Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Giáo dục Tiểu học. Nghiên cứu một số biện pháp sử dụng Văn học trong dạy học Địa lý 4 tạo hứng thú cho người học nhằm nâng cao chất lượng học tập. Sưu tầm những câu thơ, ca dao, tục ngữ phù hợp với nội dung bài học Địa lý 4 phục vụ cho việc giảng dạy.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ý thức được tầm quan trọng của giáo dục trong thời đại ngày nay, Đảng vàNhà nước ta luôn xem trọng giáo dục và xem giáo dục là “quốc sách hàng đầu”,luôn chú trọng đổi mới giáo dục.Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục,đào tạo, pháttriển nguồn nhân lực, đã từng được khẳng định trong các văn kiện Đảng trước đây.Đặc biệt, trong Nghị quyết số 29 của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI, khẳng địnhđây không chỉ là quốc sách hàng đầu, là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nướctiến lên phía trước, mà còn là “mệnh lệnh” của cuộc sống[9]
Trong quá trình dạy học việc nâng cao nhận thức và phát triển nhân cách toàndiện cho học sinh luôn được coi trọng các phương pháp và biện pháp dạy học khácnhau được tổ chức nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất cho việc dạy và học.Giáo dụcTiểu học là bậc học nền móng trong hệ thống giáo dục quốc dân, chất lượng giáodục phổ thông phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đào tạo ở trường Tiểu học Có thểnói, những kiến thức tiếp nhận ở trường Tiểu học là viên gạch đầu tiên trong lâu đàitri thức của mỗi người Do đó, cần phải có sự đầu tư hợp lí trong dạy và học để giúphọc sinh tư duy và lĩnh hội kiến thức được tốt hơn.Kiến thức trong Địa lí lớp 4 cũng
là một trong những “viên gạch” đầu tiên ấy
Địa lý là một môn học trong hệ thống các môn học của bậc Tiểu học Địa lí
có vị trí và vai trò to lớn trong việc cung cấp cho học sinh những kiến thức thực tếbao gồm: kiến thức về tự nhiên, kinh tế - xã hội và cả vốn sống Quan trọng hơn Địa
lí còn khơi gợi cho các em lòng yêu thích, ham muốn khám phá thiên nhiên đấtnước, con người Qua đó giáo dục lòng yêu tổ quốc, yêu quê hương, đất nước conngười Việt Nam Tuy vậy, lâu nay trong các môn ở Tiểu học, đa số giáo viên chútrọng nhiều môn Toán, Tiếng Việt.Những môn còn lại trong đó có Địa lí ít được chútrọng.Đây là một trong những nguyên nhân khiến giáo viên còn lúng túng tronggiảng dạy và truyền đạt kiến thức đến học sinh một cách khô khan Một bộ phậngiáo viên chú ý đến việc liên hệ giữa kiến thức lý thuyết với thực tiễn nhưng phần
Trang 2lớn giáo viên khi dạy các môn về Tự nhiên xã hội nói chung và Địa lí nói riêng đềumang tính đối phó,chưa tạo hứng thú cho học sinh trong học tập
Quá trình dạy – học là một hoạt động phức tạp, trong đó chất lượng và hiệuquả dạy học cơ bản phụ thuộc vào chủ thể nhận thức – người học Để việc học cóhiệu quả cao, người học phải thực sự hứng thú trong quá trình học, khi có hứng thú,say mê trong học tập thì việc lĩnh hội tri thức trở nên dễ dàng hơn Khi lĩnh hội đượckiến thức mới, người học lại có thêm hứng thú để tiếp tục quá trình học tập Để tạođược niềm hứng thú này, giáo viên có vai trò đặc biệt quan trọng Làm thế nào đểtạo hứng thú cho học sinh trong việc học Địa lí ? Có nhiều cách thức được áp dụngtrong dạy học, việc tích hợp văn học trong dạy học Địa lí lớp 4 cũng là một cáchthức Chính tính vần điệu, ngắn gọn, dễ nhớ của thơ văn khiến những kiến thứctrong sách giáo khoa trở nên nhẹ nhàng, dễ tiếp thu hơn sẽ tạo được hứng thú họctập Địa lý cho học sinh Vì vậy, chúng tôi đã mạnh dạn chọn và nghiên cứu đề tài :
“Sử dụng văn học trong dạy học phân môn Địa lí lớp 4nhằm tạo hứng thú cho học sinh”
2 Mục đích nghiên cứu
- Vận dụng tư liệu văn học trong quá trình dạy học địa lí nhằm tạo hứng thú
và nâng cao kết quả học tập cho học sinh
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Sử sụng thơ văn học trong dạy học phân môn Địa lí lớp 4
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học Địa lí lớp 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận liên quan đến việc sử dụng văn học trong dạy họcnhằm tạo hứng thú cho học sinh trong phân môn Địa lí lớp 4
- Thực trạng dạy học và việc sử dụng văn học trong dạy học Địa lí lớp 4
Trang 3- Sưu tầm và giới thiệu một số bài thơ, ca dao, tục ngữ có thể sử dụng đểgiảng dạy môn Địa lí lớp 4.
- Đưa ra cách sử dụng văn học trong một số nội dung dạy học Địa lí lớp 4
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi đã áp dụng một số phươngpháp nghiên cứu chính sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
5.1.1 Phương pháp phân tích,tổng hợp lý thuyết
Thu thập các tài liệu, các tư liệu văn học có liên quan đến nội dung của đề tài
Từ đó, chọn lọc các tư liệu cho phù hợp với từng nội dung của đề tài, tiến hành phântích tư liệu, tổng hợp, đánh giá và liên hệ tư liệu với nội dung đề tài
5.1.2 Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết
Sắp xếp các tài liệu khoa học thành một hệ thống logic chặt chẽ theo từngmặt, từng đơn vị kiến thức làm cơ sở lý luận cho đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1 Phương pháp quan sát
Trong thời gian thực tập tại trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, chúng tôi tổchức quan sát các tiết dạy học Địa lí của giáo viên và thời gian tự học của học sinh
5.2.2 Phương pháp khảo sát điều tra
Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu việc dạy học Địa lí lớp 4 trong phần điềutra và thực nghiệm
5.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Tiếp thu các ý kiến đóng góp của thầy cô hướng dẫn và các thầy cô khác đểđịnh hướng đúng đắn trong quá trình nghiên cứu góp phần hoàn thiện nội dungnghiên cứu
5.2.4 Phương pháp thực nghiêm sư phạm
Chúng tôi tiến hành dạy ở lớp đối chứng và thực nghiệm, kết quả thựcnghiệm là cơ sở để kiểm chứng tính khả thi của đề tài
Trang 45.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng công thức toán học để xử lý số liệu từ kết quả điều tra thực trạng vàthực nghiệm
6 Lịch sử nghiên cứu
Việc tích hợp văn học nói chung vào dạy và học một số bộ môn ở trường phổthông đã và đang dần được quan tâm, chú ý Việc tích hợp văn học trong giảng dạyđược nghiên cứu và vận dụng bước đầu đã tạo ra được những kết quả khả quan,nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường, cụ thể:
- Hồ Văn Việt (2014), “Vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học Địa lí THPT”, SKKN, Trường THPT Cù Huy Cận, Hà Tĩnh.
- Nhóm giáo viên sinh học (2013), “Sử dụng ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong giảng dạy bộ môn sinh học ở trường THCS”, SKKN, Trường THCS Phúc
- Trần Thị Huệ (2016), “ Kết hợp ca dao-tục ngữ, thơ ca trong giảng dạy, tạo
sự yêu thích môn Địa lí cho học sinh lớp 10”, SKKN, Trường THPT Nguyễn Văn
Cừ, Bà Rịa - Vũng Tàu
- Nguyễn Phương Thảo (2014), “ Sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong giảng dạy Địa lí 12 (phần Địa lí tự nhiên) nhằm tạo hứng thú cho học sinh” SKKN,
Vĩnh Phúc
Như vậy, đã có rất nhiều các đề tài, SKKN của các giáo viên tại các trường cơ
sở nghiên cứu về vận dụng văn học trong dạy học một số môn học như: Sinh học,Giáo dục công dân, Lịch sử,nhưng chủ yếu tập trung ở các cấp THPT và THCS.Mặc
Trang 5dù, một số giáo viên đã nghiên cứu về việc tích hợp ca dao-tục ngữ, thơ ca tronggiảng dạy Địa lí ở cấp THPT và THCS nhưng chưa có đề tài, SKKN vào nghiên cứutích hợp ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí cấp Tiểu học.
Do vậy, nếu việc sử dụng văn học trong dạy học phân môn Địa lí lớp 4 thànhcông thì việc tiếp thu kiến thức của học sinh sẽ tốt hơn, học sinh sẽ hứng thú hơn vớimôn học, am hiểu và thích thú trong việc tìm hiểu về Địa lí
8 Phạm vi giới hạn nghiên cứu
Do tính chất phong phú và đa dạng về thể loại của văn học, đề tài chỉ tậptrung nghiên cứu và vận dụng thơ ca, ca dao-tục ngữ trong dạy học nội dung Địa lílớp 4
Trang 6NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ
DỤNG VĂN HỌC TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 4 1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Văn học
Văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội
và con người Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu, cách thểhiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ Khái niệm văn học đôi khi cónghĩa tương tự như khái niệm văn chương và thường bị dùng lẫn lộn Tuy nhiên, vềmặt tổng quát, khái niệm văn học thường có nghĩa rộng hơn khái niệm văn chương,văn chương thường chỉ nhấn mạnh vào tính thẩm mĩ, sự sáng tạo của văn học vềphương diện ngôn ngữ, nghệ thuật ngôn từ.[13]
1.1.2 Các thể loại văn học:
Văn học có các thể loại khác nhau như:
-Trữ tình : Thơ, cao dao, tục ngữ, từ khúc, truyện thơ, trường ca, thơ trườngthiên
-Tác phẩm tự sự: Truyện ngắn, truyện vừa, sử thi, ngụ ngôn
1.1.2.2 Ca dao
Ca dao là những bài hát được lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặckhông có khúc điệu nhằm diễn tả tình cảm và miêu tả đời sống của nhân dân laođộng.[4]
Trang 71.1.2.3 Tục ngữ
Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức củanhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễtruyền.Nội dung tục ngữ thường phản ánh những kinh nghiệm về lao động sản xuất,ghi nhận các hiện tượng lịch sử xã hội, hoặc thể hiện triết lý dân gian của dân tộc.[4]
1.1.3 Địa lí
Địa lí mang tính liên ngành bao gồm tất cả những hiểu biết về Trái Đất và tất
cả những mối quan hệ phức tạp giữa con con người và tự nhiên - không chỉ đơnthuần là nơi có các đối tượng đó, mà còn về cách chúng thay đổi và đến được nhưthế nào Địa lí đã được gọi là "ngành học về thế giới" và "cầu nối giữa con người
và khoa học vật lý".[5]
1.1.4 Hứng thú và hứng thú học tập
*Hứng thú là thái độ con người đối với sự vật, hiện tượng nào đó Hứng thú
là biểu hiện của xu hướng về mặt nhận thức của cá nhân với hiện thực khách quan,biểu hiện sự ham thích của con người về sự vật, hiện tượng nào đó.[10]
Hứng thú của cá nhân được hình thành trong quá trình nhận thức và hoạtđộng thực tiễn Hứng thú tạo nên ở cá nhân những khát vọng tiếp cận và đi sâu vàođối tượng Khát vọng này được biểu hiện ở chỗ: Chủ thể tập trung chú ý cao độ vào
“đối tượng” tạo hứng thú, chủ thể hướng dẫn và điều chỉnh hành vi để chinh phụcđối tượng” hành vi tích cực của chủ thể trong hoạt động dù phải vượt qua muônngàn khó khăn
*Hứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệt của học sinh đối với đốitượng của hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nótrong đời sống cá nhân.Trong học tập nếu có sự hứng thú thì sẽ đạt thành tích cao,
có một vốn kiến thức sâu rộng và khơi nguồn mạch của sự sáng tạo.[10]
1.2 Một số vấn đề về phân môn Địa lí lớp 4
1.2.1 Mục tiêu dạy học phân môn Địa lí lớp 4
Trang 8Mục tiêu trong dạy học phân môn Địa lí lớp 4 nhằm giúp học sinh hiểu biết
về môi trường xung quanh, từ đó tạo điều kiện cho học sinh dễ dàng hòa nhập, thíchứng với cuộc sống xã hội, với môi trường thiên nhiên Cụ thể:
Về kiến thức:
Hình thành cho học sinh một số biểu tượng, khái niệm, mối quan hệ địa líđơn giản thông qua những sự vật hiện tượng địa lí cụ thể của đất nước ở miền núi vàtrung du, miền đồng bằng và duyên hải
Về kĩ năng :
Bước đầu hình thành và rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng địa lí như: kĩnăng quan sát sự vật, hiện tượng địa lí; kĩ năng sử dụng bản đồ; kĩ năng nhận xét, sosánh, phân tích số liệu; kĩ năng phân tích các mối quan hệ địa lí đơn giản
Về thái độ :
Góp phần bồi dưỡng và phát triển ở học sinh thái độ và thói quen
Ham hiểu biết, yêu thiên nhiên, đất nước, con người, có ý thức và hành độngbảo vệ môi trường
1.2.2 Nội dung, chương trình dạy học phân môn Địa lí lớp 4
Phần Địa lí lớp 4 gồm những nội dung chính :
- Bản đồ và cách sử dụng bản đồ về các yếu tố Địa lí Việt Nam
- Thiên nhiên và hoạt động sản xuất của con người ở miền núi và Trung du(dãy núi Hoàng Liên Sơn, Tây Nguyên, Trung du Bắc Bộ)
- Thiên nhiên và hoạt động sản xuất của con người ở đồng bằng (đồng bằngBắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ, đồng bằng duyên hải miền Trung)
- Vùng biển Việt Nam
Chương trình dạy học phân môn Địa lí lớp 4:
Chương trình học gồm 35 tiết được phân bố 1 tiết / 1 tuần Trong đó, có 1 bài
mở đầu, 9 bài về vùng núi và trung du, 12 bài về các đồng bằng lớn như đồng bằngBắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, 7 bài về đồng bằng duyên hải miền Trung và
6 bài ôn tập kiểm tra cuối học kỳ
Trang 91.3 Một số vấn đề về sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí lớp 4
1.3.1 Sự cần thiết của việc sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí lớp 4
Ca dao - tục ngữ, thơ ca không chỉ là những là những câu từ có vần điệu, dễthuộc, dễ nhớ mà còn chứa đựng rất nhiều tri thức kinh nghiệm của nhân loại
Ca dao-tục ngữ thuộc thể loại văn học truyền miệng, được đúc kết từ kinhnghiệm cuộc sống của hàng ngàn thế hệ người dân Việt Nam về các mối quan hệgiữa tự nhiên - tự nhiên, giữa thiên nhiên – con người, thiên nhiên – sản xuất và cácquy luật tự nhiên về khí hậu, thời tiết Mặc dù vào thời điểm đó trình độ nhận thứccủa con người còn hạn chế nhưng những hiện tượng địa lí đã được miêu tả với độchính xác cao thể hiện qua các câu ca dao-tục ngữ Bên cạnh việc miêu tả các hiệntượng địa lí đã từng diễn ra, ca dao-tục ngữ còn lưu giữ những kinh nghiệm ứng phóvới các hiện tượng địa lí cực đoan (lũ lụt, hạn hán,…) hoặc dự đoán các hiện tượngđịa lí sẽ xảy ra trong thời gian ngắn như:
Ráng vàng trời gió, ráng đỏ trời mưa.
đó, việc sử dụng ca dao-tục ngữ, cũng góp phần làm giàu vốn kiến thức cho học sinh
về văn học Việt Nam, hình thành nhân cách cho học sinh trong thời kỳ hội nhập vớikhu vực và thế giới hiện nay Việc tiếp thu có chọn lọc giúp học sinh còn lưu giữ vàphát huy nét văn hóa độc đáo, giàu bản sắc của dân tộc
Tích hợp ca dao-tục ngữ, thơ ca trong hình thành kiến thức, kĩ năng sẽ hìnhthành cho học sinh một thái độ tích cực trong cuộc sống Quan trọng hơn là học sinh
có thể vận dụng tri thức kinh nghiệm trong ca dao-tục ngữ và thơ ca bổ sung vào bài
Trang 10học nhằm hình thành tri thức khoa học Ngược lại, học sinh cũng có thể sử dụngnhững tri thức khoa học vào giải thích các hiện tượng địa lí diễn ra trong tự nhiên.Đây chính là một trong những mục đích quan trọng của giáo dục và phù hợp với đặcđiểm chung của chương trình các môn về Tự nhiên xã hội Do vậy, có thể nói sửdụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong việc giảng dạy địa lí là một việc làm cần thiết vàhiệu quả.
1.3.2 Mức độ tích hợp ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí lớp 4
Có nhiều biện pháp gây hứng thú học tập cho học sinh như: sử dụng đồ dùngdạy học trực quan hiệu quả, tổ chức tham quan dã ngoại, tổ chức chương trình ngoạikhóa, tổ chức trò chơi địa lí,… Trong đó, việc sử dụng ca dao - tục ngữ, thơ ca saocho phù hợp cũng là một cách thức tạo được sự mới lạ và thích thú đối với học sinh
Có nhiều cách để sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học địa lí Tuỳvào từng bài, từng nội dung mà giáo viên đề ra mục đích, yêu cầu cần đạt trong quátrình giảng dạy nhằm lựa chọn những phương thức vận dụng ca dao-tục ngữ, thơ catrong dạy học Địa lí lớp 4 phù hợp
Trong quá trình giảng dạy, để khai thác hiệu quả ca dao-tục ngữ trong giảngdạy Địa lí có thể sử dụng các phương thức sau:
1.3.2.1 Tích hợp với mức độ toàn phần
Sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí lớp 4 với mức độ toànphần là việc giáo viên sử dụng những câu ca dao-tục ngữ, thơ ca nói về hiện tượngđịa lí nhằm giải quyết nội dung và mục tiêu của bài học
Ca dao-tục ngữ, thơ ca nói chung và ca dao-tục ngữ, thơ ca về Địa lí nói riêngvới phong cách ngôn ngữ đơn giản, mộc mạc, dễ hiểu và có nhịp điệu sẽ giúp họcsinh ghi nhớ, giải thích các hiện tượng địa lí một cách dễ dàng và nhanh chóng Họcsinh không những giải thích được hiện tượng địa lí có trong tự nhiên mà còn vậndụng những tri thức khoa học tích lũy trong nhà trường vào thực tế cuộc sống để tựbảo vệ mình và những người xung quanh khi có các hiện tượng địa lí cực đoan xảyra
Trang 111.3.2.2 Tích hợp với mức độ bộ phận
Cũng như mức độ sử dụng toàn phần, sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca vào cácbài học Địa lí ở mức độ bộ phận cũng nhằm kích thích sự hứng thú của học sinh,làm giảm bớt sự căng thẳng trong giờ học và giúp học sinh lĩnh hội tri thức một cáchsâu sắc, hiệu quả Tuy nhiên, sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí ởmức độ bộ phận chỉ dừng lại ở việc dùng ca dao-tục ngữ, thơ ca như là một tư liệunhằm minh chứng cho một hiện tượng địa lí xảy ra trong quá khứ hoặc hiện tại như:
Hải Vân đèo lớn vượt qua, Mưa xuân ai bỗng hóa ra nắng vàng.
Hay đơn giản chỉ là xác định các địa danh ở địa phương và Việt Nam như:
Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm
Như vậy, khi sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí lớp 4, chúng
ta có thể sử dụng ở hai mức độ bộ phận và toàn phần Tùy thuộc vào nội dung vàmục tiêu của từng bài giáo viên sẽ lựa chọn các mức độ sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ
ca trong dạy học Địa lí lớp 4 khác nhau nhưng cuối cùng đều nhắm đến mục tiêu làkích thích sự tò mò, ham học hỏi của học sinh, biến những kiến thức khô khan, phứctạp thành đơn giản, dễ hiểu
1.3 Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 4
* Về Tri giác
Tri giác của học sinh lớp 4 mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tínhkhông ổn định tri giác và bắt đầu mang tính xúc cảm, HS thích quan sát các sự vậthiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn, Tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, cóphương hướng rõ ràng Trong quá trình học tập, tri giác trở thành hoạt động có mụcđích đòi hỏi phải phân tích, tổng hợp từ đó tri giác của học sinh sẽ mang tính chấtcủa sự quan sát có tổ chức Do vậy, sự phát triển của tri giác trong học sinh Tiểu họcgiáo viên đóng vai trò rất quan trọng, giáo viên là người hình thành các kĩ năng vàdần hình thành tri giác có chủ đích cho học sinh []
Trang 12Việc sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí 4 đã tạo sự tò mòcho học sinh Để kích thích được sự hứng thú của học sinh giúp học sinh giúp việckhai thác nội dung bài học tốt hơn thì việc lựa chọn và sử dụng những câu thơ, cadao, tục ngữ cần phù hợp với khả năng tri giác của học sinh, không quá khó và tạođược sự lôi cuốn với học sinh.
