 2I Một số vấn đề lí luận về hợp đồng lao động và nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam
1 Hợp đồng lao động
Theo Hiến pháp năm 2013, tại điều 35 quy định: “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc” Đây là căn cứ pháp lí đầu tiên và quan trọng nhất để đảm bảo vấn đề lao động việc làm của công dân Cũng theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), hợp đồng lao động là: “Thỏa thuận ràng buộc pháp lí giữa một người sử dụng lao động và một công nhân, trong đó xác lập các điều kiện và chế độ làm việc” Theo đó, chương III Bộ luật lao động năm 2012 quy định cụ thể về hợp đồng lao động Tại điều 15 Bộ luật lao động
năm 2012 định nghĩa: “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao
động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động” Từ định nghĩa trên, có
thể rút ra một số đặc điểm của hợp đồng lao động như sau:
Thứ nhất, trước tiên hợp đồng lao động mang đặc điểm chung của hợp đồng dân
sự nói chung về chủ thể, ý chí, nội dung, hình thức Thứ hai, đối tượng của hợp
đồng là việc làm có trả công Bởi người lao động đã đem sức lao động của mình
có thể là trí lực hoặc thể lực để cung ứng cho người sử dụng lao động, sức lao động là thứ vô hình, trừu tượng được mua bán trở thành thứ hàng hóa đặc biệt hữu hình, cụ thể Do đó, cần thiết lập hợp đồng lao động giữa các bên với nhau
Thứ ba, hợp đồng lao động có sự phụ thuộc pháp lí giữa người lao động với
người sử dụng lao động Người lao động phụ thuộc vào người sử dụng lao động
tổ chức, nội quy kỉ luật, kinh tế, còn người sử dụng lao động phụ thuộc vào người lao động về hiệu quả quá trình lao động của người lao động, nói cách khác đó là trình độ, kĩ năng, tay nghề, ý thức làm việc Như vậy, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các bên trong quan hệ lao động trên cơ sở điều tiết của pháp luật,
và tính chất phụ thuộc mang tính tương quan, bình đẳng Thứ tư, hợp đồng lao
động do chính người lao động thực hiện Điều 30 Bộ luật lao động năm 2012 quy định việc thực hiện công việc theo hợp đồng lao động: “Công việc theo hợp
Trang 3đồng lao động phải do người lao động đã giao kết hợp đồng thực hiện”, trừ trường hợp có sự thỏa thuận khác với người sử dụng lao động Bởi ngoài các vấn đề thỏa thuận, thì việc người lao động trực tiếp thực hiện công việc theo hợp đồng lao động đã thỏa thuận với người sử dụng lao động còn liên quan đến nhiều yếu tố về tiền lương, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, khen thưởng, trách nhiệm khác; còn đối với phía người lao động sẽ liên quan đến vấn đề bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, thông tin doanh nghiệp, tổ chức cá nhân người sử
dụng lao động.Thứ năm, hợp đồng lao động bên cạnh sự thỏa thuận của các bên
còn bị hạn chế bởi các quy định của pháp luật Vấn đề bảo vệ quyền lợi của người lao động đặc biệt được chú trọng, nên vấn đề thỏa thuận giữa các bên bị khống chế bởi quy định của Bộ luật lao động, các văn bản pháp luật có liên quan
và thỏa ước lao động tập thể Cuối cùng, hợp đồng lao động được thực hiện liên
tục trong thời gian nhất định hoặc không xác định Khi giao kết hợp đồng lao động, các bên trong quan hệ hợp đồng lao động phải thỏa thuận thời hạn của hợp đồng lao động và thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động Trên
cở sở đã thỏa thuận, người lao động thực hiện theo thứ tự thời gian đã được người sử dụng lao động xác định
Các quy định khác về hợp đồng lao động như nội dung, hình thức, phân loại hợp đồng tuân thủ theo quy định của Bộ luật lao động và các văn bản pháp luật liên quan Việc có cơ chế điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động
và người sử dụng lao động thông qua quan hệ hợp đồng lao động có nhiều ý nghĩa quan trọng: hợp đồng lao động là một trong các hình thức pháp lí làm phát sinh quan hệ lao động, hợp đồng lao động là cơ sở pháp lí quan trọng cho việc giải quyết tranh chấp lao động, hợp đồng lao động còn là công cụ để nhà nước quản lí hiệu quả về lĩnh vực lao động nói chung Để thực hiện hợp đồng lao đồng, việc giao kết hợp đồngcần đảm bảo tuân theo các nguyên tắc đã được pháp điển trong luật trở thành các quy phạm mang tính bắt buộc thực thi
2 Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam
Trang 4Giao kết hợp đồng là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo những nguyên tắc và trình tự nhất định để qua đó xác lập với nhau các quyền và nghĩa
vụ 1 Từ đó có thể hiểu, giao kết hợp đồng lao động là việc người lao động và người sử dụng lao động bày tỏ ý chỉ với nhau theo những nguyên tắc và trình tự nhất định để qua đó xác lập với nhau các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng lao động Việc giao kết được thực hiện theo những trình tự nhất định và không thể tránh khỏi những vi phạm, do đó để trật tự hóa trình tự giao kết, tại điều 17 Bộ luật lao động 2012 đã quy định cụ thể về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động:
“1 Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.
