Là phật tử, không ai không biết đến việc tụng kinh niệm Phật. Việc niệm Phật cùng với việc tụng kinh A Di Đà và một số bộ kinh thường tụng khác trở thành việc hành trì thường xuyên hàng ngày của đại đa số phật tử. Trong các pháp môn tu tập, Tịnh Độ là một trong những pháp môn phổ biến đối với các phật tử tại nhiều nước Phật giáo Đại thừa như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam… Riêng ở nước ta, cùng với sự phát triển của Thiền tông từ bao thế kỷ nay, Tịnh Độ tông cũng được phát triển đến mức các nhà tu hành đều thâm sâu cả hai giáo lý và trở thành việc hành trì theo ThiềnTịnh song tu. Tuy nhiên, đối với hàng phật tử, nhất là phật tử tại gia, việc tu theo pháp môn Tịnh Độ, cho đến nay vẫn còn nhiều điều cần phải tìm hiểu sâu, để qua đó bổ sung cho việc tinh tấn tu hành. Đa số phật tử chỉ thấy rằng muốn vãng sinh về Tây phương Cực lạc thì chỉ cần niệm Phật nhất tâm là đủ, thậm chí cho rằng không cần tụng kinh và thực hành các giáo lý tu tập khác. Cuốn TÌM HIỂU PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ này mong được góp phần giúp cho chư vị phật tử tìm hiểu sâu hơn về lịch sử phát triển pháp môn Tịnh Độ cùng những vấn đề cơ bản về giáo lý, cũng như phương pháp tu tập và hành trì theo pháp môn Tịnh Độ. Trong tài liệu này có đề cập đến một số vấn đề khác nhau về nhận thức cũng như về phương pháp tu tập của Tịnh Độ tông qua một số tài liệu, bài viết với mục đích tham khảo tìm hiểu. Vì trình độ có hạn, ngưỡng mong chư tôn thiền đức, các bậc thức giả, Phật tử mười phương và quý vị độc giả vui lòng đón nhận món quà nhỏ mọn này và lượng tình chỉ dẫn những điều còn sai sót. Tác giả kính ghi
Trang 1Tìm hiểu Pháp môn Tịnh độ
Pháp môn Tịnh Độ chủ trương niệm Phật, quán tưởng Đức Phật A Di Đà
và sự thù thắng, trang nghiêm của cõi Cực lạc Tịnh Độ, bằng tự lực với Tín, Nguyện, Hạnh tương ưng bản nguyện của Đức Phật A Di Đà Trong kinh Quán
Vô Lượng Thọ, Đức Phật cũng đã chỉ rõ người tu theo Tịnh độ muốn vãng sinh
về thế giới Cực lạc phải biết tu tam phúc hay còn gọi là tam tịnh nghiệp Có nghĩa là ngoài việc nhất tâm niệm Phật ngày đêm thì người tu theo Tịnh độ tông cần phải hiểu giáo lý của đức Phật
LỜI NÓI ĐẦU
Là phật tử, không ai không biết đến việc tụng kinh niệm Phật Việc niệm Phậtcùng với việc tụng kinh A Di Đà và một số bộ kinh thường tụng khác trở thànhviệc hành trì thường xuyên hàng ngày của đại đa số phật tử Trong các phápmôn tu tập, Tịnh Độ là một trong những pháp môn phổ biến đối với các phật tửtại nhiều nước Phật giáo Đại thừa như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam…Riêng ở nước ta, cùng với sự phát triển của Thiền tông từ bao thế kỷ nay, Tịnh
Độ tông cũng được phát triển đến mức các nhà tu hành đều thâm sâu cả hai giáo
lý và trở thành việc hành trì theo Thiền-Tịnh song tu Tuy nhiên, đối với hàngphật tử, nhất là phật tử tại gia, việc tu theo pháp môn Tịnh Độ, cho đến nay vẫncòn nhiều điều cần phải tìm hiểu sâu, để qua đó bổ sung cho việc tinh tấn tuhành Đa số phật tử chỉ thấy rằng muốn vãng sinh về Tây phương Cực lạc thì chỉcần niệm Phật nhất tâm là đủ, thậm chí cho rằng không cần tụng kinh và thựchành các giáo lý tu tập khác
Cuốn TÌM HIỂU PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ này mong được góp phần giúp chochư vị phật tử tìm hiểu sâu hơn về lịch sử phát triển pháp môn Tịnh Độ cùngnhững vấn đề cơ bản về giáo lý, cũng như phương pháp tu tập và hành trì theopháp môn Tịnh Độ
Trong tài liệu này có đề cập đến một số vấn đề khác nhau về nhận thức cũngnhư về phương pháp tu tập của Tịnh Độ tông qua một số tài liệu, bài viết vớimục đích tham khảo tìm hiểu
Vì trình độ có hạn, ngưỡng mong chư tôn thiền đức, các bậc thức giả, Phật tửmười phương và quý vị độc giả vui lòng đón nhận món quà nhỏ mọn này vàlượng tình chỉ dẫn những điều còn sai sót
Tác giả kính ghi
TÌM HIỂU PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ
Tịnh Độ là một trong các tông phái chính của Phật giáo Giáo lý của pháp môn Tịnh Độ đã có từ khi Đức Phật tại thế, sau này trở thành một trong những pháp môn tu tập phổ biến đối với các phật tử tại nhiều nước Phật giáo Đại thừa Mãi đến thế kỷ thứ IV, pháp môn Tịnh Độ mới trở thành một tông phái chính thức tồn tại và phát triển cùng với nhiều tông phái Phật giáo khác Và ngày nay, Tịnh
Độ tông trở thành một tông phái có nhiều phật tử tu tập đông đảo nhất không chỉ
ở phương Đông mà ngay cả ở các nước phương Tây
Trang 2Trong tài liệu này, xin chỉ bàn đến sự ra đời của pháp môn Tịnh Độ, lịch sử pháttriển của Tịnh Độ, những vấn đề thuộc về giáo lý và sự thực hành tu tập theo pháp môn Tịnh Độ cùng những ý kiến khác biệt trong nhận thức và tu hành theo pháp môn Tịnh Độ Những vấn đề khác có liên quan đến pháp môn Tịnh Độ nhưvấn đề hộ niệm và dấu hiệu của vãng sinh không đề cập đến trong tài liệu này
Phần I
LỊCH SỬ PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ
A Khái niệm về Pháp môn Tịnh Độ:
Mục đích cứu cánh của đạo Phật là giải thoát Đức Phật Thích Ca đã từng nói:
“Nước trong bốn biển đều có một vị, đó là vị mặn Tất cả các pháp môn của tacũng chỉ có một vị, đó là vị giải thoát” Vì vậy trong hầu hết các kinh điển củaĐức Phật thuyết pháp đều nói đến con đường giác ngộ và giải thoát Mà conđường giải thoát của đạo Phật căn bản là ở tâm, phải từ tâm mà ra tức là phải nỗlực cá nhân Dù Phật pháp có đến 84 nghìn pháp môn thì pháp môn nào cũngphải tự mình tu tập để đi đến giải thoát Rõ ràng muốn từ bến bờ mê muội bênnày sông sang bên kia bờ giải thoát phải tự mình lên thuyền, tức là phải có côngphu tự thân tâm của chính người tu hành, phải có cả một quá trình tu tập Phápmôn Tịnh Độ cũng thế, cũng phải là một quá trình tu tập mang tính tự lực làchính
Pháp môn Tịnh Độ là một trong những pháp môn tu tập phổ biến đối với cácPhật tử tại nhiều nước Phật giáo Đại thừa như Trung Quốc, Nhật Bản, ViệtNam Nhìn về lịch sử phát triển Phật giáo, từ thời Phật giáo nguyên thủy, phápmôn Tịnh Độ chú trọng đến tự lực Về sau này, vào những thế kỷ đầu của Tâylịch, Phật giáo Đại thừa phát triển đa dạng hóa lối tu hành nên có những phápmôn chú trọng đến tha lực, tức nhờ vào Phật lực mà tu hành đạt thành đạo quả,vượt thoát khổ đau Đó cũng là lý tưởng của pháp môn Tịnh Độ.Vì vậy, Tịnh độ
là một đường lối tu tập phổ biến, đáp ứng nhu cầu tâm linh về một đời sống vĩnhcửu và hoàn toàn giải thoát khổ đau của con người để được sống trong cõi Tịnh
Độ an vui
B Các cõi Tịnh Độ trong Phật giáo:
Thông thường khi nói đến tịnh độ (Quốc độ thanh tịnh) các phật tử thường nghĩđến cảnh giới Tây phương Tịnh Độ, nơi có Đức Phật A Di Đà và chư Thánhchúng Nhưng theo Phật giáo Đại thừa thì có mười phương tịnh độ và mườiphương chư Phật Tuy nhiên trong các kinh điển thường đề cập đến bốn cõi tịnh
độ, đó là: Tịnh độ Di Lặc, Tịnh độ Dược Sư , Tịnh độ A Súc Phật và Tịnh độ A
Di Đà
Tịnh là sạch, là thanh tịnh Tịnh độ là nơi thanh tịnh, là cảnh giới an lạc không
có phiền não, khổ đau Kinh điển thường nói đến Tịnh độ với nhiều tên gọi khácnhau như Thanh tịnh quốc độ, Thanh tịnh Phật sát, Tịnh quốc, Tịnh thế giớihoặc là Phật quốc Đó là trụ xứ của chư Phật và chư Bồ tát tiếp độ và giáo hóachúng sinh Tùy theo công đức và nguyện lực đối với từng căn cơ của chúngsinh mà mỗi vị Phật có mỗi cõi nước khác nhau Đó là nơi, là phương tiện giáo
Trang 3hóa của tất cả chư Phật Điều đó có nghĩa rằng ngoài thế giới mà chúng ta đangsống còn có vô số thế giới khác Có nhiều cõi tịnh độ khác nhau, nhưng thườnghay nói đến bốn cõi tịnh độ chính là:
1.Di Lặc Tịnh Độ:
Đó là cõi tịnh độ của Đức Phật Di Lặc, một vị Phật tương lai của thế giới loàingười đang sống, hiện đang ở cõi trời Đâu Suất Ngài Đạo sư Vô Trước , ngườisáng lập ra trường phái Duy thức học của Phật giáo đã viết những bộ luận nỗitiếng như Du Già Sư Địa luận, Đại Thừa Trang Nghiêm luận, Phân Biệt Du Giàluận và Kim Cương Bát Nhã luận Tất cả những công đức và trí tuệ này mà Ngàiviết được là do Ngài tiếp nhận được sự giáo hóa của Bồ tát Di Lặc Về sau cónhiều hành giả trong trường phái Duy Thức học phát nguyện sinh về cõi ĐâuSuất Tịnh Độ Đâu Suất Tịnh Độ thuộc tầng trời thứ tư trong sáu tầng trời cõidục Nếu tu tất cả các thiện pháp và tùy nguyện mới sinh vào nội viện của cõiĐâu Suất, nếu không phát nguyện chỉ sinh vào ngoại viện như là một vị chưThiên Do từ đó mà tín ngưỡng Di Lặc tịnh độ xuất hiện
2.Dược Sư Tịnh Độ:
Đó là cõi tịnh độ của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật Khi còn là Bồtát, Ngài đã phát mười hai lời nguyện để cứu khổ chúng sinh Chúng sinh nàokhổ đau, hoạn nạn, bệnh tật biết niệm danh hiệu của Ngài thì sẽ được tai qua nạnkhỏi, đời sống an ổn Do vậy, các Phật tử thường trì tụng kinh Dược Sư để cầu
an, giải khổ là nghĩa đó Nếu phát tâm bồ đề và có ý nguyện cầu vãng sinh thì sẽđược Ngài tiếp độ
3.A Súc Phật Tịnh Độ:
Cõi tịnh độ này được đề cập trong kinh Duy Ma Cật, một bộ kinh quan trọngcủa Phật giáo Đại thừa Tịnh độ theo nghĩa này là pháp tu thực tiễn được cáctông phái Phật giáo Đại thừa rất chú trọng Tư tưởng Tịnh độ này tương ứng với
tư tưởng Bát Nhã, đặc biệt là mang tinh thần nhập thế rất tích cực, đề cao việchành Bồ tát hạnh và kiến lập Tịnh độ ngay tại tâm Kinh Duy Ma Cật nhấn mạnhrằng thanh tịnh hóa thân tâm tức là tịnh độ cõi Phật Cư sĩ Duy Ma Cật đượcxem là hiện thân của hành giả từ Quốc độ Diệu Hỷ đến cõi này tuyên dươngchính pháp, hộ trì cho Phật Thích Ca giáo hóa chúng sinh
4.Tây Phương Tịnh Độ:
Còn được gọi là Cực lạc thế giới, An dưỡng, Lạc bang v.v…Kinh điển Đại Thừathường tán thán cảnh giới thù thắng của Tây phương và công đức bổn nguyệncủa Đức Phật A Di Đà Đức A Di Đà là chính báo, cảnh Tây phương cực lạc là ybáo Nếu chúng sinh nào chuyên tâm niệm danh hiệu của Ngài, tu tập thiện pháp
và quán tưởng cảnh giới Tây phương thì đến lúc lâm chung sẽ được vãng sinh
về Tây phương Tịnh Độ Điều đáng chú ý là hành giả tu tịnh độ tin sâu vào thalực của đức Phật và chư Bồ Tát Lối tu này bao gồm cả tự lực và tha lực Tự lực
là tự mình y theo giáo pháp tu học để có đầy đủ phúc đức mới được vãng sinh.Trong kinh A Di Đà có dạy rằng không thể lấy chút ít căn lành và phúc đức màđược sinh về cõi Cực lạc được Đức Phật khuyên chúng ta phải tự mình nỗ lực
Trang 4mới tiếp nhận được năng lực của Ngài Niệm Phật còn có thể phát sinh côngđức, tiêu trừ vọng nghiệp và thành tựu thiền định.
Đó là nói sơ qua về 4 cõi tịnh độ chính mà trong các kinh điển Đại thừa thường nhắc đến Còn trong tài liệu này chủ yếu nói về cõi Tịnh độ Tây phương Cực lạccủa Đức Phật A Di Đà và pháp môn Tịnh Độ theo Đại thừa Phật giáo
C Sự ra đời của pháp môn Tịnh Độ:
Nguồn gốc tư tưởng của Tịnh Độ xuất phát từ thời nguyên thủy, tức ngay từ thờiđức Phật còn tại thế Nhưng hình thành rõ nét thể hiện trong kinh điển Đại thừabắt đầu từ trong kinh Hoa Nghiêm rồi sau là kinh Diệu Pháp Liên Hoa Nhưngtrong thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy, tư tưởng Tịnh Độ không bộc lộ rạng rỡnhưng lại ăn sâu vào trong tâm khảm của giới tu tại gia Trong khi đó giới xuấtgia lại chú trọng đến giải thoát sinh tử, đạt đến Niết Bàn Do đó tư tưởng Tịnh
Độ vào thời kỳ này bị lu mờ, nên trong kinh điển Tiểu thừa ít nói đến pháp mônTịnh Độ
Trong hệ thống kinh Bát Nhã Đại thừa, ta thấy kinh Hoa Nghiêm có nói đếnThiện Tài Đồng Tử đi về phương nam tham học thày Tỳ kheo Công Đức Vân,
có nói rõ việc niệm Phật tam muội và thấy Phật Trong phẩm Nhập pháp giớicủa kinh Hoa Nghiêm có nói: “Bồ tát Quang Minh dùng chính định tam muộiquán sát thấy tất cả chư Phật và quyến thuộc của Ngài ở cõi Phật trang nghiêmthanh tịnh đạt được hư không đẳng niệm Phật Tam muội môn, thấy thân NhưLai chiếu khắp pháp giới” Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Dược vương
Bồ tát có nói: “Nếu có người phụ nữ nào nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nghexong phát tâm tu hành, sau khi mạng chung liền vãng sinh về thế giới của ĐứcPhật A Di Đà, có các vị Đại Bồ tát vây quanh nơi đó.”
Pháp môn Tịnh Độ chủ trương niệm Phật, quán tưởng Đức Phật A Di Đà và sựthù thắng, trang nghiêm của cõi Cực lạc Tịnh Độ, bằng tự lực với Tín, Nguyện,Hạnh tương ưng bản nguyện của Đức Phật A Di Đà Hành giả còn phải nươngnhờ Phật lực để vãng sinh về Cực lạc trong trạng thái nhất tâm bất loạn Tịnh Độtông không phải là một pháp môn chỉ có tín ngưỡng Tịnh Độ Cực lạc và ĐứcPhật A Di Đà, không phải chỉ có niềm tin, mà đó là pháp môn chủ trương conđường tu tập Giới, Định, Tuệ mà chủ yếu là Giới và Định Do nhờ công phu tinhtấn niệm Phật mà thành tựu Định đạt đến nhất tâm bất loạn, niệm Phật tammuội Nhờ thọ trì Tam quy, Ngũ giới, hành Thập thiện và tu tạo các công đứcphúc lành (trong đó có hộ trì Tam bảo, hoằng dương chính pháp, từ thiện, bố thí,phóng sinh v.v ) mà thành tựu được Giới
D Lịch sử phát triển pháp mônTịnh độ.
Khi Phật giáo phát triển sang Trung Quốc, pháp môn Tịnh Độ đã được các viđạo sư Trung Quốc ngưỡng mộ đi đến việc thành lập thành một tông phái riêng.Sau này Tịnh Độ lại được truyền sang Nhật Bản và cũng được Phật giáo NhậtBản phát triển mạnh Còn ở Việt Nam, ngoài yếu tố từ Trung Quốc truyền sang,còn có những thành tựu trực tiếp từ Ấn Độ truyền sang vào khoảng những thế kỷđầu sau Công nguyên Dưới đây ta điểm qua sự phát triển lịch sử pháp môn Tịnh
Độ ở những nước phát triển Tịnh Độ
Trang 51 Tịnh Độ tông ở Ấn Độ.
Như trên đã nói trong thời kỳ đức Phật còn tại thế và sau đó vào những thế kỷtrước Tây lịch, trước khi tư tưởng Đại thừa phát triển,Tịnh Độ tông ở Ấn Độchưa hình thành pháp môn rõ rệt Tuy tư tưởng Tịnh Độ trong thời kỳ này khôngbộc lộ mạnh mẽ nhưng ăn sâu vào tâm khảm của giới tu tại gia trong khi cáctăng đoàn thuộc giới xuất gia lại quan tâm tu tập để giải thoát sinh tử, đạt đếnNiết bàn Vì vậy tư tưởng Tịnh Độ trong thời kỳ này ở Ấn Độ chưa phát triểnmạnh mẽ, có thể nói bị lu mờ và cũng chưa hình thành tông phái rõ rệt Cũng vìvậy mà trong kinh điển Tiểu thừa ít thấy nói đến pháp môn Tịnh Độ Tuy nhiên,vào những thế kỷ đầu sau Tây lịch, khi tư tưởng Đại thừa phát triển cùng với sựphát triển Phật giáo lên phía bắc thì tư tưởng Tịnh Độ mới có dịp phát triển lớnmạnh và rộng rãi, nhất là ở Trung Quốc
Do đó lý thuyết Tịnh Độ được khởi nguồn ở Ấn Độ, là một đường lối tu tậpnhưng không thiết lập tông phái, chỉ khi các kinh điển Đại thừa Tịnh Độ truyềnqua Trung Hoa thì Tịnh Độ mới trở thành tông phái rõ rệt
2 Tịnh Độ tông ở Trung Hoa:
Phật giáo từ Ấn Độ phát triển sang Trung Quốc vào những năm đầu của thế kỷthứ nhất sau công nguyên Từ đời Đông Hán (25 – 220 SCN) về sau, đạo Phậtcàng ngày càng được mở rộng ở Trung Quốc, nhưng đến đời Lục Triều trở đimới có vẻ thịnh đạt, rồi đến đời Tùy Đường mới là cực thịnh Trong thời gian ấy(từ thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ VI), có một vị cao tăng Ấn Độ là Cưu Ma LaThập (344 - 413) sang Trung Quốc được tôn làm Quốc sư Cưu Ma La Thập đãdịch kinh và luận Đại Thừa ra Hán văn như Kinh Kim Cương, kinh Pháp Hoa,kinh Duy Ma, Trung Quán luận, Thâp nhị môn luận v.v…Cùng trong thời kỳ đó
có những vị tăng Trung Hoa đi sang Ấn Độ cầu pháp thỉnh kinh như vào nămLong An thứ ba (399) đời vua An Đế nhà Đông Tấn, có các vị Pháp Hiển, TuệCảnh và Đạo Chính
Trong quá trình phát triển, từ đời Đông Tấn (317 – 420) trở đi, các tông pháiPhật giáo Đại thừa mới dần dần hình thành ở Trung Quốc Ta có thể lược khảo
có khoảng 10 tông phái, gồm Tịnh Độ tông, Thiền tông, Thiên Thai tông haycòn gọi là Pháp Hoa tông (lấy kinh Pháp Hoa làm nền tảng), Hoa Nghiêm tông(lấy kinh Hoa nghiêm làm cơ bản), Luật tông, Chân Ngôn tông (tức Mật tông),Tam Luận tông, Câu Xá tông, và Thành Thật tông Tuy nhiên về mặt phát triểnthì ở Trung Quốc có hai tông phái Tịnh Độ tông và Thiền tông là phát triểnmạnh và phát triển cho đến ngày nay
Riêng về Tịnh Độ tông, những kinh luận thuộc giáo nghĩa Tịnh Độ được dịchxuất hiện dần Năm 250 thời Ngụy, ngài Khang Tăng Ngãi dịch kinh Vô LượngThọ, Cư sĩ Chí Khiếm thời Tôn Quyền dịch bộ Đại A Di Đà kinh Đời Diêu Tần(thế kỷ IV), ngài La Thập dịch Phật thuyết A Di Đà kinh, còn gọi là tiểu kinh A
Di Đà, rồi ngài Phật Đà Bạt Đà La (tức Giác Hiền) dịch Tân Vô Lượng Thọkinh, Quán Phật tam muội kinh, ngài Trí Nghiêm dịch Tịnh độ tam muội ThờiLưu Tống (thế kỷ V), ngài Cương Lương Da Xá dịch Quán Vô Lượng Thọ kinh,ngài Bồ Đề Lưu Chi (thế kỷ VI) dịch Vô Lượng Thọ kinh luận Đặc biệt, ngài
Trang 6Thế Thân (316 - 396), đã trước tác Vãng sinh Tịnh Độ luận Do đó đến thời kỳnày giáo lý về Tịnh Độ tông tương đối hoàn chỉnh ở Trung Quốc.
Về lịch sử phát triển và truyền thừa, ta thấy rằng cuối đời nhà Tây Tấn (265 –317), vào khoảng năm Vĩnh Gia (307 - 313) đời vua Hoài Đế có một vị danhtăng người Thiên Trúc tên là Phật Đồ Trừng, nổi tiếng có nhiều pháp thuật Phật
Đồ Trừng có rất nhiều môn đồ, trong số đó có Đạo An Ông là một vị cao tăng
đã đề xuất ý kiến lấy họ Thích làm họ chung cho những người xuất gia để tưởngnhớ và tôn sùng Đức Thích Ca Mâu Ni Đạo An có môn đồ là Huệ Viễn (334 -416) người Nhạn Môn, Sơn Tây, đến ở chùa Đông Lâm trên núi Lư Phong cùngvới 214 vị kết làm Bạch Liên xã, phát thệ trước tượng A Di Đà Phật, xin đồng tutịnh nghiệp Do đó Tịnh Độ tông bắt đầu hình thành
Đời sau, môn đồ suy tôn Đại sư Huệ Viễn làm sơ tổ Liên tông, tức là sơ tổ củaTịnh Độ tông ở Trung Quốc Tông này thờ Tam Bảo và lấy sự tụng kinh niệmdanh hiệu A Di Đà Phật làm yếu chỉ trong sự tu hành Tông này cũng cho rằngbất kỳ người nào tu pháp môn này cũng được, miễn là niệm Phật nhất tâm bấtloạn, với niềm tin mãnh liệt, ý nguyện vững bền và hành trì niệm Phật tinh tấnthì đều có thể vãng sinh vào cõi Tịnh độ của Phật A Di Đà ở Tây phương Cựclạc Vì có giáo pháp dễ theo và mọi người ai cũng có thể theo được, nên Tịnh
Độ tông ở Trung Quốc ngày một phát triển Song, các vị Tổ trong Tịnh Độ tôngkhông thực hiện sự truyền thừa như các tông phái khác là truyền tâm ấn từ đờitrước cho đời sau, mà tùy theo công đức của từng vị mà môn đồ suy tôn làm Tổ.Cho nên từ thế kỷ thứ IV đến đầu thế kỷ XX, Tịnh độ tông mới có 13 vị tổ, kể từ
vị tổ thứ nhất là Đại sư Huệ Viễn, (334-416), tiếp đến vị tổ thứ 2 là Đại sưThiện Đạo (513-581), Đại sư Thừa Viễn (712-802),là vị tổ thứ 3, tiếp đó là các
vị Đại sư Pháp Chiếu (747-821), Đại sư Thiếu Khang (?-805), Đại sư Diên Thọ(904-975), Đại sư Tỉnh Thường (959-1020), Đại sư Châu Hoằng (1532-1612), Đại sư Trí Húc (1599-1655), Đại sư Hành Sách (1628-1682), Đại sư Thật Hiền(1686-1734), Đại sư Tế Tỉnh (1741-1810) và vị Tổ thứ 13 của Tịnh Độ tôngTrung Quốc là Đại sư Ấn Quang (1862-1940), hoằng pháp vào cuối đời NhàThanh và đầu thời Trung Hoa Dân Quốc của thế kỷ XX
3 Tịnh Độ tông ở Nhật Bản:
Tịnh Độ tông Nhật Bản vốn có nguồn gốc từ Tịnh Độ tông Trung Quốc, đượcđạo sư Viên Nhân (793-864), người Nhật đem về cùng với các giáo lý của ThiênThai tông và Mật tông mà sư đã tiếp thu trong thời gian du học tại Trung Quốc
Sư là người truyền bá phương pháp Niệm Phật, niệm danh hiệu của Phật A Di
Đà Những vị nổi danh của tông này trong thời gian đầu là Không Dã ThượngNhân (903-972), cũng được gọi là Thị Thánh, vị "Thánh ở chợ", và Nguyên Tín( 942-1017) Trong thời này, niệm Phật là một thành phần trong việc tu hành củatất cả các tông phái tại Nhật, đặc biệt là Thiên Thai tông và Chân Ngôn tông.Mãi đến thế kỷ XII, đạo sư Pháp Nhiên (1133-1212) mới chính thức thành lậptông Tịnh Độ ở Nhật Bản Sư muốn mở một con đường tu tập mới, "dễ đi" trongthời mạt pháp cho những người sống đau khổ Sư rất thành công trong việcthuyết phục quần chúng và rất nhiều người quy tụ lại, thành lập một trường pháirất mạnh Pháp Nhiên đã làm một cuộc cách mạng trong việc truyền bá và phát
Trang 7triển Tịnh Độ tông với trào lưu rộng lớn Và chính vì sư tự tôn giáo lý đó là giáo
lý cao nhất, nên không thoát khỏi sự tranh chấp dèm pha Sư bị đày ra một vùnghoang vắng năm 74 tuổi
Giáo lí cơ sở của Pháp Nhiên dựa trên các bộ kinh Vô Lượng Thọ, A Di Đà vàQuán Vô Lượng Thọ Cách tu hành của tông này chỉ là việc tụng niệm câu
"Nam mô A Di Đà Phật" Việc niệm danh hiệu Phật rất quan trọng để phát triểnlòng tin nơi Phật A Di Đà, nếu không thì hành giả không thể nào vãng sinh vàocõi của Ngài, đó là mục đích chính của việc tu hành của tông này Pháp Nhiênquan niệm rằng, đa số con người không thể đi con đường khó, hoàn toàn tin vào
tự lực trong thời mạt pháp và cơ hội duy nhất của họ là tin vào sự hỗ trợ củaPhật A Di Đà, tin vào tha lực của Phật và Thánh chúng mới giúp cho con người
dễ dàng tu tập và sinh về cảnh giới của Ngài là được an lạc trong cõi Cực lạc vàđược giải thoát
Sau Pháp Nhiên là các vị Không Dã Thượng Nhân và Lương Nhẫn Không DãThượng Nhân là người đầu tiên tín ngưỡng đức Phật A Di Đà và truyền bá côngkhai việc niệm Phật giữa chợ vì vậy sư được mang biệt hiệu là “Thị Thánh” (VịThánh ở chợ) Còn Lương Nhẫn nguyên là một cao tăng thuộc Thiên Thai tông,nổi danh trong việc tín ngưỡng và tán tụng Phật A Di Đà trong những bài hát ỞNhật Bản, Tịnh Độ tông cùng với Thiên Thai tông (lấy kinh Pháp Hoa làm nềntảng) và Hoa Nghiêm tông (lấy kinh Hoa Nghiêm làm nền tảng) ảnh hưởng lẫnnhau đều phát triển quan điểm “Dung thông niệm Phật” tức là nếu một ngườinào đó niệm Phật thì công đức này sẽ đến với tất cả những người khác và ngượclại, ai cũng có phần của mình trong việc tụng niệm danh hiệu Phật Cách diễngiải giáo lý này thuyết phục được nhiều người trong vương triều và được các đệ
tử kế thừa Và vì vậy Tịnh Độ tông ở Nhật Bản rất phát triển cho cả đến ngàynay
4 Tịnh Độ tông tại Việt Nam:
Đạo Phật được truyền vào Việt Nam rất sớm ngay từ thời kỳ dựng nước Phậtgiáo Việt Nam có thể đã hình thành từ trước Công nguyên và phát triển mạnh từkhoảng thế kỷ thứ II và thứ III sau Công nguyên, khi đất nước còn là đất GiaoChỉ phụ thuộc vào các triều đại phong kiến của Trung Quốc Sử liệu Phật giáo
để lại cho rằng các tăng sĩ Ấn Độ đi truyền giáo theo đường biển đã vào GiaoChâu và ở lại đây hoằng pháp
Mãi đến cuối thế kỷ thứ VI, Phật giáo ở Việt Nam mới có tổ chức hệ thống, mở đầu bởi thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi (còn gọi là dòng thiền Nam Phương) Sangthế kỷ thứ IX, có thêm thiền phái Vô Ngôn Thông (còn gọi là dòng thiền Quan Bich) và đến thế kỷ thứ XI đời nhà Lý, lại có thêm thiền phái Thảo Đường Rồi tiếp theo là thiền phái Yên Tử và Trúc Lâm Yên Tử Các thiền phái này phát triển và làm cho Phật giáo Việt Nam hưng thịnh Bên cạnh đó trào lưu niệm Phậttheo tư tưởng Tịnh Độ vẫn xuất hiện đan xen trong các thiền phái
Có thể thấy rằng trào lưu Tịnh Độ ở nước ta dẫu có một lịch sử lâu dài nhưng không tự thân phát triển thành một tông phái, không có vị trí độc lập, tách biệt với các tông phái khác, đồng thời cũng không phong phú trong lý luận và
phương pháp thực hành như Tịnh Độ tông ở Trung Hoa hay Nhật Bản Tuy ở
Trang 8Việt Nam từ trước tới nay Tịnh Độ tông chưa thành một hệ thống pháp môn riêng biệt, nhưng sau thời nhà Trần, khoảng đầu thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XX, phương pháp tu hành của Tịnh Độ dưới hình thức đọc tụng kinh A Di Đà và niệm “Nam mô A Di Đà Phật” Phương pháp này đã được kết hợp hài hoà với các thiền phái tại Việt Nam thể hiện qua thực tế sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng của Phật giáo Việt Nam, thì thấy rằng dấu ấn của pháp môn Tịnh Độ là hết sức sâu đậm Ta có thể điểm qua một cách hệ thống một số nét phát triển tư tưởng Tịnh Độ tông ở Việt Nam như sau:
Danh hiệu của Đức Phật A Di Đà được nhắc đến sớm nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam xuất hiện trong tác phẩm Cựu tạp thí dụ kinh do Khương Tăng Hội (?-280) soạn Pháp môn niệm Phật cũng đã được đề cập trong cuốn Lục độ tập kinh cũng do Khương Tăng Hội soạn Đây là những bộ kinh xưa nhất lưu hành tại Việt Nam Như vậy, ngay từ rất sớm, vào trước thế kỷ thứ III, trong khuynh hướng tư tưởng Phật giáo Đại thừa được giới thiệu tại nước ta, người Phật tử Việt Nam cũng đã bước đầu được tiếp xúc với tư tưởng tín ngưỡng Tịnh
Độ Và sau đó, vói sự xuất hiện của bản kinh quan trọng là kinh Vô lượng thọ donhà sư Đàm Hoằng (?-455), một vị tăng người Trung Quốc chuyên hành trì phápmôn Tịnh Độ với ước nguyện vãng sinh Cực Lạc, đến Việt Nam tu học tại nước
ta, truyền bá
Tuy nhiên, giai đoạn tiếp theo, tức từ sau sư Đàm Hoằng đến nửa đầu thế kỷ thứ
IX, chúng ta hiện không có tư liệu nào để lại đề cập đến Tịnh Độ
Từ giữa thế kỷ thứ XI trở đi, khuynh hướng Tịnh Độ được phổ biến rộng rãi, với
sự hình thành của nhiều ngôi Tam bảo, nhiều đạo tràng Đặc biệt vua Lý ThánhTông (1023-1072), thuộc Thiền phái Thảo Đường, đã cho tạc một pho tượngPhật A Di Đà độc đáo có một không hai trong lịch sử nghệ thuật điêu khắc củadân tộc, pho tượng này hiện nay vẫn còn ở chùa Phật Tích Ngoài ra, còn cótượng Phật A Di Đà do nhà sư Trì Bát (1049-1117) thuộc thế hệ thứ 12 của dòngthiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi tạo dựng năm 1099 ở chùa Hoàng Kim, xã Hoàng Ngô,huyện Quốc Oai và tượng A Di Đà trong hội đèn Quảng Chiếu trước Đoan Môn,được tạo lập để cầu nguyện cho hoàng hậu Linh Nhân siêu sinh tịnh độ v.v…chứng tỏ Thiền tông và Tịnh Độ tông kết hợp với nhau Cùng với tín ngưỡng A
Di Đà, tín ngưỡng Quán Thế Âm, vị Bồ tát thân cận của Phật A Di Đà, ở thời kỳnày cũng trở nên phổ biến Từ giai đoạn này trở về sau, trên phương diện tínngưỡng, trào lưu Tịnh Độ đã thực sự có một vị trí quan trọng trong đời sống vănhóa tâm linh của nhân dân ta
Thế kỷ XII, theo tác phẩm Thiền uyển Tập Anh, ta thấy có nhiều thiền sư theocác thiền phái khác nhau nhưng vẫn hành trì theo pháp môn Tịnh Độ, như Thiền
sư Tịnh Lực (1111-1175), thuộc thế hệ thứ 10 dòng thiền Vô Ngôn Thông,thường thực hành sám hối và thâm nhập được pháp môn Niệm Phật tam muội v.v… Đến đời Trần, các nhà tư tưởng lớn như Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần TháiTông cũng bàn đến vấn đề niệm Phật Tư tưởng Tịnh Độ cũng được đưa vàotrong các kỳ thi tuyển nhân tài do triều đình tổ chức mà ta có thể biết được quabài thi của Lê Ích Mộc (1459-?) thi đỗ Trạng Nguyên trong khóa thi năm Nhâmtuất niên hiệu Cảnh Thống 5 (1502) đời Lê Hiến Tông Dòng thiền Trúc LâmYên Tử do Trần Nhân tông chủ trương cũng có nói về Đức Phật A Di Đà và thếgiới Cực lạc nhưng cũng ở một khía cạnh khác
Trang 9Từ thế kỷ thứ XVI trở đi trào lưu Tịnh Độ cũng được phát triển mạnh mẽ thểhiện qua một vài tác phẩm của các danh tăng nhằm cổ súy và truyền bá tư tưởngTịnh Độ như cuốn Bồ đề yếu nghĩa của Ngài Viên Văn (1590-1644) nói về Tựtính Di Đà Thiền sư Minh Châu Hương Hải (1628-1708) phiên âm A Di Đàkinh sớ sao của Ngài Châu Hoằng và một số tác phẩm mang đặc điểm tư tưởngTịnh độ của Thiền sư Chân Nguyên (1647-1726) v.v… cho phép ta thấy phápmôn Niệm Phật A Di Đà, cầu vãng sinh Cực lạc là một khuynh hướng tínngưỡng lớn thời bấy giờ Tuy nhiên quan niệm Tịnh Độ của Phật tử Việt Nammang những đặc thù riêng mặc dù có sự ảnh hưởng của Tịnh Độ Trung Quốc.
Những đặc điểm đó thể hiện ở chỗ:
- Danh hiệu đức Phật A Di Đà xuất hiện sớm nhất ở Việt Nam qua Cựu tạp thí
dụ kinh và Lục độ tập kinh vào giữa thế kỷ thứ III Mặt khác, nhà sư ĐàmHoằng (?-455) chuyên hành trì pháp môn Tịnh Độ với ước nguyện vãng sinhCực lạc đã đến Việt Nam tu học vào đầu thế kỷ thứ V vào năm 422, cách thờiđiểm Ngài Huệ Viễn sáng lập Tịnh Độ tông Trung Quốc (năm 422) chỉ khoảngsau 20 năm
- Tuy tư tưởng Tịnh Độ lễ Phật A Di Đà xuất hiện sớm ở Việt Nam và trở thànhmột trong những trào lưu chủ yếu của đời sống tín ngưỡng của Phật giáo nước
ta, nhưng không hình thành một tông phái với chủ trương, lịch sử truyền thừachặt chẽ và độc lập, tách biệt với các tông phái khác như Thiền, Mật hay Luậttông ở Trung Hoa và Nhật Bản Ở nước ta, Tịnh Độ tông không đứng biệt lập vàkhông hề thấy xảy ra những tranh luận với các hệ tư tưởng khác cũng như đấutranh trong tự thân nó để phát triển
- Tịnh Độ tông ở Việt Nam phát triển, tồn tại, đan xen và song song với Thiềntông Vua Trần Thái Tông (1218-1277), một nhà thiền học đã để lại nhiều tácphẩm trong đó có Khóa Hư Lục Trong tác phẩm Phật học này có hẳn mộtchương Niệm Phật luận bàn về những lợi ích niệm Phật Trần Thái Tông quanniệm tự tính Di Đà và tịnh độ chỉ có ở ngay hiện tiền, trong tâm của con ngườinày mà không phải thuộc một quốc độ khác tồn tại ngoài thế gian Quan điểm đócũng thống nhất trong các tác phẩm của Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291) vàTrần Nhân Tông (1258-1308) Trong bài phú nổi tiếng Cư trần lạc đạo phú củamình, nói lên chủ trương của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, Trần Nhân Tông đãviết : "Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn hỏi đến Tây phương Di Đà là tínhsáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực lạc" Như vậy, trên mặt lý luận, quan niệmTịnh Độ ở đây được nhìn và giải thích theo đôi mắt thiền Đấy là một trongnhững đặc điểm của trào lưu Tịnh Độ ở giai đoạn thời Trần nói riêng và cũng làmột trong những đặc điểm căn bản trên phương diện lý luận của tư tưởng Tịnh
Độ tại Việt Nam nói chung
Từ thế kỷ XVII, có sự thâm nhập của Tịnh Độ tông Trung Hoa, cũng được cácchư tăng như Viên Văn Chuyết Chuyết (1590-1644), Minh Châu Hương Hải(1628-1708) và Chân Nguyên (1647-1726) v.v…truyền bá rộng rãi, đã mô tả thếgiới Cực lạc và chủ trương niệm Phật để nhẹ nghiệp chướng, được vãng sinh vềthế giới Tây phương Tịnh độ Điều đó phù hợp với nhu cầu tâm linh, tín ngưỡngcủa quảng đại quần chúng Phật tử, nhất là cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ
XX khi đất nước nằm trong tình trạng bị xâm lược, đời sống nhân dân cơ cực
Trang 10dưới sự đô hộ của thực dân Pháp Trong thời kỳ này đã xuất hiện nhiều đạotràng chuyên thực hành niệm Phật như Liên Trì xã, Niệm Phật liên xã Cao tràonày được phản ánh qua tác phẩm Phổ Khuyến Niệm Phật của nhà sư Tánh Thiên(1784-1847) và nhiều tác phẩm của các danh tăng khác như các vị Toàn Nhật(1755-1832), Tâm Truyền (1832-1911), Phước Huệ (1875-1863) v.v…
Đầu thế kỷ XX, dưới chế độ bảo hộ của Pháp, các tổ chức Phật giáo chỉ đượcmang danh nghĩa là các Hội đoàn, không được coi là Giáo hội Vì vậy nhiều tổchức Phật giáo đầu tiên lần lượt xuất hiện, bắt đầu từ miền Nam, ra miền Trungrồi miền Bắc Nhất là từ năm 1920 và trong thập kỷ thứ 3 của thế kỷ XX, phongtrào Chấn Hưng Phật giáo nổi lên rầm rộ ở các các miền Bắc, Trung , Nam.Nhiều hội đoàn về Phật giáo được thành lập và phát triển, nhiều tờ báo Phật học
ra đời ở cả 3 miền Giữa thế kỷ XX, do nhiều biến cố của đất nước, Phật giáonói chung và Tịnh Độ nói riêng cũng phải qua nhiều khó khăn Song riêng vềpháp môn Tịnh Độ cũng được duy trì, củng cố và phát triển Năm 1955, cố Hoàthượng Thích Trí Tịnh đã cho sáng lập hội Cực Lạc Liên Hữu, một đạo tràngchuyên tu Tịnh Độ đầu tiên của Việt Nam tại Chùa Vạn Đức, thành phố Hồ ChíMinh.Trong khoảng thời gian này cả Phật giáo đàng trong và Phật giáo đàngngoài đều rất ưa chuộng pháp môn Tịnh Độ Đặc biệt năm 1968 cố Hoà thượngThích Thiền Tâm đã cho thành lập Đạo Tràng Tịnh Độ để chuyên tu ở Đại Ninh(Đức Trọng, Lâm Đồng) và dịch kinh Niệm Phật Ba La Mật Tới năm 1970 cốHoà Thượng còn cho mở Hương Nghiêm Tịnh Viện, năm 1974 cho mở khoáchuyên tu Tịnh Độ suốt ba năm Cho đến ngày nay, pháp môn Tịnh Độ đã đượcphát triển mạnh mẽ và tỏa khắp các miền trong đất nước
Tóm lại, trào lưu Tịnh Độ ở Việt Nam ta đã có một lịch sử lâu dài, nhưng không
tự thân phát triển thành một tông phái riêng biệt, không có vị trí độc lập và tách rời với các pháp môn khác mà thường hòa quyện cùng với Thiền tông và Mật tông, đồng thời cũng không phong phú trong lý luận và phương pháp thực hành như Tịnh Độ tông Trung Hoa hay Nhật Bản
Sự không tách biệt độc lập này, có lẽ thuộc về đặc tính của dân tộc ta, cũng như
đã thấy trong truyền thống Phật giáo Việt Nam, qua sự ra đời, sinh hoạt và truyền thừa của các dòng thiền Dẫu là thiền sư, nhưng trong thực hành tâm linh thì vẫn trì tụng thần chú (Mật tông) và niệm danh hiệu Phật (Tịnh Độ tông) Đến nay Tịnh Độ tông đã được phát triển khắp đất nước Rất nhiều đạo tràngniệm Phật A Di Đà xuất hiện khắp nơi, nhiều khóa tu Phật thất và khóa tu Mộtngày niệm Phật cũng được phát triển làm cho pháp môn Tịnh Độ ngày càng ănsâu vào tâm thức các Phật tử, bên cạnh sự phát triển của Thiền tông và Mật tôngtrong cả nước
Phần 2 GIÁO LÝ CỦA TỊNH ĐỘ TÔNG
A Xuất xứ về giáo nghĩa căn bản của Tịnh Độ Tông.
Kinh Quán Vô Lượng Thọ còn được gọi là Thập Lục Quán Kinh là một trong ba
bộ kinh quan trọng nhất của Tịnh Độ tông Kinh miêu tả thế giới Cực lạcphương Tây của Phật A Di Đà và dạy 16 cách quán hành trì để sống thanh tịnh,
Trang 11giữ giới luật và niệm danh hiệu Phật A Di Đà, hành giả thoát khỏi các nghiệpbất thiện và được tái sinh nơi Tịnh độ Tây phương.
Kinh này nói rõ xuất xứ giáo pháp của Tịnh Độ tông đã được Đức Phật Thích
Ca trình bày trước nguyện vọng của Hoàng hậu Vi Đề Hi trong ngục tối Hoànghậu Vi Đề Hi là mẹ của vua A Xà Thế đã bị con mình bắt bỏ ngục vì bà đã cốgắng tìm cách cứu chồng là vua Tần Bà Sa La đã bị bỏ ngục trước đó A Xà Thếmưu cướp ngôi vua nên đã bắt cha mình là vua Tần Bà Sa La bỏ ngục Bà Vi Đề
Hi tìm cách giúp chồng bằng cách hằng ngày đến thăm và dấu các thức ăn đưavào ngục Bị phát hiện, bà bi con hạ lệnh cho bỏ ngục Bà cầu mong Đức Phậtđến cứu giúp vượt qua nỗi khốn khổ này, và xin tái sinh nơi một cõi yên lành,chỉ có an lạc không có khổ đau Đức Phật đã xuất hiện và dùng thần lực cho bàthấy rõ mọi thế giới tịnh độ, nơi chỉ có an lạc không có khổ đau Cuối cùng bà
chọn cõi thế giới Cực lạc của đức Phật A Di Đà Đức Thế tôn đã dạy bà phương
pháp niệm danh hiệu Phật để được vãng sinh về cõi ấy và dạy phương pháp
thiền định gồm 16 phép quán tưởng Tuỳ theo nghiệp lực của chúng sinh, cácphép này có thể giúp tái sinh vào một trong chín cấp bậc của đài sen chín phẩm
từ Hạ phẩm hạ sinh đến Thượng phẩm thượng sinh (Cửu phẩm Liên hoa) Muốnđược tái sinh về cõi Cực lạc của Đức Phật A Di Đà, hành giả phải thực hành các
quy định trong giáo lý Tịnh Độ tông là tu tam tịnh nghiệp Trong kinh Quán Vô
Lượng Thọ, Đức Thế Tôn có nói cho bà Vi Đề Hy rằng: “Nay ta sẽ vì bà mà nói rộng các pháp quán, cùng khiến đời vị lai tất cả hàng phàm phu, những người muốn tu tịnh nghiệp được vãng sinh Tây Phương Cực Lạc quốc Này Vi Ðề Hi! Người muốn sang nước Cực lạc ấy nên tu ba phúc: Một là hiếu dưỡng cha mẹ, kính thờ bậc sư trưởng, có tâm nhân từ, chẳng giết hại và tu tập mười nghiệp lành Hai là thọ trì Tam quy y, đầy đủ các cấm giới và chẳng phạm oai nghi Ba
là phát tâm Bồ đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Ðại Thừa và khuyến tấn người khác tu hành niệm Phật Ba sự như vậy gọi là tam tịnh nghiệp” Đó là nội
dung căn bản của giáo nghĩa tu Tịnh độ mà đức Phật giảng giải cho bà Vi Đề Hy
và cũng là giáo nghĩa căn bản của pháp môn Tịnh độ sau này
B Nội dung căn bản của giáo lý Tịnh Độ tông.
Giáo lý của pháp môn Tịnh Độ đều có cơ sở từ kinh luận Trong hệ thống kinhsách giáo lý Đại thừa có thể nói có rất nhiều bộ kinh đề cập đến pháp môn niệmPhật và cảnh giới Tịnh Độ Chư Phật, chư Bồ Tát và chư vị cao Tăng tuyêndương pháp môn này đều nói rõ ưu điểm trên hai phương diện tự lực và tha lực
Tuy nhiên, từ trước đến nay trong hầu hết các sách nói về Tịnh Độ tông đềunhấn mạnh rằng Tịnh Độ tông lấy 3 bộ kinh và 1 bộ luận làm nền tảng (tức Tam
kinh Nhất luận) Ba bộ kinh đó là kinh A Di Đà miêu tả thế giới Cực lạc đẹp đẽ trang nghiêm có Đức Phật A Di Đà đang thuyết pháp, Kinh Vô Lượng Thọ nói
về tiền thân Đức Phật A Di Đà khi còn là Pháp Tạng Tỳ kheo đã phát 48 lời
nguyện để cứu độ chúng sinh, kinh Quán Vô Lượng Thọ nói rõ phép quán tưởng niệm Phật và bộ luận Vãng sinh Tịnh độ của ngài Thế Thân giảng giải rõ về ý
nghĩa của ba bộ kinh trên Ngoài ra đôi khi còn nhắc đến Tịnh Độ tứ kinh, nghĩa
là ngoài 3 bộ kinh kể trên, người ta còn bổ sung kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện và
Trang 12có khi bổ xung thêm cả kinh Đại Thế Chí Niệm Phật Viên thông là Tịnh Độ ngũ
kinh
Có thể tóm tắt một cách đơn giản tinh thần nội dung giáo lý Tịnh Độ là: Conngười hay nói rộng hơn là chúng sinh sống trên cõi Ta bà đầy ngũ trược ác thếnày rất đau khổ Hiểu cuộc đời này là khổ não, lẽ sống là vô thường, sinh tử luânhồi là quy luật, thì phải chọn cho mình một cuộc sống tốt hơn, không đau khổ,
để được sống an lành và hạnh phúc và để được giải thoát khỏi mọi nỗi khổ niềmđau trên trần thế Muốn thể phải tu nhân tích đức, phải có một pháp môn tu saocho mọi chúng sinh với mọi căn cơ có thể hành trì để có thể tái sinh vào một cõiđầy niềm vui, không còn khổ não, đó là cõi Cực lạc Vậy pháp môn đó là gì?Đức Phật thường nói có tới 84.000 pháp môn tu Tùy theo căn cơ và hoàn cảnhcủa chúng sinh mà chọn pháp môn tu cho phù hợp Pháp môn mà nhiều người tu(kể cả tại gia và xuất gia) là pháp môn Tịnh Độ hay còn gọi là pháp môn niệmPhật Sở dĩ pháp môn Niệm Phật phổ biến và nhiều người tu vì nó không đòi hỏitrình độ và căn cơ người tu cao hay thấp, sang hay hèn, giầu hay nghèo và đặcbiệt đó là một pháp môn dễ tu nhất Với pháp môn Niệm Phật thì đi, đứng, nằm,ngồi hay làm chuyện gì mình cũng có thể niệm Phật được Mục đích và hướngđến của người tu Tịnh Độ là chuyển hóa khổ đau thành an lạc thực sự và cầuđược vãng sinh vào thế giới Cực lạc Nhưng mục tiêu của người cầu vãng sinhCực lạc không phải để hưởng sự an vui đó mà là để được giải thoát, giác ngộ,thành Phật Nói cách khác, cảnh giới Cực lạc chỉ là môi trường hay phương tiệntốt nhất giúp cho mọi người được vãng sinh không còn thối chuyển trên conđường giác ngộ, hoặc không còn thối chuyển trên con đường đạt đến hạnh phúc
thật sự Muốn vãng sinh Cực Lạc phải có 3 điều kiện: Tín, Nguyện và Hạnh, đó
là những yếu tố cần thiết, là tư lương của người hành giả tu theo Tịnh Độ cầnphải có trên con đường tu tập
1.Tín (Xây dựng niềm tin):
Đây là điều kiện đầu tiên để cho người tu Tịnh Độ vững bước trên con đường tuhành Lòng tin là nền tảng để ước nguyện tu hành hướng về thế giới Cực lạc,niềm tin là nguồn gốc phát sinh mọi công đức Hành giả Tịnh Độ phải có niềmtin rằng đức Phật A Di Đà và thế giới Cực lạc là có thật, rằng một khi mình tựtin rằng mình chuyên tâm tin tưởng, hành trì theo giáo lý của đức Phật và kiêntrì niệm Phật quyết chí vãng sinh thì sẽ được vãng sinh Niềm tin này đối vớihành giả tu Tịnh Độ không bao giờ được thối chuyển Đức Phật luôn nhấn mạnh
rằng niềm tin này phải dựa trên nhận thức và lý trí Tin có thế giới Cực lạc là
dựa trên căn bản tin Pháp, tức là tin vào lời dạy của Phật Tin những lời Phật dạytức là tin vào giáo lý của Đức Phật nói về Vô thường, Khổ (trong Tứ Diệu Đế),
Vô ngã, tin vào luật Nhân quả, Nghiệp báo, Duyên sinh Vì vậy người ta thườngnói lòng tin là một trong những món tư lương để cho hành giả bước trên conđường tu theo Tịnh Độ
2 Nguyện (Ước mong):
Có lòng tin chưa đủ, người tu Tịnh độ phải phát nguyện, phải có ước nguyện, cólòng mong muốn được vãng sinh về thế giới Cực lạc và mục tiêu là thành Phật
Trang 13hay đạt được sự giác ngộ trọn vẹn Biểu hiện của phát nguyện về Cực lạc phảiđược thể hiện trên mọi hành vi, lời nói và tâm ý của hành giả Ước nguyện đó là
rũ bỏ mọi phiền muộn, chấp trước để được tâm thanh tịnh, an lạc mới mongđược vãng sinh về Tịnh độ, mong có khả năng để cứu độ chúng sinh Phátnguyện vãng sinh Cực lạc tức là xác định điểm đến và lý tưởng của mình Tâmnguyện như vậy mới tương ứng với tâm nguyện của Tịnh Độ, mới có cảm ứngvới Phật và Thánh chúng ở nơi Cực lạc Nếu có người niệm Phật A Di Đà màkhông phát nguyện vãng sinh Cực lạc, mặc dù có phúc đức lớn do niệm Phật,người đó sẽ không được vãng sinh nước Cực lạc Điều này có thể ví như mộtngười đang làm một công việc mà không biết mình làm công việc này để làm gì,hay một người đang đi trên con đường mà không biết mình sẽ đi về đâu
3 Hạnh (Hành trì):
Hạnh là sự thực hành phải cho kiên nhẫn và đúng pháp, nghĩa là chuyên niệmdanh hiệu Nam mô A Di Đà Phật không xen tạp và không tán loạn và cần nhất làphải hành theo đại nguyện của mình Khi tâm nguyện hướng về Tịnh độ thì mọihành động, ngôn ngữ đều được tu tập liên tục, nghĩa là việc hành trì theophương pháp niệm Phật, quán tưởng đều phải hợp nhất giữa thân, khẩu và ý,không để cho các yếu tố khác chi phối, lôi kéo làm tâm bị tán loạn, ảnh hưởngđến trong khi niệm Phật Mọi công đức, thiện pháp mà ta có đều hồi hướng vềcõiTịnh Độ trang nghiêm, thanh tịnh Như vậy, điều quan trọng trong sự thựchành niệm Phật A Di Đà để được vãng sinh đòi hỏi hành giả phải nhất tâm Để
có được kết quả là nhất tâm, hay một lòng không tạp loạn, hành giả phải tinh tấn
nỗ lực niệm Phật và xem niệm Phật như là một sự nghiệp chính trong đời sống
Đó gọi là Niệm Phật nhất tâm bất loạn hay Niệm Phật tam muội Nói cách khác,
tâm của hành giả phải thường niệm A Di Đà một cách chí thiết và thể hiện tâmniệm này qua hành động, lời nói bằng cách ăn chay, bố thí, cúng dường Tambảo, nói lời ái ngữ, không tà hạnh và sống đời sống có tiết độ
Như vậy, theo pháp môn Tịnh Độ, tín, nguyện, hạnh (lòng tin sâu sắc, ước
nguyện thiết tha và trì danh niệm Phât miên mật) là ba điều kiện không thể thiếuđược, còn được gọi là tư lương của hành giả pháp môn Tịnh Độ Riêng về niệm
Phật cũng cần nói thêm rằng trong Đại Trí Độ luận có nói: “Niệm Phật tam
muội có thể trừ các thứ phiền não và tội đời trước Lại nữa, Niệm Phật tam muội có phước đức lớn hay độ chúng sinh…”
Tóm lại giáo lý căn bản của Tịnh Độ tông chủ trương người tu theo Tịnh
Độ (kể cả xuất gia và tại gia) phải nhất tâm niệm Phật, quán tưởng Đức Phật A
Di Đà và sự trang nghiêm thanh tịnh của cõi Cực Lạc nơi Tây phương Tịnh độ,
bằng tự lực của mình với niềm tin sâu sắc, ước nguyện thiết tha và hành trì miên mật (Tín, Nguyện, Hạnh), đồng thời hành giả phải nương nhờ Phật lực
(tha lực) để được vãng sinh về Cực lạc trong trạng thái nhất tâm bất loạn Vềphần Hạnh tức phương pháp hành trì (trong Tín, Nguyện, Hạnh), không phải chỉ
có chuyên trì niệm Phật, quán tưởng mà còn thọ trì Tam quy, Ngũ giới, hànhThập thiện, tạo công đức lớn, phát Bồ Đề tâm, nguyện thành Phật đạo, hóa độ
chúng sinh Chính trong kinh Quán Vô Lượng Thọ cũng đã có nói rõ điều này:
“Hành giả muốn vãng sinh Tịnh độ phải hội đủ ba điều kiện: Một là hiếu dưỡng
cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, từ tâm bất sát, tu mười nghiệp lành Hai là thọ trì
Trang 14Tam quy, ngũ giới, không phạm oai nghi Ba là phát Bồ đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyên người khác cùng tu”
Chính vì ý nghĩa ấy, cho nên không thể hiểu đơn giản pháp môn Tịnh Độ chỉ làniệm Phật đạt đến nhất tâm bất loạn mà cần phải hội đủ ba tịnh nghiệp như kinh
Vô Lượng Thọ đã nói ở trên
C Các bộ kinh chính của Tịnh Độ Tông
Giáo nghĩa của pháp môn Tịnh Độ nằm trong 3 bộ kinh chính gọi là Tịnh Độ
tam kinh, bao gồm kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà và kinh Quán Vô Lượng
Thọ Ngoài ra, sau này các hành giả Tịnh Độ còn cho rằng pháp môn Tịnh Độ có
5 bộ kinh gọi là Tịnh Độ ngũ kinh Đó là gồm 3 bộ kinh nói trên và thêm 2 bộ
kinh khác là kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện, nguyên là một phẩm trích từ kinh
Hoa Nghiêm và kinh Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông, nguyên là chương Niệm Phật Viên Thông của kinh Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Thực ra 2 bộ
kinh đó là một phần của các bộ kinh lớn khác mà các hành giả Tịnh Độ ghépvào vì có nói đến phát Bồ Đề tâm là một phần trong ba tịnh nghiệp và có nói đếncông đức niệm Phật Vì vậy cho nên thường khi nói đến các kinh chính của phápmôn Tịnh Độ, các hành giả đều chỉ nói đến 3 bộ kinh chính Sau này còn bổ
sung thêm kinh Niệm Phật Ba La Mật và bộ luận Vãng Sinh Tịnh Độ (do Bồ tát Thế Thân biên soạn).Thực ra kinh Niệm Phật Ba La Mật mà Đức Phật tuyên dạy
tại núi Kỳ Xà Quật gần thành Vương Xá, cần được xem như là bộ kinh chính của pháp môn Tịnh độ vì đề cập nhiều nhất về phương pháp niệm Phật Ba La
Mật Nhưng không hiểu sao từ bao lâu nay, các hành giả về Tịnh Độ tông khôngthấy nhắc đến bộ kinh này và trong các đạo tràng tu Tịnh Độ cũng không mấy
Phật tử biết đến bộ kinh này Có thể do bộ kinh Niệm Phật Ba La Mật đề cập
đến triết lý sâu sắc ở một trình độ cao mà các hành giả Tịnh Độ tông cho làkhông phù hợp với pháp môn dễ tu là Tịnh Độ tông
Phải nói rằng pháp môn Tịnh Độ đều dựa trên cơ sở từ những kinh và luận này.Đặc biệt trong giáo lý Đại thừa có nhiều bộ kinh nói đến pháp môn niệm Phật
và cảnh giới Tịnh độ Chư Phật, chư Bồ tát và chư vị cao tăng tuyên dương pháp
môn này đều nói rõ ưu điểm trên hai phương diện tự lực và tha lực Tự lực là
do hành giả phải quyết tâm tự mình thực hiện, ngoài ra hành giả còn nhở ở thalực tức là còn nhờ vào các đức Phật và Thánh chúng Ngoài các bộ kinh chính
đã nói ở trên, có thể thống kê các bộ kinh sau đây nói đến pháp môn Tịnh Độ:
đó là các bộ kinh Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác kinh, Đại Phật A Di Đà kinh,
Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ kinh, Cổ Âm Thanh Tán Đà La Ni kinh
v.v…
Sau đây ta điểm qua nội dung của các bộ kinh chính của pháp môn Tịnh Độ:
1 Kinh Vô lượng thọ:
Kinh Vô lượng thọ còn được gọi kinh Đại thừa Vô Lượng Thọ Tên chính của bộ kinh này là Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh
Bình Đẳng Giác Kinh Đây là một trong các bộ kinh chính của pháp môn Tịnh
Độ Kinh này được Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Hòa thượng Thích ChânThường, Hòa thượng Thích Đức Niệm và một số dịch giả khác dịch sang tiếng
Trang 15Việt từ bản Hán văn do Pháp sư Khương Tăng Khải và cư sĩ Hạ Liên Cư dịch từchữ Phạn sang chữ Hán
Nội dung của kinh Vô Lượng Thọ nói về lịch sử của Đức Phật A Di Đà và 48 lời
nguyện của Ngài để độ chúng sinh giải thoát Kinh nói rằng ở vô lượng vô sốkiếp về đời quá khứ lâu xa có đức Phật xuất thế hiệu là Thế Gian Tự Tại VươngNhư Lai Khi đó có một nhà vua tên là Thế Nhiêu, sau khi nghe đức Phật thuyếtpháp liền ngộ đạo, phát tâm xuất gia trở thành vị Tỳ kheo tên là Pháp Tạng.Ngài quyết tâm tu hành thành Phật và phát nguyện độ hết chúng sinh trong cõiCực lạc của mình Ngài lập 48 lời nguyện giúp chúng sinh giải thoát
Những nguyện quan trọng là nguyện thứ 18: “Khi con thành Phật, chúng sinh
trong mười phương nghe danh hiệu con, hết lòng tin tưởng, nếu có điều lành nào, tâm tâm hồi hướng nguyện sinh về cõi nước con, cho đến mười niệm, nếu không được vãng sinh, thề không thành Chính đẳng, chính giác Ngoại trừ những kẻ phạm tội ngũ nghịch, phỉ báng chính pháp” Và nguyện thứ 19: “Khi con thành Phật, chúng sinh khắp mười phương nghe danh hiệu con, phát tâm
Bồ đề, tu các công hạnh, hành sáu Ba la mật, kiên cố không lùi, lại đem các căn lành hồi hướng nguyện sinh về cõi nước con, một lòng nghĩ đến con ngày đêm không dứt, đến khi mạng chung, con cùng Thánh chúng Bồ Tát liền đến tiếp đón, khoảnh khắc sinh về cõi con được Bất thối chuyển Nếu không được như nguyện, thề không thành Chính giác” (Kinh Vô lượng thọ - Thích Đức Niệm và
Minh Chánh dịch)
Nội dung 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà cho ta thấy con đường tu tậpTịnh Độ dựa vào nguyện lực của Đức Phật A Di Đà và nhất tâm niệm Phật làcon đường tu dễ nhất, mọi căn cơ có thể tu chứng được, đó là lý do tại sao Tịnh
Độ tông được truyền bá rộng rãi nhất
2.Kinh A Di Đà:
Kinh A Di Đà là một bản kinh chính của pháp môn Tịnh Độ Đây là một trong
ba bộ kinh quan trọng nhất của Tịnh Độ tông, lưu hành rộng rãi tại Trung Quốc,Nhật Bản và Việt Nam Kinh này giới thiệu cõi nước Cực lạc của Đức Phật A Di
Đà và trình bày phương pháp nhất tâm niệm danh hiệu A Di Đà và sẽ được A
Di Đà tiếp độ về cõi Cực lạc lúc lâm chung Nguyên bản tiếng Phạn của kinhnày vẫn còn tồn tại và người ta cũng còn tìm thấy những bản dịch Hán ngữ củahai dịch giả lừng danh là Ngài Cưu Ma La Thập và Pháp sư Huyền Trang Kinhnày được dịch sang tiếng Việt có nhiều bản, như bản dịch của Hòa thượng ThíchTrí Tịnh, của Thiền sư Nhất Hạnh, của Hòa thượng Thích Tuệ Nhuận, của Tổng
Hội Phật Giáo Pháp Giới Vạn Phật Thánh Thành v.v… Kinh A Di Đà do đức
Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng về y báo và chính báo của đức Phật A Di Đànơi thế giới Cực lạc ở phương Tây, cách cõi Ta bà này mười vạn ức cõi Phật
nhằm ca tụng cõi Cực lạc Kinh A Di Đà cũng chỉ rõ pháp môn niệm Phật để được vãng sinh về cõi Cực lạc của Đức Phật A Di Đà Do kinh A Di Đà thuyết
minh cảnh tướng trang nghiêm của cõi Tây Phương Cực lạc, nguyện lực độ sinhcủa Đức Phật A Di Đà, đặc biệt khuyên tu niệm Phật để được vãng sinh nên đây
là bộ kinh ngắn gọn và hàm chứa giáo lý Tịnh Độ sâu xa mà các chùa, các tịnh
xá đều đọc tụng hàng ngày Theo lời Phật dạy trong kinh, nguyên nhân khiếnchúng sinh cần nên phát nguyện sinh về Tịnh độ là do nơi đó có chư Phật, chư
Trang 16Bồ tát và các bậc thượng thiện nhân Kinh A Di Đà có nói: “Nếu có thiện nam
tử, thiện nữ nhân nào mà được nghe nói Đức Phật A Di Đà rồi nhớ kỹ lấy danh hiệu của Ngài mà niệm trong một ngày, hai, ba, bốn, năm, sáu hoặc bảy ngày, một lòng tâm không tạp loạn, thì người ấy đến khi lâm chung, Đức Phật A Di
Đà cùng hàng Thánh chúng hiện thân trước người đó, người đó lúc chết không điên đảo, liền được vãng sinh về nước Cực lạc của Đức Phật A Di Đà”
Hơn nữa trong kinh còn nói rõ chúng sinh nào dù còn mang đầy nghiệp chướngphiền não, nhưng mỗi khi đã quyết chí tu hành được vãng sinh sẽ chứng đượcđịa vị Bất thối chuyển, từ đó thẳng tiến tu hành đến quả vị Vô thượng Bồ đề
3 Kinh Quán Vô Lượng Thọ:
Như trên đã nói, kinh Quán Vô Lượng Thọ cũng là một trong ba bộ kinh quan
trọng nhất của Tịnh Độ tông Kinh miêu tả thế giới phương Tây của Phật A Di
Đà và dạy cách hành trì: sống thanh tịnh, giữ giới luật và niệm danh hiệu Phật A
Di Đà, thì hành giả thoát khỏi các nghiệp bất thiện và được vãng sinh nơi Tịnh
độ của đức Phật A Di Đà Trong kinh này, ngoài việc giới thiệu và giảng giảicho bà Vi Đề Hy biết về tất cả các cõi tịnh độ, nơi chỉ có an lạc không có khổđau Cuối cùng bà chọn cõi thế giới Cực lạc của Đức Phật A Di Đà Trong kinh,đức Phật còn dạy cho bà và mọi chúng sinh 16 phép quán tưởng, và tuỳ theonghiệp lực của chúng sinh, các phép này có thể giúp vãng sinh vào một trongchín cấp bậc của Tịnh độ, từ Hạ phẩm Hạ sinh lên đến Thượng phẩm Thượngsinh
Mười sáu phép quán tưởng đó là:
1 Quán tưởng mặt trời lặn,
2 Quán tưởng nước,
3 Quán tưởng đất,
4 Quán tưởng cây báu,
5 Quán tưởng nước cam lộ,
6 Quán tưởng tổng quát,
7 Quán tưởng toà sen,
8 Quán tưởng hình tượng của Tam thánh,
9 Quán tưởng sắc thân của Phật A Di Đà,
10 Quán tưởng sắc thân của Quán Thế Âm Bồ tát,
11 Quán tưởng sắc thân của Đại Thế Chí Bồ tát,
12 Quán tưởng vãng sinh trong hoa sen,
13 Quán tưởng hình tượng nhỏ của Tam thánh,
14 Quán tưởng ba phẩm ở Thượng sinh,
15 Quán tưởng ba phẩm ở Trung sinh,
16 Quán tưởng ba phẩm ở Hạ sinh
Các phép quán này giúp hành giả có thể thấy được A Di Đà và hai vị Bồ TátQuán Thế Âm và Đại Thế Chí ngay trong đời này và đó là dấu hiệu chắc chắnhành giả sẽ được vãng sinh về thế giới Tịnh độ
Tất cả mười sáu pháp quán làm nhân tố vãng sinh Cực Lạc, được Đức Phật trìnhbày một cách rõ ràng, đó đều là những pháp quán rất tinh vi và sâu thẳm
Trang 174 Kinh Niệm Phật Ba La Mật:
Ngoài ba bộ kinh và một bộ luận trọng yếu của tông Tịnh độ do Bồ tát Thế Thân
soạn thảo, thì kinh Niệm Phật Ba La Mật là bộ kinh nói rõ bản ý, chủ đích của
tông Tịnh Độ, lý giải một cách rõ ràng, thấu đáo về mục đích và đường lối tu tậppháp môn niệm Phật cầu vãng sinh Bản kinh đó do Pháp sư Cưu Ma La Thậpdịch từ chữ Phạn sang chữ Hán vào đời Diêu Tần (384-417) và được Hòathượng Thích Thiền Tâm dịch sang Việt ngữ
Có thể nói đây là bản kinh mang tính triết lý vô cùng quan trọng của Tịnh Độtông, bản kinh này được Đức Phật thuyết giảng trước đại chúng gồm các vị Đại
Bồ tát khắp mười phương, các tỳ kheo, chư thiên vương, lại có cả Quốc mẫu Vi
Đề Hy Hoàng thái hậu, vua A Xà Thế… tại núi Kỳ Xà Quật, gần thành Vương
Xá Nhưng đáng tiếc hiện nay tuyệt đại đa số hành giả truyền bá Tịnh Độ tông
hoàn toàn không nói đến kinh Niêm Phật Ba La Mật, và hầu như các chùa, các
đạo tràng A Đi Đà của pháp môn Tịnh Độ đều không tụng bản kinh này
Trong phẩm thứ hai Mười tâm thù thắng của kinh Niệm Phật Ba La Mật (Bản dịch từ Hán sang Việt của Hòa thượng Thích Thiền Tâm) có nói: “Pháp môn
niệm Phật chính là chuyển biến cái tâm thể của chúng sinh, bằng cách không để cho tâm thể ấy duyên với vọng niệm; với lục trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; với huyễn cảnh, với kiến chấp, với mong cầu, với thức phân biệt v.v Mà chỉ đem tâm thể ấy duyên mãi với danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật Không bao lâu người niệm Phật tự nhiên đi vào chỗ vắng lặng, sáng suốt, an lạc, cảm ứng với nguyện lực của đức Phật A Di Đà, thấy mình sinh vào cõi nước Cực lạc, thân mình ngồi trên tòa sen báu, nghe Phật và Bồ tát nói pháp, hoặc thấy Phật lấy tay xoa đỉnh” Điều này cũng tương tự như lời Đức Phật dạy trong kinh Quán Vô Lượng Thọ rằng: “Chư Phật Như Lai là thân pháp giới, vào trong tâm tưởng chúng sinh, cho nên tâm các ngươi tưởng Phật thì tâm ấy là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật Biến Chánh Biến Tri của Phật từ nơi tâm tưởng mà sinh, vì thế các ngươi phải nhớ nghĩ và quán tưởng kỹ thân của Đức Phật kia”.
Trong kinh Niệm Phật Ba La Mật, Đức Phật cũng đã dạy: “Chư Phật đã dùng
Phật nhãn quán sát khắp mười phương, thấy rõ nghiệp lực chúng sinh lành dữ không đồng đều, thấy thân tướng và cảnh giới của chúng sinh xấu tốt có sai biệt Nhưng điểm sinh khởi chẳng rời sát na tâm sinh diệt Muốn hàng phục và chuyển biến cái sát na tâm sinh diệt ấy, thì không có pháp nào hơn là pháp NIỆM PHẬT” Và đức Phật cũng đã nói: “Muốn niệm Phật đúng pháp và tự
biết mình chắc chắn vãng sinh, thì người niệm Phật phải phát khởi mười thứ
Trang 189 Bình đẳng tâm,
10 Phổ Hiền tâm”
Vì vậy cần đặt đúng vị trí kinh Niệm Phật Ba La Mật là một trong những bản
kinh chính và quan trọng của pháp môn Tịnh độ
5 Luận Vãng Sinh Tịnh Độ:
Luận Vãng Sinh Tịnh Độ là bộ luận quan trọng trong pháp môn Tịnh Độ được
chư cổ đức truyền bá tông Tịnh Độ xếp thành bộ luận căn bản để hoằng truyềnpháp môn Tịnh độ Bộ luận này do Luận sư Bồ tát Thế Thân (316-?) người Ấn
biên soạn dựa vào ý kinh của bản kinh Vô Lượng Thọ, nên tên chính của bộ luận
là Vô Lượng Thọ Kinh Luận, do đó bộ luận này thuộc về Tôn Kinh luận tức là
dựa vào ý kinh mà lập ra luận Bộ luận này gồm hai phần kệ văn và luận văn Kệvăn là những bài kệ được quy định chữ và vần điệu Trọng tâm bộ luận này, cả
kệ văn và luận văn đều dạy những cương lĩnh của môn tu Ngũ niệm, một
phương thức tu hành cầu vãng sinh Tịnh độ Vì thế, bộ luận này còn được gọi là
luận Năm môn thực hành để được vãng sanh Tịnh Độ
Năm môn thực hành gọi là Ngũ niệm đó bao gồm
- Môn lễ bái : thân nghiệp chuyên lễ bái Phật A Di Đà
- Môn tán thán : khẩu nghiệp chuyên chấp trì Thánh hiệu Phật A Di Đà, tán
- Môn hồi hướng: có bao nhiêu công đức thảy đều hồi hướng, cầu nguyện cho
mình và tất cả chúng sinh sớm được vãng sinh
Ngoài ra, còn có hai bộ kinh cũng được xếp vào Pháp môn Tịnh Đô (gọi là Tịnh
Độ Ngũ kinh) Đó là kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện và kinh Đại Thế Chí Niệm
Trang 19Mười điều phát nguyện của Bồ tát Phổ Hiền rất quan trọng đối với người Phật tửnói chung, chứ thực ra không chỉ giành riêng cho pháp môn niệm Phật của Tịnh
Độ tông Do vậy, có thể nói Phổ Hiền Hạnh nguyện không nên xếp vào trong
các kinh chính của pháp môn Tịnh Độ
Kinh Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông nguyên là một chương trong bộ kinh
Đại Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Chương này nói về Ngài Đại Thế Chí đã đắc
niệm Phật viên thông như thế nào Đó là niệm Phật đạt tới mức vừa viên dungvừa thông đạt, tức niệm Phật đến viên mãn, đến thành tựu Ý nghĩa của chương
Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông là Ngài Đại Thế Chí hiện thân thuyết
pháp, dạy hết thảy chúng sinh về pháp môn niệm Phật đạt đến viên thông
Đó là 4 phương pháp:
1 Trì danh niệm Phật,
2 Quán tượng niệm Phật,
3 Quán tưởng niệm Phật
4 Thực tướng niệm Phật
Vì đó là một chương trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, nên việc đưa vào là một
trong Tịnh Độ Ngũ kinh xem ra không hợp lý lắm Vì vậy các hành giả Tịnh Độtông ít nhắc đến kinh này là kinh chính của pháp môn Tịnh Độ
D Các xu hướng phát triển của giáo lý Tịnh Độ tông ở Việt Nam
1.Tịnh Độ tông trước thời Lý-Trần
Đây là thời kỳ thuộc thiên niên kỷ thứ Nhất sau Công nguyên, từ thế kỷ thứ Iđến thế kỷ thứ X, trước sự kiện Khúc Thừa Hạo giành quyền tự chủ Như ở trên
đã trình bày, pháp môn Tịnh Độ đã vào Việt Nam cùng với thời kỳ đầu khi Phậtgiáo từ Ấn Độ và từ Trung Quốc sang Việt Nam Khi đó ở Việt Nam đã có
những tác phẩm Phật học như cuốn Cựu Tạp Thí Dụ kinh và Lục độ tập kinh đều
do Tăng Hội, người Khương Cư, sinh ra và sống trên đất Giao Chỉ nước ta, biêntập vào khoảng thế kỷ thứ II và thứ III sau Công nguyên
Trong Cựu Tạp Thí Dụ kinh, lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo nước ta, danh hiệu đức Phật A Di Đà được nhắc đến Ngoài ra, ta còn thấy trong Lục Độ Tập
Kinh, pháp môn Niệm Phật được đề cập nhằm giúp cho các Phật tử thực hành
theo Tịnh Độ Theo Giáo sư Nguyễn Lang (tức Thiền sư Nhất Hạnh) viết trong
Việt Nam Phật giáo sử luận (NXB Văn Học-2000) thì Lục Độ Tập Kinh là một
tác phẩm rất đặc biệt do Tăng Hội biên soạn vào đầu thế kỷ thứ III, chắc chắnkhông phải là một tác phẩm dịch thuật từ Phạn ngữ mà là một tác phẩm sưu
khảo biên tập trong đó có nhiều đoạn hoàn toàn do Tăng Hội viết Trong Lục Độ
Tập Kinh, cả thảy có 8 quyển nói về sáu độ (nên gọi là Lục Độ Tập Kinh tức là
nói về sáu sự vượt qua bờ) gồm bố thí độ, trì giới độ, nhẫn nhục độ, tinh tấn độ,thiền định và trí tuệ
Và như vậy ngay từ những thế kỷ đầu sau Công nguyên, pháp môn Niệm Phật
đã được lưu hành trong quảng đại quần chúng Phật tử ở Việt Nam Đó là thời kỳđất nước ta chìm đắm trong sự lệ thuộc vào phương Bắc cùng với các cuộc khởinghĩa của Hai Bà Trưng (Năm 43 của thế kỷ thứ I SCN), của Bà Triệu (Năm
Trang 20248) Nhưng tín ngưỡng Tịnh Độ với pháp môn Niệm Phật vẫn được duy trì, tuykhông được phát triển mạnh mẽ, không thành tông phái riêng và cũng khôngđược phong phú về mặt lý luận Người Phật tử nặng về niệm Phật để cầu xinvượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống, chắc chưa thấu hiểu giáo lý sâu xa củapháp môn Niệm Phật
Trong thời kỳ Bắc thuộc lần thứ 2 (từ năm 43 đến 541) kết thúc bằng cuộc khởi
nghĩa của Lý Bí lập nên nhà Tiền Lý (544-602), có sự lưu truyền kinh Vô Lượng
Thọ trong quần chúng Phật tử Đây là một bản kinh thuộc Tịnh Độ tông do nhà
sư Đàm Hoằng (?-455), một vị tăng Trung Quốc chuyên hành trì pháp môn niệmPhật Tịnh độ với ước nguyện vãng sinh nơi Cực Lạc, đem vào nước ta vào
khoảng giữa thế kỷ thứ V Do lưu truyền kinh Vô Lượng Thọ, nên trình độ thâm
nhập giáo lý đức Phật cũng như pháp môn Niệm Phật đã được phát triển rộng rãihơn
Sang giai đoạn Bắc thuộc lần thứ 3, kéo dài từ năm 602 khi kết thúc Hậu LýNam Đế đến năm 905 khi Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ, có một số sự kiệnPhật giáo làm cho Phật giáo ở Việt Nam phát triển có đặc thù riêng
vào cuối thế kỷ thứ VI là Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi Thiền phái này tồn tại
đến đầu thế kỷ XIII được 19 thế hệ
Sự kiện thứ 2 là cuối thế kỷ thứ IX, vào năm 820, thiền sư Vô Ngôn Thông từ Trung Hoa sang Việt Nam ở lại chùa Kiến Sơ thuộc làng Phù Đổng, huyện Tiên
Du, Bắc Ninh, nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội Từ đó một thiền phái khác
được thành lập mang tên là thiền phái Vô Ngôn Thông còn gọi là thiền phái
Quan Bích Thiền phái này tồn tại được 17 thế hệ đến cuối thế kỷ thứ XIII thì
dần dần được hợp nhất các thiền phái ở Việt Nam khi đó trở thành thiền phái Trúc Lâm
Trong quãng thời gian này (từ thế kỷ thứ I sau Công nguyên đến thế kỷ thứ X),
cụ thể là đến năm 905, Khúc Thừa Dụ lập nên thời kỳ tự chủ, thì Phật giáo phát triển nặng về Thiền tông, nhưng pháp môn Tịnh Độ cũng được duy trì hòa hợp dung thông với Thiền tông mà cụ thể là các thiền sư thuộc các thiền phái Tỳ Ni
Đà Lưu Chi và thiền phái Vô Ngôn Thông vẫn thực hành pháp môn niệm Phật,
trì tụng kinh A Di Đà và kinh Vô Lượng Thọ nhưng Tịnh Độ vẫn chưa hình
thành pháp môn riêng biệt
2 Tịnh Độ tông dưới thời Lý-Trần:
Từ sau sự kiện Khúc Thừa Du xây dựng chính quyền tự chủ năm 905, đặt nềnmóng cho Việt Nam giành độc lập, rồi đến thời kỳ Ngô Quyền xưng vương lập
Trang 21nên nhà Ngô (939-968), sau trận chiến thắng lịch sử trên sông Bạch Đằng trướcquân Nam Hán, đến năm 968 Đinh Bộ Lĩnh xưng đế và đặt tên nước là Đại CồViệt thì nước ta trải qua các triều đại nhà Đinh (968-980), nhà Tiền Lê (980-1009) và nhà Lý (1009-1225) và nhà Trần (1226-1400)
Trong suốt thời kỳ này, Phật giáo ở Việt Nam phát triển mà hưng thịnh nhất chủyếu vào thời nhà Lý và nhà Trần
Cũng cần điểm qua sự phát triển của Phật giáo nói chung và của pháp môn Tịnh
Độ nói riêng trong thời kỳ chuyển tiếp từ khi khôi phục quyền tự chủ đến đầuđời nhà Lý, tức là khoảng thời gian Nhà Ngô, Nhà Đinh và Tiền Lê Ta biếttrong thời kỳ, các vị vua như Đinh Tiên Hoàng và Lê Hoàn rất trân trọng Phậtgiáo đã coi các vị danh tăng như những cố vấn của triều đình, giúp Nhà nước loviệc đại sự Ta có thể kể đến Pháp sư Ngô Chân Lưu tức Khuông Việt Đại sư(933 – 1011) được vua Đinh Tiên Hoàng phong làm Tăng thống lãnh đạo Phậtgiáo cả nước Năm 971 lại phong chức Khuông Việt Thái sư (Tể tướng) để giúp
đỡ và phát triển đất nước Đại Cồ Việt Nhà vua và quần thần của cả hai triềuĐinh và Tiền Lê đều rất tôn trọng và cung kính các Đại sư khác như PhápThuận, Vạn Hạnh v.v… Phật giáo trong thời kỳ này đã chiếm được ưu thế trong
xã hội bởi triết lý tích cực là thương cảm chúng sinh Cho nên thời Đinh và Tiền
Lê chọn Phật giáo là tư tưởng chính trị chính thống là hợp với lòng người, hợpvới thời đại Phật giáo đã cung cấp cho nhà Đinh và Tiền Lê tư tưởng trị nước(tư tưởng từ bi, bác ái, khoan dung) và cung cấp học thuyết trị vì thiên hạ chobậc quân vương Do đó Phật giáo trong thời kỳ này phát triển mạnh mẽ mà ta cóthể thấy trong các trụ đá mà triều đình nhà Đinh cho khắc các kinh Tổng trì Đà
La Ni và Kinh Chú Thủ Lăng nghiêm ở Hoa Lư, Ninh Bình
Sang đến thời kỳ Lý-Trần thì Phật giáo đã phát triển đến mức cực thịnh và đã trởthành Quốc đạo Đây là thời kỳ vẻ vang, oanh liệt của dân tộc và của Phật giáoViệt Nam Có thể thấy các đặc điểm của Phật giáo nói chung và của pháp mônTịnh Độ nói riêng trong thời kỳ này như sau:
a.Tính nhập thế:
Phật giáo thời kỳ này giữ vai trò là một cột trụ lớn của hệ tư tưởng và văn hóaViệt Nam Phật giáo đời Lý-Trần và nhất là vào thời Trần mang tính nhập thế
tích cực “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian pháp” Đạo không tách rời đời
và đời cũng không thiếu vắng đạo, cả hai đã trở thành một hợp thể linh động,sáng tạo và diệu dụng trong mọi hoàn cảnh Đặc điểm và tính nhập thế của Phậtgiáo thời Lý-Trần thể hiện nhiều trong các tác phẩm văn học và Phật học Bài kệ
trong đoạn kết của Cư Trần Lạc Đạo Phú của Phật hoàngTrần Nhân tông thể
hiện rất rõ điều đó:
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền
Dịch:
Sống đời vui đạo cứ tùy duyên,
Trang 22Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền
Của báu trong nhà, tìm gì nữa
Thấy cảnh vô tâm, chẳng hỏi thiền
Tư tưởng nhập thế của Phật giáo thời Lý-Trần mà nổi bật nhất trong thời Trần
có liên quan đến pháp môn Tịnh Độ đã để lại trong nhiều tác phẩm như Khóa
Hư Lục của Trần Thái Tông trong đó có bài Niệm Phật luận, bài Phổ Khuyến Phát Bồ Đề Tâm, bài Niệm Tụng Kệ v.v…cũng như các bài trong tác phẩm Thánh Đăng Lục, Thiền Uyển Tập Anh, Tam Tổ Thực Lục, Tuệ Trung Thượng
Sĩ Ngữ Lục đều có đề cập đến tư tưởng niệm Phật độ sinh thuộc về pháp môn
Tịnh Độ
b Tính dung thông:
Thời kỳ này các thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông đều phát triểnmạnh mẽ, lại thêm thiền phái Thảo Đường được thành lập sau sự kiện vua LýThánh Tông đi chinh phạt Chiêm Thành vào năm 1069 Các thiền sư trong cả bathiền phái này không những tinh thông cả Thiền tông mà còn hộ trì pháp mônTịnh Độ và thâm hiểu sâu cả Mật tông Đó là đặc điểm các tông phái Phật giáothời Lý-Trần: có sự dung thông trong quá trình tu tập và hoằng dương Phậtpháp Có thể nói sự kiện nhà sư Thường Chiếu ( ?–1203), vị thiền sư họ Phạmthuộc thế hệ thứ 13 thiền phái Vô Ngôn Thông dời sang chùa Lục Tổ ở hươngDịch Bảng nay là chùa Cổ Pháp xã Đình Bảng, vốn là một tổ đình lớn của Thiềnphái Tỳ Ni Đa Lưu Chi Ông sang đây mở trường dạy học để giáo hoá Phật phápcho ta thấy xu hướng hoà nhập của các thiền phái đạo Phật ở Việt Nam bắt đầuxuất hiện vào cuối thế kỷ XII và đầu thế kỷ thứ XIII đời nhà Trần Rồi sự kiệnthiền sư Trì Bát (1049 - 1117), đời thứ 12 thuộc thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đãchịu ảnh hưởng của Tịnh Độ tông khi tin vào cõi Tây phương Cực lạc của đứcPhật A Di Đà
c Tính thống nhất:
Phật giáo thời Trần đã có công đem lại cho nền Phật giáo một sự thống nhất cao
đô Ta biết rằng ở nước ta thời trước đã có thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, thiềnphái Vô Ngôn Thông và thiền phái Thảo Đường Bên cạnh đó các pháp mônTịnh Độ tông và Mật tông vẫn hoằng truyền Phật pháp Tuy nhiên chỉ có cácthiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông là phát triển mạnh Trước khiVua Trần Nhân tông lập nên Trúc Lâm Yên Tử, thì từ những năm đầu của thế
kỷ thứ XIII đã có thiền sư Thường Chiếu là người dày công xây dựng sự hoànhập giữa ba dòng thiền chính của Phật giáo Việt Nam, khởi đầu cho sự hìnhthành thống nhất của Phật giáo Việt Nam đi đến một thiền phái thống nhất TrúcLâm Yên Tử Thiền sư Thường Chiếu là người đã khơi mào cho việc hòa nhập
mà vị đệ tử xuất sắc của Ngài là nhà sư Hiện Quang (?-1221), chính là vị tổ khaisơn ra phái Yên Tử Mãi đến khi Trần Nhân Tông xuất gia tại chùa Hoa Yêntrên núi Yên Tử năm 1229 thì Trần Nhân Tông được ghi nhận là người truyềnthừa đời thứ 6 của phái Yên Tử và là vị tổ thứ nhất của Phật giáo Trúc Lâm Từ
đó trở đi Trúc Lâm Yên Tử trở thành nổi tiếng với công lao của 3 vị Tam tổ là
Trang 23Trúc Lâm Đầu Đà Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang trở thành Tam
tổ sáng lập ra Giáo hội Phật giáo Trúc Lâm cho đến ngày nay
d Về sự phát triển Tịnh Độ tông thời Lý-Trần
Từ giữa thế kỷ thứ XI trở đi, pháp môn Tịnh Độ được phổ biến rộng rãi, với sựhình thành của nhiều ngôi Tam bảo, và các đạo tràng ở khắp nơi
Thời Lý-Trần, Tịnh Độ tông đã được đề cao và phát triển bên cạnh Thiền tông
Ta có thể thấy vào năm 1057, vua Lý Thánh tông đã cho dựng một tượng A Di
Đà bằng đá cao hai mét rưỡi tại núi Lạn Kha, huyện Tiên Du, Bắc Ninh, hiệnvẫn còn ở chùa Phật Tích ngày nay Sử liệu Phật giáo còn nói rằng pháp môn
niệm Phật đã thâm nhập vào thiền phái Vô Ngôn Thông: Trong sách Thiền Uyển
Tập Anh có nói đến việc Không Lộ (?-1444), vị thiền sư đời thứ 10 dòng Vô
Ngôn Thông, đã dựng tượng A Di Đà ở chùa Quỳnh Lâm (thuộc xã Tràng An,
huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh) Thiền Uyển Tập Anh cũng nói đến thiền
sư Tịnh Lực (1112–1175) thuộc đời thứ 11 dòng Vô Ngôn Thông, một ngàyđêm mười hai thời thực hành sám hối và thâm nhập được pháp môn Niệm Phậttam muội và đã đắc pháp Niệm Phật tam muội Sư là một người đã có công phu
niệm Phật, đã từng dạy đệ tử “nếu muốn diệt trừ các ác nghiệp thì phải áp dụng
phương pháp niệm tụng bằng cả tâm lẫn miệng” Thiền sư Trì Bát (1049-1117)
thuộc thế hệ thứ 12 của dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi “nhân tưởng niệm Phật A
Di Đà ở thế giới Phương Tây Cực Lạc, nên đã phổ khuyến đạo tục, dựng một đạo tràng lớn”, đã tạo dựng tượng A Di Đà năm 1099 ở chùa Hoàng Kim, Quốc
Oai, Hà Nội Rõ ràng đó là sự kết hợp hòa quyện giữa Thiền tông và pháp mônNiệm Phật của Tịnh Độ tông trong thời kỳ này, và đó cũng chứng tỏ Tịnh Độtông thời Trần cũng phát triển mạnh mẽ
Cùng với tín ngưỡng A Di Đà, tín ngưỡng Quán Thế Âm, vị Bồ tát thân cận củaPhật A Di Đà, ở thời này cũng trở nên phổ biến Từ giai đoạn này trở về sau,trên phương diện tín ngưỡng, trào lưu Tịnh Độ đã thực sự có một vị trí quantrọng trong đời sống văn hóa tâm linh của nhân dân ta
Qua tín ngưỡng của nhân dân thời bấy giờ, pháp môn Tịnh Độ đã đi vào quầnchúng bằng con đường đề cao giáo pháp từ bi, cứu khổ, cứu nạn, bằng cách đưalên hình ảnh thanh tịnh an lạc của cõi Tịnh Độ Tây phương Cực lạc, nơi mà ĐứcPhật A Di Đà cùng Thánh chúng sẵn sàng tiếp đón những người khi sống trêntrần thế đã tu hành thập thiện nghiệp, tin sâu, nguyện thiết và niệm Phật cầuvãng sinh Tịnh Độ tông còn đề cao hình ảnh vị Bồ tát đắc đạo nhưng vì thươngxót chúng sinh khổ não nên ở lại trần thế cứu vớt họ Đó là hình tượng vị Bồ tátQuán Thế Âm, tiêu biểu cho sức mạnh kỳ diệu, lòng từ bi và tình thương bao la.Chính mái chùa Một Cột ở Hà Nội, là nơi thờ Đức Quán Thế Âm đã được xây
dựng vào năm 1049, thời vua Lý Thái Tông Ta cũng thấy tác phẩm Khoá hư
lục do Trần Thái Tông biên soạn nhằm giúp cho các Phật tử đọc tụng sáu thời
trong một ngày đêm để giữ cho sáu căn[9] được thanh tịnh (trong Lục thời sám
hối khoa nghi) Điều đó chứng tỏ Tịnh Độ tông chủ trương trì kinh, niệm Phật
để giữ tâm được lặng lẽ thanh tịnh, để sám hối tội căn kiếp trước và để rửa sạchtội lỗi hàng ngày mắc phải Đặc biệt, trong các tác phẩm của các nhà thiền họcthời kỳ này, pháp môn Niệm Phật đã được đề cập đến như là một phương thức
Trang 24hành thiền được hướng dẫn từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, hợp vớitừng căn cơ đối tượng tham thiền học đạo.
3.Tịnh độ tông ở Việt Nam hiện nay.
Sau thời kỳ Phật giáo cực thịnh dưới các triều Lý Trần thì do ảnh hưởng mạnhcủa Nho học, nên Phật giáo Việt Nam cũng như Tịnh Độ tông trong thời Lê chođến đầu thế kỷ XX không được phát triển mạnh Tuy nhiên vào cuối thế kỷ XVI,nhiều tác phẩm về Tịnh Độ được viết, được dịch và chú giải nhằm cổ súy vàtruyền bá cho tư tưởng Tịnh Độ Có thể kể như Thiền sư Viên Văn Chuyết
Chuyết (1590-1644) viết tác phẩm Bồ đề yếu nghĩa, thuyết minh về Tự tính Di
Đà; thiền sư Minh Châu Hương Hải (1628-1708) dịch A Di Đà kinh sớ sao của
ngài Châu Hoằng; thiền sư Chân Nguyên (1647-1726) viết nhiều tác phẩm mang
đặc điểm tư tưởng Tịnh Độ của Trung Hoa như Phật tâm luận, Tịnh độ yếu
nghĩa; thiền sư Tánh Thiên viết Phổ khuyến niệm Phật…
Vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, do triều Nguyễn độc tôn Nho học nên mặc
dù các chùa trong nước rất nhiều, nhưng đều hoạt động riêng rẽ, không có một
tổ chức, hệ thống liên lạc chặt chẽ với nhau, sự giao lưu phát triển về Phật họccũng suy giảm
Trong suốt giai đoạn thuộc Pháp, Phật giáo Việt Nam có nhiều biến cố Mộtmặt, thực dân Pháp trong quá trình đô hộ, chủ trương không cho đạo Phật pháttriển, mặt khác đạo Thiên Chúa được Pháp ủng hộ nên rất phát triển ở Việt Nam
Do đó trào lưu Tịnh Độ nói riêng cũng như Phật giáo nói chung không nhữngkhông được phát triển mà còn suy thoái Sang đầu thế kỷ XX, vào năm 1920,phong trào Chấn hưng Phật giáo xuất hiện, bắt đầu bằng những bài viết của cáctăng sĩ và cư sĩ đăng trên các báo Dưới chế độ thuộc địa và bảo hộ của Pháp,các tổ chức Phật giáo chỉ được mang danh nghĩa là các Hội đoàn, không đượccoi là Giáo hội Vì vậy, các tổ chức Phật giáo đầu tiên lần lượt xuất hiện như
Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học thành lập năm 1930 tại Sài Gòn và xuất bản
tờ tạp chí Từ Bi Âm, Hội An Nam Phật học được thành lập năm 1932 tại Huế với tạp chí Viên Âm, Hội Phật giáo Bắc Kỳ được thành lập năm 1935 tại Hà Nội với tạp chí Đuốc Tuệ Tiếp theo là xuất hiện thêm một số hội Phật giáo khác ở các
tỉnh thành khác mà chủ yếu là ở miền Nam đồng thời nhiều tạp chí Phật học
cũng được xuất bản như Pháp Âm, Quan Âm, Tam Bảo, Tiếng Chuông Sớm,
Duy Tâm, Tiến Hóa Một nhà xuất bản đã ra đời, đó là Phật học Tùng thư do cư
sĩ Đoàn Trung Còn thành lập năm 1932 Nhiều kinh sách đã được xuất bản như
sách Phật Giáo Sơ Học, Phật Giáo Vấn Đáp, Phật Giáo Giáo Khoa Thư, và những kinh bản bằng quốc ngữ như Kim Cương, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm Từ
sau Cách mạng tháng Tám, qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ,Phật giáo Việt Nam phát triển không đồng đều Ở miền Bắc tuy đều có tổ chứcGiáo hội Phật giáo ở các tỉnh, song do tình hình kháng chiến chống Pháp vàchống chiến tranh phá hoại của Mỹ, Phật giáo tuy có phát triển song không đượcmạnh, nhưng trong những ngôi chùa cũ, pháp môn Tịnh Đô vẫn được lưutruyền Trong khi ở miền Nam, Phật giáo cũng phải trải qua nhiều biến cố, điểnhình như sự kiện chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp phong trào Phật giáo năm
1963 Nhưng sau sự kiện này, Phật giáo miền Nam càng phát triển Nhiều ngôi
Trang 25chùa được xây dựng, nhiều đạo tràng được lập nên, đặc biệt có rất nhiều đạotràng chuyên tu pháp môn Tịnh Độ niệm Phật A Di Đà
Sau năm 1975, Phật giáo Việt Nam đã được tổ chức thống nhất lại thành Giáohội Phật giáo Việt Nam vào năm 1981, tạo điều kiện cho Phật giáo phát triểnrộng rãi Đáng chú ý nhất là phong trào phát triển pháp môn Tịnh Đô, tụng kinhTịnh Độ và niệm Phật cầu vãng sinh được lan tỏa khắp mọi nơi Nhiều đạo tràngniệm Phật A Di Đà của Tịnh Độ tông xuất hiện bên cạnh những đạo tràng Dược
sư, đạo tràng Pháp Hoa v.v…Điển hình nhất là từ năm 1984, ngôi chùa HoằngPháp ở Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh đã bắt đầu tổ chức những khóa tuPhật thất (bảy ngày liền) chuyên công phu niệm Phật A Di Đà theo pháp mônTịnh Độ với mỗi khóa tu từ 3.000 đến 5.000 Phật tử ở khắp nơi trong nước về
dự Điển hình này đã được nhiều chùa trong nước áp dụng vì tu theo pháp mônTịnh Độ niệm Phật thu hút được nhiều Phật tử Nhiều trung tâm, đạo tràng đượcthành lập theo Tinh Độ vì đó là một pháp môn tu dễ dàng hơn, nhẹ nhàng hơn sovới các pháp môn tu khác, do đó đáp ứng được nguyện vọng của đại đa số Phật
tử muốn qua tu hành niệm Phật để cầu được vãng sinh về Tây phương Cực lạc Trong khoảng 10 năm trở lại đây, do tác động qua lại giữa các pháp môn Tịnh
Độ ở Úc Châu, ở Singapore, Malaysia và Đài Loan với Tịnh Độ tông Việt Nam,các đạo tràng Tịnh Độ, các đạo tràng A Di Đà ở Việt Nam càng phát triển mạnh.Nhiều Niệm Phật đường được xây dựng, nhiều Vãng sinh đường được lập nêntạo điều kiện cho các Phật tử mong ước được huân tu niệm Phật và vãng sinhTây phương Cực Lạc Nhiều kinh sách, nhất là các sách về niệm Phật và truyền
bá phương pháp hành trì niệm Phật của các vị Tổ Tịnh Độ tông được xuất bảnmột cách rộng rãi chứng tỏ Tịnh Độ tông không những trở thành một môn pháiđược phát triển rộng ở Việt Nam về mặt quy mô mà về mặt lý luận và phươngpháp tu hành cũng được phát triển một cách hệ thống Tuy nhiên, ta biết sựtruyền thừa của pháp môn Tịnh Độ khác với Thiền tông Ở Thiền tông luôn có
sự truyền thừa từ đời này sang đời khác liên tục Còn ở Tịnh Độ tông TrungQuốc, tùy theo công đức của từng vị Đại sư mà môn đồ suy tôn làm Tổ Cho nên
ở Trung Quốc kể từ cuối thế kỷ thứ IV đến đầu thế kỷ XX, Tịnh Độ tông TrungQuốc mới có 13 vị Tổ như đã nói ở phần trên
Ở Việt Nam, tuy pháp môn Tịnh Độ được lưu hành từ nhiều thế kỷ qua, nhưng
về mặt tổ chức của pháp môn chưa hình thành một hệ thống rõ rệt, nghĩa là chưa
có sự truyền thừa từ tổ nọ sang tổ kia như Thiền tông hoặc như Tịnh Độ tông ởTrung Quốc Giữa thế kỷ thứ XX, một số vị có công truyền bá và xây dựng phápmôn Tịnh Độ phát triển cho tới nay là các Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh vàThích Thiền Tâm Cả hai đại lão hòa thượng đều đã viên tịch Gần đây một sốđạo tràng niệm Phật A Di Đà theo truyền thống Tịnh Độ tông đã có những kiếnnghị với Trung Ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam suy tôn các vị đại lão hòathượng đó là những vị tổ của Tịnh Độ tông Việt Nam
Nhìn lại, chúng ta có thể thấy tín ngưỡng và pháp môn Niệm Phật A Di
Đà cầu vãng sinh Cực lạc là một trong những khuynh hướng tín ngưỡng lớn, nếukhông nói là chủ yếu, của Phật giáo nước ta hiện tại Tuy nhiên, quan niệm Tịnh
Độ của người phật tử Việt Nam mang những điểm đặc thù, dẫu có sự ảnh hưởngcủa Tịnh độ tông Trung Hoa, nhưng vẫn khác biệt so với Tịnh độ tông củaTrung Hoa hay của Nhật Bản
Trang 26Phần 3 CÁC PHƯƠNG PHÁP TU TẬP CỦA TỊNH ĐỘ TÔNG A.Nguyên tắc và phương châm tu tập:
Mục đích và hướng đến của người tu Tịnh Độ là chuyển hóa khổ đau thành anlạc thực sự và cầu được vãng sinh vào thế giới Cực lạc Nhưng mục tiêu củangười cầu vãng sinh Cực lạc không phải để hưởng sự an vui đó mà là để đượcgiải thoát, giác ngộ, thành Phật Nói cách khác, cảnh giới Cực lạc chỉ là môitrường hay phương tiện tốt nhất giúp cho mọi người được vãng sinh không cònthối chuyển trên con đường giác ngộ, hoặc không còn thối chuyển trên conđường đạt đến hạnh phúc thật sự
Nguyên tắc tu tập lấy tự lực là chính, nhưng không thể không nhờ ở tha lực của Đức Phật và phương châm tu tập phải được thể hiện qua các tiêu chí Tín, Nguyện, Hạnh
Tịnh Độ tông chủ trương niệm Phật, quán tưởng Đức Phật A Di Đà và sự trang nghiêm thanh tịnh của cõi Cực lạc với tất cả sự nỗ lực cá nhân, bằng tự lực với các tiêu chí căn bản là phải đạt được Tín, Nguyện, Hạnh Ngoài ra, hành giả còn được nhờ ở tha lực tương ưng với bản nguyện của Đức Phật A Di Đà và các Thánh chúng, nương nhờ vào Phật lực để vãng sinh về thế giới Cực Lạc trong trạng thái nhất tâm bất loạn Vì vậy phương châm tu tập thể hiện qua Tín,
Nguyện, Hạnh, không phải chỉ có chuyên trì niệm Phật ngày đêm, nhất tâm bất loạn
Việc hành trì như thế, bằng với cả lòng tin, với tâm nguyện thiết tha với sự hành trì nghiêm mật chưa đủ mà người tu Tịnh Độ còn phải am hiểu và vận dụng những điều mà Đức Phật dạy trong cuộc sống thường ngày, nghĩa là luôn nuôi dưỡng lòng từ bi, tu mười điều lành và còn thọ trì Tam quy, Ngũ giới, vun đắp các công đức phúc lành, và cao hơn thế nữa là phát Bồ Đề tâm, nguyện thành Phật đạo, hóa độ chúng sinh
Kinh Quán Vô Lượng Thọ đã chỉ cho ta thấy rằng: Hành giả muốn vãng sinh
Tịnh độ phải hội đủ ba điều kiện, tức là phải tu tịnh tam nghiệp:
Một là Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, từ tâm bất sát,tu thập thiện
nghiệp (Tức: Không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối,
không nói lời cay độc, không nói lưới hai chiều, không xiểm nịnh, không tham lam, không giận dữ, không si mê)
Hai là Thọ trì Tam quy, cụ túc chúng giới (tức thực hiện đầy đủ các giới),
không phạm oai nghi.
