Trong đó, sử dụng ca dao tục ngữ trong quá trình dạy học là mộttrong những biện pháp giúp dạy học lịch sử bớt khô khan, nhàm chán, học sinhyêu thích học phân môn Lịch sử hơn.Xuất phát từ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục Tiểu học là cấp học căn bản, nền móng trong hệ thống giáo dụcquốc dân và Lịch sử là phân môn quan trọng ở tiểu học Phân môn Lịch sử ở tiểuhọc cung cấp cho học sinh những biểu tượng cụ thể, sinh động về lịch sử ViệtNam - lịch sử của một dân tộc anh hùng và giàu lòng yêu nước Bác Hồ đã từngnói: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”, câu nói củaBác như muốn nhắc nhở những thế hệ sau này cần phải biết về lịch sử, hiểu lịch
sử, tiếp nối được truyền thống yêu nước đẹp đẽ đã có từ ngàn đời xưa của dân tộc
ta Có hiểu biết về non sông, đất nước, về láng giềng và thế giới thì mới biếtđược đâu là con đường đi lên của đất nước, mới hội nhập với thế giới Có hiểulịch sử thì mới khơi dậy và duy trì lòng yêu nước, dám đứng lên bảo vệ độc lập
và chủ quyền quốc gia, nhất là trong bối cảnh nhiều thế lực đang ngày đêm rìnhrập xâm phạm chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, âm mưu cướp đoạt lãnh thổ
và biển đảo quốc gia Một đất nước sẽ không thể phát triển thậm chí là tiêu vong
nếu đánh mất đi lịch sử của mình “Đặc trưng nổi bật của nhận thức lịch sử là con người không thể tri giác trực tiếp những gì thuộc về quá khứ Lịch sử là những sự việc đã diễn ra, là hiện thực trong quá khứ, là tồn tại khách quan, không thể phán đoán, suy luận để biết”[5]
Như vậy, dạy học lịch sử ở tiểu học không chỉ giúp học sinh có kiến thức
mà quan trọng hơn là khơi dậy ở các em lòng yêu nước, tự hào với truyền thốnganh hùng bất khuất của cha ông trong việc xây dựng đất nước và chống giặcngoại xâm, là bước đệm giúp các em hứng thú học môn Lịch sử ở các cấp họctiếp theo
Tuy nhiên trong những năm gần đây, môn Sử trở thành môn học khôngđược các em học sinh yêu thích Từ cấp Tiểu học lên đến Trung học Phổ thông,
có không ít học sinh nhớ nhầm hoặc không nhớ tên các nhân vật, sự kiện Theo
số liệu thống kê học sinh lớp 12 đăng ký dự thi THPT quốc gia năm 2016 chothấy, lượng thí sinh thi môn Lịch sử để xét tuyển đại học chiếm tỷ lệ thấp nhất[11] Học sinh xem môn Sử như là môn học thuộc lòng với những kiến thức khôkhan, một chiều
Trang 2Nhằm giúp học sinh có hứng thú học Lịch sử, biết rút ra những bài học kinhnghiệm từ trong lịch sử, hình thành lòng yêu nước một cách tự nhiên và chân thậtnhất Bên cạnh việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực, phương tiện dạy họcphù hợp thì việc tạo ra những tiết học sôi nổi, hấp dẫn, nhẹ nhàng nhưng vẫn đảmbảo nội dung và độ chính xác của nội dung bài học là một trong những việc làmthiết thực nhất Trong đó, sử dụng ca dao tục ngữ trong quá trình dạy học là mộttrong những biện pháp giúp dạy học lịch sử bớt khô khan, nhàm chán, học sinhyêu thích học phân môn Lịch sử hơn.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4” để nghiên cứu nhằm góp phần
nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở Tiểu học
2 Mục đích nghiên cứu
Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn của việc sử dụng ca dao, tục ngữ trongquá trình dạy học, chúng tôi đề xuất một số biện pháp sử dụng ca dao, tục ngữtrong quá trình dạy học Lịch sử nhằm tạo hứng thú cho học sinh Giúp học sinhhình thành kiến thức lịch sử và giáo dục lòng yêu nước cho học sinh
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Biện pháp sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4
3.2 Khách thể nghiên cứu
- Qúa trình dạy học phân môn Lịch sử lớp 4
- Học sinh lớp 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng ca dao tục ngữtrong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4
- Nghiên cứu thực trạng của việc dạy học Lịch sử và sử dụng ca dao tụcngữ trong quá trình dạy học
- Đề xuất các biện pháp sử dụng ca dao, tục ngữ trong quá trình dạy họcLịch sử
- Tổng hợp kết quả nghiên cứu: thực nghiệm; so sánh; đánh giá để khẳng địnhtính hiệu quả, khả thi của các giải pháp; đưa ra kết luận và các đề xuất, kiến nghị
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 35.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp đọc tài liệu: Chọn và đọc các sách báo, tài liệu viết về ca dao,tục ngữ, sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạy học Lịch sử có liên quan tới đề tài
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích, tổng hợp nhằm khai thác, chắt
lọc những tài liệu cần thiết có liên quan đến đề tài
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát các tiết dạy của giáo viên để tiến hành theodõi cách dạy cũng như các phương pháp giáo viên sử dụng trong tiến trình dạy
- Phương pháp điều tra: Điều tra thông qua thiết kế các phiếu điều tra dành
cho giáo viên và cho học sinh về thực trạng sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạyhọc Lịch sử lớp 4
- Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến của thầy cô giáokhoa Tiểu học – Mầm non và thầy cô ở trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế giáo án dạy thực nghiệm để
kiểm tra, đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả của việc sử dụng ca dao, tục ngữtrong quá trình dạy học Lịch sử Thu nhận thông tin về sự thay đổi trong nhậnthức của học sinh lớp 4 khi học Sử Kiểm tra kết quả điều tra, quan sát các hiệntượng giáo dục để khẳng định lại cho chắc chắn các kết luận đã rút ra
5.3 Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp này dùng để phân tích, xử lí các kết quả thu được thông quaquá trình điều tra và tổ chức thực nghiệm
6 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Sử dụng văn thơ, ca dao, tục ngữ trong dạy học Lịch sử là một biện pháp đãđược sử dụng trong quá trình dạy học, nhưng chưa được quan tâm và phổ biếnrộng rãi Hiện nay, sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạy học các môn học cụ thểđược sử dụng như một biện pháp nhằm thu hút, kích thích sự chú ý của học sinh
Ca dao, tục ngữ được nghiên cứu sử dụng trong một số môn học như: Giáo dụccông dân, Địa lý, Sinh học ở một số trường phổ thông Thậm chí ca dao, tục ngữcòn được nghiên cứu sử dụng trong giáo dục tâm lý học ở các trường CĐ, ĐH
như là “Sử dụng ca dao – tục ngữ trong dạy học Tâm lý học” của tác giả Đoàn
Thị Lan, Trường ĐHNN, Đại học sư phạm Hà Nội Ca dao, tục ngữ được nghiên
cứu sử dụng trong dạy học các môn học ở phổ thông như đề tài “Sử dụng ca dao – tục ngữ trong giảng dạy môn Sinh học” của tác giả Nguyễn Thị Thủy – Trường
Trang 4THCS Lũng Vải hay như đề tài “Vận dụng ca dao – tục ngữ trong dạy học môn GDCD lớp 8, 9” của tác giả Hứa Thị Kim Thoa Ngoài ra, Ca dao – tục ngữ còn
được vận dụng trong dạy học Địa Lý nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh
như đề tài “Địa lý trong ca dao, dân ca Việt Nam” hay “Sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca trong giảng dạy Địa lý 12” của tác giả Nguyễn Phương Thảo Ngoài
các môn học kể trên, Lịch sử cũng là một trong những môn học được nghiên cứu
giảng dạy thông qua ca dao - tục ngữ như “Sử dụng tài liệu văn học dân gian trong dạy học lịch sử Việt Nam ở lớp 10” của tác giả Nguyễn Đình Thế hay “Sử dụng thơ ca dạy Lịch sử: Sinh động hóa kiến thức” của nhóm giáo viên Sử trường THCS Lê Qúy Đôn – Quận Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí Minh, “Sử dụng thơ văn trong dạy học Lịch sử”, tác giả Nguyễn Thị Hà – Trường THPT Phúc Yên, “Sử dụng tài liệu Văn học để dạy Lịch sử ở trường THCS” của tác giả Nguyễn Quang