2 Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội”.
Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động là những tư tưởng chỉ đạo phải tuân theo trong toàn bộ quá trình đàm phán, giao kết hợp đồng lao động của người sử dụng lao động và người lao động Tinh thần của nguyên tắc nêu trên còn được vận dụng trong quá trình thực hiện, thay đổi, chấm dứt hợp đồng lao động.Việc giao kết hợp đồng được thực hiện giữa người lao động và người sử dụng lao động Người giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động phải là người thuộc một trong các trường hợp sau: Người đại diện theo pháp luật quy định tại điều lệ của doanh nghiệp, hợp tác xã; Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật; Chủ hộ gia đình; Cá nhân trực tiếp sử dụng lao động Trường hợp người giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động không trực tiếp giao kết hợp đồng lao động thì ủy quyền hợp pháp bằng văn bản cho người khác giao kết hợp đồng lao động theo mẫu do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định Còn bên phía người lao động là người lao động hoặc trong một số trường hợp là người đại diện hợp pháp của họ
2.1 Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực
1 Trang 71, Giáo trình Luật Lao động, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, 2016.
Trang 5Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực được quy định tại khoản 1 điều 17 Bộ luật lao động năm 2012 Trong việc giao kết hợp đồng, trước hết đòi hỏi các bên phải tự nguyện, tự nguyện để giao kết, giao kết phải trên cơ sở tự nguyện, việc lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản là hoàn toàn trái với quy định pháp luật Các bên trong quá trình giao kết thể hiện sự tự nguyện thông qua suy nghĩ bên trong, việc bày tỏ ra bên ngoài và sự thống nhất giữa hai mặt đó Có nghĩa là, chủ quan các bên hoàn toàn quyết định được việc mình giao kết hợp đồng là do ý thức bản thân mình, thể hiện ra hình thực hợp đồng được giao kết là khách quan, là mong muốn đúng so với nguyện vọng của mình khi tham gia giao kết Do đó, để xác định một hợp đồng có tuân theo nguyên tắc tự nguyện thì cần phải dựa trên sự thống nhất ý chỉ của người giao kết hợp đồng và
sự bày tỏ ý chí trong nội dung hợp đồng mà người đó giao kết Thêm nữa, để đảm bảo tinh thần Hiến Pháp 2013: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”, quy định cần bình đẳng trong giao kết hợp đồng lao đồng thể hiện không một ai được lấy lí do vì thành phần xã hội, dân tộc, giới tính, tôn giáo, xuất thân,… để làm điều kiện giao kết hợp đồng Bất kì hành vi nào xử sự nhằm tạo thế bất bình đẳng giữa các chủ thể đều bị coi là vi phạm luật Và chỉ khi bình đẳng thì việc tự nguyện giữa các bên mới được đảm bảo Vì lẽ trên, hợp đồng mà trong quá trình giao kết vi phạm nguyên tắc trên sẽ bị coi là trái pháp luật Ngoài ra, sự thống nhất ý chí của chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng còn được biểu hiện ở thiện chí và trung thực từ việc gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi, đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng, chỉ khi các bên tận tâm thiện chí giao kết thì hợp đồng mới đáp ứng và đảm bảo lợi ích các bên, thông qua đó thể hiện thái độ hợp tác Việc thể hiện ý chí của mình trong giao kết hợp đồng một cách thiện chí, hợp tác còn là việc chú ý tới thái độ, cử chỉ, hành vi của bên kia trong quá trình giao kết, còn là việc các bên tạo ra điều kiện để bên kia đáp ứng các quyền và nghĩa vụ của mình sao cho phù hợp với địa vị pháp lí đã được thỏa thuận Thiện chí, hợp tác chính
là điều quyết định việc người sử dụng lao động và người lao động xích lại với nhau, cùng nhau đồng thuận để thiết lập và duy trì quan hệ lao động bằng cách giao kết và thực hiện hợp đồng lao động Thiện chí biểu hiện cách đối xử tốt
Trang 6đẹp, chân thành với nhau; hợp tác là thể hiện sự phối hợp cùng nhau trong thỏa thuận, bàn bạc giải quyết vấn đề Khi không có thiện chí và không muốn hợp tác thì sẽ không có việc giao kết hợp đồng lao động
2.2 Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội
Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hộiđược quy định tại khoản 2 điều 17 Bộ luật lao động năm 2012 Giao kết hợp đồng lao động đó là sự tự do thỏa thuận thống nhất ý chí giữa các bên, tuy nhiên vẫn phải trong khuôn khổ nhất định là không được trái pháp luật, đạo đức xã hội và thỏa ước lao động tập thể và hẳn nhiên không xâm hại đến quyền và lợi ích của chủ thể thứ ba khác Trong đó, thỏa ước lao động tập thể là văn bản pháp lí về sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động với tập thể lao động và về lợi ích phải đảm bảo hơn cho người lao động Theo quy định của Bộ luật Dân sự2005, trái pháp luật là việc pháp luật quy định chỉ được làm những hành vi nhất định mà chủ thể lại thực hiện trái với nó, ngược lại so với những quy định đó, tuy nhiên để đáp ứng tinh thần mới, tại Bộ luật Dân sự 2015 đã được sửa đổi thành không được trái điều cấm của luật và đạo đức xã hội Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định và đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng Do đó phạm vi của nội dung sửa đổi này tạo điều kiện cho các bên được thỏa thuận rộng hơn Như vậy, mỗi chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng vừa có quyền và nghĩa vụ tương ứng nhưng cũng phải có nghĩa vụ tôn trọng thỏa ước lao động tập thể, quy định pháp luật và đạo đức xã hội Mọi sự thỏa thuận mà trái với những quy định trên thì hợp đồng lao động vô hiệu
Ngoại lệ của nguyên tắc này là việc giao kết hợp đồng lao động của người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi thì phải do người đại diện theo pháp luật của họ đồng ý, vì những người này được coi là chưa nhận thức đầy đủ về hành
Trang 7vi của mình nên cần phải có người đại diện để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ
II Các quy định của pháp luật Việt Nam về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động so với nguyên tắc giao kết hợp đồng thông thường khác
1 Các quy định của pháp luật Việt Nam về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động so với nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (điều 385 Bộ luật dân sự 2015) Theo đó, để việc giao kết hợp đồng không vi phạm pháp luật hoặc khi có vi phạm thì có định hướng để giải quyết thì Bộ luật dân sự 2015 đã hướng nguyên tắc giao kết hợp đồng vào điều 3 Bộ luật dân sự 2015 về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân
sự, cụ thể như sau:
Một là, mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kì lí
do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản Sự bình đẳng giữa mọi cá nhân, pháp nhân thể hiện thông qua
việc họ có đủ năng lực pháp luật dân sự phù hợp với mục đích hoạt động của mình Sự ngang bằng về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, kinh tế, nghề nghiệp của các chủ thể Và sự bảo hộ của pháp luật đối với mỗi chủ thể
Hai là, cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ
dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng Các chủ thể hoàn
toàn có quyền tự mình quyết định tham gia hay không tham gia việc giao kết hợp đồng, giao dịch dân sự, chủ thể khác không được áp đặt, đe dọa, cưỡng ép Các bên chủ thể trong giao kết có quyền thỏa thuận với nhau về các vấn đề nội dung, hình thức hợp đồng, các ràng buộc pháp lí khác Tuy nhiên, để đảm bảo tự
do, tự nguyện cam kết thỏa thuận giao kết hợp đồng, vẫn phải được thực hiện
Trang 8trong phạm vi nhất định không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức
xã hội Trong trường hợp các bên có thỏa thuận thì phải tuân theo, không thỏa thuận thì phải thực hiện theo các quy định của pháp luật Trường hợp thỏa thuận
vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội sẽ bị vô hiệu đến khi các bên có
sự tự do lựa chọn, định đoạt lại ý chí của mình trong giao kết hợp đồng
Ba là, cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực Theo đó, thiện chí, trung
thực được hiểu là không lừa dối, lợi dụng lòng tin của người khác trong việc giao kết hợp đồng, mong muốn sự tốt đẹp đối với các chủ thể cùng tham gia đối với mình trong việc giao kết
Bốn là, việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không
được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Trong quá trình giao kết hợp đồng, các bên có thẻ
thỏa thuận quyền và nghĩa vụ, tuy nhiên phải đặt trong hài hòa, hợp pháp lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Lợi ích
đó có thể là lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần hay kỉ cương đạo đức xã hội, trật tự quản lí hành chính nhà nước
Năm là, cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự Nguyên tắc này được áp dụng
sau khi các bên đã giao kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng Trong trường hợp một bên gây ra vi phạm cho phía bên kia thì cần chịu trách nhiệm về hậu quả do hành vi của mình gây ra
Các nguyên tắc trên là cơ sở cho việc giao kết hợp đồng nói chung, trong
đó cần chú trọng hai nguyên tắc2: thứ nhất là tự do giao kết hợp đồng nhưng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; thứ hai là tự
nguyên, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng Như vậy, có thể thấy rằng, so với nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động thì nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự nói chung cũng tương đối giống nhau, chỉ khác nhau ở một số
