1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo dục ứng phó với thiên tai trong dạy học Địa lý 4

75 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 206,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa luận tốt nghiệp đại học đề xuất một số biện pháp giáo dục ứng phó với thiên tai tông dạy học Địa lý 4. Tổng kết các dạng thiên tai thường xảy ra tại Việt Nam và mức độ nguy hiểm của chúng. Đưa ra những biện pháp ứng phó với thiên tai phù hợp với học sinh lớp 4. Và đề xuất những biện pháp giáo dục phù hơp

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

6 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3

7 Đóng góp của đề tài 4

8 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4

9 Cấu trúc của đề tài 4

B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GD ỨNG PHÓ VỚI THIÊN TAI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN ĐỊA LÝ LỚP 4 5

1.1 Một số lý luận về thiên tai 5

1.1.1 Khái niệm thiên tai 5

1.1.2 Nhận dạng một số loại thiên tai 5

1.1.3 Các nguyên nhân chủ yếu gây thiên tai 9

1.1.4 Các đối tượng chịu tác động của thiên tai 10

1.2 Một số lý luận về GD ứng phó với thiên tai 11

1.2.1 Lý luận về GD 11

1.2.2 GD ứng phó với thiên tai 12

1.2.3 Vai trò của GD ứng phó với thiên tai 13

1.3 Đặc điểm tâm sinh lý, nhận thức của HS lớp 4 14

1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý của HS lớp 4 14

1.3.2 Đặc điểm nhận thức 15

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 17

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GD ỨNG PHÓ VỚI THIÊN TAI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN ĐỊA LÝ LỚP 4 18

2.1 Đặc điểm chương trình SGK Lịch sử - Địa lý lớp 4 18

Trang 2

2.1.1 Vị trí và nhiệm vụ của việc dạy học phân môn Địa lý lớp 4 18

2.1.2 Đặc điểm của chương trình SGK Lịch sử - Địa lý lớp 4 18

2.2 Thực trạng GD ứng phó với thiên tai trong dạy học Địa lý lớp 4 20

2.2.1 Thực trạng thiên tai ở thế giới và Việt Nam 20

2.2 2 Thực trạng GD ứng phó với thiên tai trong dạy học phân môn Địa lý lớp 4 trong trường tiểu học 24

2.3.1 Đặc điểm cấu trúc của chương trình 31

2.3.2 Nhận thức của cộng đồng 32

2.3.3 Nhận thức và năng lực của GV 32

2.3.4 Đặc điểm nhận thức của HS 33

2.3.5 Bất bình đẳng về giới 33

2.3.6 Cơ sở hạ tầng – vật chất kĩ thuật 34

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 35

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GD ỨNG PHÓ VỚI THIÊN TAI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN ĐỊA LÝ LỚP 4 36

3.1 Cơ sở xây dựng biện pháp GD ứng phó với thiên tai trong dạy học phân môn Địa lý lớp 4 36

3.1.1 Mục tiêu chương trình GD tiểu học 36

3.1.2 Nội dung chương trình phân môn Địa lý lớp 4 36

3.1.3 Thực trạng GD ứng phó với thiên tai trong dạy học phân môn Địa lý lớp 4 36

3.1.4 Đặc điểm tâm lý, nhận thức của HS lớp 4 37

3.2 Các nguyên tắc đề xuất giải pháp GD ứng phó với thiên tai trong dạy học phân môn Địa lý lớp 4 37

3.2.1 Đảm bảo tính phù hợp 38

3.2.2 Đảm bảo tính thực tiễn 38

3.2.3 Đảm bảo tính đa dạng và tương tác 38

3.2.4 Đảm bảo tính liên tục và cập nhật 39

3.3 Đề xuất một số biện pháp GD ứng phó với thiên tai trong dạy học phân môn Địa lý lớp 4 39

3.3.1 Xây dựng nội dung tích hợp nội dung GD ứng phó với thiên tai trong dạy học phân môn Địa lý lớp 4 39

Trang 3

3.3.2 Xây dựng các mức độ tích hợp nội dung GD ứng phó với thiên tai trong

dạy học phân môn Địa lý lớp 4 42

3.3.3 Sử dụng phương tiện dạy học hiệu quả 44

3.3.4 Sử dụng phương pháp dạy học tích cực 45

3.3.5 Kết hợp với GD bình đẳng giới cho HS 48

3.3.6 Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh 48

3.3.7 Thiết kế một số bài giảng thực hiện GD ứng phó với thiên tai trong dạy học phân môn Địa lý lớp 4 49

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 56

CHƯƠNG 4 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VỀ VIỆC GD ỨNG PHÓ VỚI THIÊN TAI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN ĐỊA LÝ LỚP 4 57

4.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 57

4.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm sư phạm 57

4.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 57

4.2.2 Địa bàn và thời gian thực nghiệm sư phạm 57

4.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 57

4.3.1 Tiêu chí chọn bài thực nghiệm 57

4.3.2 Chọn mẫu thực nghiệm sư phạm 58

4.3.3 Nội dung thực nghiệm 58

4.3.4 Quan sát giờ học 58

4.4 Kết quả thực nghiệm 59

TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 63

C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64

1 Kết luận 64

2 Kiến nghị 65

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Mối tương quan về tần suất xuất hiện thiên tai ở Việt Nam 23

Bảng 2.2 Thống kê các sự kiện thiên tai lớn trong thập kỷ 1997 – 2009 23

Bảng 2.3 Đánh giá của GV về kiến thức thiên tai và ứng phó với thiên tai của HS lớp 24

Bảng 2.4 Mức độ cần thiết của việc GD ứng phó với thiên tai 25

Bảng 2.5 Chia sẻ của GV về việc thực hiện GD ứng phó với thiên tai trong dạy học 25

Bảng 2.6 Đánh giá của GV về khả năng tích hợp GD ứng phó với thiên tai trong phân môn Địa lý lớp 4 26

Bảng 2.7 Khó khăn của GV khi tích hợp GD ứng phó với thiên tai trong giờ học chính khóa 26

Bảng 2.8 Kiến nghị của GV 27

Bảng 2.9 Thái độ GV đối với việc tham gia tích hợp GD ứng phó với thiên tai cho HS 27

Bảng 2.10 Kiến thức về thiên tai của HS 28

Bảng 2.11 Nhận thức về tình trạng thiên tai trên thế giới (n=227) 28

Bảng 2.12 Nguyên nhân xảy ra thiên tai 30

Bảng 2.13 Trải nghiệm thiên tai 30

Bảng 2.14 Tâm trạng khi đối mặt với thiên tai 30

Bảng 2.15 Mong muốn được bồi dưỡng kiến thức về thiên tai 31

Bảng 3.1 Thống kê loại thiên tai và mức độ tích hợp GD ứng phó với thiên tai trong dạy học Địa lí lớp 4 43

Bảng 4.1 Thống kê sĩ số các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 57

Bảng 4.2 Nhận biết thời gian xảy ra lũ lụt ở ĐBNB và Quảng Nam 59

Bảng 4.3 Nhận thức về nguyên nhân gây ra lũ lụt 60

Bảng 4.4 Nhận thức về hậu quả nghiêm trọng nhất của lũ lụt 61

Trang 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 Chia sẻ của GV về việc thực hiện GD ứng phó với thiên tai trong

dạy học 25

Biểu đồ 2 Nhận thức về tình trạng thiên tai trên thế giới (n=227) 29

Biểu đồ 3 Nguyên nhân xảy ra thiên tai (n=227) 29

Biểu đồ 4 Nhận thức về nguyên nhân gây ra lũ lụt 60

Biểu đồ 5 Tỷ lệ HS nhận thức đúng về thiên tai lũ lụt 61

Trang 7

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với sự biến đổi khí hậu toàn cầu, các thiên tai ngày càng diễn biếnphức tạp, tác động mạnh mẽ và gây ra những hậu quả nghiêm trọng Việt Nam làmột trong những quốc gia dễ xảy ra thiên tai nhất trên thế giới, theo đánh giá củaViện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường năm 2015 Thiệt hại do thiêntai ở Việt Nam thuộc loại lớn trên thế giới, mỗi năm làm chết khoảng 500 người,gây thiệt hại 14.500 tỷ đồng, tương đương 1,2% GDP cả nước, thành quả kinh tếtrong 5-10 năm có thể bị biến mất chỉ trong một trận lũ Tuy nhiên, vấn đề nàyvẫn chưa được quan tâm GD đúng mực Trong khi đó, một Vương quốc Anhkhông thường xuyên xảy ra động đất, sóng thần đã GD nên một Tilly Smith – bégái đã cứu hàng trăm người thoát chết trong thảm họa sóng thần tại Thái Lanngày 26/12/2004 Đây là câu chuyện dành cho ngành GD nước nhà, buộc chúng

ta, đặc biệt là những người GV trực tiếp giảng dạy phải nghiêm túc nhìn nhận lạivấn đề để có giải pháp tân tiến GD, giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra

Quyết định số 329/QĐ-BGDĐT về việc phê duyệt đề án “Thông tin, tuyên truyền về ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai trong trường học giai đoạn 2013-2020” đã nói lên tầm quan trọng của việc dạy học tích hợp

ứng phó với thiên tai, tuy nhiên, việc tích hợp nội dung này vào chương trình họccòn hạn chế Do đó, phần lớn HS thiếu đi những kiến thức, kĩ năng sinh tồn cầnthiết, không thể tự bảo vệ bản thân cũng như giúp đỡ người lớn trong việc phòngtránh, ứng phó với các loại thiên tai, thậm chí còn trở thành gánh nặng Để giảiquyết tình trạng trên, việc cấp thiết là nâng cao hiểu biết và khả năng ứng phó vớithiên tai cho người dân Muốn thực hiện mục tiêu lâu dài thì đầu tư cho GD làbiện pháp hữu hiệu nhất, GD ứng phó với thiên tai là cần thiết và tất yếu… Đểgóp phần vào việc xây dựng hệ thống tài liệu cho công tác dạy học tích hợp GD

thiên tai cho HS, chúng tôi chọn đề tài: “GD ứng phó với thiên tai trong dạy học phân môn Địa lý lớp 4”, một mặt thực hiện tốt đề án của Bộ, mặt khác giúp HS

nâng cao hiểu biết, hình thành kỹ năng ứng phó với các loại thiên tai

Trang 8

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất một số biện pháp tích hợp GD ứng phó với thiên tai trong dạy học phânmôn Địa lý lớp 4, từ đó, nâng cao chất lượng GD trong phân môn Địa lý lớp 4 vànâng cao hiểu biết cũng như kỹ năng phòng tránh, ứng phó với thiên tai cho HS

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Một số biện pháp GD ứng phó với thiên tai trong dạy học phân môn Địa

lý ở lớp 4

3.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình GD ứng phó với thiên tai trong dạy học phân môn Địa lý lớp 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc tích hợp GD ứng phó với thiên tai trongdạy học phân môn Địa lý lớp 4

Nghiên cứu thực trạng GD ứng phó với thiên tai trong dạy học phânmôn Địa lý lớp 4

Đề xuất một số biện pháp GD ứng phó với thiên tai

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Nhóm phương pháp lý luận

Trong quá trình nghiên cứu các nguồn tài liệu, các công trình nghiên cứukhoa học có liên quan đến đề tài như các luận văn, luận án, báo cáo khoa học, cácbài báo,… chúng tôi có sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp,khái quát hóa, hệ thống hóa, nhận xét, tóm tắt và trích dẫn những vấn đề liênquan trực tiếp đến thiên tai như GD ứng phó với thiên tai, phương pháp dạy học,đặc điểm tâm sinh lý – nhận thức HS lớp 4,… để giải quyết nhiệm vụ nghiêncứu, xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài

5.2 Nhóm phương pháp thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để tìm hiểu thực trạng GD ứng phóvới thiên tai trong dạy học phân môn Địa lý lớp 4 và kết quả thực nghiệm

- Phương pháp quan sát: quan sát các hoạt động giảng dạy và học tập của

GV, HS trong các giờ lên lớp

Trang 9

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: khẳng định các biện pháp đã đề xuất

để GD ứng phó với thiên tai trong dạy học phân môn Địa lý lớp 4

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: để đánh giá tính cần thiết, tính khảthi, tính hiệu quả của các biện pháp GD ứng phó với thiên tai trong dạy học phânmôn Địa lý lớp 4

5.3 Phương pháp thống kê toán học

Đề tài sử dụng nhóm phương pháp thống kê toán học để xử lý thông tin, hỗtrợ cho việc phân tích, tổng hợp kết quả nghiên cứu thực trạng GD ứng phó vớithiên tai trong dạy học phân môn Địa lý lớp 4 và kết quả thực nghiệm

6 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Vấn đề GD thiên tai đã và đang được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu

Điển hình có Tài liệu hướng dẫn dạy và học về giảm nhẹ rủi ro thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu, bản quyền thuộc về Live & Learn và Save the Children,

2011 Tài liệu này góp phần xây dựng những trường học, cộng đồng an toàn màtại đó trẻ em cùng thầy cô giáo, người dân hiểu, ý thức về rủi ro thiên tai, biếtcách và có khả năng để bảo vệ bản thân, gia đình và cộng đồng khỏi tác động tiêu

cực của thiên tai nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu Đề tài Tích hợp nội dung

GD thiên tai cho HS thông qua chương trình Địa lý trung học cơ sở của thạc sĩ

Đào Ngọc Bích, đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp cơ sở, trường Đạihọc Sư phạmthành phố Hồ Chí Minh đã bàn về nội dung GD thiên tai và một sốphương án tích hợp nội dung GD thiên tai cho HS thông qua chương trình Địa lýtrung học cơ sở Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu thuần về thiên tai hoặc dạy

học tích hợp như: Luận văn Nghiên cứu tác động của tai biến thiên nhiên tới hoạt động sản xuất nông nghiệp xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng

Bình của thạc sĩ Lê Văn Hoàn, trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc

gia Hà Nội hay luận văn Vận dụng quan điểm tích hợp và tích cực trong việc dạy học ngữ pháp ở trường trung học phổ thông của thạc sĩ Lê Thị Ngọc Chi, Đại

học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh…

Nhiều nước trên thế giới như: Nhật Bản, Philippin, Anh, Pháp đều chútrọng đến việc GD ý thức phòng tránh thiên tai cho HS thông qua nhiều môn học

Trang 10

Tuy nhiên, việc nghiên cứu cũng mới chỉ tập trung chủ yếu vào những thiên taiphổ biến tại các nước đó như: động đất, sóng thần, núi lửa

Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tập trungvào vấn đề tích hợp nội dungứng phó với các dạng thiên tai phổ biến cho HS thông qua chương trình phânmôn Địa lý lớp 4 Qua đó góp phần nâng cao hiểu biết về thiên tai cho HS lớp 4

và hình thành kỹ năng ứng phó với các loại thiên tai thường gặp như: bão, lũ,ngập lụt, giông sét… giúp HS có thể tự bảo vệ bản thân cũng như những ngườixung quanh

8 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Tích hợp GD ứng phó với một số loại thiên tai phổ biến tại Việt Nam (lũlụt, hạn hán, bão, giông, sét,…) trong dạy học phân môn Địa lý lớp 4

9 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục ra,bài khóa luận có nội dung nghiên cứu gồm 4 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận của việc GD ứng phó với thiên tai trong dạy họcphân môn Địa lý lớp 4

Chương 2 Cơ sở thực tiễn của việcGD ứng phó với thiên tai trong dạy họcphân môn Địa lý lớp 4

Chương 3 Đề xuất một số biện pháp GD ứng phó với thiên tai trong dạyhọc phân môn Địa lý lớp 4

Chương 4 Thực nghiệm sư phạm về việc GD ứng phó với thiên tai trongdạy học phân môn Địa lý lớp 4

Trang 11

B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GD ỨNG PHÓ VỚI THIÊN

TAI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN ĐỊA LÝ LỚP 4

1.1 Một số lý luận về thiên tai

1.1.1 Khái niệm thiên tai

Theo cách hiểu từ Hán - Việt “thiên tai” thì đây là hiện tượng bất thường

của thiên nhiên, có thể tạo ra các ảnh hưởng bất lợi và rủi ro cho con người, sinhvật và môi trường Thiên tai có thể xảy ra ở một vùng, một khu vực nhất định nào

đó (sấm sét, núi lửa…), một quốc gia (lũ lụt, hạn hán…), một đại lục (độngđất…), hoặc đôi khi trên toàn thế giới (El Nino, La Nina)[13]

Theo Ban phòng chống lụt bão Trung Ương (Việt Nam): “Thiên tai là một tai họa tự nhiên tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người”.Thiên tai xảy

ra thường để lại nhiều hậu quả mất mát, đau đớn và tổn thất khó có thể khắc phụctrong một thời gian ngắn

Theo Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO): “Thiên tai là một tai biến tự nhiên có thể ảnh hưởng tới môi trường, dẫn tới những thiệt hại về tài chính, môi trường và con người”.Tuy nhiên, một rủi ro tự nhiên không thể dẫn tới thảm hoạ

tự nhiên tại các khu vực không có người ở

Như vậy, chúng ta có thể hiểu: Thiên tai là những tai họa do thiên nhiênđem tới gây ảnh hưởng hoặc đe dọa cuộc sống con người Tuy nhiên,thiên tai làhiện tượng có thể phòng tránh được, vì vậy, tất cả mọi người cần có kiến thức vềcác loại thiên tai và các cách phòng tránh để giảm thiệt hại ở mức thấp nhất

1.1.2 Nhận dạng một số loại thiên tai

Các thiên tai trên thế giới có thể kể đến rất nhiều, với nghiên cứu này tôi sẽliệt kê một số loại thiên tai điển hình có thể thực hiện tích hợp trong dạy họcphân môn Địa lý lớp 4

* Lũ lụt

Lũ là hiện tượng mực nước và tốc độ dòng chảy trên sông, suối vượt quámức bình thường Có thể phân thành: lũ quét (xảy ra nhanh, thời gian ngắn, dòngchảy mạnh), lũ sông (dâng từ từ và theo mùa), lũ ven biển (sóng biển dâng cao

Trang 12

đột ngột kết hợp với triều cường)[4] Lụt là hiện tượng ngập nước vượt quá mứcbình thường, ảnh hưởng đến đời sống sản xuất và môi trường Lụt xảy ra khi hiệntượng lũ ở các sông dâng cao (do mưa lớn hoặc/và triều cao), vượt qua khỏi bờ,chảy tràn vào các vùng trũng và gây ra ngập trêndiện rộng trong một khoảng thờigian nào đó.Lũlụt được gọi là lớn và đặc biệt lớn khi nó gây ra nhiều thiệt hại lớn

và kéo dài về người và của cải[4]

Mưa lớn và kéo dài, địa hình trũng thấp, các công trình xây dựng lấp mất

ao, hồ; đê, đập bị vỡ; hiện tượng bão lớn làm nước biển dâng tiến sâu vào đất liềnđều có thể gây ra lũ lụt[4] Lũ lụt có thể gây thiệt hại về người: chết đuối, bịthương; làm mất hoặc hư hỏng nhà cửa, đồ đạt; làm chết vật nuôi: gia súc, giacầm; phát sinh dịch bệnh; gây cản trở giao thông hoặc ảnh hưởng tới nguồn nướcsạch, nước ở vùng ven bờ biển bị nhiễm mặn

* Hạn hán

Là hiện tượng xảy ra khi thiếu nước trong một thời gian dài [4] Cụ thể,trong một thời gian dài mưa không xuất hiện, ẩm độ không khí giảm thấp, sôngrạch khô cạn dần và cây cỏ chuyển dần đến điểm héo Hạn hán thường xảy ra vàomùa khô nhưng ngay cả mùa mưa cũng có thể có những đợt hạn xảy ra Các biểuhiện của khô hạn có thể kể đến như: không mưa trên 5 - 6 tháng, độ bốc hơi trên

75 mm/tháng,độ ẩm thấp H < 50%, gió mạnh và khô, đất nứt nẻ, mực nước ngầmtụt thấp, ao hồ sông rạch khô cạn, hoạt động của sinh vật giảm [13]

Hạn hán xuất hiện khi một thời gian dài không có mưa hoặc có rất ít mưa;trên mặt đất không có tầng cây để giữ nước (do chặt phá, đốt rừng làm nươngrẫy), nước bị trôi đi rất nhanh; mất cân bằng nước do thiếu công trình phát triểnthủy lợi, độ ẩm trong đất và không khí bị giảm sút [4]

Hạn hán khiến cho con người không có nước sinh hoạt hằng ngày; gâybệnh: tiêu chảy, truyền nhiễm; không có nước để trồng trọt và chăn nuôi nên dẫnđến thiếu nguồn lương thực, thực phẩm; đất ở các khu vực ven biển dễ bị nhiễmmặn, ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt

* Áp thấp nhiệt đới, bão

Bão hay áp thấp nhiệt đới là hiện tượng thời tiết khi xuất hiện gió lớn, mưa

Trang 13

rất to và nước dâng Áp thấp nhiệt đới là hiện tượng khi tốc độ gió đạt cấp 6, cấp

7 (từ 39 đến 61 km/h) Bão xuất hiện khi gió đạt cấp 8 trở lên (từ 62 km/h) [4]

Áp thấp nhiệt đới và bão được hình thành chủ yếu từ biển tại vùng nước

ấm, không khí ẩm ướt và gió hội tụ [4] Hay nói cách khác áp thấp nhiệt đới vàbão được hình thành là do sự xuất hiện và hoạt động của các khu áp thấp rất sâu Loại thiên tai này có thể gây thiệt hại về người: chết người, bị thương, dịchbệnh; thiệt hại về vật chất: mất mát tài sản, hư hỏng công trình, cản trở giaothông, gián đoạn thông tin liên lạc; thiệt hại về sản xuất: mất mùa, làm chết vàgây dịch bệnh ở vật nuôi; thiếu lương thực và nước sạch sinh hoạt; thiệt hại vềmôi trường: ô nhiễm, có thể gây lũ lụt, lũ quét và sạt lở đất

Sạt lở đất, đá có thể làm người hoặc động vật bị chết hoặc bị thương do đất,

đá chôn vùi; nhà cửa, đồ đạt có thể bị phá hủy hoặc hư hỏng, giao thông bị cảntrở; đất trồng trọt bị đất đá vùi lấp có thể không sử dụng được

* Giông và sét

Giông được đặc trưng bởi sự xuất hiện hiệu ứng âm thanh của sét trong bầukhí quyển của Trái Đất Giông thường gắn với các hình thái mây như các tầngmây chồng chất lên nhau hoặc các đám mây lớn, tối, dày đặc và dựng đứng lênbầu trời Sét xảy ra trong những đám mây giông và thường kèm theo sấm Sét làmột luồng điện lớn từ trên đám mây đánh xuống, thường là đánh vào các điểmcao như cây to, cột điện, các đỉnh núi,…Do bản thân mang điện thế cao, tất cảmọi vật bao gồm cả không khí đều trở thành vật dẫn điện nên đều trở thành đốitượng đánh xuống của sét Sét còn đánh vào nước và các vật bằng kim loại, cácvật mang sóng điện vì chúng dẫn điện tốt [9]

Sét là hiện tượng khí tượng, đặc biệt thường xảy ra vào mùa hè do các phân

Trang 14

tử nước trong đám mây và mặt đất mang điện tích dương gặp chân mây và mặtđất mang điện tích âm tạo ra sự chênh lệch điện áp lớn và tạo nên hiện tượngphóng điện Do sự gia tăng nhiệt độ trong mùa khô tạo nên sự bốc hơi nướcmạnh mẽ, khối không khí ẩm sát mặt đất bị nâng lên cao (hiện tượng đối lưu) gâymăt nhiệt, hơi nước ngưng tụ gây mưa kèm sấm chớp [13]

Giông, sét có thể làm chết người hoặc gây thương tích; đánh và phá hủy nhàcửa, cây cối và hệ thống điện trong làng, xã; mưa to trong các cơn giông còn cóthể gây ra lũ quét

* Lốc, lốc xoáy

Lốc là một cột không khí xoáy hình phễu và di chuyển rất nhanh trên đất liềnhoặc trên biển Trong quá trình di chuyển, lốc cuốn theo các vật thể trên đường mà

nó đi qua (bụi, cát, rơm, rác,…) Lốc xoáy là cột gió xoáy dữ dội kéo dài thẳng đứng

từ một đám mây giông lớn xuống tới mặt đất.Tốc độ gió thường dưới 177km/h, có

bề ngang khoảng 76m và di chuyển hàng ki-lô-mét trước khi tan [9]

Lốc có thể xuất hiện khi có sự khác nhau rõ ràng về tốc độ gió và có thể xảy ranhiều hơn khi thời tiết nóng, thường hình thành từ giông bão; khi không khí ấm và

ẩm gặp không khí khô và lạnh thường tạo ra một vùng bất ổn trong khí quyển; khihướng gió thay đổi và tốc độ gió tăng dần lên sẽ tạo ra hiệu ứng chuyển động xoáyngang vô hình ở tầng khí quyển thấp hơn Cần lượng ẩm lớn để hình thành nên mộtcơn giông và cần có hội tụ gió để nâng lớp không khí ẩm lên [9]

Loại thiên tai này xảy ra đột ngột và trong thời gian ngắn, do đó khó đoánbiết và ứng phó kịp thời, hậu quả theo đó cũng nghiêm trọng hơn; chúng có sứctàn phá lớn trong một phạm vi hẹp, lốc có thể cuốn đi nhà cửa, công trình, đồđạc, vật nuôi, kể cả con người,… gây thiệt hại về người và tài sản hoặc gây ùntắc giao thông, mất mỹ quan

* Mưa đá

Mưa đá là hiện tượng mưa kèm theo những viên nước đá hình cầu hoặcnhững miếng nước đã có hình dạng và kích thước khác nhau rơi xuống đất.Thôngthường hạt mưa đá nhỏ bằng hạt đậu, hạt ngô, nhưng đôi khi chúng cũng có thể

to bằng quả trứng gà hoặc to hơn [9]

Trang 15

Khi đám mây giông phát triển rất mạnh theo chiều cao, những giọt nướcnày bị đẩy lên cao gặp không khí rất lạnh và bị đóng băng đủ nặng rơi xuốngthành mưa đá [9].

Mưa đá có thể phá hoại mùa màng và cây cối; những cơn mưa với viên đá

có kích thước lớn có thể làm cho con người và gia súc bị thương hoặc mất mạngnếu không kịp trú ẩn

Hiện tượng rét đậm, rét hại hình thành khi có sự xuất hiện của các khốikhông khí lạnh liên tiếp tác động đến lãnh thổ

Khi nhiệt độ giảm xuống nhanh có thể gây ra thiệt hại trong sản xuất nôngnghiệp và chăn nuôi: gây chết cây trồng và vật nuôi, ảnh hưởng tới các hoạt độngsản xuất của người lao động Thậm chí khi rét đậm, rét hại xuất hiện bất thườngcũng có thể ảnh hưởng tới sức khỏe hoặc tính mạng của con người

1.1.3 Các nguyên nhân chủ yếu gây thiên tai

Hầu hết các thảm họa thiên nhiên đều có sự "đóng góp" lớn của hai yếu tố,

Trang 16

đó là con người và thiên nhiên.

1.1.3.1 Nguyên nhân do tự nhiên

Nguyên nhân dẫn đến sự hình thành thiên tai trước hết là do tính chất phânhóa theo không gian, thời gian của các yếu tố thời tiết, thủy văn Trong đó đángchú ý nhất là các yếu tố lượng mưa và dòng chảy Sự chênh lệch lớn về lưu lượngnước giữa mùa khô và mùa lũ làm cho mùa lũ thì thừa nước sinh lũ lụt, đến mùakhô lại chịu cảnh hạn hán, thiếu nước Bên cạnh đó, địa hình cũng góp phần đáng

kể vào việc hình thành thiên tai Hệ thống đồi núi nhấp nhô, đỉnh nhọn với caonguyên bậc thềm xen kẽ làm cho địa hình phân cắt, hiểm trở, đi lại khó khăn,nhiều nơi độ dốc trên 10 độ, đây là điều kiện thuận lợi cho việc rửa trôi, xói mòn,dồn nước nhanh chóng tạo nên những cơn lũ quét và những cơn lũ có biên độ lũlớn, sườn lũ dốc, khó dự báo trước, gây thiệt hại đáng kể về người và tài sản

1.1.3.2 Nguyên nhân do con người

Hoạt động của con người là một trong những nguyên nhân làm cho thiên tai

có chiều hướng gia tăng và ngày càng nguy hiểm Trong hoạt động sinh sống,hoạt động kinh tế xã hội, con người đã tàn phá rừng tự nhiên, làm mất cân bằngsinh thái nghiêm trọng, rừng không còn khả năng điều tiết dòng chảy làm chodòng chảy lũ vốn đã nguy hiểm càng trở nên nguy hiểm Ngược lại, đất đai cũng

dễ trở nên khô cằn, dòng chảy dễ bị cạn kiệt khi lượng mưa ít đi

Ngoài những nguyên nhân nêu trên cũng phải kể đến sự thiếu đồng bộ trongkhâu tổ chức quy hoạch sản xuất Nhiều nơi nhân dân còn bố trí sản xuất theohướng tự phát, dựa vào kinh nghiệm là chính, chưa có sự hướng dẫn đầy đủ vềquy trình khoa học kỹ thuật, chưa tính đến các tác động tiêu cực củathời tiết thủyvăn đã làm cho công tác phòng chống và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra trởnên khó khăn hơn

1.1.4 Các đối tượng chịu tác động của thiên tai

Thiên tai gây ảnh hưởng nặng nề nhất đến những đối tượng: người nghèo,người khuyết tật, trẻ em, người cao tuổi, người dân tộc, người nhiễmHIV/AIDS.Các đối tượng này dễ bị tổn thương nhất do các nguyên nhân sau [4]:

- Về kinh tế: họ có thu nhập thấp, không đủ hoặc chỉ vừa đủ để đáp ứng các

Trang 17

nhu cầu trong sinh hoạt; nhà cửa tạm bợ dễ bị thiên tai tác động, điều kiện tiếpcận các dịch vụ cộng đồng (y tế, GD, nước sạch,…) còn hạn chế,…

- Về xã hội: ít tham gia vào các tổ chức đoàn thể cũng như các hoạt độngcộng đồng khiến họ khuyết đi những kiến thức căn bản cần thiết, chưa có tiếngnói trong cộng đồng, không thể đấu tranh giành lại quyền lợi chính đáng,…

- Về môi trường: các đối tượng sống tại các vùng thường xuyên chịu ảnhhưởng, thiệt hại do thiên tai

- Về thái độ: thường tự ti, mang tâm thế bi quan khi đối diện với thiệt hại,không cởi mở giao lưu, tiếp xúc với bên ngoài,…

- Về thể lực, sức khỏe: bản thân các đối tượng không có đủ sức để chốngchọi khi thiên tai ập đến

Trong các đối tượng trên, trẻ em là đối tượng được hướng đến để bảo vệnhiều nhất, tuy nhiên nếu được GD đúng cách, các em cũng có thể tự bảo vệ bảnthân và dùng tiếng nói của mình để tác động, gián tiếp giúp đỡ người lớn ứngphó với thiên tai cũng như bảo vệ bản thân

1.2 Một số lý luận về GD ứng phó với thiên tai

1.2.1 Lý luận về GD

GD là một hiện tượng xã hội đặc biệt mà trong đóGV với tư cách là nhà GD

đã tác động một cách có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp nhằm giúp HS

tự giác, tích cực tự GD, tự tu dưỡng, rèn luyện nhằm hình thành thế giới quan vànhững phẩm chất nhân cách tốt đẹp Như vậy, trong quá trình GD, GV giữ vai tròchủ đạo trong việc tổ chức, điều khiển hoạt động GD đối với HS Vai trò chủ đạocủa người GV thể hiện rõ nét trong việc cụ thể hóa, mục đích, mục tiêu GD, xácđịnh nội dung cần phải GD và GD như thế nào, thông qua những phương pháp,phương tiện và những hình thức GD[12]

Quá trình GD không phải chỉtác động một chiều mà là tác động hai chiều,tác động song phương HS trong quá trình GD không phải chỉ tiếp thu ảnhhưởng, tác động từ phía GV mà chính bản thân họ cũng thường xuyên tiến hànhhoạt động cá nhân, tự giác, tích cực, chủ động tự GD để từng bước hoàn thiệnphẩm chất nhân cách của mình Do đó, trong quá trình GD diễn ra sự tác động

Trang 18

qua lại, thường xuyên, tích cực giữa HS – GV[12]

Cần phải phân biệt giữa dạy học và GD Ở quá trình dạy học, chức năngcơbản là tác động vàoquá trình nhận thức của HSgiúp các em nắm vững hệ thống trithức và những kỹ năng thực hành, vận dụng tri thức đó.Ở quá trình GD, chứcnăng chính là sự tác động cả về mặt nhận thức lẫn tình cảm, hành vi nhằm giúp

HS ý thức đúng đắn và sâu sắc đối với những chuẩn mực của xã hội cũng như ýnghĩa của việc thực hiện những chuẩn mực đó, từ đóHShình thành thói quen ứng

xử đúng đắn, phù hợp với các giá trị chuẩn mực Như vậy, để ứng phó với cácloại thiên tai thì việc GD các thế hệ HS về ý thức và kỹ năng ứng phó với thiêntai, sự biến đổi khí hậu toàn cầu trong giai đoạn hiện nay là cần thiết và hợp lý

Vì việc GD ứng phó với thiên tai giúp HS có nhận thức đúng đắn và sâu sắcnhững nguyên nhân, thiệt hại do thiên tai Quan trọng hơn, GD ứng phó với thiêntai thường xuyên còn giúp HS hình thành những thói quen, ứng xử phù hợp haynói cách khác là hình thành thái độ, ý thức cho HS về bảo vệ môi trường, tàinguyên nhằm làm giảm thiểu rủi ro do thiên tai gây ra

1.2.2 GD ứng phó với thiên tai

Ứng phó với thiên tai là tổng hợp các hoạt động nhằm phòng ngừa, giảmnhẹ thiệt hại thiên tai, ngăn chặn thiên tai, khắc phục hậu quả thiên tai và thíchứng, giảm nhẹ thiên tai[11]

GD ứng phó với thiên tai là GD về những kiến thức và kỹ năng cơ bảntrong việc dự đoán, phòng chống, giảm thiểu tác hại và khắc phục hậu quả củathiên tai Đó là những kiến thức về nguyên nhân, cơ chế hình thành, diễn biến,hậu quả, cách phòng tránh, cách hạn chế, cách khắc phục hậu quả và cách tự bảo

vệ mình cùng với mọi người khi xảy ra thiên tai Kết quả của GDứng phó vớithiên tai không phải chỉ là sự hiểu biết những kiến thức trên sách vở mà còngiúpHShình thành ý thức, tình cảm, trang bị tốt những kỹ năng để ứng phó khixảy ra thiên tai Từ đó HS có những thái độ, cách nhìn nhận đúng đắn khi thiêntai tàn phá ở bất kỳ khu vực nào, để các em biết đồng cảm với nỗi đau của đồngbào bị ảnh hưởng của thiên tai và có những hành động tự nguyện, tích cực giúp

đỡ đồng bào bị thiên tai

Trang 19

1.2.3 Vai trò của GD ứng phó với thiên tai trong Địa lý 4

Thiên tai và những hậu quả mà nó gây ra hiện đang là vấn đề mà toàn xãhội quan tâm Tuy nhiên, những kiến thức, kĩ năng về thiên tai chưa trở thànhmột môn học trong nhà trường, nhưng lại cần trang bị cho HS để các em có thểnhận biết, đối mặt để hạn chế những thiệt hại mà thiên tai gây ra Do đó, việc GDứng phó với thiên tai đóng một vai trò quan trọng, là chìa khóa cho việc hạn chếnhững hậu quả do thiên tai gây ra ở thời điểm hiện tại và trong tương lai

Khi người GVsử dụng hiệu quả các biện pháp GD ứng phó với thiên taitrong nhà trường, ngoài việc giúp HS chủ động, tích cực say mê học tập còn lồngghép được các nội dung khác nhau như: bảo vệ môi trường, chăm sóc và bảo vệsức khỏe thông qua các kiến thức thực tiễn Từ đó GD và đào tạo thế hệ trẻ pháttriển toàn diện về mọi mặt

1.2.4 Các mức độ tích hợp GD ứng phó với thiên tai trong Địa lý 4

Tích hợp GD ứng phó với thiên tai là sự lồng ghép nội dung ứng phó vớithiên tai vào nội dung của phân môn để trở thành nội dung hoàn chỉnh, thốngnhất, gắn bó chặt chẽ với nhau nhằm thực hiện mục đích GD Tuy nhiên, khi thựchiện việc tích hợp GD ứng phó với thiên tai cần đảm bảo nội dung tích hợpkhông ảnh hưởng đến thời lượng tiết học, không làm thay đổi mục tiêu, cũng nhưđặc trưng của phân môn Địa lý

Có nhiều cách để phân loại tích hợp Tuy nhiên, để xây dựng các biện phápsau này, chúng tôi phâm loại dựa vào cách tiếp cận nội dung Như vậy, có 3 mức

độ tích hợp GD ứng phó với thiên tai trong Địa lý 4 là toàn phần, bộ phận, liên

hệ Cụ thể:

+ Tích hợp GD ứng phó với thiên tai ở mức độ toàn phần là hình thức tíchhợp sâu nhất Hình thức này được áp dụng đối với những hoạt động, bài họcthuộc mảng kiến thức địa lý tự nhiên và nội dung của hoạt động, bài học đó có

GD về một hay nhiều loại thiên tai Hay nói các khác, kiến thức về thiên tai đãđược học ngay trong chương trình chính khóa, kỹ năng và thái độ đối với ứngphó với thiên tai sẽ được giáo viên tích hợp theo từng bài cụ thể

Trang 20

+ Tích hợp GD ứng phó với thiên tai ở mức độ bộ phận cũng được áp dụngvới những hoạt động, bài học thuộc địa lý tự nhiên và nội dung của những hoạtđộng, bài học đó có GD về các yếu tố của địa hình, khí hậu, thủy văn mà các yếu

tố đó nếu gặp điều kiện thích hợp sẽ phát triển mạnh để trở thành thiên tai

+ Tích hợp GD ứng phó với thiên tai ở mức độ liên hệ là hình thức tích hợpđơn giản nhất, được sử dụng với những hoạt động, bài học thuộc địa lý kinh tế xãhội khi chỉ có một số nội dung, vấn đề liên quan đến GD ứng phó với thiên taikhông nêu rõ trong nội dung bài học Trong trường hợp này, GV có thể khai thácnội dung bài học, bổ sung và liên hệ chúng với các nội dụng GD ứng phó vớithiên tai cũng như hậu quả của thiên tai đối với kinh tế - xã hội của khu vực đó

1.3 Đặc điểm tâm sinh lý, nhận thức của HS lớp 4

1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý của HS lớp 4

Hệ xương của trẻ còn nhiều mô sụn; xương sống, xương hông, xương chân,

xương tay đang trong thời kỳ phát triển nên dễ bị cong vẹo, gãy dập, Hệ

cơ cũng đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vậnđộng như chạy, nhảy, nô đùa, Hệ thần kinhđang hoàn thiện về mặt chức năng,

do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan sinh động sang tư duy trừutượng Trong hoạt động của bản thân, trẻ lớp 4 đã dần chuyển từ hoạt động vuichơi sang hoạt động lao động và học tập Cụ thể, trẻ bắt đầu biết cách tự học,tham gia lao động tự phục vụ bản thân và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quétdọn nhà cửa, ngoài ra, trẻ còn còn tham gia lao động tập thể ở trường lớp nhưtrực nhật, trồng cây, trồng hoa,…các phong trào của trường, của lớp và của cộngđồng dân cư, của Đội, [16]

Kèm theo việc tham gia các hoạt động, trẻ đã có những thay đổi quan trọng:trong gia đình, các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể tham giacác công việc trong gia đình; trong nhà trường, các em đã bắt đầu tập trung chú ý

và có ý thức học tập tốt; ngoài xã hội, các em đã tham gia vào một số các hoạtđộng xã hội mang tính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong gia đình).Đặc biệt là các em muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều ngườibiết đến mình [16]

Trang 21

Tình cảm của em mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vậthiện tượng sinh động, rực rỡ, Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ cònnon nớt, trẻ dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc màcũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưabền vững, dễ thay đổi [16].

Ở giai đoạn HS lớp 4, trẻ đã nhận biết được giới tính của bản thân, đồngthời hành vi cũng được suy xét trên quan điểm giới tính, tức là trẻ đã ý thức đượcnếu bản thân là trai thì phải hành động thế nào, là bé gái thì phải hành động rasao Một số trẻ có thể dậy thì sớm ở giai đoạn này, kèm theo đó là sự thay đổi cả

về thể chất lẫn tinh thần Sự thay đổi này có thể dẫn đến những ảnh hưởng nhấtđịnh về nhận thức và hành động của trẻ trong sinh hoạt, lao động hằng ngày

1.3.2 Đặc điểm nhận thức

Tri giác mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định: ởđầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểuhọc tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng

có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, cóphươnghướng rõ ràng Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biếtsắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó, ) [16]

Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quanhành động.Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừutượng khái quát Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4 bắtđầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiếnthức còn sơ đẳng ở đa sốHS[16]

Tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã táitạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giaiđoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽtranh, Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh

mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liềnvới các rung động tình cảm của các em [16]

Trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có

Trang 22

chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạtđộng học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hátdài, Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian,trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cốgắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định.[16].

Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic.Ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đãphát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vàonhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn củanội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em [16]

Ở giai đoạn này, các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thànhmục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưathể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụthuộc vào hứng thú nhất thời [16]

Trang 23

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Thiên tai lànhững thảm họa do thiên nhiên đem tới gây ảnh hưởng hoặc đedọa cuộc sống con người Có rất nhiều loại thiên tai với các biểu hiện và hậu quảđem lại khác nhau, có thể kể đến một số loại tiêu biểu như: lũ lụt, hạn hán, bão,

áp thấp nhiệt đới, sạt lở, giông, sét, lốc, mưa đá, sương muối, rét đậm, rét hại,…

GD ứng phó với thiên tai là GD về những kiến thức và kỹ năng cơ bảntrong việc dự đoán, phòng chống, giảm thiểu tác hại và khắc phục hậu quả củacác loại thiên tai, có vai trò quan trọng trong việc trang bị cho HS các kiến thức,

kĩ năng ứng phó với các loại thiên tai cơ bản, hình thành thái độ tích cực, chủđộng khi ứng phó với thiên tai

Vấn đề GD ứng phó với thiên tai đã được nhiều tác giả nghiên cứu Tuy nhiên,làm thế nào để thực hiện GD ứng phó với thiên tai có hiệu quả nhất đối với lứa tuổi

HS tiểu học đang có nhiều thay đổi về tâm sinh lý là một điều hết sức cần thiết

Trang 24

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆCGD ỨNG PHÓ VỚI THIÊN

TAI TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN ĐỊA LÝ LỚP 4 2.1 Đặc điểm chương trình SGK Lịch sử - Địa lý lớp 4

2.1.1 Vị trí và nhiệm vụ của việc dạy học phân mônĐịa lý lớp 4

Chương trình Địa lý lớp 4 có vị trí quan trọng trong việc giúp HS hiểu biết

về môi trường xung quanh, từ đó tạo điều kiện cho HS dễ dàng hòa nhập, thíchứng với cuộc sống xã hội, với môi trường thiên nhiên

Khi dạy học chương trình Địa lý lớp 4 cần chú ý giải quyết các vấn đề cóliên quan đến mối liên hệ giữa con người với thiên nhiên, cụ thể phải đảm bảothực hiện được những nhiệm vụ sau[17]:

+ Cung cấp cho HS những biểu tượng địa lý, bước đầu hình thành một sốkhái niệm cụ thể, xây dựng một số mối quan hệ địa lý đơn giảnở các vùng chínhtrên đất nước Việt Nam