Ba là Phát Bồ đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyến
tấn hành giả (tức khuyên người khác cùng tu)
Trang 27Như vậy cần phải hiểu rõ rằng tu theo Tịnh Độ không phải chỉ là chỉ niệm
Phật là đủ Điều này sẽ được nói rõ trong mục Những vấn đề tồn tại trong tu
tập theo Tịnh Độ tông nói ở phần sau
B Sự thực hành các phương pháp tu tập:
Cùng với việc xây dựng niềm tin và phát nguyện vãng sinh, hành giả Tịnh Độ
tông phải thực hành niệm Phật A Di Đà Trong kinh A Di Đà, Đức Phật Thích
Ca dạy rằng: “Nếu có thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào muốn sinh về cõi Cực
lạc, thì người ấy phải niệm danh hiệu Phật A Di Đà với một lòng không tạp loạn, hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày hoặc bảy ngày Người ấy, đến khi lâm chung sẽ thấy được Phật A Di Đà và các vị Thánh chúng hiện ra trước mắt Trong giờ phút ấy, tâm của người ấy được an trú trong định, không có điên đảo và tán loạn; do đó người ấy sẽ được vãng sinh ngay về nước Cực lạc của Đức Phật A Di Đà” Như vậy, điều quan trọng
trong sự thực hành niệm Phật A Di Đà để được vãng sinh đòi hỏi hành giả phải
nhất tâm bất loạn, một lòng niệm Phật Để có được kết quả là nhất tâm, không
tạp loạn, hành giả phải tinh tấn nỗ lực niệm Phật và xem niệm Phật như là một
sự nghiệp chính trong đời sống Nói cách khác, tâm của hành giả phải thườngniệm A Di Đà và thể hiện tâm niệm này qua hành động và lời nói ngay cả khi điđứng nằm ngồi với một lòng nhất tâm bất loạn
Vậy thế nào là Nhất tâm bất loạn?
Kinh A Di Đà nói nếu một ngày hoặc trong bảy ngày liên tục mà chuyên trì niệm danh hiệu Phật A Di Đà đến mức nhất tâm bất loạn thì lúc lâm chung có thể vãng sinh về Tây phương Cực lạc Không phải chỉ ở trong kinh A Di Đà nói đến nhất tâm bất loạn mà trong kinh Di giáo cũng có nói đến “Chế ngự tâm tại
một nơi thì không có việc gì là không làm được” Kinh Hoa Nghiêm quyển 6,
phẩm Nhập pháp giới có nói đến 21 loại niệm Phật tam muội Nhất tâm bất loạn
là thuộc về một pháp môn của tu định, hay còn gọi là Niệm Phật tam muội hoặc gọi là Bát châu tam muội hoặc là Nhất hạnh tam muội
Nhất tâm bất loạn ngược với tâm tán loạn Khi miệng vẫn niệm danh hiệu Phật
mà trong tâm có nhiều vọng tưởng, nghĩ đến những việc khác thì đó là niệm
Phật tán loạn Nhất tâm bất loạn tức là phải chuyên tâm nhất ý Khi niệm Phật,
phải gắn cái tâm mình vào danh hiệu Phật, miệng niệm danh hiệu Phật, tai nghetiếng niệm Phật, tâm không nghĩ gì khác, đó gọi là nhất tâm Và như vậy thì khilâm chung có thể vãng sinh về cõi Cực lạc Tịnh Độ
Theo Đại sư Liên Trì, vị tổ đời thứ 8 Tịnh Độ tông Trung Quốc, thì Nhất tâm có thể chia thành: Sự nhất tâm và lý nhất tâm Sự nhất tâm là tâm không có tạp
niệm, tâm và miệng tương ứng với nhau, chỉ có niệm danh hiệu Phật, tự mìnhbiết rằng mình đang niệm Phật, biết rằng có danh hiệu Phật đang niệm, đó là
nhất tâm niệm Phật, hoặc là toàn thân niệm Phật Còn Lý nhất tâm tức là tâm
tương ứng với lý, tự thấy được pháp thân của A Di Đà tức là tự tính Tây phương
không tách rời bản thân mình một tấc, đó là cảnh giới hiện ra trước mắt Tự tính
Di Đà duy tâm Tịnh Độ Sự nhất tâm thuộc về mức độ thiền định Lý nhất tâm
thuộc về trình độ thiền ngộ Đó là kết quả của việc Thiền-Tịnh song tu Lấy việc
Trang 28niệm Phật của Tịnh Độ tông để nhập môn thiền định đạt đến tam muội rồi giácngộ, giải thoát
Tóm lại phương pháp thực hành tu tập Tịnh Độ tông để đi đến kết quả được vãng sinh về Tây phương Cực lạc, có thể chia làm 2 phần
- Một mặt thực hành thường xuyên tu tam tịnh nghiệp như trong kinh Quán Vô
Lượng Thọ đã nói nghĩa là: Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm
bất sát, tu thập thiện đạo, thọ trì tam quy ngũ giới, không phạm oai nghi, phát Bồ
đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại thừa, khuyến tấn hành giả
- Mặt khác thực hành việc trì danh niệm Phật đi đứng nằm ngồi đều phải nhất
tâm bất loạn, đạt đến niệm Phật tam muội
C.Lợi ích của pháp môn Niệm Phật:
Ta đã biết rằng pháp môn Niệm Phật của Tịnh Độ tông là một pháp môn dễ tu
và phù hợp với mọi người, mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, không kể sang hay hèn,giầu hay nghèo, già hay trẻ, nam hay nữ Nhưng không phải ai cũng có thể tu đạtđến kết quả để được vãng sinh về Tây phương Cực lạc, để được thành Phật vàthoát cảnh sinh tử luân hồi
Thế giới Cực lạc là phương tiện tối thắng giúp cho hành giả trên con đường tuhành đi đến giác ngộ không còn thối chuyển Phương tiện tối thắng đó là: môi
trường tốt đẹp như trong mô tả của kinh A Di Đà, cuộc sống đầy đủ, thân thể
khỏe mạnh, có trí tuệ và được thân cận học hỏi thực tập với các vị Thánh tức làPhật A Di Đà và các Thánh chúng Còn thế giới Ta bà là thế giới đầy đau khổ,đầy nghịch cảnh: kiếp sống ô trược, nhận thức sai lạc, vô minh, chứa đầy phiềnnão tham, sân và si, vạn vật vô thường và mạng người ngắn ngủi
Do vậy, nếu hành giả biết tu tập sẽ đạt được điều mong muốn là sống trong cảnh
an vui, thanh tịnh, không đau khổ, không phiền não, không còn bị ràng buộc bởinhững tham sân si, luôn luôn an nhiên, tự tại thì bản thân người đó đang sốngtrong cõi Tịnh độ Và, đối với họ, cõi Ta bà mà họ đang sống chính là cõi Tịnh
độ Ở một mức cao hơn, với người hành giả đã thực hành tu tam tịnh nghiệp, đã
an nhiên tự tại, gạt bỏ hết mọi ràng buộc mà một lòng niệm Phật nhất tâm bấtloạn thì sẽ được Đức Phật A Di Đà cùng Thánh chúng tiếp dẫn sang cõi Cực lạc
ở Tây phương Vì vậy, so với Thiền tông, hành giả niệm Phật theo Tịnh Độ cóđược thắng duyên là môi trường Cực lạc để giúp cho sự tiến tu bất thối, và tâmniệm của hành giả niệm Phật luôn luôn được an ổn vì có được Phật A Di Đà hộniệm Đây là một trong những lý do chính giải thích tại sao pháp môn NiệmPhật A Di Đà phù hợp với tất cả mọi trình độ và được phổ biến tại các nước cóPhật giáo Đại thừa như Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản v.v
Chính vì pháp môn Tịnh Độ là một pháp môn dễ tu và có nhiều lợi ích lớn trongtám vạn bốn nghìn pháp môn, nên Đức Phật thường khuyên bảo chúng sinh nêncầu sinh về Tây phương Cực lạc
Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của việc sinh về Tây phương Cực lạc to lớnđến dường nào Ta có thể kể đến một số lợi ích lớn khi tu theo pháp môn Tịnhđộ: 1 Trong 49 năm thuyết pháp, Đức Phật đã giảng biết bao nhiêu bộ kinh
Trang 29trong đại tập kinh điển Tuy nhiên, riêng bộ kinh Vô Lượng Thọ, có thể đã được Đức Phật giảng nhiều lần, nên hiện nay có đến 5 bộ kinh Vô Lượng Thọ khác nhau Yếu chỉ của kinh Vô Lượng Thọ là khuyên bảo chúng sinh nên cầu sinh về
Tây phương Cực lạc Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của việc sinh về Tâyphương Cực lạc to lớn đến dường nào nên Đức Phật mới giảng đi giảng lại nhiềulần như thế
2 Ta thấy các vị Đại Bồ tát như Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền đều là những bậcĐẳng giác Bồ tát sắp thành Phật Thế mà cả 2 vị đều phát nguyện sinh về Tây
Phương để sớm thành Phật Trong kinh Pháp Hoa, Đức Phổ Hiền phát nguyện rằng: “Nguyện cho tôi khi sắp lâm chung, trừ sạch hết thảy bao chướng ngại,
tận mắt thấy Phật A Di Đà, tức được vãng sinh nước Cực lạc.” Các vị đại bồ tát
còn phát nguyện về Cực lạc thì thấy lợi ích tu theo pháp môn Tịnh Độ được lợiích đến nhường nào
3 Tu theo pháp môn Tịnh Độ rất dễ tu, có trường hợp người tu Tịnh Độ khôngcần phải đoạn hết nghiệp chướng của mình (tham, sân, si) mà có thể thoát khỏikiếp luân hồi, về với cõi Tịnh của Phật A Di Đà là Tây phương Cực lạc Tu theocác pháp môn khác người tu bắt buộc phải diệt trừ tận gốc tất cả nghiệp chướngcủa mình mới có thể thoát khỏi kiếp sinh tử luân hồi
4 Từ các kinh điển và các bộ luận của các vị Bồ tát và các Thánh hiền đều rasức khen ngợi, ca tụng và khuyến khích mọi người tu theo pháp môn Tịnh Độ.Ngài Văn Thù Sư Lợi bồ tát cũng đã dạy: “ Trong các pháp môn của Đức Phật
không có môn nào qua được môn Niệm Phật, Niệm Phật là vua của các pháp môn ” Bồ tát Quán Thế Âm cũng dạy: “ Niệm Phật hơn các hạnh khác ” Ngài
Mã Minh, vị tổ thứ 12 của Thiền tông Ấn Độ đã nói trong Đại Thừa Khởi Tín
Luận rằng: “ Chuyên tâm niệm Phật là phương tiện tối thắng của Đức Như Lai ”
Còn Bồ tát Long Thọ, vị tổ thứ 14 Thiền tông Ấn Độ cũng cho rằng: “ Niệm
Phật Tam muội có đầy đủ trí tuệ, có vô lượng phúc đức, đoạn trừ tất cả phiền não, độ tất cả các chúng sinh, và sinh ra vô lượng Tam muội khác cho đến Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội”
5 Điều kiện để một chúng sinh vãng sinh về các thế giới Tịnh độ khác như cõiTịnh độ của Bồ tát Di Lặc và Tịnh độ của Phật A Súc là rất cao, vì chỉ trông cậyvào sức tu tự lực Trong khi điều kiện vãng sinh về cõi Tịnh độ của Phật A Di
Đà, ngoài việc nhất tâm niệm Phật còn được nương nhờ tha lực của Phật A Di
Đà Điều đó có lợi rất lớn trong việc tu hành
Do những điều đó, đủ biết rằng pháp môn niệm Phật của Tịnh độ tông có lợi íchnhư thế nào
Phần 4 CẦN NHẬN THỨC ĐÚNG
VỀ TỊNH ĐỘ TÔNG HIỆN NAY A.Những dị biệt trong nhận thức và thực hành giáo lý Tịnh Độ tông hiện nay.