2 Trang 11-112, Giáo trình Luật Dân sự tập 2, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, 2017.
Trang 9điểm: giao kết hợp đồng lao động còn cần phải không được trái thỏa ước lao động tập thể, và việc giao kết hợp đồng khác cần tuân thủ các nguyên tắc tại điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015, còn nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động chỉ
buộc tuân thủ theo nguyên tắc quy định tại điều 17 Bộ luật lao động năm 2012
2 Các quy định của pháp luật Việt Nam về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động so với nguyên tắc giao kết hợp đồng thương mại
Trong Luật thương mại Việt Nam không có khái niệm Hợp đồng thương mại, nhưng dựa trên những quy định chung của pháp luật về hợp đồng, có thể
hiểu Hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên, trong đó có ít nhất
một bên là thương nhân, nhằm xác lập thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa
vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt động thương mại Hoạt động thương
mại được giải thích tại điều 3 khoản 1 Luật thương mại 2005: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác Đề thực hiện được hoạt động thương mại diễn ra một cách suôn sẻ cũng như có cơ chế điều chỉnh địa vị pháp lí của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng thương mại, cần có những nguyên tắc để điều chỉnh hoạt động giao kết hợp đồng thương mại Việc giao kết hợp đồng thương mại cần tuân thủ theo các nguyên tắc của giao kết hợp đồng nói chung.Theo đó, nguyên tắc giao kết hợp đồng tại điều 389 nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự Bộ luật dân sự
2005 bao gồm: “1 Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật,
đạo đức xã hội; 2 Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng” Tuy nhiên, tại Bộ luật dân sự 2015 đã bỏ điều về nguyên tắc giao kết
hợp đồng, để chú trọng việc giao kết hợp đồng cần tuân thủ theo các quy định tại điều 3 các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, trong đó có hợp đồng kinh doanh thương mại, trọng tâm là hai nguyên tắc trên và được quy định tại điều 3
Bộ luật dân sự 2015, được cụ thể hóa tại điều 10, điều 11 Luật thương mại 2005 Như vậy, về cơ bản, tinh thần nguyên tắc giao kết hợp đồng thương mại giống
Trang 10với nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự, thế nên cũng có những điểm giống và khác so với hợp đồng lao động
Kết luận
Tóm lại, các nguyên tắc trong giao kết hợp đồng lao động có những điểm khác biệt, đặc biệt chỉ có trong quan hệ lao động, và có thể nói các nguyên tắc này mang tính đặc thù, chỉ có riêng trong giao kết hợp đồng lao động Những nguyên tắc này là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam xuyên suốt, định hướng cho quan hệ lao động nói chung khi xảy ra tranh chấp, cũng là cơ sở pháp lí quan trọng để các bên trong quan hệ lao động thỏa thuận, thương lượng, đàm phán đi đến giao kết và thực hiện hợp đồng lao động một cách lành mạnh, thiện chí, các bên cùng có lợi Việc pháp điển hóa các quy định của pháp luật về nguyên tắc giao kết hợp đồng trong pháp luật Việt Nam một mặt tạo điều kiện để đảm bảo hơn nữa quyền con người, quyền công dân tại Việt Nam, mặt khác làm cho pháp luật Việt Nam tiệm cận dần với pháp luật quốc tế, góp phần trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam