Đặc thù của bộ môn Lịch sử là nhiều sự kiện với những mốc lịch sử khác nhau nên khó ghi nhớ. Với việc sử dụng truyền thuyết trong dạy học Lịch sử, học sinh sẽ chủ động khai thác các tri thức và lĩnh hội được các tri thức một cách hiệu quả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM
KHOA TIỂU HỌC – MẦM NON
- -ĐẶNG THỊ VIỆT TRINH
SỬ DỤNG TRUYỀN THUYẾT TRONG DẠY
HỌC PHÂN MÔN LỊCH SỬ LỚP 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Quảng Nam, tháng 04 năm 2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn của mình tới BanGiám hiệu, Phòng Đào tạo và Khoa Tiểu học – Mầm non Trường Đại học QuảngNam cùng toàn thể các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trongsuốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc đến Cô Lê Thị Bình –Người đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thựchiện khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện của cácThầy, Cô giáo trường Tiểu học Trần Quốc Toản, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.Trong suốt thời gian thực nghiệm tại trường, các thầy cô và các em học sinh đãnhiệt tình hợp tác, hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập tài liệu phục vụ cho nghiêncứu đề tài
Thiết tha bày tỏ lời tri ân sâu sắc đến ba mẹ và những người thân trong giađình đã luôn quan tâm, yêu thương và tạo mọi điều kiện cho tôi học tập Cảm ơnnhững người bạn đã góp ý, trao đổi và động viên tôi trong quá trình nghiên cứu
Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, songnhững thiếu sót trong khóa luận là không thể tránh khỏi, kính mong sự đóng góp
ý kiến và chỉ dẫn của quý Thầy, Cô giáo để khóa luận được hoàn thiện hơn
Tam Kỳ, tháng 5 năm 2018 Sinh viên thực hiện
Đặng Thị Việt Trinh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em Các số liệu,tài liệu của khóa luận tốt nghiệp là trung thực và chưa được công bố trong cáccông trình nghiên cứu khác
Nếu không đúng như những gì đã nêu trên, em xin hoàn toàn chịu tráchnhiệm về khóa luận tốt nghiệp của em
Sinh viên thực hiện
Đặng Thị Việt Trinh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Khách thể nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận 3
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3
5.3 Phương pháp thống kê toán học 4
6 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
7 Đóng góp của đề tài 5
8 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5
9 Cấu trúc tổng quan của đề tài 6
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TRUYỀN THUYẾT TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN LỊCH SỬ LỚP 4 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Một số vấn đề chung về sử dụng truyền thuyết 7
1.1.2 Các phương pháp dạy học chủ yếu trong dạy học Lịch sử lớp 4 13
1.1.3 Đặc điểm nhận thức của học sinh giai đoạn lớp 4, 5 14
Trang 51.2 Cơ sở thực tiễn 17
1.2.1.Mục tiêu và nội dung dạy học phân môn Lịch sử lớp 4 17
1.2.2.Thực trạng sử dụng truyền thuyết trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4 19 CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TRUYỀN THUYẾT VÀO DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ LỚP 4 35
2.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 35
2.1.1 Mục tiêu dạy học Lịch sử lớp 4 35
2.1.2 Nội dung phân môn Lịch sử lớp 4 35
2.1.3 Thực trạng sử dụng truyền thuyết trong dạy học Lịch sử lớp 4 35
2.1.4 Xuất phát từ đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 4 36
2.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp sử dụng truyền thuyết trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4 36
2.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 36
2.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, chính xác 37
2.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính trung thực và tư tưởng 37
2.2.4 Nguyên tắc phát huy tính tích cực cho học sinh trong môn Lịch sử 38
2.2.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 38
2.3 Vận dụng truyền thuyết trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4 38
2.3.1 Sưu tầm các câu chuyện truyền thuyết phục vụ trong dạy học phân môn lịch sử lớp 4 38
2.3.2 Khai thác các bài học sử dụng truyền thuyết trong dạy học Lịch sử lớp 4.42 2.3.3 Khai thác các truyền thuyết sử dụng trong các hoạt động dạy học phân môn Lịch sử lớp 4 46
Tiểu kết chương 2 59
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 60
Trang 63.1 Mục đích thực nghiệm 60
3.2 Đối tượng, thời gian thực nghiệm sư phạm 60
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 60
3.2.2 Thời gian thực nghiệm 60
3.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 61
3.3.1 Tiêu chí chọn bài thực nghiệm 61
3.3.2 Thiết kế bài giảng thực nghiệm và đối chứng 61
3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 68
3.5 Chuẩn bị thực nghiệm 69
3.6 Tổ chức thực nghiệm sư phạm 69
3.7 Kết quả thực nghiệm 69
3.8 Một số lưu ý khi sưu tầm và sử dụng truyền thuyết trong dạy học Lịch sử .76 3.9 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực nghiệm 77
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79
1 Kết luận chung 79
2 Khuyến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 8Bảng 1.14 Giáo viên đã từng sử dụng kiến thức của các môn học
khác trong tiết dạy Lịch sử
Bảng 3.3 Mức độ hiểu bài của học sinh khi sử dụng truyền thuyết
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 9STT BẢNG TRANG
Biểu đồ 1.1 Kết quả học môn Lịch sử 4 của học sinh năm 2016 –
2017
22
Biểu đồ 1.2 Đánh giá của giáo viên về mức độ hứng thú của học
sinh trong giờ học Lịch sử 4
22
Biểu đồ 1.3 Khó khăn thường gặp khi dạy học Lịch sử của giáo viên 23Biểu đồ 1.4 Phương pháp giáo viên sử dụng trong dạy học Lịch sử 24Biểu đồ 1.5 Giáo viên đã từng sử dụng kiến thức của các môn học
khác trong dạy học Lịch sử
25
Biểu đồ 1.6 Hoạt động của bài học có thể sử dụng truyền thuyết 27
Biểu đồ 1.8 Mức độ hứng thú của học sinh đối với phân môn Lịch sử 30Biểu đồ 1.9 Không khí lớp học trong giờ học Lịch sử 31Biểu đồ 1.10 Mức độ hiểu bài của học sinh sau mỗi tiết Lịch sử 33Biểu đồ 3.1 So sánh hứng thú khi học Lịch sử của 2 lớp 71
Biểu đồ 3.3 Mức độ hiểu bài của học sinh khi sử dụng truyền thuyết
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong “Luật phổ cập giáo dục tiểu học” có ghi: “Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất của trẻ em nhằm làm cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa” Bậc tiểu học sẽ tạo tiền đề để thực hiện “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài” để trẻ em trở thành những con người có trí tuệ phát
triển, ý chí cao và tình cảm đẹp
Đặc biệt theo “Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của BCH trung ương Đảng khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT” đã chỉ rõ mục tiêu tổng quát là: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả ”
Để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục theo Luật phổ cập giáo dục tiểu học và theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đào tạo thì mỗi giáo viên
chúng ta phải tìm ra các giải pháp hữu hiệu thực hiện Để thực hiện tốt nhiệm vụnày, chúng ta không thể xem nhẹ việc giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, tinhthần dân tộc và đặc biệt là thái độ của lớp trẻ đối với lịch sử, đối với cội nguồn, đểxây dựng một nước Việt Nam độc lập, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh Bác Hồ cũng đã từng nói:
“Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.”