* Về chú ý
Lớp 4 trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý
có chủ định phát triển và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạtđộng học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài…Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã địnhlượng được khoảng thời gian cho phép để làm một công việc nào đó và cố gắnghoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định
Vì vậy, trong quá trình dạy học Địa lí giáo viên nên chú ý đến việc khai thác,
sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca một cách hợp lý, chú ý về độ dài của bài thơ khi sửdụng
* Về tư duy
Tư duy của học sinh lứa tuổi này còn mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm
ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụthể sang tư duy trừu tượng khái quát Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứatuổi; lớp 4 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Học sinh đã bắt đầu muốn tìm tòi,khám phá, phát hiện những vấn đề mới Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợpkiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh Tiểu học
Do vậy, việc vận dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí lớp 4 kíchthích được ham muốn tìm tòi khám phá của học sinh Từ đó học sinh phát hiện ravấn đề cần giải quyết và tìm cách giải quyết Tuy nhiên, những câu ca dao-tục ngữ,thơ ca cần phải đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với trình độ tư duy của học sinh
* Về trí nhớ
Trang 13Học sinh Tiểu học thường ghi nhớ một cách máy móc do vốn ngôn ngữ còn
ít Học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 4 nói riêng có xu hướng học thuộclòng từng câu, từng chữ những kiến thức được giáo viên cung cấp mà đôi khi khônghiểu nội dung, ý nghĩ của vấn đề Như vậy, sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạyhọc nói chung và Địa lí nói riêng là dựa trên cơ sở đặc điểm tâm lý của học sinh vềtrí nhớ Ca dao-tục ngữ, thơ ca với đặc trưng ngôn ngữ là dễ nhớ, dễ thuộc, gần gũivới nhân dân nên việc sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca có nội dung phản ánh các hiệntượng địa lí, địa danh, hoạt động sản xuất của con người để dạy về các bài Địa lí lớp
4 sẽ mang lại hiệu quả cao mà không làm tăng nội dung bài học
Ngoài ra, trí nhớ của học sinh lớp 4 đã dần hoàn thiện, học sinh biết chọn lọcnhững gì mình cần nhớ nhằm giúp bản thân dễ hiểu, dễ nhớ và dễ vận dụng kiếnthức đã học vào cuộc sống Như vậy, khi sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạyhọc Địa lí, chúng ta không lo học sinh chỉ nhớ những câu ca dao-tục ngữ, thơ ca mộtcách máy móc mà không hiểu Học sinh sẽ tự chọn lọc và sắp xếp những hiện tượngđịa lí được nêu trong câu ca dao-tục ngữ, thơ ca vào bài học Địa lí và xâu chuỗichúng thành kiến thức khoa học hoàn chỉnh
* Về ý chí
Học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 4 nói riêng, ý chí còn chưa thực
sự hoàn thiện và thiếu bền vững Học sinh còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố bên ngoàinhư: bạn bè, thầy cô,…và thực hiện hành vi còn hứng thú nhất thời Đặc biệt, họcsinh lớp 4 chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn
Do vậy, khi gặp khó khăn trong học tập học sinh thường không quyết tâm mà bỏ quakiến thức đó và coi đó là việc hết sức bình thường Vậy, để khắc phục đặc điểm tâm
lý về ý chí, đặc biệt là ý chí học tập của học sinh, giáo viên cần có những biện phápphù hợp nhằm giúp học sinh vượt qua được bài tập bằng sức của mình Một trongnhững biện pháp hiệu quả là làm cho những kháo khăn trở nên dễ dàng hơn Sửdụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí lớp 4 sẽ làm cho những khó khăntrong học tập của học sinh giảm bớt, hiệu quả tăng lên
Trang 141.4 Thực trạng của việc sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí lớp 4
1.4.2 Mục đích điều tra
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, việc sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạyhọc Địa lí lớp 4 là cần thiết Vấn đề đặt ra là sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trongdạy học Địa lí lớp 4 của giáo viên phải phù hợp với từng nội dung bài học Địa lí, tạo
sự hứng thú chocủa học sinh Để tìm hiểu thực trạng này, chúng tôi đã điều tra một
số lớp của khối 4 của trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, thành phố Tam Kỳ, tỉnhQuảng Nam nhằm lấy số liệu thực tiễn cho đề tài nghiên cứu
1.4.3 Đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, đối tượng của chúng tôi tiến hành điềutra là 6 giáo viên dạy Địa lí lớp 4 và học sinh của 4 lớp là 4/1, 4/2, 4/3, 4/4 trườngTiểu học Nguyễn Văn Trỗi, thành phố Tam Kỳ,tỉnh Quảng Nam
Tất cả các giáo viên mà chúng tôi điều tra đều đạt chuẩn, đều tốt nghiệp Caođẳng sư phạm, Đại học sư phạm Do đó,giáo viên đã có kinh nghiệm, kiến thức vềcác cách giảng dạy Bên cạnh đó, thâm niên giảng dạy bình quân của các giáo viênđược khảo sát từ 10 năm trở lên Như vậy, thành phần giáo viên tham gia khảo sátđảm bảo những yêu cầu của việc khảo sát
1.4.4 Nội dung điều tra
1.4.4.2 Đối với học sinh
Chúng tôi điều tra bằng cách phát phiếu điều tra Nội dung phiếu điều tragồm các vấn đề về sự hứng thú với môn Địa lí, thái độ học tập môn Địa lí và nhữnghoạt động trong giờ học Địa lí của học sinh
1.4.4.3 Đối với giáo viên
Chúng tôi cũng điều tra bằng cách phát phiếu lấy ý kiến giáo viên Nội dungphiếu lấy ý kiến gồm các vấn đề:
Những phương pháp sử dụng trong dạy học Địa lí
Việc vận dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí của giáo viên
Trang 15Khó khăn giáo viên gặp phải khi vận dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạyhọc Địa lí.
Đóng góp ý kiến của giáo viên trong việc vận dụng ca dao-tục ngữ, thơ catrong dạy học Địa lí
1.4.5 Phương pháp điều tra
- Phương pháp điều tra: Xây dựng các phiếu điều tra gồm hệ thống các câu hỏi
về thực trạng việc vận dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí lớp 4 Tổng
số phiếu phát ra là 156 phiếu (6 phiếu cho giáo viên, 150 phiếu cho học sinh của bốnlớp 4/1, 4/2, 4/3, 4/4) và tổng số phiếu thu lại là 156 phiếu
- Phỏng vấn, trò chuyện với giáo viên, học sinh Tiểu học về cách thức giảngdạy, khó khăn trong việc vận dụng thơ, văn trong dạy học Địa lí
- Phương pháp quan sát: Tham gia các tiết dạy của giáo viên để quan sát, theodõi cách tiến hành dạy
1.4.6 Kết quả điều tra
Qua quá trình điều tra, chúng tôi thu được kết quả như sau:
* Đối với học sinh
Phiếu điều tra phát ra 150, thu về 150 Kết quả thu được như sau:
*Nội dung 1: Hứng thú của học sinh với môn Địa lí
Bảng 1.1: Mức độ hứng thú của học sinh với môn Địa lí
Trang 1646.98%
36.22%
Rất thích Thích Không thích
Qua kết quả thu được thể hiện trong biểu đồ 1, ta nhận thấy rằng 63,4% họcsinh thích và rất thích học môn Địa lí và 36% học sinh không thích môn Địa lí Điềunày cho thấy hứng thú với môn Địa lí ở các em học sinh là có Tuy nhiên, số lượnghọc sinh không hứng thú với môn học này vẫn không nhỏ Từ đây, chúng ta sẽ tìmnguyên nhân và giải pháp để các em hứng thú với giờ học Địa lí
*Nội dung 2: Thái độ của học sinh đối với môn Địa lí
Qua quá trình điều tra lấy ý kiến, chúng tôi thu được những kết quả như sau:
Bảng 1.2: Mức độ đánh giá môn học Địa lí của học sinh
Trang 17Rất quan trọng Quan trọng Không quan trọng 0
Biểu đồ 2: Học sinh đánh giá về môn học Địa líTrong 150 học sinh tham gia vào quá trình điều tra, chỉ có 15,3% học sinhcho rằng Địa lí là môn học rất quan trọng và 36% học sinh cho rằng Địa lí là mônhọc quan trọng Trong khi đó có đến 73 học sinh (48,7%) cho rằng Địa lí không phải
là môn học quan trọng Điều này ảnh hưởng đến sự quan tâm của học sinh đối vớimôn học cũng như việc dành thời gian cho việc học không cao
Chúng tôi cũng đã tiến hành điều tra về việc học sinh dành thời gian tự họcĐịa lí như thế nào, qua quá trình tìm hiểu chúng tôi thu được kết quả sau:
Bảng 1.3:Thời gian tự học của học sinh
Trang 18Qua bảng số liệu và biểu đồ có thể thấy rằng học sinh dành thời gian cho việc
tự học rất ít, mức độ thường xuyên chỉ có 25 học sinh (16,7%), học sinh không baogiờ dành thời gian cho việc tự học có đến 56 học sinh (37,3%) Điều này cho thấyhọc sinh vẫn chưa chú trọng đến việc học nhiều
Bảng 1.4: Học sinh sưu tầm ca dao-tục ngữ, thơ ca trong việc học Địa lí
Trong 150 học sinh tham gia phiếu điều tra thì có đến 92 (61,3%)học sinhtrong quá trình học không bao giờ dành thời gian cho việc sưu tầm ca dao-tục ngữ,thơ ca cho việc học Địa lí Tỉ lệ học sinh quan tâm và dành thời gian sưu tầm thơ catích hợp vào học Địa lí còn rất thấp là 12 học sinh (8%)
*Nội dung 5:Những hoạt động của học sinh trong giờ học Địa lí
Qua việc điều tra, đa số học sinh đều trả lời trong giờ học Địa lí việc nghegiảng và ghi chép là chủ yếu học sinh được tham gia thảo luận và thực hành nhưngvẫn còn hạn chế Học sinh không tự đưa ra vấn đề mà các em quan tâm và đề xuấtcác hướng giải quyết vấn đề
Đánh giá chung
Biểu đồ 3: Thời gian tự học của học sinh
Trang 19Nhìn chung học sinh có sự yêu thích đối với môn Địa lí Tuy nhiên, vẫn còn học sinh vẫn chưa có sự quan tâm với môn học này Việc sưu tầm thông tin cho mônhọc vẫn còn hạn chế ở các em.