Dũng - Trường THCS Vạn Ninh
Như vậy việc sử dụng văn học nói chung và ca dao, tục ngữ nói riêng trong dạyhọc một số môn ở các trường phổ thông đã thu hút được sự quan tâm của các giáoviên Tuy nhiên, việc vận dụng phần lớn tập trung vào hai cấp học là THCS vàTHPT Việc sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạy học Lịch sử ở Tiểu học nói chung vàLịch sử lớp 4 nói riêng chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu Hiện nay có thể nóirằng chưa có bài viết, đề tài hay SKKN nào về sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạyhọc Lịch sử lớp 4 Kế thừa thành quả của các bài nghiên cứu trước đó, bài khóa luậnnày nghiên cứu sâu hơn cách sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạy học phân môn Lịch
sử lớp 4 nhằm tạo hứng thú và giáo dục lòng yêu nước cho học sinh
7 Đóng góp của đề tài
- Về mặt lí luận: Hệ thống hóa cơ sở lí luận về dạy học sử dụng ca dao, tục
ngữ Từ đó đưa ra định hướng đúng đắn nhằm sử dụng ca dao, tục ngữ vào quátrình dạy học Lịch sử lớp 4
- Về mặt thực tiễn: Đề xuất một số biện pháp nhằm sử dụng hiệu quả ca
dao, tục ngữ trong dạy học Lịch sử lớp 4 Thiết kế một số bài dạy có sử dụng cadao, tục ngữ trong dạy học Lịch sử lớp 4
8 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Trang 5Nghiên cứu việc sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạy học Lịch sử lớp 4 nhằmtạo hứng thú cho học sinh Không đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích những
sự kiện lịch sử có trong câu ca dao, tục ngữ được lựa chọn để sử dụng tronggiảng dạy
9 Cấu trúc tổng quan của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phần phụlục; nội dung khóa luận bao gồm 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng ca dao, tục ngữnhằm tạo hứng thú cho học sinh trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4
- Chương 2 Đề xuất một số biện pháp sử dụng ca dao, tục ngữ nhằm tạohứng thú cho học sinh trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4
- Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 6
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CA DAO, TỤC NGỮ NHẰM TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG DẠY
HỌC PHÂN MÔN LỊCH SỬ LỚP 4 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Ca dao
Ca dao là thơ ca dân gian Việt Nam được viết bằng thể thơ 4, 5 chữ, lụcbát hay song thất lục bát…được truyền miệng dưới dạng những câu hát khôngtheo một điệu nhất định, được lưu truyền sâu rộng trong xã hội qua dòng chảythời gian và lịch sử [12]
Ca dao được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất vàđấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tác phẩmvăn học dân gian hoặc ngược lại Ca dao là tấm gương phản ánh một cách trungthực về cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của nhân dân với những tính cách cần cù,giản dị, chất phác và đậm đà phong vị dân tộc Hơn thế nữa, ca dao còn là nơi lưugiữ lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta trong hơn 4000 năm quanhư: truyền thống chống ngoại xâm, chống ách áp bức phong kiến của nhân dân,các cuộc đấu tranh anh hùng trong dựng nước và giữ nước Ngôn ngữ trong cadao, dân ca truyền thống thường mộc mạc, giản dị, hồn nhiên chân thật giàu chấtthơ, giàu sức biểu cảm và tính hình tượng [12]
Như vậy, ca dao là phần phong phú trong văn học dân gian của dân tộc ta, cógiá trị về mặt trí tuệ, tình cảm và nghệ thuật biểu hiện Với đặc điểm nội dung vàhình thức ngắn gọn, có vần, dễ nhớ nên ca dao luôn luôn được nhân dân vận dụng,truyền miệng qua nhiều thế hệ và luôn được trau chuốt mà vẫn giữ được cái hồn
1.1.1.2 Tục ngữ
Tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân
về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội [13]
Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là “trí khôn dân gian” Tríkhôn đó rất phong phú mà cũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từngắn gọn, xúc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu Có thể coi tục ngữ là vănhọc nói dân gian nên thường được nhân dân vận dụng trong đời sống sinh hoạt,giao tiếp cộng đồng và xã hội hay hẹp hơn như lời ăn tiếng nói và khuyên răn
Trang 7Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất
và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tácphẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra từ tác phẩm văn học bằng conđường dân gian hóa những lời hay ý đẹp [13]
1.1.1.3 Hứng thú học tập
Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân với những đối tượng nào đóvừa có ý nghĩa trong đời sống vừa mang lại sự khoái cảm cho cá nhân tronghoạt động
Hứng thú học tập chính là thái độ của chủ thể đối với đối tượng của hoạt độnghọc tập, vì sự lôi cuốn về tình cảm, ý nghĩa thiết thực trong quá trình nhận thức.[1]
Lịch sử nói chung và lịch sử Việt Nam nói riêng là môn học rất quan trọngkhông chỉ lưu giữ các quá trình phát triển của con người, đất nước và nhân loại
mà còn giúp học sinh đúc rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu trongcông cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước
1.1.1.5 Sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạy học Lịch sử
Ca dao, tục ngữ là một bộ phận của văn học, được thể hiện dưới dạng vănnói Ca dao, tục ngữ về lịch sử dùng để phản ánh suy nghĩ, cách nhìn của nhândân về một sự kiện, nhân vật lịch sử nào đó Như vậy, sử dụng ca dao, tục ngữtrong dạy học Lịch sử là sử dụng những câu ca dao hoặc tục ngữ phản ánh về lịch
sử, đất nước (trong đó có các sự kiện, nhân vật lịch sử và cả mốc thời gian) vàotrong mỗi bài học cụ thể
1.1.2 Vai trò của ca dao, tục ngữ trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4
Từ khi còn nhỏ, mỗi người đều ít nhất được nghe mẹ hay bà hát ru Trongcuộc sống hằng ngày dễ dàng bắt gặp việc sử dụng ca dao, tục ngữ trong lời nói
Ca dao, tục ngữ phản ánh mọi mặt cuộc sống của người dân Việt Nam, qua quá
Trang 8trình lịch sử tạo nên một bức tranh sinh động, giàu cảm xúc, giàu màu sắc Cadao là những khúc tâm tình giàu nhịp điệu, tục ngữ là những câu nói ngắn gọn cóvần có nhịp giúp học sinh dễ nhớ Do đó, khi nghe những câu ca dao, tục ngữnhất là những câu phản ánh lịch sử sẽ làm Lịch sử bớt khô khan, tạo hứng thúhọc tập cho học sinh.
Ca dao, tục ngữ về lịch sử thường không phản ánh hiện tượng lịch sửtrong quá trình diễn biến của nó mà chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử để nói lên thái
độ, quan điểm của nhân dân Do vậy trong quá trình giảng dạy Lịch sử giáo viên
có thể sử dụng những câu ca dao, tục ngữ để giúp học sinh hình thành lòng tựhào dân tộc, tình yêu quê hương đất nước như câu ca dao:
Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương Mịt mùng khói tỏa ngàn sương Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ Phồn hoa thứ nhất Long Thành, Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ
Bên cạnh những câu ca dao thể hiện thái độ, quan điểm của nhân dân vềlịch sử, có không ít những câu ca dao, tục ngữ trong đó có nhắc đến nhân vật lịch
sử, địa danh lịch sử như:
Sâu nhất là sông Bạch Đằng,
Ba lần giặc đến, ba lần giặc tan
Cao nhất là núi Lam Sơn,
Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra
Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn
Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn, Hỏi ai gây dựng nên non nước này?
Giáo gươm cờ xí trùng phùng
Trang 9Hằng năm mở hội tưng bừng vui thay Nhớ xưa Thánh Gióng tích rày
Uy phong rạng rỡ đến nay còn truyền
Như vậy, sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạy học nói chung và dạy họcLịch sử nói riêng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo hứng thú học tập và gópphần vào việc hình thành kiến thức, lòng tự hào dân tộc cho học sinh một cách tựnhiên nhất, sâu lắng và đầy cảm xúc
1.1.3 Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học
1.1.3.1 Đặc điểm nhận thức
Quá trình nhận thức của học sinh đi từ nhận thức cảm tính (trực quan sinhđộng) đến nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng) Dưới ảnh hưởng của hứng thúnhận thức, các em tích cực tri giác và tri giác sâu hơn, tưởng tượng trở nên sángtạo và có hiệu quả hơn Đặc điểm trí nhớ của học sinh tiểu học được chia làm haigiai đoạn, giai đoạn đầu ghi nhớ không chủ định và máy móc, giai đoạn thứ haihọc sinh bắt đầu ghi nhớ ý nghĩa hơn [1] Do vậy, vần và nhịp điệu của thơ ca,tục ngữ, ca dao sẽ để lại trong não bộ của học sinh những ấn tượng, cảm xúc, vàrung động hơn bất kỳ văn tự, hoặc số liệu nào và học sinh có thể ngâm nga theobất cứ khi nào Cách học thư giãn này, không thể chép vào giấy, nhưng nó tácđộng lớn vào trí nhớ một cách tự nhiên và giúp học sinh nhớ bài tốt hơn
Tình cảm của học sinh lớp 4 mang tính cụ thể, trực tiếp, giàu cảm xúc, các
em tiếp thu kiến thức không đơn thuần bằng lí trí, mà dựa nhiều vào cảm tính vàđượm màu sắc tình cảm [1], nên giáo viên dễ dàng hình thành sớm cho các em sựyêu thích khi học môn Sử thông qua ca dao, tục ngữ
Tư duy của học sinh trong giai đoạn lớp 3, 4 có sự phát triển, bước pháttriển này trong tư duy của học sinh là có khả năng đảo ngược các hình ảnh trigiác, khả năng bảo tồn sự vật khi có sự thay đổi các hình ảnh tri giác Khả năng
tư duy phát triển giúp học sinh đối chiếu, so sánh để học sinh hứng thú trong quátrình học Như vậy, nhờ có hứng thú mà hoạt động học tập diễn ra thuận lợi hơn,hiệu quả hơn và lâu dài hơn [1]
1.1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú học tập của học sinh
Dạy học nói chung và lịch sử nói riêng là một quá trình sư phạm mà kếtquả của nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mục tiêu, nội dung dạy học, chươngtrình sách giáo khoa, phương tiện dạy học, hoạt động của thầy, hoạt động của trò,
Trang 10môi trường dạy học, kiểm tra đánh giá…vv Thiếu một trong những yếu tố ấy thìquá trình dạy học không hoàn chỉnh, và quá trình dạy học đó phát triển theohướng tích cực hay tiêu cực cũng là từ sự tham gia của các yếu tố ảnh hưởng đếnhứng thú học tập Qúa trình dạy học chỉ có thể phát triển được nếu có sự tham giađầy đủ của các yếu tố đó Yếu tố ảnh hưởng đến hứng thú được chia làm 2 nhómyếu tố chính:
- Yếu tố chủ quan xuất phát từ chính mỗi cá nhân học sinh: Trình độ pháttriển trí tuệ của người học, thái độ đúng đắn đối với nội dung môn học Lịch sử làmôn học nghiên cứu về quá khứ trong đó có con người và các sự vật, hiện tượngliên quan đến con người Để có hứng thú học tập môn Lịch sử, học sinh cần pháthuy trí tưởng tượng và cần có khả năng tư duy tốt Học sinh lớp 4 với khả năngtri giác sâu hơn, trí tưởng tượng sáng tạo hơn và khả năng tư duy đã phát triểnhơn so với các lớp 1, 2, 3 nên đã có thể học tập tốt môn Lịch sử với các sự kiệnđơn giản Tuy nhiên, trong đặc điểm nhận thức của học sinh, tình cảm của họcsinh lớp 4 đòi hỏi phải mang tính cụ thể và trực tiếp Nhưng các sự kiện và nhânvật Lịch sử đều đã ở trong quá khứ, do vậy học sinh không thể tri giác trực tiếp
và cụ thể Đây chính là yếu tố làm cản trở việc học Lịch sử của học sinh Tiểu họcnói chung và học sinh lớp 4 nói riêng
- Yếu tố khách quan bên ngoài chi phối: Đặc điểm môn học, người dạy,điều kiện cơ sở vật chất: tài liệu, sách vở, phương tiện dạy học, môi trường họctập Lịch sử là môn học bắt buộc người học phải ghi nhớ tên nhân vật, diễn biến,nguyên nhân, ý nghĩa của các sự kiện nên Lịch sử được xem là một môn học dểgây nhàm chán, không phát huy khả năng tư duy của người học Nguyên nhânchủ yếu làm cho Lịch sử trở nên nhàm chán, khó hiểu là do phương pháp dạyhọc, cách tiếp cận phương pháp dạy học của giáo viên Với phương pháp dạy họctheo kiểu đọc chép, nhồi nhét vô hình chung giáo viên đã làm cho học sinh chánghét môn học
Ngoài ra các yếu tố như: cách trình bày và khối lượng kiến thức của tàiliệu, các phương tiện dạy học cũng ảnh hưởng tới hứng thú của học sinh
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Đặc điểm chương trình Lịch sử lớp 4
Trang 111.2.1.1 Mục tiêu
Sau khi học xong môn Lịch sử ở tiểu học, học sinh cần đạt được [4]:
- Cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản thiết thực về
+ Các sử kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu, tương đối có hệthống theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho tớinửa đầu thế kỉ XIX
- Bước đầu rèn luyện và hình thành cho học sinh các kĩ năng
+ Quan sát sự vật hiện tượng; thu thập tìm kiếm tư liệu lịch sử từ cácnguồn khác nhau
+ Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập và chọn thông tin đểgiải đáp
+ Trình bày lại kết quả học tập bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ
+ Vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống
- Góp phần bồi dưỡng và phát triển ở học sinh thái độ và thói quen
+ Ham học hỏi, tìm hiểu để biết về môi trường xung quanh các em
+ Yêu thiên nhiên, con người, quê hương, đất nước
+ Tôn trọng và bảo vệ cảnh quan thiên nhiên văn hóa gần gũi với học sinh
1.2.1.2 Nội dung chương trình
- Nội dung chương trình môn Lịch sử lớp 4 được chia theo mốc thời gian như sau:
Buổi đầu dựng nước và giữ nước (từ
khoảng năm 700 TCN đến năm 179
TCN): Sự ra đời của nền văn minh Văn
Lang- Âu lạc và những thành tựu chính
của văn minh Văn Lang - Âu Lạc
Bài 1: Nước Văn Lang
Bài 2: Nước Âu lạc
Hơn một nghìn năm đấu tranh giành
độc lập (từ năm 179 TCN – đến năm
938): Cuộc sống của nhân ta dưới ách
thống trị và chính sách đồng hóa dân
tộc của các triều đại phong kiến Trung
Quốc và phong trào đấu tranh của nhân
dân ta để giành độc lập, tự chủ (KN hai
bà Trưng năm 40, chiến thắng Bạch
Đằng 938)
Bài 3: Nước ta dưới ách đô hộ của cáctriều đại phong kiến phương Bắc.Bài 4: Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (Năm40)
Bài 5: Chiến thắng Bạch Đằng do NgôQuyền lãnh đạo (Năm 938)
Trang 12loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước.
Lê Hoàn lên ngôi vua lãnh đạo nhân
dân ta tiến hành cuộc kháng chiến
chống Tống lần thứ nhất (Năm 981)
Bài 8: Cuộc kháng chiến chống quânTống xâm lược lần thứ I (năm 981)
Nước Đại Việt thời Lý (từ năm 1009
đến năm 1226): Vua Lý Thái Tổ dời đô
ra Thăng Long đổi lại tên nước; Sự
phát triển của đạo phật; Cuộc kháng
chiến chống quân Tống xâm lược lần
thứ II
Bài 9: Nhà Lý dời đô ra Thăng Long
Bài 10: Chùa thời Lý
Bài 11: Cuộc kháng chiến chống quânTống xâm lược lần thứ II ( Năm 1075-1077)
Nước Đại Việt thời Trần (từ năm 1226
đến năm 1400): Hoàn cảnh ra đời của
nhà Trần; Ba lần chiến thắng quân
Mông Nguyên xâm lược; Công cuộc
xây dựng đất nước ở thời Trần (việc
đắp đê) Sự suy tàn của nhà Trần và
hoàn cảnh ra đời của nhà Hồ
Bài 12: Nhà Trần thành lập
Bài 13: Nhà Trần và việc đắp đê
Bài 14: Cuộc kháng chiến chống quânxâm lược Mông – Nguyên
Bài 15: Nước ta cuối thời Trần
Nước Đại Việt buổi đầu thời Hậu Lê
(thế kỷ XV): Chiến thắng Chi Lăng;
Việc tổ chức quản lý đất nước; Sự phát
triển văn hóa khoa học dưới triều Lê
Sơ
Bài 16: Chiến thắng Chi Lăng
Bài 17: Nhà hậu Lê và việc tổ chứcquản lý đất nước
Bài 18: Nhà hậu Lê và việc tổ chứcquản lý đất nước
Bài 19: Văn học và khoa học thời Hậu Lê
Nước Đại Việt (Thế kỷ XVI- XVIII):
Trịnh Nguyễn phân tranh; Cuộc khẩn
hoang ở đàng trong; Thành thị ở thế kỷ
XVI-XVIII; Nghĩa quân Tây Sơn tiến
ra Thăng Long đại phá quân Thanh;
Quang Trung với sự nghiệp xây dựng
đất nước
Bài 21: Trinh Nguyễn phân tranh.Bài 22: Cuộc khẩn hoang ở đàng trong
Bài 23: Thành thị ở thế kỷ XVI-XVII.Bài 24: Nghĩa quân Tây Sơn tiến raThăng Long (Năm 1786)
Bài 25: Quang Trung đại phá quânThanh (Năm 1789)
Bài 26: Những chính sách về kinh tế vàvăn hóa của vua Quang Trung
Trang 13Buổi đầu thời Nguyễn (từ năm
1802-1858): Nhà Nguyễn thành lập, kinh
thành Huế
Bài 27: Nhà Nguyễn thành lậpBài 28: Kinh thành Huế
1.2.2 Thực trạng sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4
1.2.2.1 Mục đích khảo sát thực trạng
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận về việc sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạyhọc phân môn Lịch sử lớp 4 trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai Chúng tôitiến hành điều tra một số lớp của khối 4 trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khainhằm xác lập thực tiễn cho đề tài nghiên cứu Vấn đề đặt ra là vai trò, tầm quantrọng của viêc dạy học Lịch sử? hiệu quả của dạy học Lịch sử? Giáo viên đã sửdụng các phương pháp dạy học nào trong quá trình dạy học?
Để đảm bảo tính khách quan cho đề tài, chúng tôi còn tiến hành điều trahọc sinh nhằm tìm hiểu sự hứng thú khi học môn Lịch sử của học sinh? Từ đó đềxuất một số biện pháp sử dụng ca dao, tục ngữ trong quá trình dạy Lịch sử
1.2.2.2 Đối tượng khảo sát thực trạng
Trong phạm vi của đề tài, đối tượng mà chúng tôi tiến hành điều tra là 3giáo viên chủ nhiệm khối lớp 4 và 70 học sinh lớp 4 trường Tiểu học Nguyễn ThịMinh Khai, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
Các giáo viên mà chúng tôi điều tra đều đạt chuẩn, hầu hết các giáo viênđều có thâm niên giảng dạy từ 15 năm trở lên, với kinh nghiệm dày dạn
1.2.2.3 Nội dung khảo sát thực trạng
* Đối với giáo viên
Chúng tôi tiến hành điều tra 3 giáo viên lớp 4 trường Tiểu học Nguyễn ThịMinh Khai, TP Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam về các vấn đề
+ Vai trò, tầm quan trọng của phân môn Lịch sử lớp 4
+ Thực trạng của việc dạy học phân môn Lịch sử lớp 4
+ Sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4
+ Biện pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy Lịch sử cho học sinh lớp 4
* Đối với học sinh
Chúng tôi tiến hành điều tra 70 học sinh ở trường Tiểu học Nguyễn ThịMinh Khai, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về:
+ Thực trạng hứng thú học tập môn Lịch sử của học sinh lớp 4
+ Vai trò, tầm quan trọng của phân môn Lịch sử lớp 4
+ Hứng thú của học sinh khi học Lịch sử lớp 4
+ Hiệu quả của việc sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạy học phân môn Lịch
sử lớp 4
1.2.2.4 Phương pháp khảo sát thực trạng
Trang 14Nhằm đạt được mục đích điều tra đề ra, chúng tôi kết hợp sử dụng cácphương pháp sau:
+ Phương pháp Anket (phiếu điều tra) :
Chúng tôi tiến hành điều tra với những nội dung đã được soạn thảo trênđịa bàn đã nêu với tổng số phiếu điều tra là 73 phiếu (3 phiếu hỏi ý kiến giáoviên và 70 phiếu điều tra học sinh) và tổng số phiếu thu lại là 73
+ Phương pháp thống kê số học để phân tích số liệu, tổng hợp báo cáo:Thống kê, xử lí các số liệu về thực trạng dạy, học Lịch sử ở trường Tiểuhọc Từ đó, thống kê, đưa ra số liệu chính xác
1.2.2.5 Kết quả điều tra thực trạng
Qua quá trình điều tra chúng tôi được kết quả sau:
* Về phía giáo viên
Bảng 1.1 Tầm quan trọng của dạy học Lịch sử cho học sinh lớp 4
Bảng 1.2 Nhận định của thầy (cô) khi dạy Lịch sử
Trang 15Bảng 1.3 Đánh giá của giáo viên về mức độ hứng thú của học sinh trong giờ dạy
Bảng 1.4 Khó khăn thường gặp khi dạy học Lịch sử của giáo viên
Khó khăn thường gặp Số lượng (người) Tỉ lệ (%)
c Phương tiện dạy học không đảm bảo 2 66,7
Để tìm hiểu nguyên nhân làm cho giáo viên thấy dạy học Lịch sử là khókhăn Chúng tôi đã điều tra về khó khăn thường gặp khi dạy học Sử của giáoviên Kết quả có 66,7% cho rằng bản thân không đủ thời gian chuẩn bị ở nhànhằm khai thác và sử dụng các hình ảnh minh họa trong bài học Trong khi đó100% giáo viên đều cho rằng, khối lượng kiến thức ở tiểu học nói chung và Lịch
sử lớp 4 nói riêng là nặng nề và chủ yếu thiên về kiến thức lịch sử, chưa thực sựchú trọng tới thái độ của học sinh về lịch sử dân tộc Ngoài những khó khăn trên,66,7% giáo viên cho rằng phương tiện dạy học không đảm bảo cũng là một trongnhững khó khăn làm hạn chế chất lượng dạy và học môn Lịch sử
Qua trao đổi, các giáo viên đều cho rằng để dạy về diễn biến của một trậnđánh lịch sử, giáo viên cần sử dụng lược đồ lịch sử về trận đánh đó, hoặc khi nói
về việc cai trị đất nước của các triều đại, giáo viên cần đưa ra sơ đồ bộ máy nhànước của triều đại đó Tuy nhiên, các lược đồ lịch sử về diễn biến của một số trậnđánh không có (giáo viên không thể tự mình xây dựng lược đồ lịch sử) và sơ đồ
bộ máy nhà nước của nhà nước phong kiến hoặc là không được nói rõ trong bài
học hoặc là quá phức tạp đối với học sinh lớp 4 như “Bài 17: Nhà Hậu Lê và việc quản lí đất nước”.
Bảng 1.5 Mức độ quan tâm đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử của giáo viên
Trang 16Mức độ Số lượng (người) Tỉ lệ (%)
Với những khó khăn trên, chúng tôi đã điều tra về sự quan tâm của giáoviên trong việc khắc phục khó khăn và đổi mới PPDH Hầu hết giáo viên rấtquan tâm đổi mới PPDH, tuy nhiên các PPDH mà giáo viên sử dụng là phươngpháp đàm thoại, thảo luận và một số phương pháp khác như phương pháp kểchuyện, phương pháp trò chơi
Bảng 1.6 Mức độ tiếp cận ca dao, tục ngữ trong dạy học Lịch sử của giáo viên
độ yêu nước cho học sinh đồng thời học sinh biết dựa vào những câu ca dao, tụcngữ được học để ghi nhớ nội dung bài học Có 10% giáo viên phân vân rằng họcsinh sẽ được học sâu và hiệu quả bền vững hơn và 10% giáo viên không đồng ývới việc học sinh tích cực phát biểu Như vậy, phần lớn giáo viên đều thấy đượcvai trò của ca dao, tục ngữ trong dạy học Lịch sử Tuy nhiên, khi được hỏi lý dogiáo viên không sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạy học Lịch sử lớp 4 (dù có nhậnthức đúng về vai trò của ca dao, tục ngữ trong dạy học Lịch sử), phần lớn giáoviên đều đưa ra các lý do:
- Bản thân giảng dạy trên lớp 2 buổi/ngày, cùng với công tác chủ nhiệm đãchiếm phần lớn thời gian, nên không có điều kiện sưu tầm, khai thác ca dao, tụcngữ vào dạy học
- Do tâm lý ngại khai thác, ngại khó và xung quanh không ai làm nên cũngkhông có động lực
Trang 17là rất quan trọng, 21,4% học sinh chọn môn Lịch sử là quan trọng Có 8,6% họcsinh xem môn Sử là bình thường, tuy nhiên vẫn còn 5,7% học sinh xem nhẹ vaitrò của Lịch sử, xem Lịch sử là môn học không cần thiết Như vậy đa số các emnhận ra vai trò của việc học môn Sử
Trang 18khi học Lịch sử, 15% học sinh cảm thấy bình thường và không có học sinh nàothấy giờ học Lịch sử là thú vị
Bảng 1.9 Mức độ hiểu bài của học sinh sau mỗi tiết Lịch sử
1.2.2.6 Nhận xét về thực trạng sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4
Qua quá trình điều tra thực trạng của việc sử dụng ca dao, tục ngữ trongdạy học Lịch sử lớp 4, chúng tôi rút ra một số nhận định như sau:
Đa số các giáo viên và học sinh đều cho rằng môn Lịch sử là quan trọng.Tuy nhiên dạy và học Lịch sử còn gặp nhiều khó khăn khi các PPDH của giáoviên còn bộc lộ nhiều hạn chế, học sinh còn xem nhẹ môn Lịch sử Mặc dù vậy,giáo viên đã quan tâm chú ý chú trọng đổi mới phương pháp dạy học và đã cómột số ít giáo viên sử dụng ca dao, tục ngữ trong quá trình giảng dạy Hầu hếtgiáo viên đều biết được vai trò của ca dao, tục ngữ trong quá trình dạy học Lịch
sử là tạo hứng thú cho học sinh, nhưng còn lúng túng trong quá trình khai thác và
sử dụng Vì vậy, để giáo viên sử dụng ca dao, tục ngữ hiệu quả, chúng tôi đề xuấtmột số biện pháp thích hợp trong chương 2
Trang 19Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài như: một số kháiniệm cơ bản, vai trò của ca dao – tục ngữ trong dạy học phân môn Lịch sử và đặcđiểm nhận thức của học sinh Tiểu học Chúng tôi cũng tìm hiểu đặc điểm chươngtrình Lịch sử lớp 4, điều tra về thực trạng sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạy họcLịch sử lớp 4 ở trường Nguyễn Thị Minh Khai, TP Tam Kỳ, Tỉnh Quảng Nam
Mặc dù ca dao, tục ngữ rất quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày Nhưnggiáo viên rất ít khi sử dụng và chưa biết cách khai thác ca dao, tục ngữ sử dụngtrong quá trình dạy học Lịch sử nhằm tạo hứng thú cho học sinh
CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CA DAO, TỤC NGỮ VÀO
DẠY HỌC PHÂN MÔN LỊCH SỬ LỚP 4 2.1 Cơ sở đề xuất biện pháp
2.1.1 Mục tiêu dạy học Lịch sử lớp 4
Khi dạy học Lịch sử lớp 4 cần đảm bảo các mục tiêu cơ bản như đã nêu ở1.2.1.1 Chúng tôi đã dựa vào mục tiêu là một trong những cơ sở cho việc đề xuấtbiện pháp Lựa chọn, sử dụng ca dao, tục ngữ vào dạy học cần phải đảm bảo
Trang 20chính xác về các kiến thức Lịch sử lớp 4, đồng thời những câu ca dao, tục ngữcũng phải giáo dục được tinh thần và thái độ đối với lịch sử dân tộc cho học sinh.Cần xác định rõ mục tiêu của việc sử dụng ca dao, tục ngữ không những cungcấp kiến thức cho học sinh lĩnh hội, tiếp thu kiến thức Mà quan trọng hơn là tạohứng thú cho học sinh giúp học sinh yêu thích học tập môn Lịch sử hơn Vì vậy,giáo viên không được lạm dụng việc sử dụng ca dao - tục ngữ, biến giờ học Lịch
sử thành giờ học văn hay làm mờ đi nội dung, kiến thức lịch sử
2.1.2 Nội dung chương trình Lịch sử lớp 4
Chương trình Lịch sử lớp 4 cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bảnthiết thực về các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu, tương đối có hệthống theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho tớinửa đầu thế kỉ XIX Giáo viên cần lựa chọn các câu ca dao, tục ngữ phù hợp vớitừng giai đoạn lịch sử, từng nội dung bài học Tùy theo nội dung bài học, giáoviên lồng ghép sử dụng ca dao, tục ngữ trong các phương pháp dạy học
2.1.3 Thực trạng sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạy học Lịch sử lớp 4
Xuất phát từ thực trạng của việc dạy và học Lịch sử là chất lượng dạy và họcLịch sử lớp 4 ở trường Tiểu học chưa cao Biểu hiện là học sinh không yêu thích,không hứng thú khi học Lịch sử Giáo viên còn gặp nhiều khó khăn trong giảng dạy
mà nguyên nhân chủ yếu là do hạn chế về thời gian, phương tiện dạy học và đặcđiểm của chương trình Cũng qua quá trình điều tra về thực trạng, chúng tôi nhậnthấy rằng phương pháp, kĩ năng và kiến thức của giáo viên là nhân tố hàng đầu ảnhhưởng đến sự hứng thú của học sinh khi học Lịch sử Do vậy để đề xuất được nhữngbiện pháp chính xác, hiệu quả nhằm giúp giáo viên sử dụng ca dao, tục ngữ trongdạy học Lịch sử dễ dàng, không gây thêm áp lực cho cả thầy và trò, chúng tôi đãdựa vào thực trạng của việc sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạy học Lịch sử lớp 4.Đây chính là cơ sở quan trọng hàng đầu khi đề xuất biện pháp
2.1.4 Xuất phát từ đặc điểm nhận thức của học sinh
Việc vận dụng ca dao, tục ngữ vào dạy học lịch sử cần phù hợp với đặcđiểm tư duy và trình độ nhận thức của học sinh lớp 4 Với đặc điểm của ca dao,tục ngữ các mục 1.1.1.1, 1.1.1.2, 1.1.2 việc sử dụng ca dao, tục ngữ trong cácmôn học nói chung và Lịch sử lớp 4 nói riêng là biện pháp hiệu quả và có tính
Trang 21khả thi cao Tuy nhiên, khi xét về đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu họcchúng tôi thấy rằng nhu cầu hứng thú của học sinh lớp 4 có thể kích thích và duytrì chú ý không chủ định, trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển chiếm ưu thếhơn trí nhớ từ ngữ – logíc nên khi sử dụng ca dao, tục ngữ giáo viên có thể kếthợp với tranh ảnh minh họa Ở giai đoạn này, tư duy của học sinh mang đậm màusắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động, học sinh đã biết phốihợp sử dụng tất cả các giác quan để ghi nhớ một cách tổng hợp, tuy nhiên hiệuquả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tậptrung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý hay tìnhcảm của các em Do vậy, khi đề xuất các biện pháp sử dụng ca dao, tục ngữ trongdạy học Lịch sử lớp 4 nhằm làm cho giờ học hấp dẫn và lôi cuốn, chúng tôi đãchọn đặc điểm nhận thức của học sinh nói chung và học sinh lớp 4 nói riêng làm