Trang 30Trong phần này, xin phép chỉ nêu lên một số ý kiến khác nhau của các hành giả,của Chư tôn thiện đức và của những nhà nghiên cứu Phật học nói về pháp mônTịnh độ Những ý kiến đó đang lưu hành tồn tại trong Phật giáo ở nước ta Những ý kiến khác nhau về nhận thức và thực hành giáo lý Tịnh độ tông hiệnnay có thể có một số điểm cần nêu lên như sau:
1.Sự khác biệt thứ nhất:
Có ý kiến cho rằng trào lưu Tịnh độ tông được truyền bá hiện nay ở nước ta doảnh hưởng từ Trung Hoa nên có sự khác biệt với giáo lý Tịnh độ tông trong kinh
A Di Đà Điểm khác biệt căn bản được nêu lên ấy là Tịnh độ tông trong kinh A
Di Đà dựa vào 5 tiêu chí để được vãng sinh Tây phương khác hoàn toàn với 3yếu tố tín, hạnh, nguyện mà ý kiến đó cho là do Trung Quốc đặt ra vốn khôngdựa vào bài kinh quan trọng nhất là kinh A Đi Đà và đó cũng chính là điểm màphần lớn các vị giảng sư Tịnh độ tông không đề cập đến Quan điểm đó chorằng: “Trong kinh A Di Đà có 5 tiêu chí mà theo đó ai thực tập thì hiện tại được
an lạc, sau khi chết đủ tiêu chuẩn để vãng sinh Tây phương mà không cần phảiphát nguyện, không cần ai hộ niệm, tình trạng đó diễn ra như một quy luật tấtyếu về phương diện nhân quả” Quan điểm đó cho rằng năm tiêu chí trong kinh
A Di Đà mà hành giả tu Tịnh Độ đạt được vãng sinh là phải có căn lành lớn, cócông đức lớn, có nhân duyên lớn, có quán phát âm lớn và có sự chuyên nhất tâmnghĩa là có niệm Phật nhất tâm bất loạn Quan điểm đó còn nêu rõ: “Cốt lõi củakinh A Di Đà nằm ở chỗ không phải nhấn mạnh về sự hiện hữu của thế giới Tâyphương mà là 5 điều kiện này Bất kỳ ai đạt được 5 điều kiện này, ngay trướcpháp hiện tại này, nơi người đó ở chính là Cực lạc, thì người đó chính là an vui
và lúc đó, người hội tụ 5 điều kiện đó sẽ không còn nguyện vọng sinh về Tâyphương để làm gì nữa Cốt lõi và chiều sâu triết lý của Tịnh độ tông nằm ở chỗnày Người đi theo tín ngưỡng của Tịnh Độ tông thì không quan tâm đến chuyện
đó, chỉ quan tâm là sau khi chết mình được vãng sinh và do đó nhấn mạnh đếncái phương diện tín ngưỡng của Tịnh Độ vốn không phải do Đức Phật dạy Đó
là sự khác biệt rất căn bản giữa Tịnh độ tông trong kinh A Di ĐÀ và Tịnh Độtông do Trung Quốc biên soạn” Ý kiến đó cho rằng hành giả muốn có căn lànhlớn nghĩa là phải chuyển hóa được tham ái, sân hận, si mê và chấp thủ Và nếunhư thế thì các Phật tử tại gia sống đời sống vợ chồng không thể đạt được cănlành lớn vì không thể bỏ được tham ái, tuy rằng 3 yếu tố sau là sân hận, si mê vàchấp thủ có thể đạt được, vì đời sống của Phật tử tại gia gắn kết với tình nghĩa
vợ chồng và hoạt động tình dục là một trở ngại lớn làm cho Phật tử tại gia khôngthể nào có thể đạt được căn lành lớn mà chỉ có thể đạt được căn lành trung bìnhhoặc nhỏ thôi Còn có đạt được căn lành lớn tức là chuyển hóa đươc tận gốc rễtham ái, sân hận, si mê, chấp thủ và đây là điều mà chỉ các vị xuất gia mới có thểlàm được, tuy nhiên không phải tất cả các vị xuất gia đều làm được như thế Do
ý nghĩa đó nếu không có căn lành lớn tức là đối với Phật tử tại gia sống có đờisống gia đình vợ chồng thì không thể vãng sinh về nơi Cực lạc được
2 Sự khác biệt thứ hai:
Trang 31Một ý kiến nữa cho rằng phàm là Phật tử hay hành giả tu theo bất kỳ pháp mônnào cũng phải tinh tấn, nỗ lực làm công đức lớn Nghĩa là phải vận dụng và thựchiện những điều giáo pháp Đức Phật đã dạy Không chỉ ăn chay, niệm Phật, đichùa lễ Phật là đủ mà phải dấn thân thực hành tam quy ngũ giới, làm mười điềulành, phát bồ đề tâm v.v… mới có công đức lớn Cho nên ai nghĩ đơn giản là chỉcần niệm Phật, lạy Phật mà không cần đọc tụng kinh điển, thực hành theo giáo
lý của Đức Phật là có công đức lớn là một sai lầm đáng tiếc Vì vậy không nêncường điệu hóa những câu như: Niệm Phật một câu, phúc sinh vô lượng, lạyPhật một lạy, tội diệt hà sa Cái đó chỉ là khích lệ, hoàn toàn phi nhân quả Bởi
vì rõ ràng chỉ niệm một câu niệm Phật thì không thể nào có vô lương phúc đứcđược, cũng như chỉ cần lạy Phật một lạy thì bao nhiêu tội ác của mình đều đượcdiệt hết Nếu thế thì trên đời này ai ai cũng tràn đầy phúc đức và không ai có tội
cả vì chỉ cần niệm Phật một câu, lạy Phật một lạy là dù có bao nhiêu tội cũngđều được diệt hết Đó là nội dung của ý kiến khác biệt thứ 2
3.Sự khác biệt thứ 3:
Đó là ý kiến khác biệt về 48 lời nguyện Ý này cho rằng người tu theo Tịnh Độtông thường dựa vào 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà, nhưng thực ra 48 lờinguyện đó là lời phát nguyện của Tỳ kheo Pháp Tạng, như trong kinh Vô LượngThọ đã nói Lúc phát nguyện thì thày Pháp tạng còn là một phàm tăng, nênkhông thể nói đó là 48 lời nguyện cùa Đức Phật A Di Đà Ý kiến này nêu rõ:
“Hiện nay 2 trong số 48 lời phát nguyện đó được phần lớn hành giả Tịnh Độtông nương vào Đó là lời nguyện thứ 18 và lời nguyện thứ 19 của thày PhápTạng Lời nguyện thứ 18 cho rằng: Nếu ai niệm danh hiệu của ta 10 lần màkhông vãng sinh về Cực lạc thì ta không thành Phật Trên thực tế thày PhápTạng đã thành Phật mất rồi, quá lâu rồi Nếu lời nguyện đó đúng sự thật thì thày
ấy bây giờ phải là bồ tát chứ không phải là Phật A Di Đà…”
Thực ra các bản kinh Vô Lượng Thọ do có nhiều dịch giả khác nhau, nên ngôn
từ và hành văn cũng có chỗ khác nhau Nên hiểu rằng 48 lời nguyện của Tỳkheo Pháp Tạng là những lời nguyện để thực hành khi đã thành Phật và quátrình phấn đấu của Ngài Pháp Tạng qua biết bao nhiêu kiếp mới trở thành Phật
A Di Đà được Và như vậy, 48 lời nguyện đó chính là lời nguyện của đức Phật
A Di Đà
4.Sự khác biệt thứ 4:
Đây là sự khác biệt mà trong phần nói về các bộ kinh chính của pháp môn Tịnh
độ đã được đề cập đến Có một thực tế rất rõ ràng là trong cả một thời gian dàihành trì và phát triển pháp môn Tịnh Độ, các vị Tổ cũng như các pháp sư giảnggiải về giáo lý Tịnh Độ không đề cập đến bộ kinh Niệm Phật Ba La Mật vốn làmột bộ kinh vô cùng quan trọng của Tịnh Độ tông Vì sao vậy? Bản kinh NiệmPhật Ba La Mật được Đức Phật tuyên giảng tại núi Kỳ Xà Quật gần thànhVương Xá trước tám vạn vị Đại Bồ tát khắp mười phương, các vị Trưởng lão,các đại Tỳ kheo, các vị Thiên vương, quỷ thần và quyến thuộc, lại có Quốc mẫu
Vi Đề Hy và vua A Xà Thế cùng hoàng tộc, quần thần đến dự Như vậy buổithuyết giảng kinh này xảy sau thời gian không xa so với buổi thuyết giảng kinh
Trang 32Quán Vô Lượng Thọ trước mặt bà Vi Đề Hy khi còn trong ngục tối, do bà bị con
là vua A Xà Thế hạ lệnh bắt bỏ ngục Kinh Niệm Phật Ba La Mật là một bảnkinh xúc tích và mang đậm tính triết lý sâu sắc và vô cùng quan trọng Nhưnghiện nay có thể nói là trên 95% hành giả truyền bá Tịnh Độ tông hoàn toànkhông động đến kinh Niệm Phật Ba La Mật Có thể do bộ kinh này nói rõ tínhchất yếu lĩnh rất cao siêu và cần có của một người tu theo Tịnh Độ, nên các vịpháp sư và hành giả Tịnh Độ phải bỏ qua với ý đồ để cho pháp môn Tịnh Độ trởthành một pháp môn dễ tu đối với mọi người
Trên đây là một vài ý kiến và nhận thức khác biệt về pháp môn Tịnh Độ Tấtnhiên, nếu đi sâu nghiên cứu, còn có một số ý kiến khác nữa trong quá trìnhhành trì phát triển pháp môn Tịnh Độ Mà cụ thể là những vấn đề tồn tại thể hiệntrong quá trình tu tập của một số Phật tử
B Những vấn đề tồn tại trong tu tập theo Tịnh Độ tông:
Pháp môn Tịnh Độ là một pháp môn dễ tu đối với mọi tầng lớp người và rấtthịnh hành trong nhiều nước Phật giáo Đại thừa, chính vì vậy mà trong hành giả
và các Phật tử đã nảy sinh rất nhiều nhận thức khác nhau xung quanh việc tu tậptheo giáo lý này
1.Chỉ chú trọng niệm Phật mà không đọc tụng kinh điển.
Trước hết trong đa số phật tử tu theo pháp môn Tịnh độ cho rằng chỉ cần chútrọng đến niệm câu “Nam Mô A Di Đà Phật” là đủ, nên không chú trọng đếnviệc học Phật nói chung, đọc tụng kinh điển và thực hành những điều răn dạycủa đức Phật nói riêng trong cuộc sống hàng ngày Thậm chí một số người còncho rằng không nên đọc tung kinh Phật vì việc đó sẽ làm sao lãng việc niệmPhật, mà chỉ cần nhất tâm niệm Phật là đủ Điều đó không đúng Pháp môn Tịnh
độ cũng rất chú trọng đến việc tụng kinh Pháp môn Tịnh Độ có một số bộ kinhchính như kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà, kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinhNiệm Phật Ba La Mật và 2 bộ kinh bổ sung là Phổ Hiền Hạnh Nguyện và ĐạiThế Chí Niệm Phật Viên Thông Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ cũng đã cónói rõ điều này: “Hành giả muốn vãng sinh Tịnh Độ phải hội đủ ba điều kiện:Một là hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, từ tâm bất sát, tu mười nghiệplành Hai là thọ trì Tam quy, ngũ giới, không phạm oai nghi Ba là phát Bồ đềtâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyên người khác cùng tu”.Vậy thì đọc tụng kinh Phật cũng rất cần thiết bên cạnh việc niệm Phật Thực ra,các vị pháp sư và các hòa thượng chuyên giảng giải về Tịnh Độ tông khuyên tachuyên tâm niệm Phật đều là những vị đã bao năm thông suốt những bộ kinhđiển Đại thừa kể cả Đại Bát Nhã, Kim Cương, Thủ Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm,Diệu Pháp Liên Hoa v.v…trong tam tạng kinh luật luận và từ sự thụ nhận cácyếu nghĩa của những bộ kinh luận đó trong suốt cả quá trình hành trì tu tập, các
vị đó mới quy tụ trở về pháp môn Niệm Phật của Tịnh Độ tông
2.Chỉ niệm Phật mà không thực hành tu tuệ-phúc:
Trang 33Một số không ít các Phật tử và hành giả chú tâm niệm Phật để cầu vãng sinh chomình, và chỉ chú trọng sao cho bản thân mình được vãng sinh mà không chú ý gìđến mọi chúng sinh trong pháp giới, không chú trọng việc thực hành tu tuệ cùng
tu phúc theo giáo nghĩa Đại thừa Chuyên tâm niệm Phật cầu vãng sinh như vậy
dù có vãng sinh thì cũng chỉ ở phẩm thấp trong chín phẩm Liên hoa Bởi vì niệmPhật cầu vãng sinh không thể tách rời việc thực hành đem giáo lý của đức Phậtvào trong cuộc sống Cuộc sống ở thế giới Ta Bà rất nhiều khổ ải, giáo lý Đạithừa chỉ rõ không chỉ tu cho mình mà phải Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúngsinh (Trên cầu thành Phật, dưới độ chúng sinh) Nghĩa là hành giả Tịnh Độ niệmPhật cầu vãng sinh để thành Phật thì phải có tấm lòng từ bi, thương yêu đến mọichúng sinh, phải biết phát Bồ đề tâm, tin sâu nhân quả, làm nhiều việc thiện.Cũng chính là để bổ khuyết những yếu lĩnh có thể còn thiếu mà trong các kinhcủa Tịnh Độ đã được nhắc đến, bộ kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện là bộ kinh dạyngười học Phật phát Bồ đề tâm với tâm lượng rộng mở như Ngài Phổ Hiền Bồtát
3.Chỉ chuyên niệm Phật mà không tu hạnh lành:
Cũng có nhiều Phật tử rất chú trọng đến niệm Phật, lễ Phật thành kính công phu,thực hiện các thời khóa niệm Phật rất nghiêm mật nhưng trong đời sống hàngngày thì không chú trọng gì đến việc thực hành các hạnh lành cùng hành vi vàngôn ngữ, đôi khi vẫn còn tồn việc làm không tốt, lời nói thô ác v.v Để đượcvãng sinh, trở thành Phật, không chỉ có niệm Phật là đủ, dù có nhất tâm bất loạn
Mà phải có hạnh lành trong cuộc sống hàng ngày Ngoài thời khóa niệm Phật,người Phật tử luôn luôn thực hành tu thập thiện nghiệp, lời nói cử chỉ hành vicũng mang tính thiện và từ bi trí tuệ Cũng có trường hợp trong khi niệm Phậtvẫn còn những vọng tưởng, chấp trước, tham đắm, sân hận thì việc niệm Phậtlàm sao mà nhất tâm bất loạn được Vì vậy tu theo Tịnh Độ, không thể đượcxem đơn giản là chỉ có niệm Phật là đủ, dù cho niệm Phật có đạt được đến nhấttâm bất loạn thì kết quả cũng chỉ ở một mực thấp mà thôi
C Nhận thức đúng về tôn chỉ Tịnh Độ tông của đức Phật
Pháp môn Tịnh Độ chủ trương niệm Phật, quán tưởng đức Phật A Di Đà bằng tựlực với Tín, Nguyện, Hạnh và với tha lực của đức Phật và Thánh chúng để vãngsinh về Cực lạc, thoát khỏi kiếp sống sinh tử luân hồi Đây là nhận thức chungcủa đa số Phật tử tu theo pháp môn Tịnh Độ Nhưng nếu chỉ hiểu như thế, chỉbiết nhất tâm niệm Phật đạt đến nhất tâm bất loạn thì chưa đúng với tôn chỉ Tịnh
Độ tông của Đức Phật Vậy cần phải hiểu đúng tôn chỉ Tịnh độ tông như thếnào?
Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, Đức Phật cũng đã chỉ rõ người tu theo Tịnh độmuốn vãng sinh về thế giới Cực lạc phải biết tu tam phúc hay còn gọi là tam tịnhnghiệp Có nghĩa là ngoài việc nhất tâm niệm Phật ngày đêm thì người tu theoTịnh độ tông cần phải hiểu giáo lý của đức Phật Hành giả Tịnh độ phải biết hiếudưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu thập thiện nghiêp, thọ trìtam quy, ngũ giới, không phạm uy nghi, phát bồ đề tâm, tin sâu nhân quả, đọctụng Đại thừa, khuyên người cùng tu Vì vậy, Tịnh Độ tông không phải chỉ có
Trang 34niềm tin vào tín ngưỡng Cực lạc và Đức Phật A Di Đà Tịnh Độ tông là tôngphái chủ trương đưa các hành giả đi theo con đường tu tập Giới, Định, Tuệ Do
có công phu niệm Phật nhất tâm bất loạn, niệm Phật tam muội mà thành tựuđược Định Nhờ có công đức thọ trì Tam quy, Ngũ giới, tu thập thiện nghiệp vàcác công đức hoằng dương chính pháp, phát bồ đề tâm v.v…mà thành tựu đượcGiới Và cũng nhờ có công đức đạt được Định mà hành giả mới đi đến có Tuệ.Cũng vì tôn chỉ Tịnh Độ tông như thế nên trong kinh Niệm Phật Ba La Mật,Đức Phật đã thuyết giảng một cách thấu đáo về tôn chỉ của Tịnh Độ tông là mộtpháp môn Niệm Phật cầu vãng sinh như thế nào Trong Phẩm thứ hai của kinhNiệm Phật Ba La Mật, Đức Phật đã chỉ rõ: “Pháp môn niệm Phật chính làchuyển biến cái tâm thể của chúng sinh, bằng cách không để cho tâm thể ấyduyên với vọng niệm, với lục trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, với huyễncảnh, với kiến chấp, với mong cầu, với thức phân biệt v.v Mà chỉ đem tâm thể
ấy duyên mãi với danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật Không bao lâu người niệmPhật tự nhiên đi vào chỗ vắng lặng, sáng suốt, an lạc, cảm ứng với nguyện lựccủa đức A Di Đà, thấy mình sinh vào cõi nước Cực lạc, thân mình ngồi trên tòasen báu, nghe Phật và Bồ tát nói pháp, hoặc thấy Phật lấy tay xoa đảnh”
Kinh Niệm Phật Ba La Mật cũng chỉ rõ người tu theo Tịnh Độ, tuy đã phát tâmniệm Phật một cách tinh tấn và công phu, nhưng nếu tái sinh vào cõi Ta bà thìvẫn bị luân hồi vì định huệ còn non kém, công đức chưa hoàn mãn Cần phảivãng sinh thế giới Cực lạc gần kề với Phật và các Thánh chúng, thành tựu vôlượng Ba la mật, thâm nhập Tam muội Tổng trì môn, phát hoằng thệ nguyện đikhắp mười phương giáo hóa chúng sinh Chính vì thế mà Đức Thế tôn đã nói rõtrong kinh Niệm Phật Ba La Mật rằng: “Nên biết rằng được vãng sinh Cực lạcthì không bao giờ trở lại địa vị phàm phu với thân xác ngũ uẩn nữa Do đó mớigọi là Bất thối chuyển Từ đó về sau, dần dần thành tựu mười thứ trí lực, mườitám pháp bất cộng, ngũ nhãn, lục thông, vô lượng đà la ni, vô số tam muội, thầnthông du hý, biện tài vô ngại v.v… đầy đủ công đức vô lậu của bậc Đại Bồ tát,cho đến khi đắc quả Phật Bởi vậy mà ta, Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn hôm naytrân trọng xác quyết rằng: Vãng sinh đồng ý nghĩa với thành Phật”
Chính vì những lý lẽ đó mà bản kinh Niệm Phật Ba La Mật cần được xếp vàomột trong những bộ kinh chính của pháp môn Tịnh Đô, vì bản kinh đó bao hàmđầy đủ tôn chỉ của Tịnh Độ tông
Phần 5 KẾT LUẬN
Pháp môn Tịnh Độ đã xuất hiện từ khi Đức Phật còn tại thế Thời kỳ Phật giáonguyên thủy, Tịnh Độ không được phát triển mạnh Chỉ sau khi Phật giáo Đạithừa phát triển và nhất là vào những thế kỷ đầu sau Công nguyên, Tịnh Độ tôngmới hình thành một tông phái chính thức ở Trung Hoa với Huệ Viễn Đại sư làm
sơ tổ kể từ thế kỷ thứ IV
Pháp môn Tịnh Độ lấy các bộ kinh Vô Lượng Thọ, A Di Đà, Quán Vô LượngThọ, Niệm Phật Ba La Mật và bộ luận Vãng Sinh Tịnh Độ là giáo lý cơ bản.Phương pháp tu tập của Tịnh Độ tông lấy việc tụng niệm câu “Nam mô A Di ĐàPhật” làm việc hành trì thường xuyên Tịnh Độ tông chủ trương niệm Phật, quántưởng đức Phật A Di Đà và sự thù thắng, trang nghiêm của cõi Cực Lạc Tịnh độ,
Trang 35bằng tự lực với Tín, Hạnh, Nguyện Hành giả còn phải nương nhờ tha lực củađức Phật A Di Đà và Thánh chúng để vãng sinh về Cực lạc trong trạng thái niệmPhật nhất tâm bất loạn Tịnh Độ tông không phải là một pháp môn chỉ có tínngưỡng cõi Tịnh độ Cực lạc và Đức Phật A Di Đà, không phải chỉ có niềm tin,
mà đó là pháp môn chủ trương con đường tu tập Giới, Định, Tuệ mà chủ yếu làGiới và Định
Vì vậy đòi hỏi ở hành giả và chư Phật tử tu hành theo Tịnh Độ tông phải có mộtphương pháp tu hành toàn diện: vừa hành trì niệm Phật đạt đến nhất tâm bất loạn
để đạt đến Định, vừa phải đọc tụng kinh điển Tịnh Độ và thực hành tam tịnhnghiệp như Đức Phật đã nói trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Việc hành trì nhưthế mới đạt được vãng sinh về thế giới Cực lạc không còn thối chuyển
(Chánh Tuệ Định Phạm Đình Nhân)
Con Đường Tu Tắt: Pháp Môn Tịnh Độ
Lời Phi Lộ
Tôi được một đạo hữu mến mộ pháp môn Tịnh Độ cho xem cuốn Con Đường
Tu Tắt và yêu cầu sửa chữa để tái bản, ấn tống
Tôi đã đọc và xén bỏ những đoạn rườm rà, trùng phức nhưng cuốn sách vẫn chưa phải đã hoàn bị, nhất là về phương diện chính tả và ngôn từ Song, nếu sửa
sẽ phải đánh máy lại tất cả đó là việc vượt quá sức đảm đương của ngườI ấn tống, mặc dù họ rất muốn thế
Tuy vậy, bên cạnh các khuyết điểm vừa kể, cuốn Con Đường Tu Tắt đã nói lên được đôi phần ách yếu của pháp môn Tịnh Độ Hơn thế, cái tinh thần chí thành chí thiết được lồng vào trong lời văn chất phác, mộc mạc của soạn giả và điều đáng kể nhất là niềm tin son sắt vào cảnh Cực Lạc được thể hiện qua hành động tích cực, vô vị lợi, bằng cách chỉ muốn truyền rao pháp môn Tịnh Độ khắp nơi nơi của hai Phật tử ấn tống đã khiến tôi vô cùng cảm động, nên viết mấy dòng này để tỏ tình tùy hỉ, tán dương
Nguyện đem công đức này
Đức Phật Thích-Ca vì một sự đại nhân duyên mà ra đời, tức là ngài muốn cho tất
cả chúng-sinh thành Phật như ngài Nhưng vì căn-cơ trình-độ của chúng-sinh trong buổi đầu tiên học đạo còn non kém nên ngài quyền-biến tạm lập ra ba thừa; Thinh-Văn, Duyên-Giác, và Bồ-Tát Đến lúc các vị Tỳ-kheo kham lãnh đạo vô-thượng bồ-đề, Ngài bèn gom ba thừa qui vào Phật-thừa
Trang 36Đối với các pháp-môn tu-trì, hàng nhị thừa phải trải qua mười kiếp A-tăng-kỳ mới thành Phật Còn đối với Đại-thừa, ít nhất cũng phải ba kiếp A-tăng-kỳ Như vậy vấn đề thành Phật không pháp môn nào tu lẹ cho bằng pháp môn niệm Phật Người được vãng sanh không cần phải trải qua nhiều kiếp A-tăng-kỳ Tại sao vậy? Bởi vì chúng sanh tại nước Cực-lạc, do nguyện lực của Đức Phật A-Di-Đà,
ai ai cũng có sáu phép thần thông Chúng-sinh tại đây dùng phép thần thông đi khắp mười phương Phật để cúng dường, nghe Pháp, thành ra người nào cũng mau thành Phật Hơn nữa tại Tây-phương Cực-lạc quốc, chúng-sinh không cần bận tâm đến vấn đề ăn, mặc, ở Cái gì cũng do thần thông của Đức Phật A-Di-
Đà hóa hiện Muốn ăn cái chi, tự nhiên đồ ăn hóa hiện ra trong chén dĩa bằng thất-bảo Sau khi ăn, không cần dọn rửa, tự nhiên chén dĩa biến mất
Sở dĩ chúng sinh tại Tây phương mau thành Phật là vì muôn sự muôn vật cần dùng không phải lo nghĩ Tâm trí rảnh rang, lại thêm được làm bạn với các vị Đại-Bồ-Tát để tu học, do đó mà quả Phật chóng thành hơn các thế giới khác
Theo các pháp môn, người tu hành phải dứt hết phiền não, nhiễm ô, dứt hết nghiệp quả tộI chướng mới được giải thoát, chứng quả Niết-bàn Trái lại, pháp môn niệm Phật còn nghiệp quả mà cũng được vãng sinh Trong kinh Phật gọi là ỏđới nghiệp vãng sinhõ Đới nghiệp vãng sinh nghĩa là người tu hành còn mang nghiệp quả chưa dứt khoát trọn vẹn mà cũng được vãng sinh Chẳng khác nào như hòn đá tự nó lướt qua bể cả không được, nhưng nếu có thuyền bè chở qua biển, dù bao nhiêu hòn đá cũng vượt bể khơi được như thường
Cái hay của pháp môn niệm Phật là bất luận già, trẻ, bé, lớn, kẻ ngu người trí gì cũng đều tu được cả Bởi pháp môn niệm Phật rất dễ tu, dễ chứng, dễ thành nên mười người niệm Phật được vãng sinh hết chín, còn các pháp môn khác mười người tu chỉ chứng được một hai người mà thôi
Pháp môn niệm Phật sở dĩ mệnh danh là pháp môn tu tắt vì pháp môn này mau thành công hơn các pháp môn khác Đời mạt pháp nếu chúng ta không tu theo pháp môn niệm Phật thì không có pháp môn nào tu cho kịp hội Long Hoa Vậy chúng ta còn chần chờ gì nữa mà không mau mau tu theo pháp môn niệm Phật Nếu bỏ lỡ dịp này, sợ e thân này sau khi tan rã, chừng đó có muốn tu hành cũng không còn kịp để mà tu Sách Phật có nói rằng: nhơn thân nan đắc, nghĩa là thânnày khó được, đã được thân này mà không lo liệu tu hành cho sớm, có phải là uổng một kiếp sanh ra làm người chăng?