* Đối với giáo viên
*Nội dung 1:Khó khăn khi dạy học Địa lí của giáo viên
Để tìm hiểu việc dạy học Địa lí của giáo viên có gặp khó khăn gì,giáothường sử dụng những phương pháp dạy học nào, chúng tôi dã tiến hành lấy ý kiếncủa 6 giáo viên khối lớp 4 và thu được những kết quả sau:
Bảng 1.5: Khó khăn giáo viên gặp phải khi dạy Địa lí
Kiến thức khô khan gây khó khăn trong
Trang 20Qua quá trình lấy ý kiến và dựa vào bảng số liệu, hầu hết các giáo viênthường xuyên sử dụng phương pháp đàm thoại và quan sát trong dạy học, bên cạnh
đó có một số giáo viên có sử dụng các phương pháp khác như thực hành, thảo luậnnhóm và điều tra Việc chưa phối hợp hoặc chưa vận dụng tối đa các phương phápdạy cũng là một trong những nguyên nhân làm cho giờ học không đạt được kết quảtốt
*Nội dung 2:Việc sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí của
Số lượng Column1
Trong tổng số 6 giáo viên nhận phiếu điều tra có đến 50% số viên cho rằngviệc sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí là không cần thiết Chỉ có 1Biểu đồ 4: Sự cần thiết của việc sử dụng ca dao – tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí
Trang 21giáo viên coi việc làm trên là cần thiết Điều này cho thấy việc sử dụng văn họctrong dạy học Địa lí ở trường Tiểu học vẫn chưa được giáo viên thực hiện nhiều.
Để điều tra về mức độ sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong Địa lý 4, trước tiênchúng tôi thống kê số lượng giáo viên đã từng sử dụng và chưa từng sử dụng tronggiảng dạy Kết quả: 01 GV (chiếm 16,7%) đã từng sử dụng, 05 GV (chiếm 83,3%) làchưa từng sử dụng và hiện tại tất cả các giáo viên đều không sử dụng Sau đó, với câu
hỏi “Nếu phải sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí, Thầy (cô) sẽ sử dụng ở mức độ nào?”, chúng tôi đã thu được kết quả được thể hiện qua bảng 1.8
Bảng 1.8: Mức độ sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí
Khi điều tra lý do chỉ sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca ở mức độ không thườngxuyên của 05 GV , chúng tôi nhận được kết quả sau:
DÙNG CÂU 7 TRONG PHIẾU ĐIỀU TRA
Đánh giá chung
Hầu hết giáo viên không sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí.Giáo viên chưa quan tâm nhiều đến việc sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạyhọc để tạo sự hứng thú học tập cho học sinh,làm cho tiết học trở nên sinh động vàgiúp học sinh có được kiến thức nội dung bài học
Tiểu kết chương 1
Qua nghiên cứu, tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc vận dụng thơ,văn trong dạy học Địa lí lớp 4, chúng tôi nhận thấy đây là một việc hết sức quantrọng, cần thiết để giúp học sinh có hứng thú với phân môn Địa lí nhằm đạt hiệu quảtrong dạy học
Từ việc tìm hiểu thực trạng ở trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi cho thấy việcyêu thích giờ học Địa lí của học sinh lớp 4 còn thấp, đa số các học sinh cảm thấy
Trang 22không hứng thú Nên việc nghiên cứu đề tài này sẽ tạo được hứng thú cho học sinhtrong giờ học Địa lí, giúp các em có được kết quả cao đói với môn học.
Trang 23CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CA DAO-TỤC NGỮ, THƠ CA
TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN ĐỊA LÍ LỚP 4
2.1 Cơ sở đề xuất biện pháp
2.1.1 Dựa vào mục tiêu, nội dung dạy học Địa lí lớp 4
Phân môn Địa lí lớp 4 cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về các
sự vật, hiện tượng Địa lí và các mối quan hệ Địa lí ở Việt Nam, đặc điểm vùngmiền,kinh tế Bước đầu hình thành và rèn luyện cho học sinh các kỹ năng: Quan sát
sự vật, hiện tượng địa lí từ các nguồn thông tin khác nhau; nhận biết các sự vật, hiệntượng; trình bày kết quả nhận thức bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ, biểu đồ,…;vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn Góp phần bồi dưỡng và phát triển ởhọc sinh những thái độ và thói quen: yêu thiên nhiên, con người, quê hương đấtnước; tôn trọng và bảo vệ cảnh quan thiên nhiên
Vì vậy, việc lựa chọn và vận dụng thơ, văn cần phù hợp với nội dụng chươngtrình và đảm bảo được mục tiêu của bài học cũng như mục tiêu cấp học
2.1.2.Dựa vào đặc điểm tâm lý, nhận thức của học sinh lớp 4
Đối với học sinh lớp 4 thì tri giác của các em phản ánh những thuộc tính trựcquan, cụ thể của sự vật, hiện tượng và xảy ra khi chúng trực tiếp tác động lên giácquan Tri giác giúp cho học sinh định hướng nhanh chóng và chính xác hơn Tri giáccòn giúp cho trẻ điều chỉnh hoạt động một cách hợp lý Bên cạnh sự phát triển củatri giác, chú ý có chủ định của học sinh còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý có ý chíchưa mạnh Vì vậy, việc sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí cần kếthợp với đồ dùng dạy học trực quan (tranh ảnh) để tổ chức sự chú ý cho học sinh.Nhu cầu hứng thú có thể kích thích và duy trì chú ý không chủ định cho nên giáoviên cần tìm cách làm cho giờ học hấp dẫn để lôi cuốn sự chú ý của học sinh
Vì vậy, giáo viên cần dựa vào đặc điểm nhận thức của học sinh để có thể khaithác tốt nội dung bài học và có phương pháp dạy học hiệu quả từ việc vận dụng cadao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí
Trang 242.2.3 Thực trạng của việc sử dụng thơ văn trong dạy học Địa lí lớp 4
Qua quá trình điều tra thực trạng, chúng tôi nhận thấy rằng việc sử dụng cadao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí lớp 4 của giáo viên hiện nay chưa đượcthực hiện Đã có giáo viên từng sử dụng tư liệu văn học trong dạy học Địa lí nhưngphần lớn giáo viên chỉ thỉnh thoảng sử dụng ở mức độ giới thiệu bài mới, chưa đisâu vào việc khai thác nội dung bài học, giải thích các hiện tượng địa lí.Các giờ dạyĐịa lí vẫn chưa tạo được sự hứng thú cho học sinh, làm cho học sinh không quantâm đến môn học
Đổi mới phương pháp dạy học và xây dựng hình thức, hoạt động dạy học hợp
lí góp phần lớn trong việc thực hiện các mục tiêu dạy học, tạo hứng thú học tập chohọc sinh Từ việc nghiên cứu cơ sở lí luận và điều tra thực trạng sử dụng ca dao-tụcngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí lớp 4, chúng tôi đưa ra những giải pháp phù hợp tạođược sự hứng thú học tập ở học sinh, vẫn đảm bảo chất lượng dạy học
2.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp
2.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, chính xác
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải trang bị cho học sinhnhững tri thức khoa học chân chính, chính xác; dần dần cho học sinh tiếp xúc vớimột số phương pháp nghiên cứu, có thói quen suy nghĩ và làm việc một cách khoahọc; qua đó hình thành cơ sở thế giới quan khoa học, niềm tin, sự say mê, hứng thútrong học tập cũng như những phẩm chất đạo đức cần thiết
2.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi, thực tiễn
Trong quá trình dạy học, phải làm cho học sinh nắm vững những tri thức lýthuyết, tác dụng của nó đối với cuộc sống, đối với thực tiễn, có kĩ năng vận dụngchúng vào thực tiễn, góp phần cải tạo hiện thực khách quan Cần lựa chọn những trithức cơ bản, phù hợp với những điều kiện tự nhiên, tình hình thực tiễn
2.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính sư phạm
Trong dạy học, phải đảm bảo mối quan hệ thuận lợi nhất giữa sự chỉ đạo sưphạm của thầy giáo và lao động tích cực, tự giác, sáng tạo của học sinh Những kiến
Trang 25thức văn học phải phù hợp với đặc điểm tâm lí,nhận thức của học sinh.Phải phát huycao độ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh ; tạo điều kiện cho họ có thể họctập bằng chính hoạt động của mình,phát huy tư duy ngôn ngữ cho học sinh.