cơ sở để xây dựng các biện pháp
2.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp
2.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích
Hoạt động giáo dục là hoạt động có ý thức, có mục đích nhằm hình thành
và phát triển toàn diện nhân cách con người Trong đó, mục đích giáo dục là kếtquả mà giáo dục mong muốn đạt được, cái đích được dự kiến một cách khái quát
Có thể nói, trong giáo dục phổ thông thì mục đích là mô hình nhân cách, phảnánh những yêu cầu, những quan điểm chung nhất của xã hội đối với con người
Vì vậy, nguyên tắc bảo đảm tính mục đích của hoạt động giáo dục mang tínhđịnh hướng cho việc hình thành nhân cách một lớp người trong một giai đoạnlịch sử nhất định
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học Lịch sử phải đào tạo cho thế
hệ trẻ thành những người công dân, những người lao động giàu lòng nhân ái, năngđộng, sáng tạo, biết sống và làm việc có trách nhiệm theo hiến pháp và pháp luật,
có tiềm năng thích ứng với cuộc sống đang đổi mới toàn diện và sâu sắc
2.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học
Lịch sử là bản thân cuộc sống mà loài người, dân tộc đã trải qua Hiệnthực lịch sử là khách quan và chỉ có một, nhưng nhận thức lịch sử lại có nhiều,tùy theo quyền lợi của giai cấp, con người tìm hiểu lịch sử Trong nhiều nhận
Trang 22thức khác nhau về lịch sử, chỉ có một nhận thức đúng; đó là nhận thức phản ánhlịch sử khách quan, đúng như nó tồn tại Chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ ChíMinh cùng với quan điểm và đường lối của Đảng Cộng Sản tạo cơ sở cho chúng
ta nhận thức đúng lịch sử [10]
Như vậy nguyên tắc đảm bảo tính khoa học đòi hỏi các biện pháp được đềxuất phải đảm bảo tính khách quan, khoa học Nguyên tắc này sẽ hạn chế đượcnhững nhận định mang tính áp đặt, chủ quan cá nhân về những sự kiện và nhân vậtlịch sử nhằm tạo ra được những biện pháp mang tính khả thi cao và thiết thực
2.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính trung thực và tính tư tưởng
Tính tư tưởng trong dạy học lịch sử, cũng như trong nghiên cứu sử họcMác xít – Lê nin của chúng ta đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân,quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần đào tạo thế
hệ trẻ theo mục tiêu đã xác định
Để tính tư tưởng thống nhất với tính khoa học trong nghiên cứu cũng nhưdạy học lịch sử đòi hỏi phải bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, rèn luyện quanđiểm tư tưởng, phẩm chất đạo đức của người giáo viên Hai mặt – tính khoa học vàtính tư tưởng không mâu thuẫn với nhau, song cần tránh những sai lầm của bệnh
“công thức”, “giáo điều” trong dạy học lịch sử, mà phải thể hiện sinh động, phongphú, phù hợp nội dung, nhiệm vụ giáo dục bộ môn Dạy học Lịch sử cũng cần đảmbảo tính trung thực, không được làm sai lệch đi các sự kiện lịch sử [10]
Đây là nguyên tắc cơ bản, quan trọng bậc nhất của nhận thức lịch sử
2.2.4 Nguyên tắc phát huy tính tích cực cho học sinh trong học tập Lịch sử
Đây là nguyên tắc được quán triệt trong mọi hoạt động, mọi mặt của quátrình giáo dục Nguyên tắc này quan niệm học sinh là chủ thể của nhận thức (họctập) dưới sự hướng dẫn, giáo dục của giáo viên, trong khuôn khổ nhà trường,theo chương trình, mục tiêu đã quy định
Việc phát huy tính tích cực cho học sinh trong dạy học nói chung, dạy họclịch sử nói riêng xuất phát từ mục tiêu đào tạo, trong đó nổi bật một điểm quantrọng là đào tạo thế hệ trẻ thành người lao động làm chủ nước nhà Để trở thành
Trang 23công dân, chủ nhân xã hội, học sinh phải được rèn luyện trong quá trình đào tạo
và tự đào tạo
Mục tiêu giáo dục nói chung, mục tiêu - nội dung - phương pháp dạy họclịch sử nói riêng đòi hỏi phát huy tính tích cực học tập của học sinh Phát huy tínhtích cực của học sinh trong học tập không phải để học sinh tự phát triển tùy tiện
mà cần có sự hướng dẫn, giúp đỡ, giáo dục tích cực, có hiệu quả của giáo viên
2.3 Đề xuất một số biện pháp sử dụng ca dao tục ngữ nhằm tạo hứng thú cho học sinh trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4
2.3.1 Sử dụng ca dao, tục ngữ phối hợp trong các phương pháp dạy học tích cực
Nhằm nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh, việc sử dụng cácphương pháp dạy học tích cực trong quá trình dạy là vô cùng cần thiết Dựa vàotình hình của trường, lớp mà giáo viên sử dụng linh hoạt các phương pháp dạyhọc nhằm phát huy tính tích cực chủ động cho học sinh trong quá trình dạy họcLịch sử Sử dụng ca dao, tục ngữ kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực
sẽ làm tăng hiệu quả của giờ học Lịch sử, giúp các em dễ nhớ các sự kiện, nhânvật lịch sử hơn
2.3.1.1 Phương pháp kể chuyện
Kể chuyện là cách dùng lời nói trình bày một cách sinh động, có hìnhảnh và truyền cảm đến người nghe về một nhân vật lịch sử, một sự kiện lịch sử,một phát minh khoa học, một vùng đất xa lạ…để hình thành một biểu tượng, mộtkhái niệm cho học sinh [5]
Phương pháp kể chuyện sử dụng trong dạy học Lịch sử là một trongnhững phương pháp có ưu thế trong việc gây hứng thú học tập cho HS Thôngqua những câu chuyện lịch sử sinh động có liên quan đến một nhân vật, một địadanh hay một sự kiện sẽ có tác dụng giúp học sinh ghi nhớ tốt những sự kiện lịch
sử, những nhân vật, mốc thời gian Giáo viên có thể dùng phương pháp kể
chuyện trong tất cả các bài dạy, như khi dạy bài “Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân” trong lúc kể chuyện về Đinh Bộ Lĩnh giáo viên sẽ lồng ghép câu ca dao:
Bé thì chăn nghé chăn trâu Trận bày quyết lấy bông lau làm cờ
Trang 24Lớn lên xây dựng cơ đồ Mười hai xứ tướng bấy giờ đều thua 2.3.1.2 Phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp thảo luận là cách đối thoại giữa học sinh và giáo viên,giữa học sinh và học sinh, nhằm huy động trí tuệ của tập thể để giải quyết mộtvấn đề do môn học đặt ra, hoặc một vấn đề do thực tế cuộc sống đòi hỏi, để tìmhiểu, đưa ra những giải pháp, những kiến nghị, những quan niệm mới [5]
Trong quá trình dạy học Lịch sử, học sinh được thảo luận giải quyết vấn
đề giáo viên đưa ra, vì vậy giáo viên sẽ dễ dàng lồng ghép ca dao, tục ngữ vào
phương pháp thảo luận nhóm Như trong bài 5 “Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo” giáo viên lồng ghép ca dao, tục ngữ cho HS thảo luận nhóm
bằng cách sau khi cho HS đọc nội dung trong SGK, gọi HS đọc câu ca dao, tụcngữ
Con ơi nhớ lấy lời cha Gió to, sóng cả chớ qua sông Rừng Đánh giặc thì đánh giữa sông Đừng đánh chỗ cạn mắc chông mà chìm
Sau đó trả lời câu hỏi: Ngô Quyền đã dùng kế gì để đánh giặc?, Nêu diễn biến chính của trận Bạch Đằng?
2.3.1.3 Phương pháp trò chơi
Trò chơi học tập được sử dụng như một phương pháp tổ chức cho HSkhám phá và chiếm lĩnh nội dung học tập hoặc thực hành, luyện tập một kĩ năngnào đó trong chương trình môn học
Giáo viên có thể thiết kế các loại trò chơi khác nhau theo nội dung bàiLịch sử, trong quá trình thiết kế trò chơi giáo viên có thể lồng ghép ca dao, tục ngữ
vào câu hỏi như bài 20“Ôn tập” Giáo viên cho học sinh điền vào chỗ trống:
Cao nhất là núi…
Có ông … trong ngàn bước ra.
