1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đo lường và đánh giá trong giáo dục

44 257 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 558,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặt vấn đề Một vấn đề sôi động trong thực tiễn và lý luận dạy học, quản lý giáo dụchiện nay là vấn đề nghiên cứu - ứng dụng các quan điểm, lý thuyết hiện đại về đolường và đánh giá tron

Trang 1

Đặt vấn đề

Một vấn đề sôi động trong thực tiễn và lý luận dạy học, quản lý giáo dụchiện nay là vấn đề nghiên cứu - ứng dụng các quan điểm, lý thuyết hiện đại về đolường và đánh giá trong giáo dục, các phương pháp kiểm tra & đánh giá quá trình

và kết quả dạy-học, đánh giá trong quản lý giáo dục một cách khách quan, chínhxác và nhanh chóng Trong hoạt động dạy- học, việc kiểm tra - đánh giá không chỉđơn thuần chú trọng vào kết quả học tập của học sinh mà còn có vai trò to lớn hơntrong việc thúc đẩy động cơ, thái độ tích cực, chủ động và sáng tạo trong học tậpcủa người học, hoàn thiện quá trình dạy - học và kiểm chứng chất lượng, hiệu quảgiờ học và trình độ nghề nghiệp của giáo viên Trong hoạt động quản lý giáo dục,kiểm tra-đánh giá cũng không chỉ đơn thuần hướng vào đánh giá kết quả công việc

mà còn có tác động thúc đẩy, hỗ trợ và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động củacông tác tổ chức và quản lý nhà trường

Các hình thức kiểm tra, đánh giá theo truyền thống trong hoạt động dạy - họcnặng về đánh giá khả năng ghi nhớ, trình bày lại những nội dung mà người dạytruyền thụ như kiểm tra vấn đáp để trả lời thuộc lòng nội dung bài học cũ, kiểm traviết nặng về trình bày nội dung trong thời gian ngắn hoặc dài theo chương, mục củabài giảng v.v Cách kiểm tra trên đã và đang bộc lộ nhiều hạn chế trong việc nângcao tính tích cực học tập và khả năng vận dụng linh hoạt, sáng tạo các kiến thức, kỹnăng của người học trong các tình huống thực tế đa dạng Để khắc phục các hạnchế trên, ở nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu và vận dụng các phương phápđánh giá bằng các trắc nghiệm (test) khách quan, phỏng vấn, câu hỏi mở trong tựluận v.v Các bộ trắc nghiệm khách quan (test) được nghiên cứu thử nghiệm rấtcông phu cho từng loại hình dạy - học và mục đích khác nhau (Trắc nghiệm tríthông minh IQ; Trắc nghiệm kiểm tra tiếng Anh; Trắc nghiệm kiểm tra luật giaothông v.v ) Cũng có những loại trắc nghiệm đánh giá đơn giản để đáp ứng yêu cầuđánh giá kiến thức hoặc kỹ năng trong một bài dạy lý thuyết hoặc thực hành.Trongquản lý giáo dục còn có các loại hình đánh giá giáo dục khác như đánh giá giáoviên; đánh giá nhà trường, đánh giá chương trình đào tạo, đánh giá chất lượng giáodục v.v với nhiều phương pháp, quy trình và bộ công cụ đánh giá khác nhau

Trang 2

I MỘT SỐ THUẬT NGỮ THƯỜNG DÙNG TRONG ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ.

1.1 Kiểm tra : Theo từ điển tiếng Việt thuật ngữ kiểm tra được định nghĩa

như sau :“ Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét “ (Hoàng

Phê- Từ điển Tiếng Việt NXB khoa học xã hội, H.1998)

Theo Tự điển Giáo dục học -NXB Từ điểm Bách khoa 2001 thì thuật ngữkiểm tra được định nghĩa như sau: “ Là bộ phận hợp thành của quá trình hoạtđộng dạy- học nhằm nắm được thông tin về trạng thái và kết quả học tập của họcsinh, về những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm ra những biện phápkhắc phục những lỗ hổng, đồng thời củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả của hoạtđộng dạy- học” Như vậy trong lĩnh vực giáo dục, kiểm tra là một thuật ngữ chỉ sự

đo lường, thu thập thông tin để có được những phán đoán, xác định xem mỗi ngườihọc sau khi học đã nắm được gì (kiến thức), làm được gì (kỹ năng) và bộc lộ thái

độ ứng xử ra sao, qua đó có được những thông tin phản hồi để hoàn thiện quá trìnhdạy-học

1.2 Đo lường: (Measurement)

Theo Hoàng Phê-Từ điển Tiếng Việt NXB khoa học xã hội, H.1998, thuật ngữ

“Đo lường” được định nghĩa là: “xác định độ lớn của một đại lượng bằng cách sosánh với một đại lượng cùng loại được chọn làm đơn vị “ Đo lường trong tiếngAnh (Measurement) là một khái niệm chuyên dùng để chỉ sự so sánh một vật hayhiện tượng với một thước đo hay chuẩn mực, có khả năng trình bày kết quả về mặtđịnh lượng Nói cách khác đo lường là một cách lượng giá với mục đích gán con sốhoặc thứ bậc cho đối tượng đo (nghiên cứu) theo một hệ thống quy tắc hay chuẩnmực nào đó

Trong lĩnh vực giáo dục có nhiều định nghĩa khác nhau về đo lường

- Theo K.D.Hopkins và J.C.Stalay: Đo lường là quá trình mà với nó, sự việcđược phân biệt