Bên cạnh đó tính sư phạm còn được thể hiện ở tính giáo dục: giáo dục tìnhyêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước, con người qua các câu ca dao, tục ngữ,các câu và đoạn thơ,
2.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức
Đảm bảo nguyên tắc này trong dạy học là phải sử dụng phương pháp, hìnhthức dạy học phù hợp trong việc vận dụng thơ, văn nhằm thúc đẩy sự phát triển trítuệ của mọi thành viên trong lớp đồng thời phải quan tâm đến từng cá nhân ngườihọc, đảm bảo cho mọi học sinh đều có thể phát triển ở mức tối đa so với khả năngcủa mình
2.3 Một số biện pháp sử dụng thơ, văn trong dạy học Địa lí lớp 4
2.3.1 Tìm hiểu vị trí phần kiến thức có thể sử dụng thơ, văn trong dạy học Địa lí lớp 4
Do đặc điểm nội dung kiến thức và đảm bảo công tác giảng dạy có sự đổimới qua từng bài học nên không phải trong tất cả các bài học giáo viên đều lồngghép ca dao-tục ngữ, thơ ca Giáo viên có thể lựa chọn những bài tiêu biểu, nhữngcâu thơ, câu ca dao, tục ngữ đặc trưng nhất vào giảng dạy Địa lí lớp 4 Bên cạnh đó,
do tính thống nhất, tính liên đới giữa các bài học, nhiều câu thơ, câu ca dao, tục ngữ
có thể áp dụng trong nhiều bài
2.3.1.1 Sử dụng trong phần giới thiệu bài
Để có được một giờ học hiệu quả, cách giới thiệu để vào bài có vai trò rấtquan trọng Giáo viên có thể đọc một câu thơ liên quan đến nội dung bài học để gợi
mở những nội dung chính cần tìm hiểu trong bài Qua đó, khiến bầu không khí đầugiờ học trở nên nhẹ nhàng, học sinh cảm thấy háo hức hơn trong quá trình tiếp thubài giảng Cụ thể:
Trang 26* Bài 15: Thủ đô Hà Nội
giáo viên có thể mở đầu bằng các câu thơ của nhà thơ Phan Tuấn
“ Hà Nội trong tôi, ngày tháng cũ Hoa sữa êm đềm bởi mùa thu
Hồ Gươm soi bóng cầu Thê Húc Dương liễu mỏng manh lả lơi cành
Hà Nội trong tôi, hình bóng cũ Khăn ấm êm quàng sớm mù đông
Hồ Tây mờ ảo mù sương khói
Vỗ cánh Sâm cầm lướt sóng khơi
…….”
(Hà Nội trong tôi – Phan Tuấn)
Hà Nội – thành phố ngàn năm văn hiến đang phát triển và hiện đại từng ngày
Là trung tâm chính trị,kinh tế, văn hóa,khoa học lớn của nước ta Để hiểu rõ hơn về
vẻ đẹp cũng như những điều kiện thuận lợi của thành phố góp phần vào sự nghiệpphát triển đất nước, chúng ta sẽ tìm hiểu qua bài học ngày hôm nay
* Khi dạy “Bài 21: Thành phố Hồ Chí Minh” , giáo viên có thể sử các câu thơ sau để
mở đầu tiết dạy:
“Chẳng bao giờ Sài Gòn thấy nghỉ ngơi Như sức trẻ luôn tràn trề nhựa sống Người Sài Gòn những con người năng động Hừng hực đầu tàu kéo cả nước đi lên ”
(Yêu quá Sài Gòn ơi – Trung Hưng)
Sài Gòn – một tên gọi thân thương của thành phố Hồ Chí Minh Là một thànhphố năng động, là trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước Để biết thành phố Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển nền kinh tế đất nước như thế nào, bài học hôm nay sẽ cho chúng ta biết được điều đó
Trang 27* Bài 29: Biển, đảo và quần đảo”,
Để mở đầu tiết dạy giáo viên có thể sử dụng các câu thơ sau:
“ Tổ quốc tôi ba nghìn cây số biển Chữ S bao đời hình một chiếc mỏ neo”
(Tổ quốc tôi ba nghìn cây số biển – Nguyễn Trọng Phú)
Phần đất liền của Việt Nam có hình dạng hình chữ S bao gồm cả đất liền vàbiển Với vùng biển rộng 1 triệu km2và đường bờ biển dài 3260 km Vậy, biển có vaitrò như thế nào đối với cuộc sống của chúng ta Để biết được điều này chúng ta sẽtìm hiểu qua bài học hôm nay
* Bài 22: Thành phố Cần Thơ
Ttrước khi đi đi vào hoạt động trọng tâm của bài giáo viên có thể sử dụng câu
ca dao sau để giới thiệu đi vào bài học:
“ Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó lòng không muốn về”
Được thiên nhiên ưu đãi, lắm trái ngọt, cây lành, cá tôm,…Cần Thơ là mộttrung tâm kinh tế lớn của vùng đồng bằng Sông Cửu Long Muốn biết Cần Thơ cónhững nét đẹp gì cũng như điều kiện gì để phát triển kinh tế Chúng ta sẽ cùng nhau
đi vào bài học ngày hôm nay
2.3.1.2 Sử dụng trong phần bài mới
Trong quá trình giảng bài, để khắc ghi kiến thức và tạo hứng thú cho họcsinh, giáo viên có áp dụng như sau:
* Bài 25: Người dân và hoạt động sản xuất ở đồng bằng duyên hải miền Trung
Giáo viên có thể nêu câu ca dao sau và yêu cầu học sinh kể tên các ngành sảnxuất của vùng:
“ Đá than thì ở Nông Sơn Bồng Miêu vàng bạc, Quế Sơn có chè Thanh Châu buôn bán nghề ghe Thanh Hà vôi ngói, nứa tre Đa Hòa
Trang 28Phú Bông dệt lụa, dệt sa Kim Bồng thợ mộc, Ô Gia thợ rừng Ngà voi, tê giác, gỗ rừng
Trân Châu hải vị chẳng từng thiếu chi”
* Bài 26: Người dân và hoạt động sản xuất ở đồng bằng duyên hải miền Trung (tt)
Giáo viên có thể sử dụng câu ca dao sau để học sinh trả lời:
“Bãi biển Nha Trang mịn màng trắng trẻo Nước trong leo lẻo, gió mát trăng thanh”
Với cảnh thiên nhiên đó có thể khai thác để phát triển kinh tế ngành gì?Ngoài Nha Trang còn có nơi nào khác nữa?