Trong chương trình giáo dục tiểu học hiện nay, ngoài các môn học nhưToán, Tiếng Việt, Đạo đức, Mỹ thuật đóng vai trò góp phần quan trọng đào tạonên những con người phát triển toàn diện, thì Lịch sử còn là môn học có tínhlogic và tính tích hợp cao, cung cấp cho học sinh những hiểu biết về bản sắc văn
Trang 11hóa và lịch sử dân tộc Ngoài ra, Lịch sử còn là chìa khóa mở ra sự phát triển củacác bộ phận khác
Đặc thù của bộ môn Lịch sử là nhiều sự kiện với những mốc lịch sử khácnhau nên khó ghi nhớ Với việc sử dụng truyền thuyết trong dạy học Lịch sử, họcsinh sẽ chủ động khai thác các tri thức và lĩnh hội được các tri thức một cách hiệuquả và dễ dàng Điều đó đòi hỏi giáo viên cần sử dụng truyền thuyết Việt Nammột cách hợp lý, kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực để thu hút sự chú
ý, hứng thú học tập của học sinh Để giúp học sinh ham học môn Lịch sử, gópphần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và nhận thức được tầm quan trọng
của môn này ở tiểu học, chúng tôi chọn đề tài “Sử dụng truyền thuyết trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4” để nghiên cứu Hi vọng nghiên cứu này sẽ góp
phần tích cực trong quá trình dạy học hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn của việc sử dụng truyền thuyết trongquá trình dạy học, chúng tôi đề xuất một số biện pháp sử dụng truyền thuyếttrong quá trình dạy học Lịch sử giúp học sinh hình thành kiến thức lịch sử vàgiáo dục tình yêu quê hương, đất nước cho học sinh
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp sử dụng truyền thuyết trong dạy học môn Lịch sử lớp 4
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học phân môn Lịch sử lớp 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng truyền thuyết trongdạy học phân môn Lịch sử lớp 4
- Nghiên cứu thực trạng của việc dạy học Lịch sử và sử dụng truyền thuyếttrong quá trình dạy học
- Đưa ra biện pháp sử dụng truyền thuyết trong một số nội dung dạy họcphân môn Lịch sử lớp 4
- Thực nghiệm sư phạm
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
5.1.1 Phương pháp đọc tài liệu
Thu thập các tài liệu có liên quan đến nội dung của đề tài:
- Thu thập các câu chuyện truyền thuyết lịch Việt Nam có thể sử dụng
- Tìm đọc các quyển sách viết về lịch sử Việt Nam, về văn học dân gianViệt Nam hay các sách bình giảng truyện dân gian
- Bên cạnh đó còn chọn và đọc các tài liệu về tâm lý, giáo dục, các địnhhướng đổi mới giáo dục để làm nên tảng nghiên cứu cho đề tài
5.1.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp lí thuyết
Thu thập các tài liệu, các câu chuyện truyền thuyết có liên quan đến nộidung của đề tài Từ đó, chọn lọc các tư liệu cho phù hợp với từng nội dung của
đề tài, tiến hành phân tích tư liệu, tổng hợp, đánh giá và liên hệ tư liệu với nộidung đề tài
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát các tiết dạy của giáo viên để tiến hành theo dõi cách dạy cũng nhưcác phương pháp giáo viên sử dụng trong tiến trình dạy
5.2.2 Phương pháp điều tra
Điều tra thông qua thiết kế các phiếu điều tra đánh giá cho giáo viên và chohọc sinh về thực trạng sử dụng truyền thuyết trong dạy học Lịch sử lớp 4
5.2.3 Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia
Tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn và các giáo viên ở khoa Tiểuhọc – Mầm non, các giáo viên đang dạy lớp 4 tại trường Tiểu học Trần QuốcToản Tiếp thu các ý kiến đóng góp của giáo viên để có định hướng đúng đắntrong quá trình nghiên cứu, góp phần hoàn thiện nội dung nghiên cứu
5.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thiết kế giáo án dạy thực nghiệm để kiểm tra, đánh giá tính khả thi và tínhhiệu quả của việc sử dụng truyền thuyết trong dạy học Lịch sử Thu thập thôngtin về sự thay đổi trong nhận thức lịch sử dân tộc của học sinh lớp 4 khi học Sử
Trang 13Kiểm tra kết quả điều tra, quan sát các hiện tượng giáo dục để khẳng định lại chochắc chắn các kết luận đã rút ra.
5.3 Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp này dùng để phân tích, xử lí các kết quả thu được thông quaquá trình điều tra và tổ chức thực nghiệm
6 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Hiện nay, sử dụng truyền thuyết trong dạy học các môn cụ thể được sử dụngnhư một biện pháp nhằm thu hút, kích thích sự chú ý của học sinh và đặc biệt lànâng cao được nhận thức về lịch sử dân tộc cho học sinh Truyền thuyết đượcnghiên cứu sử dụng trong một số môn học như Ngữ văn, Địa lý ở trường phổthông Thậm chí còn có nhiều tác giả nghiên cứu về các tài liệu văn học dân gian
để phục vụ cho dạy học Lịch sử như các câu chuyện cổ tích, truyền thuyết, cáccâu ca dao, tục ngữ, vè… vì mang tính chất tư liệu lịch sử phản ánh lịch sử donhân dân sáng tác trong điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể với các đề tài như
“Sử dụng tài liệu văn học dân gian trong dạy học Lịch sử Việt Nam ở lớp 10” của tác giả Nguyễn Đình Thế hay “Sử dụng tài liệu Văn học để dạy Lịch sử ở trường THCS” của tác giả Nguyễn Quang Dũng – Trường THCS Vạn Ninh Và
cũng có số một nhà nghiên cứu về phương pháp dạy tác phẩm văn học nói chung,dạy truyền thuyết nói riêng trong chương trình Ngữ văn THCS theo đặc trưng thể
loại Đó là các luận án luận văn như “Từ đặc trưng thể loại xác định nội dung và phương pháp đọc – hiểu một số tác phẩm tự sự dân gian thuộc thể loại truyền thuyết, cổ tích trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở” của Nguyễn Văn
Nại, luận án Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học sư phạm Hà Nội, 2004 Ngoài ra còn cócác bài sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên viết về việc vận dụng các kiến thức
Địa lý, Văn học, GD Công dân… vào dạy học Lịch sử như “Sử dụng yếu tố tích hợp liên môn trong dạy học môn Lịch sử lớp 9 THCS Minh Tân – Hưng Yên” và sáng kiến kinh nghiệm “Dạy học liên môn theo chủ đề tích hợp môn Lịch sử lớp
6 ở trường THCS Ngọc Mỹ - Hà Nội”.
Đặc biệt ở bậc Tiểu học, để học sinh có ý thức trong việc tiếp thu các giá trị
di sản lịch sử và văn hóa dân tộc, trong giữ gìn bản sắc và phát huy những truyền
Trang 14thống của người Việt Nam thì có một số bài khóa luận tốt nghiệp của một số sinhviên các trường Đại học, Cao đẳng đã nghiên cứu về sử dụng văn học dân giannói chung và thơ ca, ca dao, tục ngữ nói riêng vào dạy học Lịch sử với các đề tài
như “Sử dụng thơ ca trong dạy học Lịch sử lớp 4” của Lê Thị Dung ở Trường Cao đẳng sư phạm Bắc Ninh và “Sử dụng ca dao, tục ngữ trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4” của Nguyễn Thị Lệ Quyên ở Trường Đại học Quảng Nam.
Như vậy việc sử dụng văn học dân gian nói chung và truyền thuyết nóiriêng trong dạy học một số môn ở trường phổ thông đã thu hút được sự quan tâmcủa các giáo viên Tuy nhiên, việc vận dụng đó phần lớn vào hai cấp học làTHCS và THPT Việc sử dụng truyền thuyết trong dạy học Lịch sử lớp 4 nóiriêng chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu Hiện nay có thể nói rằng chưa cóbài viết, đề tài hay SKKN nào về sử dụng truyền thuyết trong dạy học Lịch sửlớp 4 Kế thừa thành quả của các bài nghiên cứu trước đó, bài khóa luận nàynghiên cứu sâu hơn cách sử dụng truyền thuyết trong dạy học môn Lịch sử lớp 4cho học sinh
7 Đóng góp của đề tài
-Về lý luận:
+ Hệ thống hóa cơ sở lí luận về dạy học sử dụng truyền thuyết Từ đó đưa rađịnh hướng đúng đắn nhằm sử dụng truyền thuyết vào quá trình dạy học Lịch sửlớp 4
+ Đánh giá thực trạng về việc sử dụng truyền thuyết vào dạy học ở trườngTiểu học
-Về thực tiễn:
+ Đề xuất một số biện pháp nhằm sử dụng hiệu quả truyền thuyết trong dạyhọc Lịch sử lớp 4
+ Thiết kế một số bài dạy có sử dụng truyền thuyết trong dạy học Lịch sử lớp
4 sử dụng trong việc thực nghiệm tính khả thi của đề tài
8 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc sử dụng truyền thuyết trong dạy học Lịch sử lớp 4 nhằmnâng cao nhận thức về lịch sử dân tộc cho học sinh Nghiên cứu, phân tích những
Trang 15sự kiện có trong truyền thuyết được lựa chọn để sử dụng trong giảng dạy tại địabàn khảo sát và thực nghiệm trường Tiểu học Trần Quốc Toản, TP Tam Kỳ, tỉnhQuảng Nam.
9 Cấu trúc tổng quan của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục thìkhóa luận gồm có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng truyền thuyết trongdạy phân môn Lịch sử lớp 4
- Chương 2: Đề xuất một số biện pháp sử dụng truyền thuyết trong dạy họcphân môn Lịch sử lớp 4
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Trang 16NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TRUYỀN THUYẾT TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN LỊCH SỬ LỚP 4 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số vấn đề chung về sử dụng truyền thuyết
1.1.1.1 Khái niệm về truyền thuyết
Có rất nhiều tác giả nghiên cứu về sự tồn tại của truyền thuyết với tư cách làthể loại văn học dân gian độc lập như Nguyễn Đổng Chi, Đinh Gia Khánh Ngược lại, Đỗ Bình Trị, Kiều Thu Hoạch và nhiều nhà nghiên cứu khác quanniệm truyền thuyết là một thể loại tự sự dân gian
Theo Đỗ Bình Trị thì xếp truyền thuyết bên cạnh thần thoại, và định nghĩatruyền thuyết là những truyện có dính líu đến lịch sử mà lại có sự kỳ diệu - là lịch
sử hoang đường - hoặc là những truyện tưởng tượng ít nhiều gắn với sự thực lịch
sử Tính chất thể loại của truyền thuyết bắt đầu được khẳng định rõ
Theo tác giả Kiều Thu Hoạch lại nhận định truyền thuyết là một thể tàitruyện kể truyền miệng nằm trong loại hình tự sự dân gian; nội dung cốt truyệncủa nó là kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc cácphong vật theo quan niệm nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó làkhoa trương phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo, thần kỳnhư cổ tích và thần thoại…
Theo Chu Xuân Diên có mặt trong Từ điển văn học Truyền thuyết đượckhẳng định là một trong những thể loại tự sự dân gian, có quan hệ gần gũi vớicác thể loại tự sự dân gian khác như thần thoại và truyện cổ tích
Theo Lê Chí Quế định nghĩa “Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình
tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử hay di tích cảnh vật địa phương thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kỳ”.
Tóm lại, “Truyền thuyết là truyện kể về những nhân vật và sự kiện hư cấu hay xác thực, có liên quan - ảnh hưởng tới lịch sử trọng đại của dân tộc hay giai cấp, qua đó nhân dân thể hiện ý thức và thái độ đối với nhân vật và sự kiện lịch sử.”
Trang 171.1.1.2 Phân loại truyền thuyết
Truyền thuyết của dân tộc đã được ghi thành văn bản từ rất sớm nên vấn đềphân loại truyền thuyết được đặt ra ngay từ buổi đầu lịch sử Có rất nhiều cáchphân loại truyền thuyết tùy thuộc vào những tiêu chí khác nhau nhưng cách phânloại căn cứ vào các chủ đề về địa danh; về nguồn gốc, lịch sử dòng họ, các ngànhnghề, về nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử được truyền thuyết phản ánh là hợp
lý hơn vì phù hợp với chương trình Lịch sử lớp 4 và thích hợp với đặc trưng phảnánh lịch sử của truyền thuyết, có cách phân loại sau:
* Truyền thuyết địa danh
Là truyện kể dân gian về nguồn gốc lịch sử của những tên gọi địa lý khácnhau hoặc về nguồn gốc của bản thân những địa điểm, địa hình, sự vật địa lý ấy
Cụ thể các loại địa danh gắn liền với các loại địa hình như:
- Sông: sự tích sông Tô Lịch, Bạch Đằng…
- Hồ (ao, đầm): Sự tích Hồ Tây (truyện Lạc Long Quân trừ nạn Cửu Vĩ HồTinh, sự tích trâu vàng hồ Tây…), sự tích Hồ Gươm, sự tích Hồ Ba Bể, ĐầmMực…
- Núi (đồi, động): sự tích núi Tản Viên, truyền thuyết về cửa Quỷ, núi Quỷ…Bên cạnh đó, truyền thuyết về địa danh còn gắn liền với cuộc sống sinh hoạt củanhân dân như:
- Làng xã: sự tích một số làng ven hồ Tây (Làng Hồ, làng Cáo…), sự tích một
số làng vùng đất Tổ (Thậm Thình, Minh Nông…)
- Phố phường, thành thị: như truyền thuyết về thành Thăng Long…
- Miếu đền và những công trình kiến trúc khác (như thành, tháp,…): Sự tíchmiếu Xà Thần, sự tích thành Cổ Loa, Lý Công Uẩn dời đô…[16/17]
* Truyền thuyết phổ hệ
Là những truyện kể dân gian về nguồn gốc của các thị tộc, bộ lạc, các làng xã,thành thị, xưởng máy,… và các thủy tổ (tổ sư) cùng những đại biểu tài năng nhấtcủa các nghề thủ công, mỹ nghệ…
Truyền thuyết phổ hệ cũng như truyền thuyết dân gian nói chung, luôn luôn có
sự lý tưởng hóa sự thật lịch sử Sự tích Dương Không Lộ, Nguyễn Minh Không và
Trang 18việc nhập sự tích hai vị tổ nghề đồng này thành Sự tích Sư Không Lộ (Sự tích trâuvàng hồ Tây) là một ví dụ tiêu biểu Kiểu cốt truyện về những di dân đầu tiên ởNam Bộ cũng có thể gợi cho ta những đặc điểm nghệ thuật của truyền thuyết phổ
hệ Đặc biệt, chuỗi truyền thuyết về các thời vua Hùng là chuỗi truyền thuyết duynhất trong kho tang truyền thuyết Việt Nam vì chuỗi truyền thuyết này vừa là phổ
hệ, vừa là truyền thuyết mang màu sắc sử thi của thời đại dựng nước (chưa nói làtrong đó có cả một vài truyền thuyết địa danh) có liên quan đến vùng đất Tổ và núiTản Viên Tuy nhiên, không nên quên rằng hư cấu nghệ thuật ở truyền thuyết phổ
hệ thường không vượt ra ngoài giới hạn của thực tế [16/17]
*Truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử (truyền thuyết lịch sử)
Truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử là những truyện kể có mục đíchtái hiện chính bản thân sự thật lịch sử Do đó, nó được coi là truyền thuyết lịch sửđích thực So với truyền thuyết địa danh và truyền thuyết phổ hệ, truyền thuyếtlịch sử cũng ít định vị chỉ vào một địa phương, tuy cũng có những truyện gắn vớiđời sống xã hội và được lưu truyền chủ yếu ở một vùng nhất định Đó là vì đốitượng phản ánh của truyền thuyết lịch sử thường là những sự kiện quan trọng cótác động ảnh hưởng đến đời sống toàn dân (như khởi nghĩa nông dân, khángchiến chống xâm lược…) và những nhân vật lịch sử có tầm cỡ quốc gia (như anhhùng nông dân, anh hùng dân tộc…)
Theo cách phân loại này, truyền thuyết lịch sử Việt Nam được chia thành 2nhóm:
- Những truyền thuyết về thời các vua Hùng: Lạc Long – Âu Cơ, Thần TảnViên và Thánh Gióng, bánh chưng bánh giày,…
- Những truyền thuyết đời sau: truyền thuyết An Dương Vương, truyền thuyết
về Hai Bà Trưng, Bà Triệu, về Trần Hưng Đạo cùng các tướng của ông, về LêLợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn; những truyền thuyết về sư Minh Không, sưVạn Hạnh…, về Nguyễn Trãi, Chu Văn An…, về Bùi Cầm Hổ, Nguyễn KhoaĐăng [16/17]
Trang 191.1.1.3 Vai trò của truyền thuyết trong đời sống văn hóa của người Việt
* Vai trò về mặt lịch sử
Truyền thuyết là sản phẩm phản ánh lịch sử một cách độc đáo của cộng đồngdân tộc từ đời này qua đời khác Song hành suốt chiều dài lịch sử, từ thời đại HùngVương đến thời đại Hồ Chí Minh, truyền thuyết được nhân lên theo chiều dày củacác hiện tượng trong lịch sử Như vậy, truyền thuyết đã ghi chép lại sự kiện chốngngoại xâm từ buổi đầu dựng nước và giữ nước của dân tộc ta