Hoặc cho học sinh thi đối đáp các câu ca dao, tục ngữ về thời Hậu Lê
Trang 252.3.1.4 Phương pháp đóng vai
Phương pháp đóng vai là cách tổ chức HS tham gia giải quyết một tìnhhuống của nội dung học tập gắn liền với thực tế cuộc sống bằng cách diễn xuấtmột cách ngẫu hứng mà không cần kịch bản hoặc luyện tập trước…
PP đóng vai được sử dụng trong dạy học Lịch sử không phải để họcsinh giải quyết một tình huống có trong thực tế cuộc sống Lúc này, giáo viênkhai thác phương pháp đóng vai như là một phương tiện dạy học, để trong quátrình học sinh diễn lại các sự kiện Lịch sử, học sinh suy nghĩ sâu sắc, nhớ lâu hơncác sự kiện lịch sử Trước khi đóng vai, giáo viên nên cho học sinh tìm hiểu kĩnội dung đóng vai, dành thời gian cho học sinh chuẩn bị để học sinh thực hiện tốt
vai diễn của mình Như trong bài “Nghĩa quân Tây Sơn tiến ra Thăng Long (năm 1786)” giáo viên lồng ghép ca dao, tuc ngữ vào phần dẫn truyện
An khê nổi tiếng Hòn Bình Khi xưa Nguyễn Huệ ẩn danh nơi này
2.3.1.5 Phương pháp điều tra
Phương pháp điều tra là cách tổ chức và hướng dẫn học sinh tìm hiểu mộtvấn đề Dựa trên các thông tin thu thập được, giáo viên hướng dẫn học sinh phântích, so sánh, khái quát để rút ra kết luận, hoặc nêu ra các giải pháp, kiến nghị
Phương pháp điều tra được sử dụng trong dạy học Lịch sử giúp hìnhthành tính chủ động tìm tòi, tích cực, sáng tạo…đặc biệt là khả năng vận dụng trithức đã học vào cuộc sống thực tế Giáo viên sẽ giao nhiệm vụ điều tra tìm hiểu
một số câu ca dao, tục ngữ liên quan tới nội dung bài học như khi dạy bài “Kinh thành Huế” giáo viên cho học sinh về tìm hiểu về kinh thành Huế, cùng với
những câu ca dao, tục ngữ về Huế, giáo viên cho học sinh thời gian về chuẩn bịmột cách chu đáo
Trang 262.3.2 Khai thác ca dao, tục ngữ sử dụng trong quá trình dạy học Lịch sử lớp 4
Ca dao, tục ngữ là kho tàng tri thức vô tận chứa đựng những kinh nghiệmquý báu của cha ông ta về lịch sử, địa lý, con người, tình yêu,… Mặc dù, hiệnnay xã hội đã thay đổi, tiến bộ, kiến thức của con người về tự nhiên, xã hội ngàycàng mở rộng song những câu ca dao, tục ngữ vẫn còn giữ nguyên giá trị Nhiềucâu ca dao, tục ngữ đã phản ánh chính xác các sự kiện trong các giai đoạn lịch sửkhác nhau rất sống động Chính vì vậy, trong quá trình dạy học lịch sử ở nhàtrường, giáo viên cần vận dụng một cách linh hoạt và khoa học kho tàng ca daotục ngữ, kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực sẽ mang lại hiệu quả họctập cao, tăng hứng thú học tập cho học sinh Cụ thể:
1 Khi dạy các bài về nhà nước Văn Lang – Âu Lạc tồn tại vào khoảng thế
kỉ VII TCN đến thế kỉ III TCN và để tưởng nhớ công ơn các vua Hùng, người đãthành lập nhà nước đầu tiên, tạo tiền đề cho việc hình thành đất nước Việt Namngày nay, Thục Phán đã cho dựng cột đá thề đời đời thờ cúng vua Hùng Tục giỗ
tổ Hùng Vương xuất phát từ đây Lúc này giáo viên có thể sử dụng câu ca dao:
Ai về Phú Thọ cùng ta Vui ngày giỗ tổ tháng 3 mồng 10
Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ tổ mồng mười tháng ba Khắp miền truyền mãi câu ca Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm.
Tháng ba nô nức hội đền, Nhớ ngày giỗ tổ bốn nghìn năm nay.
2 Khi dạy về các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta chống lại ách đô hộ của
phong kiến phương Bắc (Bài 3: Nước ta dưới ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc), giáo viên có thể sử dụng những câu ca dao nói về sự đấu tranh
bền bỉ, tinh thần kiên trung bất khuất của dân tộc ta trước các thế lực phong kiếnphương Bắc
Trang 27Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ múc nước rửa bành cho voi Muốn coi lên núi mà coi Coi bà quản tượng (Triệu tướng) cưỡi voi đánh cồng
Túi gấm cho lẫn túi hồng Têm trầu mũi mác cho chồng trẩy quân.
Ai qua Nông Cống tỉnh Thanh Dừng chân nhớ Triệu Thị Trinh anh hùng.
Ai về Hậu Lộc, Phú Điền, Nơi đây Bà Triệu trận tiền xung phong.
Những câu ca dao trên nói về hình ảnh của người phụ nữ can trường, lẫm liệtTriệu Thị Trinh đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Ngô đô hộ ở thế kỉ III
Hay khi nói về nỗi thống khổ của nhân dân vì nạn cống vải:
Nhớ khi nội thuộc Đường triều Giang sơn cố quốc nhiều điều ghê gai
Sâu quả vải vì ai vạch lá Ngựa hồng trần kể đã héo hon Đường đi cống vải từ đây đứt Dân nước đời đời hưởng lộc chung
Và cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược phương Bắc của Mai ThúcLoan (Mai Hắc Đế), ca dao cũng có câu rằng:
Sa nam trên chợ dưới đò Nơi đây Hắc Đế kéo cờ dựng binh.
Để học sinh hình dung được hoàn cảnh loạn lạc trước khi thành lập nhàĐinh, nhớ tên người thành lập triều đại này cũng như khí phách của Đinh Bộ Lĩnh(Bài 7: Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân), giáo viên có thể sử dụng câu ca dao:
Bé thì chăn nghé, chăn trâu Trận bày đã lấy bông lau làm cờ Lớn lên xây dựng cơ đồ
Trang 28Mười hai sứ tướng bấy giờ đều thua
Nay mừng gặp hội long vân Mừng Đại Cồ Việt nhân dân thái bình
Cờ lau tập trận hoàn thành Khấu đầu lạy tạ thánh minh cửu trùng
Trần ai ai biết đi đâu Hoa Lư có đám trẻ trâu anh hùng
Cờ lau tập trận vẫy vùng Làm cho mầm Lạc, chồi Hồng vẻ vang
3 Năm 1010, Vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long đánh dấumột bước ngoặt lớn cho sự lớn mạnh của dân tộc Đại Việt cả về kinh tế lẫn quân
sự (Bài 9: Nhà Lý dời đô ra Thăng Long) Để ghi nhớ công ơn của vua Lý Thái
Tổ và giúp học sinh ghi nhớ tên của kinh đô nước ta thời bấy giờ, giáo viên cóthể sử dụng những câu ca dao:
Nghìn năm còn mãi sử xanh Vua Lý Thái Tổ dời thành lập đô
Về Thăng Long dựng cơ đồ Thiên thu bền vững thủ đô Lạc Hồng.
Năm một nghìn không trăm mười Vua Lý Thái Tổ cho dời thành xưa
Về Thăng Long dựng kinh đô Muôn dân chung dựng cơ đồ ông cha
4 Khi dạy các bài về thời Hậu Lê (các bài 15,16,17,18,19), tuỳ thuộc vàonội dung của từng bài mà giáo viên sử dụng các câu ca dao nói về hình ảnh của
Lê Lợi, khí thế và lòng tin yêu của nhân dân dành cho ông trong cuộc khởi nghĩachống quân Minh nơi vùng đất Lam Sơn oanh liệt như:
Cao nhất là núi Lam Sơn
Trang 29Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra
Ai lên Biện Thượng Lam Sơn Nhớ vua Lê Lợi chặn đường giặc Minh
Quê tôi ở đất Cẩm Bào
Ai muốn đánh giặc thì vào quê tôi
Ăn trầu thì nhớ đến vôi
Ai muốn đánh giặc nhớ thời vua Lê
Lạy trời cho cả gió lên Cho cờ vua Bình Định bay trên kinh thành 1
Để miêu tả sự ổn định và phát triển mạnh mẽ về chính trị, kinh tế, văn hóacủa nước Đại Việt dưới triều đại Lê sơ Giáo viên có thể sử dụng những câu caodao để ca ngợi cảnh thái bình thịnh trị ấy như sau:
Đời Lê Thái Tổ, Thái Tông Thóc lúa đầy đồng gà chẳng thèm ăn
Bò đen húc lẫn bò vàng Hai con húc chắc đâm quàng xuống sông.