* Bài 19: Hoạt động sản xuất của người dân ở đồng bằng Nam Bộ
Giáo viên có thể sử dụng đoạn văn sau để miêu tả về vấn đề sản xuất lươngthực, thực phẩm:
“Quanh năm cây trái trổ hoa Khi thì bông bưởi khi là thanh long Dòng sông khi đục khi trong Tôm cá ôm ấp trong lòng sinh sôi”
(Miền Tây - Đỗ Phú Quý)
Qua những câu thơ trên ta thấy được tiềm năng phát triển nông nghiệp củavùng rất lớn, là vùng trọng điểm sản xuất lương thực và cây ăn quả của cả nước
* Bài 8: Hoạt động sản xuất của người dân ở Tây Nguyên (tt)
Để tìm hiểu vai trò của sông, thác ghềnh ở Tây Nguyên, giáo viên có thể sửdụng các câu thơ sau:
“Có dòng sông Sê-rê-pốc hiền từ Nuôi dòng thác Đờ-ray-nu (Dray-rur) êm-dữ Lúc ru lòng khi thét động rừng thiêng
Xé toạt đêm với tiếng gầm hoang dã
Trang 29Thác Đờ-rây-sáp (Dray-sáp) chung dòng rền rã Thoảng khói sương bay trắng xóa ảo mờ
Những khối đá nhấp nhô bờ rêu xõa Tựa bức rèm ẩm ướt khỏa nền xanh”
(Lên Tây Nguyên đi anh – Nguyệt Lặng)
Em hãy kể các con sông và thác ghềnh có trong hai đoạn thơ Cho biết vai tròcủa các con sông và thác ghềnh trong việc phát triển kinh tế của địa phương?
2.1.3.3 Sử dụng trong phần củng cố bài học
Để củng cố kiến thức sau mỗi bài học cho học sinh giáo viên có thể sử dụngcác câu thơ sau:
* Bài 24: Dải đồng bằng duyên hải miền Trung
Giáo viên có thể sử các câu thơ sau để củng cố kiến thức nội dung phần 2:Khí hậu có sự khác biệt giữa khu vực phí bắc và phía nam:
“ Hải Vân đèo lớn vượt qua, Mùa xuân ai bỗng hóa ra nắng hè.”
(Tản Đà)Bằng kiến thức địa lí đã học, em hãy cho biết khi viết câu thơ trên, tác giả điqua đèo Hải Vân theo chiều từ Bắc vào Nam hay từ Nam ra Bắc ? Vào mùa nàotrong năm ?
* Bài 27: Thành phố Huế
Giáo viên có thể sử dụng các câu thơ sau để cũng cố kiến thức cho học sinh:
“Chi Lăng - Đại Nội - Đông Ba Thiên An vi vút là đà thông reo Ngọc Trản ngọn núi cheo leo Qua cầu mà ngắm trong veo Đầm Chuồn”
(Rất Huế - Phạm Hải Đăng)
Em hãy kể tên các địa danh của thành phố Huế có trong đoạn thơ ? Vì saoHuế được gọi là thành phố du lịch?
Trang 302.3.2 Khai thác nội dung bài học sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí lớp 4
* Khi dạy “Bài 13: Hoạt động sản xuất của người dân đồng bằng Bắc Bộ”
Giáo viên có thể sử dụng các câu ca dao sau để nói về sự lao động vất vả củangười nông dân, học đã phải mất nhiều công sức để có được hạt gạo ngon:
“Người ta đi cấy lấy công Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề Trông trời, trông đất, trông mây Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng”
* Khi dạy nội dung phần 2 trong bài 4: Trung du Bắc bộ
Để nhấn mạnh thế mạnh trồng cây công nghiệp và khai thác khoáng sản ởvùng này, giáo viên có thể sử dụng đoạn thơ sau:
“Thành phố thở ầm rung tiếng máy Lụa sông Cầu mềm mại vắt làm duyên Thép ngàn độ sôi và hương chè thơm ngát Hòa quyện rồi rực sáng mặt Thái Nguyên.”
(Thái Nguyên – Nguyễn Đức Hạnh)
* Khi dạy “Bài 29: Biển, đảo và quần đảo”.
Để nói về đặc điểm bờ biển nước ta giáo viên có thể sử dụng hai câu thơ sau:
“ Tổ quốc tôi ba nghìn cây số biển Chữ S bao đời hình một chiếc mỏ neo”
(Tổ quốc tôi ba nghìn cây số biển – Nguyễn Trọng Phú)
Đường bờ biển nước ta cong hình chữ S, dài 3260 km Bờ biển nước ta chạydài từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang) Nước ta có hai quần đảolớn là Hoàng Sa (thuộc thành phố Đà Nẵng) và Trường Sa (thuộc tỉnh Khánh Hòa)
Để nói về vai trò của biển đông, giáo viên có thể sử dụng các câu thơ sau:
Trang 31“ Tổ quốc tôi ba nghìn cây số biển Móng Cái – Cà Mau hình chiếc lưỡi câu Câu những túi vàng đen –mỏ dầu trong lòng đất.”
Biển cho ta nguồn tài nguyên lớn về dầu khí Bên cạnh đó biển còn cho tatôm, cá,…
* Khi dạy “Bài 5: Tây Nguyên”
Giáo viên có thể sử dụng các câu thơ sau:
“ Bác Hồ ơi Tây Nguyên giàu đẹp Kon Tum, Pleiku, Đắc Lắc, Lâm Đồng Màu đất đỏ như tấm lòng son sắt.”
(Tế Hanh)
* Khi dạy “Bài 9: Thành phố Đà Lạt”.
Giáo viên có thể sử dụng bài thơ sau:
“Vãng thăm miền đất ngỡ thiên đường Biệt thự huy hoàng phủ trắng sương Đỉnh núi thông xanh lồng nắng sớm Lòng thung điện sáng tỏa đêm trường Cam ly ngọn thác hòa mây nước Thiền viện mái chùa quện khói hương
Đà Lạt niềm mơ người viễn xứ Cảnh quan thơ mộng ngỡ thiên đường.”
(Trần Thiên – Thành phố sương mù)
* Khi dạy “Bài 24: Dải đồng bằng duyên hải miền Trung”
Giáo viên có thể sử dụng câu ca dao sau để nói vùng duyên hải miền Trung lànơi luôn chịu nhiều ảnh hưởng từ khí hậu mang lại:
“Ba ngày gió Nam, Mùa màng mất trắng.”
Trang 32Hoặc để giải thích hiện tượng khí hậu khác nhau giữa khu vực phía Bắc vàkhu vực phía Nam, giáo viên có thể sử dụng hai câu thơ sau:
“Hải Vân đèo lớn vượt qua, Mưa xuân ai bỗng hóa nắng hè.”
(Tản Đà)
* Khi học “Bài 19: Hoạt động sản xuất của người dân ở Đồng bằng Nam Bộ”.
Giáo viên có thể sử dụng các câu sau để nói về đặc điểm nổi bậc của vùng đất này:
“Quê em miền sông nước Quanh năm với ruộng đồng Bốn bề hoa cỏ mướt
Có hai phương thức tích hợp ca dao-tục ngữ, thơ ca vào dạy học Địa lí Đó là:
- Tích hợp toàn phần: Sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca như là một phương tiện
để giải thích hiện tượng địa lí
- Tích hợp bộ phận: Sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca như là một công cụ nhằmkích thích sự hứng thú của học sinh và hình thành biểu tượng
*Tích hợp toàn phần
Sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca như là một phương tiện để giải thích hiệntượng địa lí như
Khi dạy “Bài 24: Dải đồng bằng duyên hải miền Trung” Giáo viên sử dụng
hai câu ca dao sau để nói sự ảnh hưởng của khí hậu đến sản xuất của vùng:
Trang 33“ Cơn đằng đông vừa trông vừa chạy Cơn đằng nam vừa làm vừa chơi.”
Để giúp học sinh hiểu rõ hết ý nghĩa câu ca dao và khắc sâu thêm kiến thứcnội dung bài học, giáo viên có thể giải thích:
“ Cơn đằng đông vừa trông vừa chạy” là vì vào tháng 7 (mùa hạ), nhiệt độ
không khí ở trên lục địa cao hình thành khu áp thấp hút gió (khối khí ẩm) từ biểnvào gây những trận mưa lớn ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ
“Cơn đằng nam vừa làm vừa chơi” là vì do ảnh hưởng của địa hình: Dãy
Hoàng Liên Sơn ở Bắc Bộ và dãy Trường Sơn Bắc (Bắc Trung Bộ) nên khi có gióTây Nam (gió Nam) chỉ gây mưa ở Nam Bộ và Tây Nguyên Còn ở vùng đồng bằngBắc Bộ, Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bô không có mưa
Để thấy được sự khác biệt về khí hậu giữa khu vực phía bắc và khu vực phíanam, giáo viên có thể sử hai câu thơ sau để nói về hiện tượng khác biệt đó:
“Hải Vân đèo lớn vượt qua, Mưa xuân ai bỗng đổi ra nắng hè.”
Do đặc điểm về địa hình,ranh giới dãy núi Bạch Mã (đèo Hải Vân)làm chokhí hậu giữa khu vực phía bắc và khu vực phía nam có sự khác nhau Vào mùa xuân
ở khu vực phía bắc vẫn còn ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên có mưa và selạnh, do đèo Hải Vân chặn khối không khí lạnh nên khi đi từ bắc vào nam khí hậu
ấm hơn
Trang 34*Tích hợp bộ phận
Sử dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca như là một công cụ kích thích sự hứng thúcủa học sinh Cụ thể:
Khi dạy “Bài 9 : Thành phố Đà Lạt” Giáo viên sử dụng các câu thơ để giới
thiệu đến học sinh những cảnh đẹp và các loài hoa đặc trưng của thành phố này:
“Dã quỳ kêu hãnh sắc vàng Hoa cúc đại đóa dẫn mùa thu sang Phăng- xê tím thẫm hôn hoàng Đồi Cù lộng gió nắng vàng thông reo.
Cam Ly thác đổ trên đèo Langbiang nhớ xóm nghèo vườn hoa Sương giăng mây trắng là đà
Màu hoa Đà Lạt mộng hoa chập chùng.”
(Đà Lạt mộng và hoa – Đỗ Phú Quý) Khi dạy “Bài 4: Trung du Bắc Bộ” Giáo viên các câu thơ sau để nói về vùng
đất này phát triển cây công nghiệp và cây ăn quả, đặc biệt là cây chè Nổi tiếng làchè Thái Nguyên:
“Nắng như trải nhẹ óng vàng Một màu xanh thẳm bạt ngàn yêu thương
Ai về đất Thái vấn vương Cho tôi gởi tới đồi nương rừng chè”
(Tình người du khách – Sen Nguyễn) Khi dạy “Bài 17: Đồng bằng Nam Bộ” Giáo viên có thể sử dụng câu ca dao
sau để giới thiệu về vùng đất này:
“Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm.”
Trang 35Đồng bằng Nam Bộ có diện tích lớn nhất nước ta, phần Tây Nam Bộ hay còn
gọi là đồng bằng Cửu Long là đồng bằng châu thổ lớn nhất cả nước với nhiều vùng
trũng dễ ngập nước như Đồng Tháp Mười
Để thuận tiện cho việc xác định các mức độ tích hợp ca dao-tục ngữ, thơ ca
trong dạy học Địa lí lớp 4, chúng tôi đã xây dựng bảng 2.1:
Bảng 2.1: Các mức độ tích hợp ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí lớp 4
Hoạt động sản xuất của người dân ở đồng bằng Bắc Bộ
Người dân và hoạt động sản xuất ở đồng bằng duyên hải miền
Trung
Trang 362.3.4 Hướng dẫn vận dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca vào một số phương pháp dạy học Địa lí lớp 4
Để một tiết dạy đạt kết quả tốt, phần lớn giáo viên phải biết vận dụng cácphương pháp dạy học tích cực, hiệu quả Để văn học có thể được tích hợp trong dạyhọc Địa lí một cách tốt nhất thì việc kết hợp văn học với các phương pháp trong quátrình dạy học Một trong những biện pháp quan trọng, quyết định đến tính khả thi,tính hiệu quả của tích hợp ca dao-tục ngữ, thơ ca trong dạy học Địa lí lớp 4
2.3.4.1 Vận dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca vào phương pháp thảo luận nhóm
* Bài 24: Dải đồng bằng duyên hải miền Trung.
Giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm 6 giải thích sự tương phản về khí hậugiữa hai miền Nam Bắc sau khi cho học sinh đọc hai câu thơ của Tản Đà:
“ Hải Vân đèo mới vượt qua, Mưa xuân ai bỗng hóa ra nắng hè”
- Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận: “Nguyên nhân tạo ra sự thay đổi lớn
về khí hậu khi vượt qua đèo Hải Vân?
- Giải thích hiện tượng địa lí trên?
* Bài 25: Người dân và hoạt động sản xuất ở đồng bằng duyên hải miền Trung
Giáo viên đưa ra bài ca dao sau và yêu cầu học sinh hãy hoàn thành vào bảngphụ (theo tổ) với yêu cầu thảo luận:“liệt kê tên các làng nghề và các ngành sản xuấttương ứng với làng nghề đó”
“ Đá than thì ở Nông Sơn Bồng Miêu vàng bạc, Quế Sơn có chè Thanh Châu buôn bán nghề ghe
Trang 37Thanh Hà vôi ngói, nứa tre Đa Hòa Phú Bông dệt lụa, dệt sa Kim Bồng thợ mộc, Ô Gia thợ rừng Ngà voi, tê giác, gỗ rừng Trân Châu hải vị chẳng từng thiếu chi”
* Bài 28: “Thành phố Đà Nẵng
Giáo viên đưa ra những hình ảnh về các địa danh nổi tiếng của Đà Nẵng yêucầu học sinh dựa vào nội dung của bài thơ sau và ghi tên các địa danh tương ứng vớimỗi bức tranh
“Linh Ứng bên nhau dạ chẳng vời Thuyền Môn màu nhiệm khó lòng vơi
Bà Nà chung bóng khi tâm sự Non Nước kề đôi lúc nghỉ ngơi Tháp Nhạn thẩn thờ nghe gió núi Sông Đà lững thửng ngắm mây trời Sơn Trà dạo biển chiều Xuân đó Nhớ đến vườn hoa hương sắc mời”
(Sơn Trà thương – Thu Hoài)
2.3.4.2 Vận dụng ca dao-tục ngữ, thơ ca vào phương pháp đàm thoại
* Bài 26: Người dân và hoạt động sản xuất ở đồng bằng duyên hải miền Trung (tt)”
Giáo viên đưa ra bài ca dao sau và hỏi học sinh:
“ Bãi biển Nha Trang mịn màng trắng trẻo Nước trong leo lẻo, gió mát trăng thanh.”
- Tên bãi biển có trong bài ca dao là gì? Bãi biển có gì đẹp ?
- Với ảnh thiên nhiên đó có thể khai thác để phát triển kinh tế ngành gì?
- Ngoài Nha Trang em còn biết những nơi nào khác ?
* Bài 5: Tây Nguyên
THIẾU CÁI CHI CHI Ở ĐÂY