+ Hình thành và phát triển cho HS năng lực tự học tập, bước đầu rèn luyệnnhững kỹ năng địa lý như:kỹ năng sử dụng bản đồ, kỹ năng nhận xét, so sánh phântích số liệu,kỹ năng phân tích các mối quan hệ địa lý đơn giản; biết nêu thắc mắc đặtcâu hỏi trong quá trình học tập và chọn thông tin để giải đáp; nhận biết đúng các sựvật, sự kiện, hiện tượng địa lý; biết trình bày lại kết quả học tập bằng lời nói, bàiviết, hình vẽ, sơ đồ; biết vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống + Hình thành và phát triển ở HS thái độ và thói quen ham tìm hiểu, yêuthiên nhiên, đất nước, con người.Có ý thức và hành động bảo vệ thiên nhiên.+ Bước đầu hình thành thế giới quan khoa học cho HS, hạn chế những hiểubiết sai lệch, mê tín, dị đoan trước những hiện tượng địa lý tự nhiên

2.1.2 Đặc điểm của chương trình SGKLịch sử - Địa lý lớp 4

Chương trình được xây dựng theo quan điểm tích hợp; đồng thời, kiến thứcđược trình bày từ gần đến xa, từ dễ đến khó nhằm phù hợp đặc điểm nhận thứccủa HS; ngoài ra, chương trình được cấu trúc linh hoạt, mềm dẻo, thực tiễn, thiếtthực, tạo điều kiện cho GV có thể vận dụng các phương pháp mới vào quá trìnhdạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS Đồng thời, giúp

HS có thể vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống hàng ngày

Trang 25

* VềSGK Lịch sử - Địa lý lớp 4

Khổ sách có kích thước 17 x 24cm

Kênh chữ trong SGK Lịch sử và Địa lý lớp 4 đóng vai trò chủ yếu trongviệc cung cấp kiến thức, thể hiện nội dung trọng tâm của bài được đặt trong phầnđóng khung và hệ thống câu hỏi cuối bài Ngoài ra còn có những câu hỏi và lệnh

ở giữa bài được in nghiêng để HS dễ nhận biết và được dùng để hướng dẫn HSlàm việc với kênh hình và liên hệ thực tế để tìm ra kiến thức mới Kênh hình sovới trước đây được tăng lên không những về số lượng mà còn cả về thể loại.Kênh hình không chỉ minh hoạ cho kênh chữ mà còn là nguồn cung cấp kiếnthức và rèn luyện kỹ năng cho HS

Cấu trúc mỗi bài học trong môn Lịch sử - Địa lý lớp 4 gồm có 3 phần: phầncung cấp kiến thức bằng kênh hình, kênh chữ; phần câu hỏi hoặc yêu cầu cáchoạt động học tập (câu hỏi in nghiêng ở giữa bài hoặc câu hỏi ở cuối bài) và phầntóm tắt trọng tâm của bài được đóng khung màu

* Về nội dung phân môn Địa lý lớp 4

Thiên nhiên và hoạt động sản xuất của con người ở miền núi và trung du

• Bài 1 Dãy núi Hoàng Liên Sơn

• Bài 2 Một số dân tộc ở Hoàng Liên Sơn

• Bài 3 Hoạt động sản xuất của người dân ở Hoàng Liên Sơn

• Bài 4 Trung du Bắc Bộ

• Bài 5 Tây Nguyên

• Bài 6 Một số dân tộc ở Tây Nguyên

• Bài 7, 8 Hoạt động sản xuất của người dân ở Tây Nguyên

• Bài 9 Thành phố Đà Lạt

• Bài 10 Ôn tập

Thiên nhiên và hoạt động sản xuất của con người ở miền đồng bằng

• Bài 11 Đồng bằng Bắc Bộ

• Bài 12 Người dân ở đồng bằng Bắc Bộ

• Bài 13,14 Hoạt động sản xuất của người dân ở đồng bằng Bắc Bộ

• Bài 15 Thủ đô Hà Nội

Trang 26

• Bài 16 Thành phố Hải Phòng

• Bài 17 Đồng bằng Nam Bộ

• Bài 18 Người dân ở đồng bằng Nam Bộ

• Bài 19,20 Hoạt động sản xuất của người dân ở đồng bằng Nam Bộ

• Bài 21 Thành phố Hồ Chí Minh

• Bài 22 Thành phố Cần Thơ

• Bài 23 Ôn tập

• Bài 24 Dải đồng bằng duyên hải miền Trung

• Bài 25, 26 Người dân ở dải đồng bằng duyên hải miền Trung

• Bài 27 Thành phố Huế

• Bài 28 Thành phố Đà Nẵng

Vùng biển Việt Nam

• Bài 29 Biển, đảo và quần đảo

• Bài 30 Khai thác khoáng sản và hải sản ở vùng biển Việt Nam

• Bài 31, 32 Ôn tập

2.2 Thực trạngGD ứng phó với thiên tai trong dạy học Địa lý lớp 4

2.2.1 Thực trạng thiên tai ở thế giới và Việt Nam

Hiện nay, thiên tai hoành hành gây nhiều tổn thất về người và tài sản cũngnhư ảnh hưởng đến môi trường sống của con người và sinh vật sau này Để việc

GD ứng phó với các loại thiên tai được hiệu quả chúng ta cần đánh giá chính xácmức độ gây thiệt hại của thiên tai trên phạm vi toàn thế giới nói chung và ViệtNam nói riêng Bằng hình thức thu thập thông tin, tại đây chúng tôi đã thống kêlại các thiệt hại của thiên tai và ghi nhận các kỉ lục thiên tai để từ đó có cơ sở xâydựng các biện pháp GD phù hợp

2.2.1.1 Trên thế giới

Năm 1991, trận bão xoáy ngày 30/4 tại Bangladesh gây ra cái chết cho ítnhất 131.000 người Năm 1992, cơn bão Andrew đã tàn phá bang Florida (Mỹ)làm chết 65 người, phá hủy 25.000 ngôi nhà, gây thiệt hại 20 tỷ USD.Năm

1993, lũ bùn tại Honduras trong vòng 3 ngày từ ngày 31/10 đến 2/11 đã giết hạitrên 400 người và tàn phá hơn 1000 ngôi nhà Năm 1998 được coi là năm thiên

Trang 27

tai lớn nhất trong thế kỉ 20: vòi rồng xuất hiện tại Florida ngày 23/2 làm chết ítnhất 42 người, hơn 260 người bị thương và hàng trăm ngôi nhà bị hư hại; trận

lũ bùn ở thành phố Sarno, Ý đầu tháng 5 đã khiến ít nhất 135 người chết, bùnlàm tắt nghẽn đường phố và làm hơn 2.000 người mất nhà; từ tháng 5 đến đầutháng 6, một đợt nóng bất thường đã giết hại hơn 2.500 người Ấn Độ; một trận

lũ kéo dài 2 tháng (tháng 7 và 8) trên sông Dương Tử, Trung Quốc đã giết chết3.656 người và làm 230 triệu người khác khốn đốn; tại Papua New Guinea,ngày 17/7, một cơn sóng thần đã giết chết ít nhất 2.500 người; trận lũ tháng 9

và 10 trên sông Nile ở Sudan đã phá hủy hơn 120.000 ngôi nhà và giết chết ítnhất 88 người; tháng 10, cơn bão Mitch ở Trung Mỹ với sức gió lên đến240km/h gây nên một trận lũ quét và bùn trượt giết chết ít nhất 8.600 người,12.000 người mất tích, hơn 1,5 triệu người mất nhà cửa Năm 1999, lũ và bùntrượt tại Venezuela sau các trận mưa lớn vào tháng 12 đã giết chết ít nhất10.000 người Năm 2002, Châu Âu trải qua một trận lũ lịch sử trong tháng 8,thiệt hại kinh tế trên 20 tỷ Euro, số người chết trên 200 Trung Quốc đã có gần1.532 người chết, thiệt hại khoảng 8 tỷ USD [13]…

Thiệt hại về mặt kinh tế của năm 2016 tăng gần 2/3 so với năm 2015 Châu

Á là khu vực chịu thiệt hại nặng nề nhất về thiên tai trong năm 2016 Nhật Bảnchịu tổn thất 31 tỷ USD chỉ sau hai trận động đất Trong khi đó, lũ lụt mùa hèvừa qua cũng khiến Trung Quốc mất 20 tỷ USD Với những hiện tượng thời tiếtcực đoan trong năm qua, Việt Nam đã chịu thiệt hại 1,7 tỷ USD, tương đươnggần 1% GDP [8]

Như vậy, thiên tai trên thế giới không hề có dấu hiệu giảm đi mà ngày cànggia tăng về cường độ và mức độ Do vậy, việc GD ứng phó với thiên tai trên thếgiới đã và đang được chú trọng hơn