- Theo Q Stodola và K.Stordahl : Đo lường trong giáo dục là phương tiện đểthu thập, phân tích dữ liệu về đặc tính, hành vi con người một cách có hệ thống làm

cơ sở cho những hành động thích hợp

- Theo Lê Đức Ngọc: Đo lường là quá trình thu thập thông tin một cách địnhlượng (số đo về các đai lượng đặc trưng của đào tạo năng lực (nhận thức, tư duy, kỹnăng và phẩm chất nhân văn) trong quá trình giáo dục

Trong đo lường, các loại thang đo có vai trò cực kỳ quan trọng Những thang

đo lường trong nghiên cứu giáo dục có các loại sau:

- Thang đo định danh : (nominal scale ) là kiểu đo lường đánh giá sự vật, hiện

tượng hay đặc tính theo tên gọi (định danh) theo giới tính nam-nữ; theo vùng miền

Trang 3

( bắc, nam ,trung) ; theo nhóm tuổi (trẻ em, người lớn ); theo trình độ học lực (kém,trung bình, khá, giỏi ) hoặc khi cần phân loại theo đặc trưng mầu sắc (xanh, đỏ ,vàng.v.v.)

Thang định danh là phép đo khái quát không nhằm cung cấp thông tin cụ thể,chính xác về đặc tính và sự khác biệt của các đối tượng đo

- Thang định hạng: (ordinal scale) là kiểu đo lường đánh giá sự vật, hiện tượng

hay đặc tính theo thứ bậc hay trật tự của chúng Ví dụ khi muốn phân loại năng lựchọc tập một môn nào đó (như môn Toán chẳng hạn) của một nhóm học sinh theothứ hạng điểm thi hoặc tổng kết từ điểm cao nhất đến điểm thấp nhất hoặc muốnphân loại đồ vật theo kích cỡ, trọng lượng từ to nhất, nặng nhất đến bé nhất, nhẹnhất vv

Thang định hạng cũng là phép đo khái quát không nhằm cung cấp thông tin cụthể, chính xác về đặc tính và mức độ khác biệt giữa các đối tượng mà chỉ nhằm chỉ

ra vị trí, mối tương quan thứ bậc của các đối tượng đo

- Thang định khoảng: (interval scale) là kiểu đánh giá, phân loại các sự vật,

hiện tượng hay đặc tính theo những đơn vị phân loại bằng nhau ở bất kỳ khoảngnào trên thang đo Vị dụ cụ thể nhất là các phép đo bằng thước mét Phép đo chiềucao bằng thước mét là một kiểu đo theo thang định khoảng: sự khác biệt giữa ngườicao 175 cm-170cm và người cao 160 cm -155 cm đều ở một khoảng như nhau là 5

cm Hay các thang đo định khoảng về điểm đánh giá theo thang 10 điểm, 100điểm vv Cần lưu ý một số đối tượng đo do tính chất đặc thù ( khác với các phép

đo cơ học) có sự khác biệt giữa các khoảng tuyệt đối ở các mức khác nhau Ví dụkhi đo vượt xà ở mức cao thì chênh 1-2 cm là khó đạt hơn khi còn ở mức xà thấp ;những người có chỉ số IQ tương ứng là 110 và 120 ( cách nhau 10 điểm) không cónghĩa giống sự cách biệt 10 điểm ở các mức 80-90 và như vậy ở đây mang tính chấtcủa phép đo định hạng

- Thang định tỷ lệ (Ratio scale) là lại thang đo khi cần phân loại các sự vật,

hiện tượng hay đặc tính với thang đo khoảng mà thang đo có điểm không thực sự

Ví dụ khi dùng thang đo vận tốc (km/giờ) Số km/giờ nói lên tốc độ chuyển độngcủa một vật (ví dụ ôtô có vận tốc 50 km/giờ) Mỗi km/giờ chỉ sự gia tăng tốc độtheo khoảng còn ở o km/giờ thì ôtô đứng yên Trong lĩnh vực đo đánh giá nhậnthức, thái độ, năng lực, hành vi của một cá nhân trên thực tế không có điểm o thực

sự mà là điểm o tự đặt (Arbitrary zero point)

Người ta cho rằng ít nhất là có năm trình độ/bậc chất lượng cần được định rõtrong một thang đánh giá tốt với nhiều bậc, với những mô tả về ít nhất là 3 trong 5bậc đó Thêm vào đó có 3 loại chủ yếu của thang đánh giá nhiều bậc để lựa chọnđịnh danh, đồ hoạ và đồ hoạ mô tả

Trang 4

Thang đánh giá định danh: Ví dụ

5 Ưu tú, đạt được tất cả các tiêu chuẩn

4 Rất tốt, đạt được hầu hết các tiêu chuẩn

3 Tốt, đạt được một số tiêu chuẩn

2 Đạt, đạt được một số ít tiêu chuẩn

1 Kém, Không đạt tiêu chuẩn

Trong thang đánh giá theo đồ hoạ

Mỗi tính chất được chia theo trên một đường nằm ngang với sự phân loại được vạch trên đó Các mức độ được tạo ra bằng cách đặt sự kiểm tra vào vị trí thích hợp trên đường kẻ trong ví dụ được chỉ ra sau đây.