Các hệ thống truyền thuyết khi được đối sánh với lịch sử sẽ ghi nhận đượcmối quan hệ giữa truyền thống dân gian với lịch sử dân tộc Trong đó nổi bật lênnhững hệ thống truyền thuyết về người anh hùng chống ngoại xâm và ngườimang yếu tố của anh hùng văn hóa trong lịch sử Truyền thuyết góp phần xác lập,củng cố vị thế và sức mạnh của người anh hùng hoặc một triều đại biết vì dân, vìnước Cũng như vậy, một khi các đối tượng vốn được ca ngợi đi ngược lại lòngdân thì truyền thuyết cũng lại sẵn sàng phê phán, tố cáo những thế lực ảnh hưởngđến sự phát triển bền vững của cộng đồng
Từ đó thấy được truyền thuyết có vai trò quan trọng trong bề dày lịch sử củadân tộc Truyền thuyết ra đời đã kịp thời ghi lại sự chân thực của lịch sử theocung cách ứng xử nghệ thuật riêng của con người sáng tạo và lưu truyền nó.Trong một chừng mực nhất định, các truyền thuyết lịch sử là những nguồn tàiliệu duy nhất cho phép xác định các giai đoạn lịch sử chủ yếu và một số sự kiệnlịch sử trong giai đoạn đó Ngoài ra, truyền thuyết là bằng chứng duy nhất về sựtồn tại trước kia trong dân tộc một số những khái niệm và thiết chế xã hội màngười đời sau không thể nào xác định được với những nguồn tài liệu khác
Tóm lại, các sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch sử chính là chất liệu để làmnên truyền thuyết Và truyền thuyết là nguồn tài liệu tham chiếu cho nghiên cứulịch sử qua các đời
Trang 20Truyền thuyết giáo dục lòng yêu nước, tinh thần dân tộc Phản ảnh các sựkiện lịch sử một cách trung thực cũng là một sự thể hiện cảm quan và thái độ củaquần chúng nhân dân đối với những biến cố, những sự kiện, những con người
có liên quan, có tác động lớn đến đời sống của cộng đồng
Ví dụ như truyền thuyết An Dương Vương Ông là người có công dựngnước Âu Lạc, xây thành Cổ Loa, chế tạo ra nỏ thần và chỉ huy quân dân Âu Lạcđánh thắng Triệu Đà trong lần đầu đội quân này kéo đến xâm lăng Nhưng ôngcũng là người mắc nhiều sai lầm nghiêm trọng trong việc giữ nước, dần đến họamất nước Ông là người vừa có công, lại vừa có tội đối với dân, với nước Ôngphải tự nhận lấy cái chết Song, tác giả dân gian lại cho Thần Kim Quy xuất hiệncầm sừng tê bảy tấc rẽ nước đưa nhà vua về với biển xanh Việc An DươngVương chém con gái của mình cũng là nỗi đau không nhỏ và là sự trừng phạt củachính ông Song nhân dân ta ý thức được những gì ông đóng góp và trân trọngnhững đóng góp to lớn của nhà vua cho lịch sử, cho dân tộc nên lập đền thờ ông(ở Hà Nội, ở Nghệ An) Còn với Mỵ Châu và Trọng Thủy, thái độ và cách ứng
xử của quần chúng nhân dân cũng đầy tinh thần nhân ái Cả hai người đều có tộivới đất nước Âu Lạc Họ có những việc làm không thể chấp nhận được Mỵ Châukhông ý thức mình là ai khi đưa nỏ thần cho Trọng Thủy xem và rắc lông ngỗngchỉ đường cho chồng tìm mình trong cơn binh lửa Trọng Thủy tiếp tay cho Triệu
Đà xâm chiếm Âu Lạc Trước lúc chết, hai người đã có sự phản tỉnh, Mỵ Châu bịTrọng Thủy lừa chứ không có ý thức hại cha, còn Trọng Thủy thì hối hận vềhành động của mình; cho nên hình ảnh ngọc trai giếng nước là sự thể hiện tấmlòng đầy nhân ái của người đời sau đối với bi kịch của đôi trai gái này
*Đời sống tinh thần
Do nhu cầu của đời sống tinh thần mà trong các xã hội trước đây người ta
đã sáng tạo nên nền văn học dân gian trong đó có truyền thuyết để thỏa mãn nhucầu nhận thức, nhu cầu tình cảm, đạo đức, lối sống của người xưa Là một thểloại văn học nên truyền thuyết cũng bị chi phối bởi các nguyên tắc, các phươngpháp của việc sáng tác nên trong nội dung tác phẩm, sự thực lịch sử trong truyềnthuyết được lí tưởng hóa thông qua cảm quan lịch sử của các tác giả dân gian
Trang 21Nhiều tình tiết trong tác phẩm đã được tô vẽ thêm theo khuynh hướng lí tưởnghóa để tôn vinh các nhân vật lịch sử
Truyền thuyết phản ánh tín ngưỡng dân gian là sự tôn trọng và gắn bó mậtthiết với thiên nhiên (núi, sông, cây cối) là sự tín ngưỡng sùng bái con người (tổtiên, ông bà, thần linh, thành hoàn) Chính sự tôn thờ và lòng tin của tín ngưỡngdân gian đó làm cho đời sống tinh thần của họ thêm phong phú Không nhữngthế, trong thời đại ngày nay một số tín ngưỡng truyền thống vẫn được lưu giữchứng tỏ tính hợp lý và sức sống trường tồn của nó Do vậy, văn học dân giannói chung và truyền thuyết nói riêng đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinhthần của của mỗi người dân Việt Nam
1.1.1.4 Vai trò của truyền thuyết trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4
Truyền thuyết có quan hệ mật thiết với chương trình giáo dục tiểu học bởitruyền thuyết chứa đựng những thông tin về tự nhiên, xã hội, đất nước và conngười Việt Nam trong quá khứ Truyền thuyết đã phản ánh lịch sử một cách độcđáo và qua đó các câu chuyện truyền thuyết cung cấp cho học sinh những hiểubiết ban đầu về sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên, trong đời sống xã hội Hơnthế, truyền thuyết đã lưu trữ những sự kiện quan trọng trong những thời kỳ lịch
sử ở từng vùng, miền khác nhau của đất nước Do vậy, truyền thuyết cũng là khotri thức vô cùng phong phú giúp mở rộng nhận thức, phát triển năng lực tư duysáng tạo cho HS
Ví dụ như truyện Sơn Tinh Thủy Tinh vừa giúp trẻ hiểu biết về một hiệntượng thiên văn khí tượng (chu kỳ lũ lụt), vừa có ý nghĩa dân tộc học (tục kén rể
và thách cưới), tâm lý học (sự ghen tuông, trả thù), vừa là bài học quý báu về đạo
lý (tinh thần dũng cảm, nhân hậu) vừa là bản hùng ca của khát vọng chinh phụcthiên nhiên
Trong xã hội Việt Nam từ xưa đến nay, trẻ em được nuôi dưỡng tâm hồn vàlớn lên từ những lời ru, những câu chuyện kể của bà, của mẹ Qua đó bồi đắp chocác em những tình cảm trong sáng biết yêu cái thiện, cái tốt, ghét cái ác cái xấu,biết trân trọng lẽ công bằng Đặc biệt qua các câu chuyện truyền thuyết ấy các
em thêm yêu đất nước của mình và đó là những bài học bổ ích góp phần hìnhthành và phát triển nhân cách tốt đẹp của các em Những câu chuyện truyền
Trang 22thuyết như Lạc Long Quân – Âu Cơ, Thánh Gióng, An Dương Vương, Hai BàTrưng, Lý Nam Đế… được sử dụng trong dạy học Lịch sử sẽ giáo dục cho họcsinh một cách sâu sắc và toàn diện giúp HS xây dựng tinh thần nhân đạo và lạcquan, tinh thần đấu tranh để bảo vệ và giải phóng con người khỏi bất công, làniềm tin bất diệt về chiến thắng của chính nghĩa và cái thiện Truyền thuyết còngóp phần hình thành những phẩm chất tốt đẹp: lòng yêu nước, tinh thần bấtkhuất, đức kiên trung và vị tha, tính cần kiệm và óc thực tiễn.