Đời vua Thái Tổ, Thái Tông Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn
Tuy nhiên, từ thế kỉ XVI chế độ phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạnsuy yếu, cảnh thái bình thịnh trị đã không còn nữa Để miêu tả đời sống khó khăncủa nhân dân, ca dao cũng có câu rằng:
Đời vua Vĩnh Tộ lên ngôi Cơm trắng đầy nồi, trẻ chẳng buồn ăn
Từ ngày Cảnh Trị lên ngôi Khoai chửa mọc chồi đã nhổ lên ăn.
1 Ngày 2 tháng giêng năm Bính Tuất (1418), Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa chống quân Minh, xưng là Bình
Trang 305 Bước sang thế kỷ XVI- XVIII đất nước có nhiều biến động lớn vàvướng nạn binh đao, nồi da xáo thịt bởi cuộc phân tranh giữa hai tập đoàn phongkiến Trịnh – Nguyễn (Bài 21: Trịnh - Nguyễn phân tranh) Quảng Bình lúc ấy làchiến địa của các cuộc giao tranh Lúc này, giáo viên có thể sử dụng câu ca dao
để thể hiện nỗi lòng người dân:
Sông Gianh nước chảy đôi dòng Đèn chong đôi ngọn, biết trông ngọn nào?
Lũy Thầy ai đắp mà cao Sông Gianh ai bới, ai đào mà sâu
Có tài thì vượt sông Gianh Dẫu mọc thêm cánh Trường thành khó qua.
Hoặc câu ca dao ghi nhớ công ơn của các vị Chúa Nguyễn như:
Miền Nam biển bạc, rừng vàng Ghi công Chúa Nguyễn mở mang cơ đồ
Cuối thế kỉ XVIII, sự suy đồi của chế độ phong kiến ngày càng nghiêm trọng.Cuộc khởi nghĩa của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ bùng nổ
và nhanh chóng lan rộng (Bài 24 Nghĩa quân Tây Sơn tiến ra Thăng Long (năm1786)) Để nói về kí ức và sự kiện lịch sử này, giáo viên có thể sử dụng câu cadao được dân gian truyền khẩu như sau:
An Khê nổi tiếng Hòn Bình, Khi xưa Nguyễn Huệ ẩn danh nơi này.
Nguyễn đi thời Nguyễn lại về Chúa Trịnh mất nước, vua Lê khó còn.
Để miêu tả khí phách anh hùng cũng như ghi nhớ công lao của NguyễnHuệ lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Thanh vào mùa xuân năm Kỉ Dậu (Bài 25.Quang Trung đại phá quân Thanh (năm 1789)) dân gian cũng có câu:
Xuân xưa vang tiếng Hà Hồi Oai danh Nguyễn Huệ muôn đời còn ghi
Trang 31Một trời khí phách uy nghi Đón xuân không thẹn tu mi Lạc Hồng.
6 Để giúp học sinh tìm hiểu cảnh sắc thiên nhiên của Huế vừa thơ mộngvừa hùng vĩ (Bài 28 Kinh thành Huế) Giáo viên có thể sử dụng các câu ca dao
để nói về vẻ đẹp của kinh thành Huế như:
Bốn bề núi phủ, mây phong, Mảnh trăng thiên cổ, bóng tùng Vạn Niên.
Ngọ Môn năm cửa, chín lầu Cột cờ ba bậc, Phu Văn Lâu hai tầng.
Đi mô cũng nhớ quê mình Nhớ Hương Giang gió mát, nhớ Ngự Bình trăng thanh
Kho tàng ca dao tuy rất phong phú nhưng không phải câu nào cũng có thểvận dụng vào trong các bài học Một câu ca dao hay có thể vận dụng cho nhiềunội dung bài học đồng thời với một nội dung cũng có thể vận dụng nhiều câu cadao để bài học hấp dẫn hơn Chúng ta có thể lựa chọn những câu gần gũi nhất vớicác em học sinh nhưng cũng phải thể hiện chính xác nhất nội dung bài học Tuynhiên, không nên lạm dụng quá nhiều ca dao trong các bài học sẽ làm bài họcnhàm chán, phân tán sự tập trung của học sinh
2.3.3 Thiết kế một số bài dạy trong chương trình Lịch sử lớp 4
Bài 23: THÀNH THỊ Ở THẾ KỈ XVI - XVII I/ Mục tiêu
- Miêu tả những nét cụ thể sinh động về ba thành thị: Thăng Long, Phố Hiến, Hội An ở thế kỉ XVI – XVII để thấy rằng thương nghiệp thời kì này rất phát triển(cảnh buôn bán nhộn nhịp, phố phường nhà cửa, cư dân ngoại quốc,…)
- Dùng lược đồ chỉ vị trí và quan sát tranh, ảnh về các thành thị này
II/ Đồ dùng dạy học
- Giáo viên: Sách giáo viên, giáo án điện tử, phiếu học tập.
- Học sinh: Sách giáo khoa, vở.
III/ Hoạt động dạy học chủ yếu.
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh I.Bài cũ: (5’)
- Gọi 2 HS lần lượt trả lời câu hỏi: - HS trả lời
Trang 32+ Chúa Nguyễn đã làm gì để khuyến khích
người dân khai hoang?
+ Nêu kết quả của cuộc khẩn hoang ở đàng
trong?
- Giáo viên nhận xét, tuyên dương
II Bài mới:
1 Giới thiệu bài :
Vào thế kỉ XVI – XVII, thành thị ở nước ta
rất phát triển trong đó nổi lên ba thành thị
lớn là: Thăng Long, Phố Hiến ở Đàng
ngoài và cảng Hội An ở Đàng Trong Bài
học hôm nay cô cùng các em tìm hiểu về ba
thành thị lớn này
2 Nội dung:
Hoạt động 1: Xác định vị trí của ba thành
thị lớn (PP quan sát + PP đàm thoại)
- Gọi HS đọc nội dung trong SGK
+ Theo em, thành thị nghĩa là gì?
- GV nhận xét, bổ sung:
Thành thị ở giai đoạn này không chỉ là trung
tâm chính trị, quân sự mà còn là nơi tập trung
đông dân cư, thương nghiệp và công nghiệp
phát triển
+ Em nào biết thành Thăng Long, Hội An
thuộc tỉnh thành nào của nước ta hiện nay?
+ Phố Hiến thuộc tỉnh thành nào của nước ta
- Thăng Long – Hà Nội
- Phố Hiến – Hưng Yên
- Hội An – Quảng Nam
- HS quan sát, chỉ vị trí
Trang 33- GV chiếu bản đồ Việt Nam, yêu cầu học sinh
quan sát và xác định vị trí 3 thành thị lớn của
nước ta thế kỉ XVI – XVII (Thăng Long, Phố
Hiến, Hội An) trên bảng đồ địa lí Việt Nam
- Nhận xét
Hoạt động 2: Đặc điểm của Thăng Long,
Phố Hiến, Hội An ở thế kỉ XVI – XVII (PP
thảo luận)
Dân gian có câu: “Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì
Phố Hiến” Để biết tại sao Thăng Long, Phố
Hiến, Hội An – Ba thành thị lớn thế kỉ XVI –
XVII thì bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu đặc điểm
của ba thành thị này
- Tổ chức cho HS thảo luận nhóm
+ Nhóm 1-2: Tìm hiểu về dân số, quy mô, hoạt
động buôn bán của Thăng Long
+ Nhóm 3: Tìm hiểu về dân số, quy mô, hoạt
động buôn bán của Phố Hiến
+ Nhóm 4: Tìm hiểu về dân số, quy mô, hoạt
động buôn bán của Hội An
- Gọi đại diện các nhóm lên bảng trình bày