Kém (Poor) Đạt (Pass) Khá Tốt (Good) Ưu tú (Excellent)

Thang chia độ đồ thị mô tả cũng giống như đồ hoạ, ngoại trừ những sự mô

tả trên đó là những phác thảo ngắn gọn về hành vi của người học ở mỗi trình độtrên thang Ví dụ:

Cắt viền rất

phẳng, khôngrách viền haylệch nống vải

Ngoài loại thang điểm số (theo 5 hoặc 10; 100 ), thang điểm chữ cho ởbảng sau: (Letter grades)

Căn cứ vào quan hệ giữa điểm thô (đúng được 1 điểm, sai được 0 điểm) và sốcâu hỏi của bài trắc nghiệm, người ta định ra thang điểm chữ theo bảng sau:

Bảng 1 Thang điểm chữ

Trang 5

Theo cách xây dựng thang điểm này thì ý nghĩa xếp hạng như sau:

Làm đúng 95-100% cho điểm (xếp hạng) A (Xuất sắc)

Nt 85-94% ……… B (Giỏi)

Nt 75-84% ……… C (Khá)

Nt 51-74% ……… D (Trung bình)

Nt 00-50% ……… F (Không đạt) Thang điểm chữ và phân loại này có thay đổi chút ít tuỳ theo mỗi nước và cơ

sở đào tạo

1.3 Đánh giá (Evaluation)

Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cứ về đối tượng cần đánh giá và đưa ra những phán xét, nhận định về mức độ đạt được theo các thang đo hoặc các tiêu chí đã được đưa ra trong các tiêu chuẩn hay chuẩn mực Đánh giá

có thể là đánh giá định lượng (quantitative) dựa vào các con số hoặc định tính (qualitative) dựa vào các ý kiến và giá trị.

Trang 6

Theo GS Trần Bá Hoành “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận

định, phán đoán về kết quả của công việc dựa vào việc phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc “

Đánh giá là sự phán xét trên cơ sở đo lường, kiểm tra, bao giờ cũng đi liền vớikiểm tra Trong đánh giá, ngoài sự đo lường một cách khách quan dựa trên kiểm tra(hay trắc nghiệm), còn có ý kiến bình luận, nhận xét, phê phán mang tính chủ quan

để tiến tới sự phán xét Theo Tự điển Giáo dục học –NXB Tự điểm Bách khoa

2001 thuật ngữ đánh giá kết quả học tập được định nghĩa như sau: “ Xác định mức

độ nắm được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh so với yêu cầu của chương trình đề ra “

Trong giáo dục các loại đánh giá chính sau:

1/ Đánh giá kết quả học tập

2/ Đánh giá chương trình đào tạo

3/ Đánh giá giáo viên, giảng viên

4/ Đánh giá khoá học

6/ Đánh giá nhà trường (Xếp hạng hoặc kiểm định công nhận cơ sở đào tạo)

Ta có thể hiểu kiểm tra đánh giá kết quả học tập là sự so sánh, đối chiếu kiến

thức, kỹ năng, thái độ thực tế đạt được ở người học với các kết quả mong đợi đãxác định trong mục tiêu dạy học để tìm hiểu và chuẩn đoán (diagnostic) trước vàtrong quá trình dạy-hoc (formative) hoặc sau một quá trình học tập (đánh giá kếtthúc – summative)

Sản phẩm của hoạt động dạy- học, của lao động sư phạm trên lớp học, trongphòng thí nghiệm, xưởng trường, bãi tập.v.v rất đa dạng và phức tạp, rất khó xácđịnh Bởi vì những sản phẩm dó là những người học đã thay đổi ít hoặc nhiều trongphẩm chất và năng lực của họ sau một thời gian học tập nhất định hay nói cách

khác là đã có các giá trị gia tăng Đó chính là kết quả học tập của người học, thành

tố chủ yếu tạo nên chất lượng của hoạt động dạy học trong nhà trường

Một thuật ngữ hay dùng trong đánh giá là lượng giá (Assesment) bao gồm

các việc phán xét thí sinh theo các hệ thống quy tắc hoặc tiêu chuẩn nào đó vàthường trên cơ sở các bằng chứng, các chỉ số định lượng cao Lượng giá có thể

thực hiện đầu quá trình giảng dạy để giúp tìm hiểu và chẩn đoán (diagnostic) về đối tượng giảng dạy,có thể triển khai trong tiến trình (formative) giảng dạy để tạo

những thông tin phản hồi giúp điều chỉnh quá trình dạy và học, cũng có thể thực

hiện lúc kết thúc (summmative) để tổng kết Trong giảng dạy ở nhà trường, các

Trang 7

lượng giá trong tiến trình thường gắn chặt với người dạy, tuy nhiên các lượng giákết thúc thường bám sát vào mục tiêu dạy học đã được đề ra, và có thể tách khỏingười dạy.

1.4 Trắc nghiệm (Test)

Trắc nghiệm là một phép thử (kiểm tra) để nhận dạng, xác định, thu nhậnnhững thông tin phản hồi về những khả năng, thuộc tính, đặc tính, tính chất củamột sự vật hay hiện tượng nào đó Ví dụ: trắc nghiệm đo chỉ số thông minh (IQ);trắc nghiệm đo thị lực mắt; trắc nghiệm đo nồng độ cồn ở người lái xe v.v…

Trắc nghiệm trong giảng dạy cũng là là một phép thử (một phương phápkiểm tra- đánh giá) nhằm đánh giá khách quan trình độ, năng lực cũng như kết quảhọc tập của người học trước, trong quá trình và khi kết thúc một giai đoạn học tậpnhất định (phần hoặc bài giảng lý thuyết hoặc thực hành ); một chương hoặc mộtchương trình đào tạo v.v

Trắc nghiệm thường có các dạng thức sau: trắc nghiệm thành quả (achievement)

để đo lường kết quả, thành quả học tập của người học; trắc nghiệm năng khiếu hoặcnăng lực (aptitude) để đo lưòng khả năng và dự báo tương lai

Hiểu theo nghĩa rộng tất cả các loại hình kiểm tra-đánh giá (tự luận, vấn đáp,trắc nghiệm khách quan ) đều là những dạng trắc nghiệm khác nhau trong đó trắcnghiệm khách quan là một dạng trắc nghiệm riêng theo nghiã hẹp

II VAI TRÒ, VỊ TRÍ VÀ MỤC ĐÍCH CỦA KIỂM TRA& ĐÁNH GIÁ TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

2.1 Vai trò, vị trí kiểm tra - đánh giá quá trình dạy-học

Chất lượng và hiệu quả dạy-học phụ thuộc và nhiều yếu tố trước, trong và sauquá trình dạy-học Có thể nói rằng, quá trình dạy-học sẽ đạt được kết quả tốt nếungười quản lý nhà trường và đội ngũ giảng viên nắm vững các quy luật vận độngcủa quá trình dạy học và giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tốcấu thành quá trình dạy-học như một chỉnh thể trọn vẹn Với vị trí là một khâu củaquá trình dạy học, kiểm tra- đánh giá xác định mức độ đạt được mục tiêu của quátrình dạy học và góp phần trực tiếp thúc đẩy và hoàn thiện quá trình dạy học (xemhình 1)

Trang 8

Kiểm tra- dánh giá

Hình 1 Cấu trúc các nhân tố của quá trình đào tạo

2.2 Mục đích của đánh giá trong quá trình dạy-học

1 Xác định kiến thức, kỹ năng và thái độ hiện có ở mỗi người học tr ước,

trong và khi kết thúc một giai đoạn học tập học.

Nhờ kiểm tra đánh giá, giáo viên biết được trình độ người học, những điểmyếu của người trước khi vào học Điều này rất quan trọng đối với các khoá họcngắn hạn, bồi dưỡng nâng cao vì nó giúp giáo viên xác định được nhu cầu củangười học để có thể đề ra mục tiêu học tập sát hợp Kết quả đánh giá quá trình chophép theo dõi, đánh giá sự tiến bộ (hoặc hạn chế) của người học Kết quả đánh giácuối khoá cho phép đo sự gia tăng (kiến thức, kỹ năng, năng lực) của người học saukhoá đào tạo

2 Thúc đẩy người học học tập, thông báo kịp thời cho ngưòi học biết tiến bộ của họ trong quá trình dạy học.

- Trước hết là có tác dụng thúc đẩy người học và quá trình học tập Không cókiểm tra, thì chắc là nhiều người học “không học” thật sự

- Động viên, khích lệ người học học nhiều hơn, tốt hơn

- Chỉ cho người học thấy họ học tốt nội dung nào chưa tốt, nội dung nào cầnhọc thêm, học lại.v.v

3 Cải tiến, hoàn thiện quá trình dạy học

Giáo viên cần biết rõ là nội dung đã được dạy và học đủ chưa, cần bổ sung cái

gì, phương pháp dạy học đã phù hợp chưa, cần hỗ trợ thêm cho ngưòi học nào, cầnđược giúp thêm ở nội dung nào? Muốn biết rõ những điều đó và để có những quyếtđịnh phù hợp, giáo viên phải căn cứ vào kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

4 Xác nhận hoặc chứng nhận trình độ, năng lực của ngưòi học

(Đánh giá quá trình và kết quả học tập )

Kiểm tra đánh giá nhằm khẳng định năng lực của ngưòi học có tương xứng vớibằng cấp, chứng chỉ, đặc biệt là với chức năng, nhiệm vụ mà người học tốt nghiệp

sẽ phải đảm nhận hay không

Để chứng nhận trình độ, năng lực của người tốt nghiệp, trong kiểm tra đánhgiá theo lối truyền thống lâu nay, người ta thường chú trọng kiểm tra đánh giá bằng

Trang 9

một kỳ thi cuối khoá Làm như vậy cho kết quả không chính xác Điều quan trọng

là phải xác định được một hệ thống kiểm tra đánh giá phù hợp bao gồm từ quy chếthi và kiểm tra, tiêu chí kiểm tra đánh giá, hình thức, phương pháp kiểm tra đánhgiá, loại công cụ, câu hỏi thích hợp, số lượng câu hỏi, cách xác định điểm đạt, mứcđạt v.v

2.3 Các yêu cầu kiểm tra-đánh giá

1 Kiểm tra - đánh giá là một bộ phận cấu thành nội dung của quá trình đào

tạo nói chung và bài giảng nói riêng

2 Kiểm tra-đánh giá được thực hiện liên tục thường xuyên trước, trong vàkết thúc quá trình dạy- học hay bài giảng

3 Kiểm tra - đánh giá mang tính tự thực hiện việc kiểm tra - đánh giá và tựđiều chỉnh quá trình học tập của người học

4 Kiểm tra - đánh giá hướng tới việc khuyến khích và giúp người học củng

cố, nắm vững nội dung học tập, tự đánh giá kết quả học tập

5 Kiểm tra - đánh giá mang tính đơn mục tiêu Mỗi một trắc nghiệm kiểmtra - đánh giá chỉ nhằm xác định được mức độ nhận thức (kiến thức) hoặc mức độhình thành kỹ năng với một nội dung cụ thể

6 Kiểm tra - đánh giá phải có khả năng đo đếm, lượng giá, quan sát hoặc mô

tă được (định tính và định lượng)

7 Kết quả kiểm tra-đánh giá là nguồn thông tin phản hồi để đánh giá, nhậnxét, điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy học

8 Bảo đảm khách quan, quy chuẩn, giá trị, toàn diện và phát triển

Trang 10

Hình 2 Các yêu cầu cơ bản của công tác KT&ĐG

2.4 Quản lý và kiểm tra đánh giá trong quản lý giáo dục.

Kiểm tra-đánh giá cũng là một khâu quan trọng của quá trình quản lý nóichung và quản lý giáo dục nói riêng Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng- NXBGiáo dục-1998 thuật ngữ quản lý được định nghĩa là: "Tổ chức, điều khiển hoạtđộng của một đơn vị, cơ quan"

Quản lý là một hoạt động có chủ đích, có định hướng được tiến hành bởi mộtchủ thể quản lý (theo các chức năng quản lý) nhằm tác động lên khách thể quản lý

để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý.Trong mỗi chu trình quản

lý chủ thể tiến hành những hoạt động theo các chức năng quản lý như xác định mụctiêu, các chủ trương, chính sách; hoạch định kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện,

điều hoà, phối hợp, kiểm tra, đánh giá và huy động, sử dụng các nguồn lực cơ bản

như tài lực, vật lực, nhân lực v.v để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốntrong bối cảnh và thời gian nhất định

Khái niệm quản lý còn có rất nhiều định nghĩa khác nhau

- F.W Taylor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người kháclàm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”

- Còn H.Koontz thì lại khẳng định: “ Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nóđảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đíchcủa nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong

KHÁCH QUAN

QUY CHUẨN

GIÁ TRỊ PHÁT TRIỂN

TOÀN DIỆN

Trang 11

đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vậtchất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.” v.v

Từ quan niệm của các học giả đã nêu, chúng ta có thể khái quát lại: " Quản

lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng động người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất”.

Trong quản lý có các hoạt động tác nghiệp cụ thể được gọi là quản trị Kháiniệm Quản trị (Administation) được hiểu là: “Những hoạt động phát sinh từ sự tậphợp của nhiều người một cách có ý thức để nhằm hoàn thành những mục tiêuchung “ Sự tập hợp con người thành tổ chức là môi trường và đối tượng của côngviệc quản trị Như vậy, bất kỳ một tổ chức nào: văn hoá, xã hội, giáo dục, quân sự,hành chính.v.v đều cần có sự quản lý nói chung và quản trị trong đó có nhiều chứcnăng, nhiệm vụ cần được vạch ra cụ thể và có sự điều hành, phân công, phân nhiệmcho từng bộ phận, cho từng thành viên trong tổ chức Như vậy khái niệm quản trị

có thể hiểu là một khâu, một thành phần của quản lý gắn cụ thể với một tổ chức vànặng về thừa hành, tác nghiệp, điều hành các hoạt động cụ thể của một tổ chức.Quản lý có tầm rộng và bao quát hơn cả về mô hình tổ chức, tầm nhìn và chiếnlược phát triển của tổ chức.v.v

Theo Gulích và Urwich công tác quản trị có 6 chức năng chủ yếu sau ( viếttắt là POSCORB : Planning (kế hoạch); organizing (Tổ chức) ;Staffing ( nhân sự );

Coordinating ( Phối hợp) ; Rviewing (Kiểm tra); Budgetting (Tài chính )

Những chức năng trên là phổ biến với mọi nhà quản lý, quản trị của một tổchức song có sự khác nhau ở mức độ tầng cấp quản lý Sự phân phối thời gian vàcông sức cho các chức năng quản trị của các cấp được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2 Phân phối thời gian và công sức cho các chức năng quản trị của các cấp

Trang 12

III. CÁC KIỂU DẠY HỌC VÀ PHÂN LOẠI PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA - ĐÁNH

GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP

3.1 Đặc điểm các kiểu dạy-học và kiểm tra-đánh giá tương ứng

Việc kiểm tra- đánh giá phải theo cách thức giảng dạy và học tập Quá trìnhphát triển của giáo dục cho thấy có ba cách dạy và học: Kiểu sao chép, kiểu học tập

có phân tích, phê phán và kiểu học tập có tìm hiểu, sáng tạo (bảng 3)

Bảng 3: Đánh giá theo các kiểu dạy - học

KIỂU SAO CHÉP KIỂU PHÂN TÍCH KIỂU SÁNG TẠO

Thảo luận, nêu và giải quyết những vấn đề mới.

Nghiên cứu, tìm tòi, thử nghiệm, khám phá, tự

đề xuất các phương pháp và các phương án, giả thiết.

Tìm tòi, thu thập, lập luận, giả thiết tổng hợp, đánh giá và sáng tạo ra các ý kiến và thông tin mới.

Những kỹ năng để đổi mới và những năng lực cần thiết để tự phát triển Tự tìm hiểu những phương thức, giải pháp Sáng tạo và phát minh.

Trang 13

tư liệu sẵn có theo các hình thức khác nhau.

Có xu hướng thích ứng

và hoàn thiện các mô hình hiện có.

Có xu hướng thể hiện sáng tạo trong suy nghĩ tạo ra những ý kiến độc đáo và cách tiếp cận hoàn toàn mới Có xu hướng triển khai các mẫu hình mới.

3.2 Phân loại kiểm tra- đánh giá

3.2.1 Về mặt hình thức, đánh giá kết quả học tập có hai loại là:

a/ Đánh giá hình thành (Formative Assessment) (còn được gọi là Kiểm tra

đánh giá thường xuyên)

Đây là loại hình là kiểm tra đánh giá từng bước một cách chính thức hoặccũng có thể không chính thức, "đi kèm" với quá trình hình thành kiến thức, kỹnăng, kỹ xảo và thái độ ở người học Kết quả kiểm tra-đánh giá cung cấp nhữngthông tin phản hồi nhanh để kịp thời bổ cứu ở mỗi giai đoạn cần thiết của sự phát

triển trong suốt quá trình học tập Kiểm tra- đánh giá hình thành được thực hiện

thường xuyên trong quá trình dạy học và định kỳ cuối mỗi chương, phần hoặc cuốihọc kỳ, cuối năm học v.v

Lợi ích của loại hình kiểm tra này là:

- Do có nhiều lần kiểm tra nên sai sót trong một giai đoạn được bổ cứu kịpthời, đảm bảo ngưòi học đạt được kết quả học tập chung cuối cùng

- Loại bỏ được những lo âu, căng thẳng trong một kỳ thi cuối khoá duy nhất

- Thúc đẩy người học nỗ lực học tập thường xuyên trong cả khoá

- Giáo viên có cơ sở để điều chỉnh phương pháp dạy học và giúp đỡ người họckịp thời

b/ Đánh giá kết thúc (Summative Assessment) ( còn được gọi là Kiểm tra

Trang 14

- Nếu thực hiện việc đánh giá một cách thường xuyên trong suốt cả khoá họcthì đánh giá kết thúc trở nên nhẹ nhàng hơn.