Nguyên Nhân Nào Phật Giảng Pháp Môn Niệm Phật
Trong kinh Đại Bổn Di Đà có nói : Một ngày kia, nơi pháp tọa, dung nhan của Đức Thế Tôn hiên ra nhan sắc một cách phi thường A-Nan là thị giả của Phật thấy vậy mới thưa rằng:
Bạch Đức Thế Tôn: Đệ tử đã từng theo hầu Phật lâu năm, đệ tử chưa lần nào thấy dung nhan của Đức Thế Tôn khác lạ như ngày hôm nay Chẳng biết nguyên
Trang 37nhân nào sắc mặt của Đức Thế Tôn hiện ra như vậy, xin Đức Thế Tôn vì chúng
đệ tử mà khai thị để hiểu rõ lý do
Này A-Nan! Hay thay, quí hóa thay lời hỏi của ngươi Dù cho có người nào đó đem hết năng lực ra cúng dường tất cả các bậc Thinh-Văn, Duyên-Giác trong một cõi thiên hạ và bố thí cho hết thảy cõi Trời, cõi người cùng các loài bò, bay, máy, cựa, trải đến kiếp nọ sang kiếp kia, cũng không thể nào bì kịp cái công đứccái câu hỏi của ngươi xấp đến trăm ngàn vạn ức phần Bởi vì do câu hỏi của ngươi, tất cả chư Thiên và vua chúa trong nhân gian cho đến những loài bò, bay,máy, cựa cũng nhờ câu hỏi của ngươi mà được độ cho thoát vòng luân hồi sanh
tử khổ ải
Này A-Nan! Ta có một pháp môn tu tắt, khó mà nói ra quá, bởi vì pháp môn nàyđòi hỏi người nghe phải có đức tin một cách quả quyết mới có thể tu trì được Trái lại, nếu thiếu đức tin, long còn do dự thì khó mà thành công đối với pháp môn này
Trên đây là lý do khởi nguyên Đức Thế Tôn giảng nói pháp môn niệm Phật Thực vậy, dù là pháp môn nào đi nữa cũng phải đòi hỏi hành giả phải có đức tin thật kiên cố mới mong thành công được Theo lời Đức Thế Tôn nói với A-Nan, thì pháp môn này có thể độ được loài côn trùng nữa nhưng vì chúng ta là thai phàm mắt thịt, không thấy được loài côn trùng được độ bằng cách nào Riêng đối với loài chim, loài sấu, ai có xem sự tích vãng sanh đều thấy rõ Loài sấu khi
tu hành, chúng không còn lội đi chỗ này chỗ nọ để săn thịt mà sống, chúng nó trầm sâu dưới đáy sông, nhiều khi chỗ đó thành cồn thành bãi mà chúng vẫn kiên trì nằm mãi một chỗ Còn như loài chim nhờ chủ nhà dạy cho niệm Phật, chúng nhái theo, đến khi chết chủ đem chôn, một ít lâu chỗ chôn xác chim mọc lên một đóa hoa sen Chủ nhà thấy vậy đào lên thấy hoa sen từ trong mỏ con chim mọc ra Chủ nhà biết rằng con chim đã được vãng sanh tịnh độ Hoa sen là tượng trưng cho pháp môn niệm Phật, người vãng sanh được hóa thân trong liên hoa, vì vậy Tịnh độ tông cũng gọi là Liên tông Hoa sen là biểu hiện của pháp môn niệm Phật vì đó mà chủ nhà quyết đoán rằng: Con chim của ông ta nuôi, được vãng sanh tịnh độ
Nhiều sự tích vãng sanh rất ly kỳ, xin xem phía sau sẽ thấy Nhứt là các sự tích vãng sanh, trong đó có kể sự tích đời nay để làm bằng cớ, chẳng phải hoàn toàn
kể chuyện đời xưa, nên không có gì mà khó tin
Sự Tích Đức Phật A-Di-Đà
Kinh Đại Bổn Di-Đà nói: Không biết bao nhiêu kiếp trước, có ông Phật ban sơ
ra đời là Thế Tự Tại Vương Phật đi dạy độ người hướng Tây nhằm nước Đại Quốc, ông vua Đại Quốc cũng đến nghe giảng, tỉnh ngộ mộ đạo Vua giao ngôi cho đông cung cai trị, theo thầy tu hành Thầy đặt pháp danh là Pháp Tạng Khi
ấy ông Pháp Tạng bạch với thầy mình nguyện bốn mươi tám điều độ tận chúng sanh mà đền ơn thầy Ngài tu hành tấn tới thành bậc Bồ Tát Trong thời kỳ tu luyện ngài làm phước, thông hiểu nghe thấy biết hết việc thế gian Ngài nhập vô
Trang 38thai theo các loài người, loài vật độ chúng nó tu luyện cho thành mà rước hồn vềTây phương cho trọn lời thề nguyện cao cả.
Tuy đã thành Phật mà vẫn giữ hạnh Bồ Tát, chẳng hưởng thanh nhàn, không nài cực khổ Trải qua mười triệu kiếp, nhập thai độ đủ các loài người và vật các nước khác, đem hồn về Tây phương nhập vô bông sen (liên hoa hóa thân như NaTra) chúng sanh tại nước Cực lạc không đầu thai nữa và cũng không chết mà cấp dưỡng vì biến hóa y phục phẩm thực mà bảo dưỡng làm âm nhạc nghe cho vui Hóa cung đền, đồ cần dùng thượng hang cho người ở nước mình vừa ý, vui lòng mà tu luyện cho lên chức Phật Phụ nữ tu hành cũng cho liên hoa hóa thân trai Từ đấy đặt tên là nước Cực-lạc nghĩa là rất vui Sau rước nhiều hồn người
và vật tu thành đem về Cực lạc mà nuôi nên xưng một hiệu nữa là nước dưỡng (nghĩa là nuôi cho an lòng) Đủ lời nguyện-y bốn mươi tám điều, ngài mới chịu thành Phật ở cõi Cực lạc, cứ lo tiếp dẫn chúng sanh niệm danh hiệu màtheo phép, thời lâm chung đi tiếp dẫn về Cực lạc cho liên hoa hóa thân nuôi dạy
An-tu luyện tham thiền cho thành Phật Vì cớ rước hồn người An-tu, nên ngài xưng Tiếp Dẫn Đạo Sư
Tại sao ngài xưng hiệu A-Di-Đà? Kinh Đại Bổn và Tiểu Bổn giải: bởi hào
quang Phật chiếu khắp mười phương, sống lâu không biết ngần nào, người trongnước cũng vậy và phước đức lớn nên xưng hiệu A-Di-Đà A là sống lâu Di là sáng lòa Đà là phước đức Ngụ ý là Phật bất tử, hào quang sáng lòa, phước đức đứng trên bực
Thế Giới Cực Lạc
Kinh Đại Bổn và Tiểu Bổn Di Đà nói: Đức Phật Thích Ca nói với ông Xá Lợi Phất rằng: Từ đây đi qua phương Tây cách mười muôn ức cõi Phật, có nước Cựclạc, Đức Phật nước ấy hiệu là A-Di-Đà đương giảng dạy cho chư Bồ Tát, DuyênGiác và Thinh Văn tu theo tịnh độ
Tại nước Cực lạc, những nhà cửa đều dùng bảy món báu làm ra, tốt hơn chỗ ở của Thiên Đế cõi trời gấp trăm lần Dân nơi đây muốn một món chi thì có món
ấy hiện tới Suốt ngày nghe âm nhạc vang rền khắp đó đây Duy khác một điều,
ai gắng công tu nhiều thì được lâu đài cao lớn, ai tu ít thì nhà cửa không được cao lớn nhưng không thiếu tiện nghi
Khắp nơi nơi có ao suối và có một hai món báu nơi ấy Vàng thì nhiều như cát, còn bạc thì ở dưới đáy nước lấp lánh trông rất đẹp Ao thủy tinh thì quanh ao là cát báu, dưới đáy ao có lưu ly phản chiếu Nước trong ao thì quí báu vô cùng; uống vào được hưởng tám điều quí (bát công đức) 1.- Trong sạch 2.- Mát 3.- Ngon ngọt 4.- Thơm nhẹ 5.- Thông trơn cổ 6.- Khỏe 7.- Hết khát khỏi đói 8.- Giúp cho lục căn được thanh khiết Nước này tánh chất cao quí chẳng khác chi nước Cam lộ vậy
Lại có hàng trăm thứ kỳ hoa dị thảo, mỗi nhành có muôn ngàn hoa lá đủ sắc thắm tươi xen nhau trổ tỏa mùi hương thơm làm cho lòng người lâng lâng khỏe khoắn
Trang 39Đường đi dựa mé sông, hồ ao đều có cây Chiên đàn thơm ngát Bông và trái kiếttường thơm ngào ngạt Trong hồ ao có bông sen năm sắc khoe màu Lại có cây
có bảy thứ báu, mỗi cây đều có một hay hai món báu Cây nào toàn một món báu thời rễ gốc, nhành lá, bông và trái đều một màu Cây nào hai món báu hiệp lại thì có hai sắc bông trái Những cây ấy mọc ngay hàng và giao cành cùng nhau, bông trái cùng đối diện nhau Khắp cùng cả nước đều một cảnh ấy xem đẹp vô ngần
Dưới đất nơi nào cũng có vàng, ngày đêm giờ nào cũng có bông Thiên mạn, bông Đà la rơi xuống như mưa, mùi thơm không thể tả mỗi lần mưa hoa, ngập đầy cả mặt đất, chân đi êm như nệm gấm Tuần tự trước sau hoa ấy héo dần rồi biến mất, mặt đất trở lại sạch sẽ Ngày đêm có sáu lần cảnh tượng ấy Người trong nước sáng ra lượm hai thứ bông đó (Thiên mạn và Đà la) đem cho dân nghèo đói ở các nước khác ăn thay cơm vì mùi thơm ngon và có hiệu lực làm cho hết đói Sau khi đi thí hoa rồi, về nước Cực lạc độ cơm giờ ngọ
Tới giờ ăn cơm ai cũng dùng chén bát thường bằng đồ thất bảo Muốn ăn món chi đều hiện đủ cả Sau khi dùng xong chén bát tự nhiên biến mất khỏi rửa Tới bữa khác muốn dùng món chi cũng có y như hôm trước
Cảnh sắc của nước Cực lạc thực là thoát tục Nơi đây mỗi khi có gió thì bảy vòng cây rào ngoài (cây báu lưới báu) đều khua nhau nghe như muôn ngàn tiếngnhạc hòa lẫn rất êm tai Vì thế mà khởi sanh tánh thiện thường vui hay nghĩ đến niệm Phật, ham nghe pháp
Ở Cực lạc có riêng ao báu lớn để tắm Ai xuống tắm muốn nước sâu, cạn, nóng, lạnh độ nào tùy theo ý muốn Tắm xong trên mình tỏa ra hương thơm, nghe tiếng nhạc trỗi du dương, xem hoa khoe màu trước gió Nếu ai không muốn nghe, tiếng nhạc tự nhiên không vào tai
Tóm lại, ai muốn điều gì cũng được toại nguyện cả
Nước Cực lạc có nhiều thứ chim sắc khác nhau; Hạc trắng, chim công, Anh võ,
Xá lợI, Ca lăng, Tăng già, Cọng mang Bảy thứ ấy thứ ấy nhiều vô kể Ngày đêm kêu hót tiếng giống như ngâm kệ, giảng kinh Tiếng thanh lảnh lót, ai nghe cũng nhớ mà niệm Phật Các chim ấy do Phật A Di Đà dùng thần thông hóa hiện
để nhắc nhở người nước ấy tinh tấn, phát tâm tu niệm chớ không phải là chim thật
Trong nước mọi người đều hiền lành Sống đời đời, kiếp kiếp ở xa bao nhiêu cũng thấy, nói chuyện đều nghe Mỗi người đều không đau ốm bệnh hoạn Có sắc diện xinh đẹp, không xấu như hồi còn xác phàm Người thì khỏe mạnh thôngthái, cả nước không ai ngu dốt Trong lòng thường tưởng việc đạo đức, nói ra những điều chánh lý nên dễ yêu thương nhau, không ai ganh ghét, đều biết tiền căn muôn kiếp, lại biết việc quá khứ, hiện tại và vị lai ở thế gian Trong lòng người nào tính chuyện chi ta đều biết trước lại biết kẻ bị đọa chừng nào đầu thailàm người Người chừng nào đắc quả vị Phật Sở dĩ biết trước được như vậy là
vì người nước Cực lạc đều có lục thông
Trang 40Niệm Di Đà Không Xao Lãng, Chắc Chắn Được Vãng Sanh
Kinh Tiểu Bổn có nói: Nếu có trai lành gái tín nào nghe danh hiệu Đức Phật A
Di Đà tin tưởng mà niệm danh hiệu Ngài từ một nhẫn đến bảy ngày đêm, lòng không xao lãng (tức là không lo tính việc khác) thì Đức Phật A Di Đà sẽ hiển ứng chứng minh Lúc lâm chung vẫn niệm danh hiệu ngài không mê muội, chắc chắn Phật cùng Thánh chúng đến tiếp độ về Cực lạc chẳng sai (về nước ấy được liên hoa hóa thân không còn sanh tử nữa)
Chúng tôi xin dẫn chứng câu chuyện sau đây: Chàng Oánh-Khoa, một người chỉbiết đến rượu thịt, không kể đến đạo đức, Phật pháp là gì Vậy mà sau khi xem truyện vãng sanh chỉ có một lần liền ngộ, bỏ cả rượu thịt, phát tâm niệm Phật Chàng niệm rất chí thành Vỏn vẹn được bảy ngày đêm, tự nhiên thấy Phật hiện
ra trước mặt nói rằng: Ngươi còn sống mười năm nữa phải tinh cần niệm Phật,
ta sẽ đến tiếp độ ngươi Nghe xong chàng nói: Cõi ta bà là cõi ác trược, dễ mất chánh niệm, con xin nguyện sớm sanh tịnh độ giúp việc Thánh chúng.Phật bảo: Ngươi chí thành, ba ngày nữa ta sẽ đến độ ngươi.Quả thật ba ngày sau chàng được vãng sanh
Đức Thế Tôn Dặn Dò Các Môn Đồ Sau Cùng
Kinh Tiểu Bổn Di Đà nói: Đức Phật Thích Ca nói với ông Xá Lợi Phất rằng: Nếu có ai đã phát nguyện rồi, hoặc mới phát nguyện ngày nay, hay sẽ lập
nguyện (tu Tịnh độ), khi lâm chung đều được vãng sanh Cực lạc Nếu có ai tu hành tấn tới, về Cực lạc sẽ thành ba phẩm Phật nhỏ: Tôn chứng, Thinh văn và Thượng thiện Nhơn Này Xá Lợi Phất! Các ngươi hãy tin lời ta mà tu Tịnh độ rất dễ thành Phật Các chư Phật khác cũng đều nói như ta vậy Người tu tịnh độ, bất cứ tại gia hay xuất gia gì cũng đều được về nước Cực lạc cả
Người ở trong cõi trần như bị vây trong thành, mau kiếm ngõ ra mới thoát khỏi, hầu về tới quê nhà Người tu theo Tịnh độ cũng vậy, cầu cho được giải thoát khỏi bể khổ luân hồi
Chính vì lòng từ bi thương xót chúng sanh nên Phật mới chỉ dạy pháp tu Tịnh độ
là con đường tắt duy nhứt mau đến chỗ giải thoát, ngỏ hầu tiến đến quả vị Phật
Sơ Lược Các Sự Tích Vãng Sanh
Từ xưa tới nay, muôn ngàn người ăn ở hiền lành, phần đông trước khi chết đều
bị mê muội, không ai biết trước ngày giờ chết để tắm gội sạch sẽ, tỉnh táo niệm Phật hoặc biết có mùi thơm hay nghe tiếng nhạc trên không Duy chỉ có những người tu Tịnh độ khi mãn phần có những điều dị thường như trên thì biết chắc hồn về Cực lạc
Nay tôi xin kể lại sơ lược một vài sự tích vãng sanh xưa và nay tại nước Tàu và Việt Nam ta để quí vị Đạo Tâm rộng đường suy xét hầu tu theo Tịnh độ Chẳng những người tu có kết quả mà loài thú biết niệm Phật cũng đặng vãng sanh nữa