2.2.1.2 Ở Việt Nam

Việt Nam nằm trong khu vực vành đai núi lửa châu Á – Thái Bình Dươngnên có nguy cơ chịu ảnh hưởng từ thiên tai nhiều hơn các quốc gia thuộc khu vựckhác trên thế giới Thiên tai là một trong những nguyên nhân chính cản trở sựphát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam Xã hội ngày càng phát triển, quá trình biến

Trang 28

đổi khí hậu diễn ra ngày càng nhanh, dẫn đến thiên tai ngày càng gia tăng, đadạng và phức tạp Là một nước chịu ảnh hưởng nặng nề từ biến đổi khí hậu, ViệtNam đang phải hứng chịu thiệt hại thiên tai gây ra ngày một nghiêm trọng Việt Nam có đường bờ biển tiếp giáp biển Đông kéo dài đến 3260 km khiếnkhí hậu, thời tiết chịu những ảnh hưởng nhất định: trung bình hàng năm cókhoảng 10 cơn bão hình thành trên Biển Đông, trong đó khoảng 4 - 6 cơn bão đổ

bộ vào bờ biển Việt Nam thường từ tháng 5 đến tháng 12, gây thiệt hại nặng nề

về người và tài sản, nhất là với cư dân sống ở vùng ven biển nước ta Hiện tượngsạt, lởbở biển đã và đang xảy ra trên hầu hết các đoạn bờ biển cấu tạo bởi cácloại trầm tích bở rời chưa được gắn kết như cuội, sỏi, cát, bột-sét gây nhiều thiệthại về kinh tế và môi trường; khi có bão lớn, triều cường, nước dâng, hiện tượngsạt lở trở nên đặc biệt nguy hiểm vì chúng vừa làm mất đất đai, đe dọa các khudân cư, các công trình dân dụng, công nghiệp, vừa gây ra hiện tượng nhiễm mặn,ngập úng phía trong đê[18]

Việt Nam nằm trong vành đai nội chí tuyến, quanh năm có nhiệt độ cao và

độ ẩm lớn, mạng lưới sông ngòi dày đặc và phân bố đều khắp từ bắc tới namcùng với đặc điểm địa hình ngắn và dốc khiến nguy cơ lũ lụt, lũ quét tăng cao.Ngoài ra, phía bắc chịu ảnh hưởng của lục địa Trung Hoa nên khí hậu ít nhiềumang tính khí hậu lục địa [6], do đó, có nguy cơ hạn hán vào các tháng mùa khô.Biểu hiện thiên tai ở Việt Nam rất đa dạng, tuy nhiên, có một số thiên taiphổ biến cần kể đến như bão, lũ, lụt, hạn hán, giông, sét…Ngoài ra, cũng cónhiều dạng thiên tai khác: lốc, mưa đá, sương muối, rét,…xảy ra ở một số địaphương nhất định nhưng cũng gây nên những tổn thất cho sinh hoạt, lao động sảnxuất của người dân

Trang 29

Theo nghiên cứu của Đơn vị Quản lí Thiên tai (DMU), có thể phân theomức độ liên quan đến tần suất xuất hiện thiên tai ở Việt Nam như sau:

Bảng 2.1.Mối tương quan về tần suất xuất hiện thiên tai ở Việt Nam

Nguồn: Dự án UBDP: VIE/79/002-Đơn vị Quản lí Thiên tai

Thiệt hại về tính mạng và tài sản được thống kê trong bảng 2.2dưới đâyBảng 2.2.Thống kê các sự kiện thiên tai lớn trong thập kỷ 1997-2009

Sự kiện

Thiệt hại về người Thiệt hại về

kinh tế (tỷ đồng) Vùng bị ảnh hưởng Chết Bị

thương

Mất tích

Bão Ketsana (2009) 179 1.140 8 16.078 15 tỉnh MB và TNBão Kammuri (2008) 133 91 34 1.939.733 09 tỉnh MB và MTBão Lekima (2007) 88 180 8 3.215.508 17 tỉnh MB và MTBão Xangsane (2006) 72 532 4 10.401.624 15 tỉnh MN và MTBão số 7 (2005) 68 28 3.509.150 12 tỉnh MB và MT

cư Thống kê sơ bộ cho thấy, thiệt hại do thiên tai năm 2016 ước tính là gần18.300 tỷ đồng, phá hỏng 258,3 nghìn ha lúa, 113,2 nghìn ha hoa màu và 49,8nghìn ha nuôi trồng thủy sản, làm chết 52,1 nghìn con gia súc, 1,7 triệu gia cầm

và hơn 1 nghìn tấn thủy sản các loại Tại miền Trung và Tây Nguyên, hai đợt lũ

Trang 30

cuối tháng 11 và giữa tháng 12 đã gây thiệt hại ước khoảng 2.600 tỷ đồng Tạicác tỉnh ĐB sông Cửu Long, hạn hán, nhiễm mặn làm giảm sản lượng lúa và hoamàu và trái cây, giảm tăng trưởng GDP của hầu hết các tỉnh trong vùng[10].

2.2 2 Thực trạng GD ứng phó với thiên tai trong dạy học phân môn Địa lý lớp 4 trong trường tiểu học

2.2.2.1 Mục tiêu khảo sát

Nhằm tìm hiểu nhận thức của GV và HS lớp 4 về thiên tai và GD ứng phóvới thiên tai trong dạy học phân môn Địa lý lớp 4 Trên cơ sở đó, xác lập cơ sởthực tiễn cho việc xây dựng biện pháp cũng như xác định nội dung GD ứng phóvới thiên tai trong chương trình Địa lý lớp 4

2.2.2.2 Đối tượng và địa bàn khảo sát

Để tìm hiểu nhận thức, thái độ của GV và HS về vấn đề thiên tai, GD ứngphó với thiên tai và việc lồng ghép nội dung này trong phân môn Địa lý lớp 4hiện nay, chúng tôi tiến hành điều tra đối với 7 GV giảng dạy khối lớp 4 và 231

HS lớp 4 tại trường tiểu học Kim Đồng (thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam).Nội dung khảo sát bao gồm các vấn đề cơ bản về nhận thức, thái độ của GV

và HS về thiên tai và ứng phó với thiên tai; nhận thức, thái độ của GV về vấn đề

GD ứng phó với thiên tai cho HS; thực trạng việc GD ứng phó với thiên tai trongdạy học phân môn Địa lý lớp 4 Nội dung chi tiết của phiếu khảo sát được trìnhbày trong phần Phụ lục

Trang 31

sốGV (86%) cho rằng việc GD ứng phó với thiên tai là cần thiết Đây là một dấuhiệu rất đáng mừng.

Bảng 2.4 Mức độ cần thiết của việc GD ứng phó với thiên tai (n=7)

Nội dung Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

Bàn về việc thực hiện GD ứng phó với thiên tai trong dạy học, hầu hết các

GV cũng thẳng thắng chia sẻ chỉ thỉnh thoảng mới thực hiện (khoảng 86%), sốcòn lại rất ít khi thực hiện (14%)

Bảng 2.5 Chia sẻ của GV về việc thực hiện GD ứng phó với thiên tai

Quan sát biểu đồ 1, ta có thể hình dung rõ hơn mức độ tích cực của GVtrong việc GD ứng phó với thiên tai

Thường xuyênThỉnh thoảngRất ít

Chưa bao giờ

Bảng 2.6 cho thấy hầu hết GV (86%) nhận định khả năng tích hợp GD ứngphó với thiên tai qua phân môn Địa lý lớp 4 là ở mức “trung bình” Khoảng 62%Biểu đồ 1 Chia sẻ của GV về việc thực hiện GD ứng phó với thiên tai trong dạy học

Trang 32

được nhưng hiệu quả không cao” Có 43% GV nghĩ rằng việc GD thiên tai cầntích hợp trong giảng dạy chính khóa trên lớp và tổ chức ngoại khóa “tìm hiểuthiên tai thường xảy ra ở nơi HS cư trú”; 29% GV cho rằng việc tích hợp tronggiảng dạy chính khóa trên lớp là phù hợp Như vậy, 72% GV có cùng nhận địnhviệc tích hợp trong giảng dạy chính khóa trên lớp là biện pháp phù hợp.