3.2.2 Về tính chất, có hai loại kiểm tra đánh giá:

- Kiểm tra đánh giá đối chiếu hay theo chuẩn tương đối

(Norm Referenced Assessment)

Đây là loại kiểm tra đánh giá có tính chất tương đối, chủ yếu là so sánh kếtquả học tập giữa các ngưòi học với nhau Loại này phù hợp với việc thi tuyển, lựachọn một số lượng nhất định những người tốt nhất trong số người học dự thi

- Kiểm tra đánh giá theo tiêu chí (Criterion Referenced Assessment)

Đây là loại kiểm tra đánh giá có tính chất tuyệt đối, đánh giá kết quả học tậpcủa từng người học đạt được thực tế so với các tiêu chí đã đề ra Dù người học chỉkhông đạt được một tiêu chí nào đó thôi thì người học vẫn phải học lại bài đó,môđun đó để thi, kiểm tra lại

IV CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA & ĐÁNH GIÁ ( xem hình 3 )

Trang 15

Quan sát là một phương pháp kiểm tra-đánh giá sử dụng tri giác (trực tiếphoặc gián tiếp) để thu nhận các thông tin phản hồi về các đặc điểm, tính chất, trạngthái…của các đối tượng cần đánh giá

Ưu điểm của phương pháp này là:

- Cho thấy hình ảnh cụ thể của đối tượng cần đánh giá (hành vi, hoạt động,

trạng thái v.v.)

- Có thông tin trực tiếp, trung thực và nhanh chóng

- Có khả năng tìm hiểu được nhiều khía cạnh của đối tượng quan sát

- Rất tốt cho kiểm tra thực hành (hành vi, thao tác, hoạt động )

Tuy nhiên quan sát có một số nhược điểm sau:

- Thông tin phản hồi mang nặng tính chất định tính, bề ngoài, hình thức

khó thấy bản chất

- Chịu ảnh hưởng của môi trường, ngoại cảnh và thái độ của người quan sát

- Khó quan sát khi đối tượng đông và có nhiều hoạt động phức tạp

- Tốn thời gian khi cần quan sát để đánh giá quá trình

4.2 Phương pháp vấn đáp

Vấn đáp là một phương pháp kiểm tra-đánh giá sử dụng các câu hỏi vấn đáp

trực tiếp (hỏi-đáp) để thu nhận các thông tin phản hồi về các đặc trưng, khả năng,thái độ, nhận thức của người trả lời

Ưu điểm:

- Cho thông tin phản hồi trực tiếp và nhanh chóng Loai hình câu hỏi đa

dạng và có khả năng sử dụng linh hoạt trong các tình huống khác nhau

- Vừa định tính vừa định lượng đươc cả kiến thức, kỹ năng và thái độ

- Có độ chính xác tương đối cao, có giá trị giáo dục nhiều mặt, bổ sung

kiến thức Ít tốn thời gian

- Rèn luyện năng lực tư duy và khả năng phản ứng, lập luận, diễn giải bằng lời tức thời của học sinh

Tuy nhiên phương pháp vấn đáp cũng có một số nhược điểm sau:

- Thông tin trả lời mang nặng tính chất, suy nghĩ chủ quan của người trả lời

- Dễ bị sai lệch bản chất

- Chịu ảnh hưởng của môi trường, ngoại cảnh và thái độ của người hỏi và

tâm thế của người trả lời Không hỏi được nhiều người trong một lúc

- Khó lưu giữ thông tin trả lời Chỉ hỏi được từng khía cạnh của vấn đề

- Tốn thời gian nếu số lượng học sinh đông

Trang 16

4.3 Phương pháp kiểm tra viết: Bao gồm 2 loại cơ bản là trắc nghiệm tự luận

và trắc nghiệm khách quan Tuỳ theo kiểu loại trắc nghiệm viết, chúng có giá trịkhác nhau:

4.3.1 Phương pháp kiểm tra viết bài tự luận:

Là phương pháp sử dụng hình thức bài viết tự luận để thu thập thông

tin phản hồi nhằm đánh giá kết quả học tập của học sinh Các loại trắc nghiệm đượcgọi là chủ quan vì chúng đòi hỏi sử dụng nhận xét, phán xét và diễn giải của ngườichấm trong việc cho điểm Đó là các loại câu hỏi kiểm tra loại tự luận tự do hoặc cócấu trúc

Loại bài tự luận có ưu điểm sau:

- Thể hiện khả năng lập luận, sắp đặt hay phác họa

- Thể hiện khả năng thẩm định, bình luận, cảm xúc…

- Khả năng chọn lựa các kiến thức, ý tưởng quan trọng và tìm mối quan hệ giữa

các kiến thức ý tưởng đó ;

- Khả năng thể hiện hay diễn đạt các ý tưỏng sáng tạo.

Loại câu hỏi luận có thể dùng kiểm tra đánh giá các mục tiêu liên quan đến thái độ, sự hiểu biết.những ý niệm, sở thích, và tài diễn đạt ý tưởng.

Phương pháp kiểm tra viết bằng tự luận có các hạn chế sau:

- Không có khả năng đo lường tri thức về sự kiện hoặc kỹ năng hành động một cách hữu hiêu.

- Các câu trả lời thường dài, tốn thời giờ trình bày, diễn đạt bằng văn viết

- Học sinh dễ quay cóp và có thể khéo léo tránh đề cập những điểm không hiểu rõ.

- Việc chấm điểm thường mất nhiều thời gian.

- Kết quả kiểm tra-đánh giá phụ thuộc vào người chấm.

- Câu trả lời có thể được điểm khác nhau khi có nhiều giám khảo

khác nhau chấm.

4.3.2 Phương pháp kiểm tra bằng các loại trắc nghiệm khách quan:

Trắc nghiệm khách quan có bốn loại chính sau:

1 Loại điền vào chỗ trống hay cần câu trả lời ngắn

Trong loại này, thí sinh viết câu trả lời khoảng một đến tám hay mười chữ, cáccâu trả lời thường thuộc loại đòi hỏi trí nhớ Tuy nhiên, trong trường hợp toán haykhoa học tự nhiên, câu trả lời có thể đòi hỏi óc suy luận hay sáng kiến

2 Loại đúng sai

Trang 17

Trong loại này, thí sinh đọc những câu phát biểu và phán đoán xem nội dung hayhình thức này của câu ấy đúng hay sai Loại câu hỏi này phù hợp nhất cho việckhảo sát trí nhớ những sự kiện, hay nhận biết các sự kiện.

3 Loại ghép đôi (hay xứng hợp)

Trong loại này, thí sinh tìm cách ghép mỗi từ hay câu trả lời trong một cột vớimột từ hay câu xếp trong cột khác Số câu hoặc từ trong cột thứ nhất có thể ít hơn,bằng hay nhiều hơn các câu hoặc từ trong cột thứ hai Các câu hỏi loại này mangnhiều tính chất của loại câu hỏi có nhiều câu trả lời để lựa chọn

4 Loại câu hỏi có nhiều câu trả lời để lựa chọn

Loại này gồm một câu phát biểu căn bản, gọi là câu dẫn, hay câu hỏi, đi vớinhiều câu trả lời để thí sinh lựa chọn khi làm bài Các câu trả lời cho mỗi câu hỏi códạng giống nhau, gồm một từ, một cụm từ, hay một câu hoàn chỉnh Thí sinh phảichọn một câu trả lời đúng nhất hay hợp lý nhất Đây là loại trắc nghiệm khách quanthông dụng nhất Các câu hỏi loại này có thể dùng để thẩm định trí nhớ, mức hiểubiết, khả năng áp dụng, phân tích, tổng hợp hay ngay cả khả năng phán đoán caohơn

Ưu điểm của trắc nghiệm khách quan:

- Có thể kiểm tra-đánh giá nhanh Không yêu cầu ngưòi học ghi nhớ

- Có thể bao gồm nhiều lĩnh vực rộng rãi trong mỗi bài thi, với những câu hỏi bao quát khắp nội dung chương trình giảng dạy khi đó độ tin cậy trắc nghiệm tăng lên.

- Khắc phục được tình trạng quay cóp hoặc học tủ

- Công việc chấm điểm nhanh chóng Các câu trả lời thường được chấm điểm

theo tiêu chuẩn đúng hay sai, nhưng việc chấm điểm rất chính xác và thuần nhất.

- Tiêu chuẩn hóa, chuyên môn hóa, tự động hóa công tác khảo thí

Việc cho điểm các câu hỏi này là khách quan vì người cho điểm là giáo viênkhông cần phải dùng sự lượng giá nào để xác định xem liệu người học trả lời như vậy là đúng hay sai Các câu trả lời của người học có thể chỉ đơn giản được so sánhvới đáp án có sẵn

Có sự khác biệt cơ bản trong các câu hỏi trắc nghiệm Một số câu đòi hỏingười học phải cung cấp câu trả lời lấy từ trí nhớ (tài liệu) Cả hai loại trắc nghiệmchủ quan nói trên đều là trắc nghiệm cung cấp thông tin, tri thức Chỉ có một loạitrắc nghiệm điền khuyết là loại đòi hỏi người học phải điền vào chỗ trống hoặc trảlời ngắn (từ, số, ký hiệu ) lấy từ trí nhớ (tái hiện)

Các loại trắc nghiệm khách quan khác đều là loại lựa chọn, người học phải lựa chọn câu trả lời đúng từ 2 hay nhiều phương án có thể cho trước Các loại trắc nghiệm này kiểm tra khả năng của người học trong việc nhận ra những thông tin đúng, trong khi đó các kiểu trắc nghiệm cung cấp thông tin kiểm tra khả năng trong việc tái hiện, nhớ lại thông tin đúng.

Trang 18

Nhược điẻm cơ bản của phương pháp kiểm tra-đánh giá bằng trắc nghiệmkhách quan là hạn chế sự thể hiện khả năng nói và viết (diễn đạt, suy luận, trình bày

ý tưởng) của ngưòi học Dễ đoán mò làm kết quả đánh giá sai lệch và việc soạn câuhỏi, xây dựng ngân hàng đề thi… rất công phu, tốn kém

V THIẾT KẾ BÀI KIỂM TRA-ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP

5.1 Các nguyên tắc và căn cứ để thiết kế câu hỏi và bài kiểm tra

1 Việc lựa chọn kiểu, loại dạng bài kiểm tra và độ khó của cầu hỏi, bài kiểm

tra phụ thuộc vào mục đích kiểm tra, mục tiêu học tập (mục tiêu thực hiện) củatừng bài học, phần học; vào quỹ thời gian để đánh giá; vào tính chất, đặc điểm nộidung học tập; vào trình độ và năng lực của chính giáo viên và học sinh

2 Thiết kế bài kiểm tra để dánh giá xác định (đo) mức độ đạt được của ngườihọc về kiến thức, kỹ năng và thái độ có thể theo thang phân loại sau:

2 Hiểu Nắm được bản chất; đặc

tính; nguyên lý , quy luật

- Có thể so sánh, đối chiếu, thực hiện các tính tính toán theo công thức

3.Vận

dụng

thể hiện khả năng sử dụng hiểu biết, tri thức vào các tình huống cụ thể

- Tính toán theo công thức

Trang 19

hợp tượng và khái quá hoá,

tổng hợp hoá

loại vật liệu -Hệ thống hoá và phân loại vật liệu

5 Đánh

giá

Vận dụng tri thức vào thực tế một cách sâu sắc Làm chủ tri thức

- Đánh giá chất lượng vật liệu, sản phẩm

- Đánh giá tính hợp lý của các hoạt động, quy trình

6.Sáng tạo Phát triển hệ thống tri

thức trong các điều kiện

Thực hiện các thao động tác theo như thao tác mẫu

-Tự chủ, tự tin khi thao tác, thực hiện các kỹ năng.

-Thực hiện được các kỹ năng

cơ bản, không phức tạp -Chưa tạo được mói liên hệ, phối hợp giữa các kỹ năng

3 Làm chính xác (

kỹ năng thực hiện

độc lập )

Quan sát và có khả năng thực hiện công việc độc lập chính xác

-Thao,động tác chuẩn mực, chính xác

-Tạo được sự liên tục khi thực hiện công việc

Trang 20

4.Làm biến hoá

( kỹ xảo tổng

hợp )

Quan sát và có khả năng thực hiện công việc độc lập nhanh và chính xác

- Bảo đảm tốc độ làm việc

- Thao tác và động tác chuản mực

- Xử lý linh hoạt tìmh huống -Kết hợp nhiều loại kỹ năng

Trang 21

Sử dụng một khái niệm trong một tình huống mới hoặc sử dụng tự phát một khái niệm trừu tượng Áp dụng những gì đã được học trong lớp học vào tình huống mới

Người học thực hiện ở cấp độ này có thể phân tích hệ thống và phân chia nó thành

bộ phận cấu thành Họ có thể giải thích "tại sao" nhưng không nhận ra các sự kiện ngoài ngữ cảnh

TỔNG HỢP

Xây dựng một cấu trúc hoặc mô hình từ các yếu tố đa dạng Đặt các bộ phận lạivới nhau để cấu thành tổng thể, với sự nhấn mạnh về việc tạo ra một ý nghĩa mớihoặc cấu trúc mới

Người học thực hiện ở cấp độ này có thể phân tích nhiều hệ

thống một cách đồng thời và thảo luận làm thế nào mỗi hệ

thống tương tác với nhau

ĐÁNH GIÁ

Trang 22

Thực hiện các đánh giá về giá trị của những ý tưởng hoặc các tài liệu

1 Chấp nhận: Ý thức được tham gia một cách thụ động vào một số sự kiện và

tác nhân kích thích Ví dụ chăm chú nghe giảng, lắng nghe người khác phátbiểu trong các cuộc thảo luận nhóm

2 Đáp ứng: Tuân thủ theo hay phản ứng với một thái độ đã có thể thấy trước

đối với các sự kiện hay tác nhân kích thích Ví dụ thể hiện sự quan tâm chú

ý, sẵn sàng trao đổi ý kiến khi có tình huống phù hợp

3 Đánh giá: Thể hiện một thái độ ổn định với một niềm tin không thay đổi

trong các tình huống mà người đó không bị buộc phải thực hiện hay tuântheo Ví dụ tự giác tuân thủ nội quy phòng thí nghiệm ngay khi không có cán

5.2 Các loại kiểm tra đánh giá theo mục tiêu học tập

5.2.1 Kiểm tra đánh giá kiến thức

Mục đích kiểm tra đánh giá kiến thức là xác định xem hoc sinh đã biết gì, ở

mức độ nào trong các nội dung đã học.Tuỳ theo mục tiêu học tập mà có những mức

độ yêu cầu khác nhau từ đơn giản nhất là tái hiện được (kể được, mô tả được, trình bày được), đến áp dụng được, so sánh, phân tích, giải thích, Trong thực tế nghiên

cứu xã hội nói chung và nghiên cứu giáo dục nói riêng còn có nhiều nội dung cần

Ngày đăng: 18/11/2017, 19:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Thiệu Tống . Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập (Phương pháp thực hành) .Trưòng đại học tổng hợp TP Hồ Chí Minh-1995 Khác
2. Đặng Bá Lãm. Kiểm tra-đánh giá dạy- học đại học. NXB Giáo dục Hà nội -2003 Khác
2. Lâm Quang Thiệp. Đo lường và đánh giá thành quả học tập. Khoa Sư phạm-ĐHQG Hà nội- Hà nội-2003 Khác
3. Lê Đức Ngọc. Bài giảng đo lường và đánh giá thành quả học tập trong giáo dục. Khoa Sư phạm-ĐHQG Hà nội- Hà nội-2003 Khác
4. Trần Khánh Đức: Sư phạm kỹ thuật - NXB Giáo dục. Hà nội -2002 Khác
5. Trần Khánh Đức. Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO&TQM. NXB Giáo dục. Hà nội -2004 Khác
6. Trần Khánh Đức. Giáo dục và phát triển nhân lực trong thế kỷ XXI. NXB Giáo dục Việt Nam. Hà Nội -2010 Khác
7. Nguyễn Công Khanh. Đo lường và đánh giá trong khoa học xã hội. NXB Chính trị quốc gia, Hà nội 2004 Khác
8. Assessment in Teaching Methodology- Project VAT ( Australia ) 9. Tài liệu về đánh giá của dự án Swisscontact Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w