Để việc dạy và học tốt phân môn Lịch sử ở Tiểu học, để trang sử không khôkhan, buồn tẻ thì những người làm giáo dục phải tìm tòi và nghiên cứu cách dạyhọc mới, phương pháp mới nhằm nâng cao được chất lượng dạy và học cho họcsinh từ buổi đầu tiên học Lịch sử ở trường Tiểu học Vì vậy, việc sử dụng truyềnthuyết trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4 có vai trò vô cùng quan trọng
1.1.2 Các phương pháp dạy học chủ yếu trong dạy học Lịch sử lớp 4
Căn cứ vào đặc điểm của phân môn Lịch sử 4, và đặc điểm nhận thức củahọc sinh tiểu học, theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học tiểu học, cácphương pháp dạy học chủ yếu trong dạy học Lịch sử là kể chuyện, đàm thoại,thảo luận nhóm, trò chơi, động não
* Phương pháp kể chuyện
Kể chuyện là cách dùng lời trình bày một cách sinh động, có hình ảnh vàtruyền cảm đến học sinh về một nhân vật, một sự kiện lịch sử, hoặc một hiệntượng tự nhiên, một phát minh khoa học, một vùng đất xa lạ… để hình thànhbiểu tượng, một khái niệm cho học sinh
Phương pháp kể chuyện sử dụng trong dạy học Lịch sử là một trong nhữngphương pháp có ưu thế trong việc gây hứng thú học tập cho HS Thông quanhững câu chuyện lịch sử sinh động có liên quan đến một nhân vật, một địa danhhay một sự kiện sẽ giúp học sinh nhớ tốt những sự kiện, nhân vật, mốc thời gianlịch sử
* Phương pháp đàm thoại
Là cách thức đối thoại giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với nhaudựa trên hệ thống câu hỏi nhằm dẫn dắt học sinh đi đến những kết luận khoa học,hoặc vận dụng vốn hiểu biết của mình để tìm hiểu những vấn đề học tập, vấn đềcủa cuộc sống, trong tự nhiên và xã hội
Trang 23Thông qua việc hỏi – đáp, giáo viên tạo ra trong học sinh nhu cầu nhận thức
và các em được tham gia giải quyết vấn đề bài đặt ra Từ đó nắm được năng lựchọc tập, trình độ nhận thức của học sinh để điều chỉnh bài dạy, nâng cao hiệu quảdạy học
* Phương pháp thảo luận nhóm
Thảo luận là sự bàn bạc, trao đổi ý kiến giữa giáo viên và học sinh, giữa họcsinh với nhau về một vấn đề học tập hoặc một vấn đề về cuộc sống để tìm hiểu,đưa ra những giải pháp, những kiến nghị, những quan điểm mới
Thảo luận nhóm sẽ tạo điều kiện cho từng thành viên trong nhóm có thể bày
tỏ ý kiến của mình, cùng lắng nghe ý kiến của các bạn khác để hoàn thành nhiệm
vụ chung của cả nhóm
* Phương pháp trò chơi
Trò chơi học tập được sử dụng như một phương pháp tổ chức cho HS khámphá và chiếm lĩnh nội dung học tập hoặc thực hành, luyện tập một kĩ năng nào đótrong chương trình môn học Giáo viên có thể thiết kế một số trò chơi khác nhautheo nội dung bài Lịch sử
* Phương pháp động não
Động não là một kỹ thuật nhằm huy động những tư tưởng mới mẻ, độc đáo
về một chủ đề của các thành viên trong thảo luận Các thành viên được cổ vũtham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng (nhằm tạo ra nhiều các ýtưởng) Kỹ thuật động não do Alex Osborn (Mỹ) phát triển, dựa trên một kỹ thuậttruyền thống từ Ấn Độ Phương pháp động não huy động tối đa trí tuệ của tậpthể, huy động được nhiều ý kiến, tạo cơ hội cho tất cả các thành viên tham gia
1.1.3 Đặc điểm nhận thức của học sinh giai đoạn lớp 4, 5
*Nhu cầu, động cơ, hứng thú học tập của học sinh Tiểu học
Bước vào nhà trường tiểu học các em được học tập trong một môi trườngmới, môi trường nhà trường với hoạt động học tập là chủ yếu Do đó, nhu cầuhọc tập của học sinh ngày càng có ý nghĩa quan trọng Chính nhu cầu học tập trởthành động cơ thúc đẩy các em phải phấn đấu nổ lực, vượt qua mọi khó khăn Ởtiểu học phần lớn học sinh chưa hứng thú đặc biệt với từng môn học, các emcũng chưa đi sâu vào ý nghĩa môn học, việc các em yêu thích môn học nào phụ
Trang 24thuộc vào khả năng giảng dạy của giáo viên Động cơ học tập không có sẵn, cũngkhông thể áp đặt được, mà phải hình thành dần trong quá trình giảng dạy vàhướng dẫn của giáo viên Nếu trong tiết dạy giáo viên biết tổ chức cho học sinhnhững điều mới lạ và có phương pháp giảng dạy phù hợp thì dần dần các em sẽhình thành tri thức, học tập sẽ trở thành một nhu cầu không thể thiếu đối với các
em, sẽ thúc đẩy các em học tập tốt hơn [14/34-35]
Như vậy việc lồng ghép đưa truyền thuyết vào dạy học Lịch sử một cáchphù hợp sẽ góp phần khơi dậy nhu cầu, hình thành động cơ, tạo hứng thú học tậpcho học sinh
*Đặc điểm trí nhớ
Học sinh tiểu học có trí nhớ khá tốt Các em có khả năng nhớ được nhiều,thậm chí cả những điều mà các em không hiểu Ở các em có khả năng ghi nhớchính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những địnhnghĩa và những lời giải thích Ở những lớp đầu bậc tiểu học học sinh có khuynhhướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần, có khi các em chưahiểu những mối quan hệ và ý nghĩa của tài liệu học tập Các em chỉ ghi nhớnhững gì mình thích, những gì ấn tượng sâu sắc thì các em dễ nhớ và nhớ lâuhơn Dần dần, cùng với quá trình học tập, ở học sinh các lớp cuối bậc tiểu họchình thành và phát triển ghi nhớ có ý nghĩa, các em dần hiểu được những mốiliên hệ và ý nghĩa của tài liệu học tập Tuy vậy, cũng như các lớp đầu cấp (lớp 1,
2, 3), các lớp cuối cấp (lớp 4, 5) vẫn thường có khuynh hướng học thuộc mộtcách máy móc, kiểu học vẹt Do đó, mà các em cảm thấy khó khăn khi tiếp thukiến thức Trong quá trình dạy học Lịch sử, giáo viên tổ chức cho học sinh sưutầm các truyền thuyết liên quan đến bài học sẽ phù hợp với đặc điểm trí nhớ củacác em hơn [14/35]
*Đặc điểm tư duy
Tư duy của trẻ mới đến trường chủ yếu là tư duy cụ thể mang tính hìnhthức, dựa vào bên ngoài của sự vật hiện tượng, trẻ đã có ý thức ghi nhớ, tư duytổng hợp, phát tán và đánh giá đối với các tranh vẽ, kí hiệu, ngôn từ, hành vi… Trong các hoạt động phân tích: hoạt động phân tích của học sinh cấp đầubậc tiểu học (lớp 1, 2, 3) về hình thức cũng như nội dung rất đơn giản, nên khi
Trang 25tiến hành phân tích tổng hợp các em thường dựa vào đặc điểm bên ngoài của đốitượng hoặc những dấu hiệu thuộc công dụng hay chức năng Lên lớp 4, 5 hoạtđộng phân tích phát triển mạnh với mối quan hệ của khái niệm, những thao tác tưduy, phân loại, tính toán, thời gian Ở học sinh tiểu học các lớp 1, 2, 3 khả năngkhái quát hóa của các em chủ yếu dựa trên dấu hiệu bên ngoài để dễ nhận thấy,lên lớp 4, 5 các em mới có thể dựa vào dấu hiệu bên ngoài để nhận biết và hiểu
rõ một vấn đề Trong khả năng suy luận, học sinh ở các lớp 1, 2, 3 thường suyluận những dấu hiệu duy nhất, chưa suy nghĩ kĩ và chưa lập luận còn với học sinhlớp 4, 5 đã có thể chứng minh những lập luận và suy nghĩ của mình Từ nhữngđặc điểm tư duy trên, khi thiết kế bài học có sử dụng truyền thuyết trong dạy họcLịch sử giáo viên cần chú ý đến việc vận dụng truyền thuyết phải đúng, chânthực, đảm bảo giá trị giáo dục, khoa học phù hợp với nội dung bài học [14/36]