Bảng 2.6 Đánh giá của GV về khả năng tích hợp GD ứng phó với thiên tai

trong phân môn Địa lý lớp 4 (n=7)

(người)

Tỷ lệ (%)

Thực hiện được nhưng hiệu

thường xảy ra ở Việt Nam” 1 14Tích hợp trong giảng dạy chính

khóa trên lớp kết hợp tổ chứcngoại khóa “Tìm hiểu thiên taithường xảy ra ở nơi HS cư trú”

Trong bảng 2.7, chúng ta thấy những khó khăn mà GV nhận định sẽ gặp phải rấtđáng chú ý, ví dụ như “SGK ít hình ảnh về các thiên tai và cách ứng phó” (43%);không đủ thời gian (43%), SGK ít đề cập đến việc ứng phó với thiên tai (14%) Bảng 2.7 Khó khăn của GV khi tích hợp GD ứng phó với thiên tai trong giờhọc

Trang 33

Bên cạnh đó, 57% GV mong muốn được cung cấp tài liệu, tư liệu hỗ trợcho việc giảng dạy Điều này cho thấy việc biên soạn, chuẩn bị tài liệu cho côngtác GD ứng phó với thiên tai là thực sự rất cấp thiết và có ý nghĩa Khoảng 86%

GV thể hiện rõ mong muốn được tự chủ về mặt thời gian để có thể chủ độngtrong việc tổ chức, lên kế hoạch tích hợp

Bảng 2.9 cho thấy 86% GV “rất sẵn sàng”, thể hiện rõ thái độ tích cực khiđược hỏi về việc có tham gia việc GD ứng phó với thiên tai Điều này cho thấy

đa phần GV đã nhận thức được tầm quan trọng của việc bồi dưỡng, cung cấpkiến thức thiên tai, GD ứng phó với thiên tai cho HS cũng như khả năng tích hợpvào phân môn Địa lý lớp 4

Bảng 2.9 Thái độ GV đối với việc tham gia tích hợp GD ứng phóvới thiên tai

Trang 34

Bảng 2.10 Kiến thức về thiên tai của HS (n=227)

Nội dung Loại thiên tai Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

Bảng 2.11 Nhận thức về tình trạng thiên tai trên thế giới (n=227)

Nội dung Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

Trang 35

GiảmKhông đổiTăng

Tuy nhiên, biểu đồ 3 cho thấy đa sốHS nhận thức về nguyên nhân gây racác loại thiên tai trên thế giới và Việt Nam là chưa thực sự chính xác (70% chorằng thiên tai xảy ra là do những tác động của tự nhiên, 25% cho rằng thiên taixảy ra do tác động của con người), chỉ có 5% HS nhận định chính xác về nguyênnhân gây ra các loại thiên tai

70.04%

25.11%

4.85%

Tự nhiênCon người

Cả haiBiểu đồ 2 Nhận thức về tình trạng thiên tai trên thế giới (n=227)

Biểu đồ 3

Nguyênnhân xảy

Trang 36

Con số cụ thể của việc khảo sát nhận thức về nguyên nhân xảy ra thiên tai ở HSthể hiện ở bảng 2.12.

Bảng 2.12 Nguyên nhân xảy ra thiên tai

Nội dung Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

Bảng 2.13 Trải nghiệm với thiên tai (n=227)

Nội dung Loại thiên tai Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

Thiên taithường xảy ra

nơi mìnhđang sống

Bảng 2.14 Tâm trạng khi đối mặt với thiên tai (n=227)

Bảng 2.15 cho thấy cả 227 HS đều mong muốn được bồi dưỡng các kiếnthức về thiên tai; khoảng 46% HS mong muốn được bồi dưỡng kiến thức và cáchứng phóvới tất cả các loại thiên tai thường xảy ra trên thế giới, tiếp theo tỉ lệgiảm dần từ “thiên tai nơi mình sinh sống” (33%), “thiên tai phổ biến ở ViệtNam” (29%), và “một số thiên tai phổ biến trên thế giới” (10%)

Tâm trạng Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

Trang 37

Nội dung Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

Thiên tai nơi mình sống

Thiên tai phổ biến ở Việt Nam

Tất cả các loại thiên tai trên thế giới

Một số thiên tai phổ biến trên thế giới

Không có mong muốn

7566104230

332946100Khi được hỏi: “Là một người dân ở nơi thường xảy ra thiên tai, em sẽ làm

gì để giảm thiệt hại ở mức thấp nhất?” có 173HS (76%) trong số 227 HS chorằng cần thực hịện các biện pháp phòng tránh dài hạn và ngắn hạn, ví dụ như bảo

vệ môi trường, bảo vệ rừng đầu nguồn, trồng cây chắn bão, có 54 HS (24%) nhậnđịnh việc tuyên truyền kiến thức về thiên tai và ứng phó với các loại thiên tai làrất quan trọng

Như vậy, kết quả khảo sát 227 HS tại trường tiểu học Kim Đồng (Tam Kỳ,Quảng Nam) cho thấy kiến thức về thiên tai và phòng tránh thiên tai của HS cònnhiều hạn chế Tuy nhiên, hầu hết HS đều nhận thức rõ tầm quan trọng, sự cầnthiết của việc nâng cao kiến thức về thiên tai và cách ứng phó, không chỉ vớinhững thiên tai phổ biến ở Việt Nam mà cả những thiên tai xảy ra trên thế giới

* Đánh giá kết quả khảo sát HS và GV

Kết quả khảo sát cho thấy HS rất mong muốn được tìm hiểu và thực hành kiếnthức phòng tránh thiên tai GV đã xác định rõ sự cần thiết của việc tích hợp kiếnthứcGD ứng phó với thiên tai qua môn Địa lý và sẵn sàng tham gia Đây là nhữngtín hiệu tích cực cho thấy việc tích hợp GD ứng phó với thiên tai qua phân môn Địa

lý lớp 4 là rất khả thi Tuy nhiên, việc thực hiện việcGD ứng phó với thiên tai còngặp không ít khó khăn mặc dù đa số GV đã nhận thức tầm quan trọng của vấn đề

2.3 Nguyên nhân của thực trạng GD ứng phó với thiên tai tại Việt Nam 2.3.1 Đặc điểm cấu trúc của chương trình

Việc biên soạn SGK chưa chú tâm đến việc lồng ghép nội dung GD ứngphó với thiên tai Nhìn chung các nội dung trong chương trình có thể khai thác để

GD ứng phó với thiên tai mới chỉ ở mức độ bộ phận và liên hệ

Mỗi bài học gồm có 3 phần: phần cung cấp kiến thức mới bằng kênh chữ,kênh hình; phần câu hỏi hoặc yêu cầu các hoạt động học tập; phần tóm tắt nộidung của bài được đóng khung Trung bình mỗi bài học có 3 trang với lượng kiến

Ngày đăng: 23/12/2017, 15:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ GD&amp;ĐT (2009), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học lớp 4, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các mônhọc ở tiểu học lớp 4
Tác giả: Bộ GD&amp;ĐT
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
[2] Bộ GD&amp;ĐT (2012), Sách giáo viên Lịch sử và Địa lý 4, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Lịch sử và Địa lý 4
Tác giả: Bộ GD&amp;ĐT
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2012
[3] Bộ GD&amp;ĐT (2015), Lịch sử và Địa lí 4, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và Địa lí 4
Tác giả: Bộ GD&amp;ĐT
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2015
[4] Bộ GD&amp;ĐT, Live&amp;Learn (2013), Tài liệu hướng dẫn dạy và học về giảm nhẹ rủi ro thiên tai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn dạy và học về giảm nhẹrủi ro thiên tai
Tác giả: Bộ GD&amp;ĐT, Live&amp;Learn
Năm: 2013
[5] Bộ GD&amp;ĐT, Live&amp;Learn và Plan tại Việt Nam (2012), Tài liệu hướng dẫn dạy và học về ứng phó với biến đổi khí hậu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫndạy và học về ứng phó với biến đổi khí hậu
Tác giả: Bộ GD&amp;ĐT, Live&amp;Learn và Plan tại Việt Nam
Năm: 2012
[6] Bộ Ngoại giao, Một số thông tin về địa lý Việt Nam, Cổng thông tin điện tử chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, Truy cập lần cuối ngày 12/03/2017,&lt;http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ThongTinTongHop/dialy&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thông tin về địa lý Việt Nam
[7] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình mục tiêu quốc gia ứngphó với biến đổi khí hậu
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2008
[8] Đài Truyền hình Việt Nam (2017), Thiên tai trên thế giới năm 2016 và những con số đáng báo động, Báo điện tử vtv.vn,Truy cập lần cuối ngày 03/03/2017,&lt;http://vtv.vn/van-de-hom-nay/thien-tai-tren-the-gioi-nam-2016-va-nhung-con-so-dang-bao-dong20170107001547745htm&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên tai trên thế giới năm 2016 và những con sốđáng báo động
Tác giả: Đài Truyền hình Việt Nam
Năm: 2017
[9] Hội Chữ thập đỏ Việt Nam cùng các tổ chức (2015), Giới thiệu về Giảm nhẹ rủi ro thảm họa và biến đổi khí hậu cho học sinh tiểu học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu về Giảm nhẹrủi ro thảm họa và biến đổi khí hậu cho học sinh tiểu học
Tác giả: Hội Chữ thập đỏ Việt Nam cùng các tổ chức
Năm: 2015
[10]Phạm Hà (2017), Năm 2016, thiệt hại do thiên tai khoảng 18.300 tỷ đồng, Tạp chí điện tử VietTimes, Truy cập lần cuối ngày 03/03/2017,&lt;http://viettimes.vn/nam-2016-thiet-hai-do-thien-tai-khoang-18300-ty-dong-99135.html&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm 2016, thiệt hại do thiên tai khoảng 18.300 tỷ đồng
Tác giả: Phạm Hà
Năm: 2017

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w