*Đặc điểm tưởng tượng
Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng, tưởngtượng của học sinh tiểu học được hình thành và phát triển trong hoạt động học vàhoạt động khác của các em Ở các lớp đầu bậc tiểu học hình ảnh tưởng tượng cònđơn giản chưa bền vững, nhưng càng về các lớp cuối cấp hình ảnh tưởng tượngcủa các em càng bền vững và gần thực tế hơn Đặc biệt, lúc này các em đã bắtđầu có khả năng tưởng tượng dựa trên những tri thức đã có từ trước và dựa trênngôn ngữ Tưởng tượng ở học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so vớitrẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và các em ngày càng trưởng thành hơn.Tuy nhiên, ở các lớp đầu bậc tiểu học các hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản,chưa bền vững và dễ thay đổi Nhưng về các lớp cuối bậc tiểu học hình ảnhtưởng tượng của các em ngày càng bền vững và gần gũi với thực tiễn, tưởngtượng sáng tạo tương đối phát triển ở cuối bậc tiểu học, các em bắt đầu phát triểnkhả năng kể chuyện theo lời của mình, làm văn, vẽ tranh…[14/36]
*Đặc điểm tình cảm
Đối với học sinh tiểu học tình cảm có vị trí đặc biệt, đối tượng gây xúccảm cho học sinh tiểu học thường là những sự vật, hiện tượng cụ thể, những câuchuyện sinh động Do đó, những bài học khô khan, khó hiểu làm cho các emmệt mỏi, chán nản, không có hứng thú học tập Qua những đặc điểm này cho
Trang 26thấy trong quá trình dạy học, giáo viên cần phải biến các kiến thức khô khanthành những hình ảnh có cảm xúc thông qua việc sử dụng truyền thuyết để dạyhọc, từ đó phát huy khả năng tích cực nhận thức của học sinh, nâng cao hiệuquả học tập [14/38]
Qua phân tích những đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học có thể thấyrằng: Việc vận dụng truyền thuyết là biện pháp quan trọng, cần thiết nhằm tácđộng tích cực đến hoạt động nhận thức của học sinh, góp phần nâng cao chấtlượng dạy học phân môn Lịch sử ở tiểu học
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1.Mục tiêu và nội dung dạy học phân môn Lịch sử lớp 4
1.2.1.1 Mục tiêu
Sau khi học xong phân môn Lịch sử ở tiểu học, học sinh cần đạt được [3]:
- Cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản thiết thực về:
+ Các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu, tương đối có hệ thốngtheo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho tới nửa đầuthế kỉ XIX
- Bước đầu rèn luyện và hình thành cho học sinh các kĩ năng
+ Quan sát sự vật hiện tượng: thu thập tìm kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồnkhác nhau
+ Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập và chọn thông tin đểgiải đáp
+ Trình bày lại kết quả học tập bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ
+ Vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống
- Góp phần bồi dưỡng và phát triển ở học sinh thái độ và thói quen
+ Ham học hỏi, tìm hiểu để biết về môi trường xung quanh các em
+ Yêu thiên nhiên, con người, quê hương, đất nước
+ Tôn trọng và bảo vệ cảnh quang thiên nhiên văn hóa gần gũi với học sinh
1.2.1.2 Nội dung chương trình
Nội dung chương trình phân môn Lịch sử lớp 4 được chia theo mốc thờigian như sau [1]:
Trang 27NỘI DUNG BÀI
Trang 28Buổi đầu dựng nước và giữ nước (từ
khoảng năm 700 TCN đến năm 179
TCN): Sự ra đời của nền văn minh Văn
Lang – Âu Lạc và những thành tựu
chính của văn minh Văn Lang – Âu Lạc
Bài 1: Nước Văn Lang
Bài 2: Nước Âu LạcHơn một nghìn năm đấu tranh giành độc
lập (từ năm 179 TCN – đến năm 938):
Cuộc sống của nhân ta dưới ách thống trị
và chính sách đồng hóa dân tộc của các
triều đại phong kiến Trung Quốc và
phong trào đấu tranh của nhân dân ta để
giành độc lập, tự chủ (Khởi nghĩa Hai
Bà Trưng năm 40, chiến thắng Bạch
Đằng 938)
Bài 3: Nước ta dưới ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương BắcBài 4: Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40)
Bài 5: Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo (năm 938)Bài 6: Ôn tập
Buổi đầu độc lập (từ năm 938 đến năm
1009): Nhà Ngô, Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn
12 sứ quân thống nhất đất nước Lê
Hoàn lên ngôi vua lãnh đạo nhân dân ta
tiến hành cuộc kháng chiến chống Tống
Nước Đại Việt thời Lý (từ năm 1009 đến
năm 1226): Vua Lý Thái Tổ dời đô ra
Thăng Long đổi lại tên nước; Sự phát
triển của đạo phật; Cuộc kháng chiến
chống quân Tống xâm lược lần thứ hai
Bài 9: Nhà Lý dời đô ra Thăng LongBài 10: Chùa thời Lý
Bài 11: Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ hai (năm 1075 – 1077)
Nước Đại Việt thời Trần (từ năm 1226
đến năm 1400): Hoàn cảnh ra đời của
nhà Trần; Ba lần chiến thắng quân Mông
Nguyên xâm lược; Công cuộc xây dựng
đất nước ở thời Trần (việc đắp đê); Sự
Bài 12: Nhà Trần thành lập
Bài 13: Nhà Trần và việc đắp đêBài 14: Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên
Trang 29suy tàn của nhà Trần và hoàn cảnh ra đời
Nước Đại Việt buổi đầu thời Hậu Lê (thế
kỉ XV): Chiến thắng Chi Lăng; Việc tổ
chức quản lý đất nước; Sự phát triển văn
hóa khoa học dưới triều Lê Sơ
Bài 16: Chiến thắng Chi LăngBài 17: Nhà hậu Lê và việc tổ chức quản lý đất nước
Bài 18: Trường học thời Hậu LêBài 19: Văn học và khoa học thời Hậu Lê
Nước Đại Việt (thế kỉ XVI – XVIII):
Trịnh Nguyễn phân tranh; Cuộc khẩn
hoang ở Đàng Trong; Thành thị ở thế kỉ
XVI – XVIII; Nghĩa quân Tây Sơn tiến
ra Thăng Long đại phá quân Thanh;
Quan Trung với sự nghiệp xây dựng đất
nước
Bài 21: Trịnh Nguyễn phân tranhBài 22: Cuộc khẩn hoang ở Đàng Trong
Bài 23: Thành thị ở thế kỉ XVI – XVII
Bài 24: Nghĩa quân Tây Sơn tiến ra Thăng Long (năm 1786)
Bài 25: Quang Trung đại phá quân Thanh (năm 1789)
1.2.2.Thực trạng sử dụng truyền thuyết trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4
1.2.2.1 Mục đích khảo sát thực trạng
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận về việc sử dụng truyền thuyết trong dạy họcphân môn Lịch sử lớp 4 trường Tiểu học Trần Quốc Toản Chúng tôi tiến hànhđiều tra một số lớp của khối 4 trường Tiểu học Trần Quốc Toản nhằm xác lậpthực tiễn cho đề tài nghiên cứu Vấn đề đặt ra là vai trò, tầm quan trọng của việcdạy học Lịch sử? Hiệu quả của việc dạy học Lịch sử? Giáo viên đã sử dụng cácphương pháp dạy học nào trong quá trình dạy học ?
Trang 30Để đảm bảo tính khách quan cho đề tài, chúng tôi còn tiến hành điều tra họcsinh nhằm tìm hiểu sự hứng thú khi học môn Lịch sử của học sinh Từ đó đề xuấtmột số biện pháp sử dụng truyền thuyết trong quá trình dạy Lịch sử.
1.2.2.2 Đối tượng khảo sát thực trạng
Trong phạm vi của đề tài, đối tượng mà chúng tôi tiến hành điều tra là 5giáo viên chủ nhiệm khối lớp 4 và 70 học sinh lớp 4 trường Tiểu học Trần QuốcToản, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
Tất cả các giáo viên mà chúng tôi điều tra đều đạt chuẩn, đều tốt nghiệp Caođẳng sư phạm, Đại học sư phạm Do đó, giáo viên đã có kinh nghiệm, kiến thức
về các cách giảng dạy Bên cạnh đó, thâm niên giảng dạy bình quân của các giáoviên được khảo sát từ 10 năm trở lên Như vậy, thành phần giáo viên tham giakhảo sát đảm bảo những yêu cầu của việc khảo sát
1.2.2.3 Nội dung khảo sát thực trạng
*Đối với giáo viên
Chúng tôi tiến hành điều tra 5 giáo viên lớp 4 trường Tiểu học Trần QuốcToản, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về các vấn đề
+ Vai trò, tầm quan trọng của phân môn Lịch sử lớp 4
+ Thực trạng của việc dạy học phân môn Lịch sử lớp 4
+ Sử dụng truyền thuyết trong dạy học phân môn Lịch sử lớp 4
+ Biện pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy Lịch sử cho học sinh lớp 4
*Đối với học sinh
Chúng tôi tiến hành điều tra 70 học sinh ở trường Tiểu học Trần QuốcToản, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về:
+ Thực trạng hung thú học tập môn Lịch sử của học sinh lớp 4
+ Vai trò, tầm quan trọng của phân môn Lịch sử lớp 4
+ Hứng thú của học sinh khi học Lịch sử lớp 4
+ Hiệu quả của việc sử dụng truyền thuyết trong dạy học phân môn Lịch sửlớp 4
1.2.2.4 Phương pháp khảo sát thực trạng
Nhằm đạt được mục đích điều tra đề ra, chúng tôi kết hợp sử dụng cácphương pháp sau:
Trang 31+ Phương pháp Anket (phiếu điều tra):
Chúng tôi tiến hành điều tra với những nội dung đã được soạn thảo trên địabàn đã nêu với tổng số phiếu điều tra là 75 phiếu (5 phiếu hỏi ý kiến giáo viên và
70 phiếu điều tra học sinh) và tổng số phiếu thu lại là 75 phiếu
+ Phương pháp thống kê số học để phân tích số liệu, tổng hợp báo cáo:Thống kê, xử lí các số liệu về thực trạng dạy học Lịch sử ở trường Tiểu học
Từ đó, thống kê đưa ra số liệu chính xác
1.2.2.5 Kết quả điều tra thực trạng
Qua quá trình điều tra chúng tôi được kết quả sau:
* Về phía giáo viên
Lịch sử là phân môn bắt buộc ở trường Tiểu học Nhìn chung 100% giáoviên đều khẳng định dạy học Lịch sử có vai trò quan trọng và rất quan trọng đốivới học sinh tiểu học được thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Tầm quan trọng của việc dạy học Lịch sử cho học sinh lớp 4
Trang 32Hoàn thành tốt 2/5 40
Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành
Biểu đồ 1.1 Kết quả học môn Lịch sử 4 của học sinh năm 2016 – 2017
Theo kết quả điều tra bảng 1.2 và biểu đồ 1.1 thì có đến 40% học sinh họcmôn Lịch sử của năm trước đạt ở mức giỏi, 40% đạt ở mức khá và chỉ có 20%trên tổng số học sinh của khối 4 đạt mức trung bình, không có lớp nào học mônLịch sử ở mức yếu, được thể hiện qua bảng
Bảng 1.3 Đánh giá của giáo viên về mức độ hứng thú của học sinh
Biểu đồ 1.2 Đánh giá của giáo viên về mức độ hứng thú của học sinh
trong giờ học Lịch sử 4Theo bảng 1.3 có 60% giáo viên cho rằng học sinh cảm thấy bình thườngkhi học và 20% học sinh lại không có hứng thú học, chỉ có số ít học sinh cảm
Trang 33thấy hào hứng khi học Lịch sử chiếm 20% Như vậy, việc gặp khó khăn trongdạy học Lịch sử của các giáo viên đã ảnh hưởng không nhỏ đến hứng thú học tậpcủa học sinh, với hầu hết số học sinh cho rằng học Lịch sử thật chán, không hấpdẫn nên khó ghi nhớ bài.
Bảng 1.4 Khó khăn thường gặp khi dạy học Lịch sử của giáo viên
Khó khăn thường gặp Số lượng (người) Tỉ lệ (%)
Biểu đồ 1.3 Khó khăn thường gặp khi dạy học Lịch sử của giáo viên
Để tìm hiểu về những cản trở trong quá trình dạy Lịch sử ở lớp, chúng tôi
đã tiến hành điều tra về những khó khăn thường gặp khi dạy học Lịch sử của giáoviên Kết quả có 60% cho rằng thời gian không đủ để giáo viên khai thác và sửdụng các hình ảnh minh họa trong bài học Trong khi đó 100% giáo viên đều chorằng khối lượng kiến thức của phân môn Lịch sử lớp 4 là nặng nề và chủ yếuthiên về kiến thức lịch sử mà chưa thực sự chú trọng tới thái độ của học sinh vềlịch sử dân tộc Và có 40% giáo viên cho rằng phương tiện dạy học không đảmbảo nên làm cho tiết dạy không hiệu quả trong việc truyền đạt kiến thức Ngoàinhững khó khăn trên thì có 20% giáo viên thấy rằng phương pháp dạy học chưađổi mới làm ảnh hưởng đế chất lượng dạy và học của phân môn Lịch sử
Qua trao đổi, các giáo viên đều cho rằng để dạy về diễn biến của một trậnđánh lịch sử, giáo viên cần sử dụng lược đồ lịch sử về trận đánh đó hoặc khi nóiđến bộ máy nhà nước của các thời đại thì giáo viên cần đưa ra sơ đồ bộ máy nhànước cho học sinh nắm bắt Tuy nhiên, một số bài khi nói về diễn biến trận đánhthì không có lược đồ sử dụng (giáo viên không thể tự mình xây dựng lược đồ lịch
Trang 34sử) và sơ đồ bộ máy nhà nước của các triều đại ở một số bài không được trìnhbày rõ nên giáo viên trình bày được rõ ràng, không hình thành cho học sinh được
sơ đồ bao quát, tổng thể về triều đại trong bài Một số bài kiến thức còn quá phứctạp đối với học sinh Bên cạnh đó, giáo viên còn cho rằng kiến thức lịch sử khôkhan gây khó khăn trong việc truyền đạt Điều này sẽ làm cho giờ học không hấpdẫn, không lôi cuốn nên một số giáo viên cảm thấy cần có một phương pháp nào
đó giúp học sinh hứng thú , học tập tốt hơn trong giờ Lịch sử
Bảng 1.5 Phương pháp giáo viên sử dụng trong dạy học Lịch sử
Động
não
Điều
tra0
Biểu đồ 1.4 Phương pháp giáo viên sử dụng trong dạy học Lịch sử
Qua quá trình lấy ý kiến và dựa vào bảng 1.5, hầu hết các giáo viên thườngxuyên sử dụng phương pháp thảo luận, kể chuyện, đàm thoại trong dạy học, bêncạnh đó có một số giáo viên có sử dụng các phương pháp khác như đặt và giảiquyết vấn đề, động não, điều tra Tuy nhiên phương pháp điều tra phần lớn cácgiáo viên ít sử dụng trong dạy học Lịch sử 4 Trong quá trình giảng dạy một tiếthọc, việc chưa phối hợp hoặc chưa vận dụng tối đa các phương pháp cũng là mộttrong những nguyên nhân làm cho giờ học không đạt được kết quả tốt Với
Trang 35những khó khăn trên, chúng tôi đã điều tra và dò hỏi ý kiến giáo viên trong việc
sử dụng các phương pháp dạy học để khắc phục những khó khăn đang mắc phải
và đổi mới phương pháp dạy học Hầu hết giáo viên rất quan tâm đổi mớiphương pháp dạy học Và các giáo viên cũng đã từng sử dụng một số kiến thứctrong dạy học Lịch sử và có những kết quả như sau:
Bảng 1.6 Giáo viên đã từng sử dụng kiến thức của các môn học khác
Biểu đồ 1.5 Giáo viên đã từng sử dụng kiến thức của các môn học khác
trong dạy học Lịch sửKhi điều tra về việc thầy cô đã từng sử dụng kiến thức liên môn trong dạyhọc Lịch sử thì có tới 5/5 GV sử dụng kiến thức địa lý đạt tới 100% và 4/5 GV sửdụng ca dao, tục ngữ đạt 80% Và chỉ có số ít giáo viên sử dụng truyền thuyết đểdạy học Lịch sử 1/5 GV (20%) Hầu hết các giáo viên đều cho rằng bản thânchưa từng sử dụng truyền thuyết vào giảng dạy
Khi được hỏi nếu Sử dụng truyền thuyết trong dạy học Lịch sử lớp 4 có được không ? Chúng tôi thì thu được kết quả là 100% giáo viên đều đồng ý có thể sử dụng vào dạy học và học cũng nhận định rằng truyền thuyết là truyện kể
về những nhân vật và sự kiện hư cấu hay xác thực, có liên quan - ảnh hưởng tới
Trang 36lịch sử trọng đại của dân tộc hay giai cấp, qua đó nhân dân thể hiện ý thức và thái độ đối với nhân vật và sự kiện lịch sử Vì vậy, nếu sử dụng truyền thuyết
trong dạy học sẽ thu được kết quả là nâng cao hứng thú và cảm giác thoải máicho học sinh, tăng cảm giác tò mò, muốn tìm hiểu bài từ đó tăng hiệu quả của bàihọc được thể hiện ở bảng 1.7
Bảng 1.7 Kết quả thu được nếu có sử dụng truyền thuyết trong dạy học Lịch sử
Nâng cao hứng thú và cảm giác thoải mái cho
Học sinh dựa vào những truyền thuyết được
Tuy nhiên khi hỏi lý do vì sao giáo viên biết sử dụng truyền thuyết để dạyhọc sẽ thu được kết quả tốt như vậy mà giáo viên vẫn không sử dụng trong dạyhọc (dù có nhận thức đúng về vai trò của truyền thuyết đối với lịch sử dân tộc),phần lớn giáo viên đều đưa ra lý do:
- Bản thân giảng dạy trên lớp 2 buổi/ ngày, cùng với công tác chủ nhiệm đãchiếm phần lớn thời gian, nên không có điều kiện sưu tầm, khai thác các câuchuyện truyền thuyết vào dạy học Và để lựa chọn các truyền thuyết đúng, có liênquan đến bài để đưa vào dạy học thì rất phức tạp, gặp nhiều khó khăn
- Do tâm lý ngại khai thác, ngại khó và xung quanh không ai làm nên cũngkhông có động lực
Chúng tôi cũng đã tiến hành lấy ý kiến về việc sử dụng trong dạy học Lịch
sử trong hoạt động nào của bài học và có những kết quả như sau:
Bảng 1.8 Hoạt động của bài học có thể sử dụng truyền thuyết
Hoạt động dạy học Số lượng (người) Tỉ lệ (%)
Trang 370 1 2 3 4 5 6
Biểu đồ 1.6 Hoạt động của bài học có thể sử dụng truyền thuyết
Trong tổng số 5 giáo viên nhận phiếu điều tra thì đều cho rằng sử dụng hìnhthành kiến thức mới chiếm 100%, 80% sử dụng vào hoạt động giới thiệu bài vàphần ít giáo viên cho rằng sử dụng truyền thuyết vào hoạt động kiểm tra bài cũ,củng cố bài học Điều này cho thấy việc sử dụng truyền thuyết trong dạy họcLịch sử ở trường Tiểu học tuy chưa thực hiện nhiều, chưa đưa vào giảng dạynhưng chúng ta thấy được sự nhìn nhận của giáo viên đối với việc tích hợptruyền thuyết trong dạy học Lịch sử đã có suy nghĩ mỗi giáo viên
Để điều tra về việc sử dụng các câu chuyện truyền thuyết nào vào bài họclịch sử, trước tiên chúng tôi đã thống kê một số truyền thuyết mà giáo viên đãtừng đọc hoặc có thể tìm đọc để giáo viên có thể lựa chọn sử dụng hay không vànếu sử dụng thì sử dụng trong bài học nào của phân môn Lịch sử lớp 4, chúng tôi
đã thu được kết quả thể hiện qua bảng 1.9
Bảng 1.9 Câu chuyện truyền thuyết có thể sử dụng trong dạy học Lịch sử lớp 4 Câu chuyện truyền thuyết
Có sử dụng trong dạy học Lịch sử
Thánh Gióng
Sơn Tinh – Thủy Tinh
Bánh chưng, bánh dày
TT trận Ngọc Hồi – Đống Đa 5/5 100 Quang Trung đại phá quân
Trang 38ThanhQua kết quả điều tra thì hầu hết giáo viên giống ý kiến của nhau Khi thăm
dò lý do 2 truyền thuyết con ngựa đá và cửa Quỷ, núi Quỷ không được giáo viênlựa chọn để dạy học thì giáo viên đều cho rằng mình chưa có thời gian tìm đọccũng như chưa tiếp cận được với các câu chuyện không được phổ biến rộng rãitrong đời sống hằng ngày Tuy vậy, chúng tôi thấy được các giáo viên cũng đã có
sự tiếp cận với phương pháp dạy học mới, có sự lựa chọn đúng các truyền thuyếtvào bài học cụ thể của phân môn Lịch sử 4
Đánh giá chung
Hầu hết giáo viên chưa sử dụng truyền thuyết trong dạy học Lịch sử Giáoviên chưa quan tâm đến việc sử dụng truyền thuyết trong dạy học để tạo sự hứngthú học tập cho học sinh, làm cho tiết học trở nên sinh động và giúp học sinh cóđược kiến thức nội dung bài học
* Về phía học sinh
Phiếu điều tra phát ra 70, thu về 70 Kết quả thu được như sau:
Theo kết quả điều tra ở bảng 1.10 thì thấy được đa số học sinh đều xemphân môn Lịch sử là môn học quan trọng trong chương trình học lớp 4, cụ thểnhư sau:
Bảng 1.10 Tầm quan trọng của phân môn Lịch sử Mức độ Số lượng (người) Tỉ lệ (%)
Trang 39thường
Khôn
g qua
n trọng 0
Biểu đồ 1.7 Tầm quan trọng của phân môn Lịch sử
Khi được hỏi về tầm quan trọng của phân môn Lịch sử thì 50% học sinh cho
là rất quan trọng, 37.1% học sinh chọn phân môn Lịch sử là quan trọng và có10% học sinh xem phân môn Lịch sử là bình thường Tuy nhiên vẫn còn 2.9%học sinh xem nhẹ vai trò của Lịch sử, xem Lịch sử là môn học không cần thiết.Như vậy đa số các em nhận ra vai trò của việc học Lịch sử
Bảng 1.11 Mức độ hứng thú khi học Lịch sử Mức độ Số lượng (người) Tỉ lệ (%)
Biểu đồ 1.8 Mức độ hứng thú của học sinh đối với phân môn Lịch sử
Trang 40Dựa vào kết quả trên, trong tiết dạy Sử chỉ có 18,5% (17.1% và 1.4%) họcsinh cảm thấy thú vị muốn học, còn 52.9% học sinh thấy giờ học Sử bình thường.Thực tế đáng buồn là vẫn còn 28.6% học sinh không hứng thú trong giờ học Đa
số học sinh thấy các kiến thức Lịch sử rất khó nhớ, dài dòng, bài học không hấpdẫn, có chỗ hiểu chỗ không, chỉ toàn là lý thuyết và con số khô khan Lý do họcsinh không hứng thú với phân môn này là do giáo viên thường sử dụng thườngxuyên các phương pháp như thảo luận nhóm, đàm thoại gây nhàm chán
Bảng 1.12 Mức độ hiểu bài sau mỗi tiết học Mức độ Số lượng (người) Tỉ lệ (%)
Chính vì lý do trên nên có tới 31/70 học sinh khó tiếp thu bài chiếm khá đông
gần như 12 số học sinh, điều này ảnh hưởng đến lớp học làm cho không khí trởnên tẻ nhạt (chiếm 27.1%) và học sinh cảm thấy áp lực khi học chiếm 32.9%, kếtquả thu được như sau: