1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đo lường tình trạng sức khoẻ thông qua tỉ lệ tử vong tới chất lượng của cuộc sống

20 205 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 211,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, chúng cũng mô tả các cách khác nhau của việc nghiên cứu những tác nhân chính dự đoán chất lượng của cuộc sống như là một kết quả bất định và sự lien hệ giữa chất lượng cuộc

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

- -BÀI TẬP NHÓM

Môn: TÂM LÝ HỌC SỨC KHOẺ

Nhóm 5:

Trang 2

Ch ươ ng 16 : Đo l ườ ng tình tr ng s c kho thông ạ ứ ẻ qua t l t vong t i ch t l ỉ ệ ử ớ ấ ượ ng c a cu c s ng ủ ộ ố

Sơ lược chương: Chương này quan tâm tới những phương thức khác nhau của việc đo lường tỉ lệ tử vong tới chất lượng sống Bên cạnh đó, chúng cũng mô tả các cách khác nhau của việc nghiên cứu những tác nhân chính dự đoán chất lượng của cuộc sống (như là một kết quả bất định) và sự lien hệ giữa chất lượng cuộc sống và sự trường thọ

Chương 16 bao gồm:

- Tỉ lệ tử vong

- Tỉ lệ mắc bệnh

- Biện pháp chức năng

- Tình trạng sức khoẻ chủ quan

- Đo lường chất lượng cuộc sống

- Dự đoán chất lượng cuộc sống

- Chất lượng sự sống và trường thọ

-TỶ LỆ TỬ VONG

Ở mức cơ bản nhất, một thước đo về tình trạng sức khoẻ có dạng tỷ suất chết thô, được tính bằng cách đơn giản là đếm số người chết trong một năm so với những năm trước đó hoặc những năm tiếp theo Câu hỏi được đặt ra là: "Số người chết năm nay đã tăng lên, đi xuống hay không thay đổi?" Sự gia tăng tỷ lệ tử vong có thể được xem như tình trạng sức khoẻ giảm, và sự giảm tỷ lệ tử vong được coi như tình trạng sức khoẻ gia tăng Tuy nhiên, cách tiếp cận này đòi hỏi một mẫu số, một thước đo của những người có nguy cơ Hình thức tỷ lệ tử vong cơ bản nhất tiếp theo gồm có mẫu số phản ánh quy mô

Trang 3

dân số được nghiên cứu Cách đo như vậy cho phép so sánh được thực hiện giữa các quần thể khác nhau: nhiều người có thể chết trong một năm nhất định ở London khi so sánh với Bournemouth, nhưng London lớn hơn một chút Để có thể đo lường được tình trạng sức khoẻ một cách có ý nghĩa, tỷ lệ tử vong được điều chỉnh theo độ tuổi (Bournemouth

có dân số lớn hơn và do đó chúng tôi dự đoán rằng có nhiều người sẽ chết mỗi năm) và giới tính (nam giới thường chết trẻ hơn phụ nữ và điều này cần được đưa vào bản kê khai) Hơn nữa, tỷ lệ tử vong có thể được tính theo độ tuổi cụ thể như tỷ suất chết trẻ sơ sinh hoặc bệnh tật, cụ thể như tỷ lệ tử vong đột ngột Miễn là dân số đang được nghiên cứu chắc chắn được xác định chính xác, hiệu chỉnh và cụ thể, thì tỷ lệ tử vong được đo lường dễ dàng và đơn giản: cái chết là một kết quả tốt đáng tin cậy

TỶ LỆ THƯƠNG TẬT

Các nhà nghiên cứu thí nghiệm và lâm sàng và các nhà dịch tễ học có thể chấp nhận

tỷ lệ tử vong là thước đo hoàn hảo về tình trạng sức khoẻ Tuy nhiên, sự kề nhau của các nhà khoa học xã hội với thế giới y khoa đã thách thức vị trí này để đưa ra câu hỏi dường như rõ ràng, "Liệu sức khoẻ thực sự chỉ là không có cái chết?" Đáp lại điều này, các nghiên cứu tập trung ngày càng nhiều hơn vào bệnh tật Tuy nhiên, phù hợp với sự nhấn mạnh vào tính đơn giản vốn có trong việc tập trung vào tỷ lệ tử vong, nhiều cách đo bệnh tật vẫn sử dụng phương pháp đếm và ghi chép Ví dụ, việc đưa ra tỷ lệ bệnh tật cao và tốn thời gian có liên quan đến các cuộc điều tra lớn về 'tình trạng' để đếm có bao nhiêu người trong số dân số nhất định chịu thiệt hại từ một vấn đề cụ thể Tương tự như vậy, tỷ lệ không có bệnh tật chỉ đơn giản đếm số ngày bị mất do bệnh tật và đánh giá số lượng công việc bằng đếm số người đến khám bác sĩ đa khoa hoặc tại bệnh viện trong một khoảng thời gian nhất định Tỷ lệ bệnh tật như vậy cung cấp chi tiết ở mức độ của dân số chung Tuy nhiên, thương tật cũng được đo cho mỗi cá nhân đang dùng các biện pháp chức năng

Trang 4

BIỆN PHÁP CHỨC NĂNG

Biện pháp chức năng đặt câu hỏi “Điều nào đánh giá những công việc sau đây bạn có thể làm?” Và thường được gọi là hoạt động của thang đo sinh hoạt hàng ngày (activity of daily living scales - ADLs) Ví dụ, Katzetal (1970) đã thiết kế mục lục hoạt động của cuộc sống hàng ngày để đánh giá mức độ hoạt động ở người cao tuổi Điều này đã được phát triển cho nhà trị liệu và người chăm sóc để hoàn thành và yêu cầu người đánh giá để đánh giá cá nhân trên một loạt các phương tiện bao gồm tắm, mặc quần áo, sự tự ti và dinh dưỡng ADLs cũng đã được phát triển cho các cá nhân để hoàn thành và bao gồm các câu hỏi như “Bạn có hay bạn sẽ gặp khó khăn gì không: rửa chân/cắt móng chân/chạy

để bắt xe buýt/đi lên, xuống cầu thang?” Các biện pháp chức năng có thể tự quản lý hoặc như một phần của đánh giá phức tạp hơn bao gồm các biện pháp về tình trạng sức khoẻ chủ quan

TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE CHỦ QUAN

Trong một số năm trở lại đây, ngày càng có nhiều biện pháp chăm sóc sức khỏe được lựa chọn nhằm đánh giá tình trạng sức khỏe theo góc độ chủ quan Tất cả những biện pháp ấy đều có điểm chung đó là: yêu cầu các cá nhân tự đánh giá sức khỏe của mình Một trong số đó được gọi là đơn giản là biện pháp chăm sóc sức khỏe chủ quan, gọi cách khác là thang đo chất lượng cuộc sống hoặc thang đo chất lượng cuộc sống thông qua sức khỏe

Tuy nhiên, các tác phẩm được viết trong lĩnh vực tình trạng sức khỏe chủ quan và chất lượng cuộc sống lại gặp cản trở bởi hai câu hỏi: “Chất lượng cuộc sống là gì?” và

“Làm thế nào để đo được nó?”

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG LÀ GÌ?

Theo như báo cáo của Medline về việc tìm kiếm thuật ngữ “chất lượng cuộc sống” cho thấy việc sử dụng có xu hướng gia tăng, từ 40 trích dẫn (1966-174) đến 1907 trích

Trang 5

dẫn (1981-85) và lên đến 5078 trích dẫn (1986-90) (Albrecht 1994) Có thể thấy rõ ràng chất lượng cuộc sống ngày càng phổ biến rộng rãi Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có được

sự thống nhất về mặt khái niệm Ví dụ, nó được định nghĩa la các giá trị đi kèm với thời gian sống được thay đổi bởi khiếm khuyết, các trạng thái chức năng, nhận thức và các cơ hội xã hội ảnh hưởng bởi bệnh tật, chấn thương, điều trị bệnh tật hoặc chính sách (Patrick and Ericson 1993), là “tuyên bố mang tính cá nhân về các đặc tính tích cực và tiêu cực khi mô ta cuộc sống của một người” (Grant et al 1990) và Tổ chức Y tế Thế giới thì đó là một khái niệm phức tạp bao hàm cả sức khỏe thể chất, trạng thái tâm lí, mức độ độc lập, các quan hệ xã hội, mối quan hệ và các đặc điểm nổi bật trong môi trường của họ

(WHOQoL Group 1993) Có một số nhà khoa học cho rằng các khái niệm về chất lượng cuộc sống có thể hoán đổi cho nhau còn mốt số người lại cho rằng chúng tách rời nhau

(Bradley 2001)

Các vấn đề như vậy với định nghĩa đã tạo nên một loạt các phương pháp hoạt động liên quan đến chất lượng cuộc sống Ví dụ, sau cuộc thảo luận về một định nghĩa có thể chấp nhận được về chất lượng cuộc sống, một Tổ chức nghiên cứu Châu Âu về điều trị ung thư đã vận hành chất lượng cuộc sống để xem xét về tình trạng chức năng, ung thư, điều trị các triệu chứng cụ thể, tâm lí phiền muộn, các tương tác xã hội, tác động tài chính/kinh tế, nhận thức tổng thể về tình trạng sức khỏe và chất lượng cuộc sống

(Aaronson et al 1993) Để phù hợp với điều này, biện pháp của họ bao gồm các danh mục phản ánh các chiều kích khác nhau Tương tự như vậy, các nhà khoa học đã nghiên cứu sự vận hành của các năng lượng sức khỏe ở tập đoàn Rand Corporation về chất lượng cuộc sống thông qua chức năng thể chất, chức năng xã hội, hạn chế vai trò đến các hạn chế về thể chất, hạn chế vai trò đến các vấn đề về tình cảm, sức khỏe tinh thần, năng lượng/sức sống, đau và nhận thức về sức khỏe nói chung Từ đó hình thành nên các phác

đồ cơ bản trong quy mô của họ (e.g Stewart and Ware 1992) Hơn thế, Fallowfield (1990) xác định bốn phương diện chủ yếu của chất lượng sống là tâm lý (tâm trạng, nỗi đau tinh thần, khả năng thích ứng với bệnh tật), xã hội (các mối quan hệ, các hoạt động giải trí và xã hội), nghề nghiệp (công việc có lương hoặc không lương), và thể chất (vận động, nỗi đau, giấc ngủ và khẩu vị)

Trang 6

Tạo ra một khung khái niệm

Trước vấn đề định nghĩa chất lượng sống, gần đây các nhà nghiên cứu đã thử tạo ra một khung khái niệm rõ ràng hơn Cụ thể, họ đã chia các tiêu chuẩn của chất lượng sống dựa trên người đề ra tiêu chuẩn hoặc trên sự chủ quan hoặc khách quan của tiêu chuẩn

Ai là người đề ra tiêu chuẩn?

Browne và cộng sự (1997) đã phân biệt tiếp cận nhu cầu cơ bản với quan điểm quá trình tâm lý Cái đầu được mô tả là dựa trên giả định rằng “có tồn tại – hoặc ít nhất là có thể tìm ra – một sự đồng thuận về điều làm nên chất lượng cao hay thấp của cuộc sống” (Browne và cộng sự 1997: 738) Ngoài ra, tiếp cận nhu cầu cơ bản giả định rằng nhu cầu chứ không phải ham muốn mới là hạt nhân của chất lượng sống, và những nhu cầu này là phổ biến ở tất cả mọi người, kể cả các nhà nghiên cứu Ngược lại, tiếp cận quá trình tâm

lý cho rằng chất lượng cuộc sống “được tạo nên từ sự đánh giá riêng biệt của mỗi cá nhân

về những khía cạnh chính trong cuộc sống” (Browne và cộng sự 1997: 737) Do vậy, Browne và cộng sự (1997) khái niệm hoá các tiêu chuẩn về chất lượng sống thành điều được tạo nên bởi các nhà nghiên cứu và bởi tự mỗi cá nhân

Tiêu chuẩn khách quan hay là chủ quan?

Muldoon và cộng sự (1998) cung cấp một khung khái niệm khác cho chất lượng sống dựa trên mức độ khách quan mà các bình diện đang đánh giá được công nhận Họ lập luận rằng tiêu chuẩn chất lượng sống nên được chia thành nhóm đánh giá chức năng khách quan và nhóm đánh giá tình trạng chủ quan Nhóm đầu phản ánh những tiêu chuẩn

về khả năng vận hành của cá nhân, mà theo họ là phải được đối chiếu với những quan sát trực tiếp về khả năng thực hiện hành vi, còn nhóm sau mô tả sự tự đánh giá của cá nhân

về tình trạng của họ

Do vậy, người ta đã cố gắng làm rõ những vấn đề xoay quanh tiêu chuẩn về chất lượng sống Tuy nhiên, cho tới khi có được một sự đồng thuận trong giới nghiên cứu và

Trang 7

lâm sàng thì việc chất lượng sống là gì và liệu nó có khác với tình trạng sức khoẻ chủ quan hay chất lượng sống về mặt sức khoẻ hay không vẫn còn là câu hỏi mở Trên thực

tế, Annas (1990) đã cho rằng chúng ta cần ngưng sử dụng song song những khái niệm này Tuy nhiên, “chất lượng sống”, “tình trạng sức khoẻ chủ quan” và “chất lượng sống

về mặt sức khoẻ” vẫn được sử dụng và việc đo đạc các tiêu chuẩn của chúng vẫn được tiến hành Từ giờ những tiêu chuẩn đã phát triển sẽ được xem là (1) tiêu chuẩn đơn phương diện hoặc (2) tiêu chuẩn đa phương diện.

Nó được đo như thế nào?

Các phương pháp một chiều

Có nhiều phương pháp chỉ tập trung vào một khía cạnh riêng biệt của sức khỏe Ví

dụ, Goldberg (1978) đã phát triển bảng câu hỏi chung về sức khỏe (GHQ), được dùng đánh giá tâm trạng sức khỏe con người bằng những câu hỏi như là: “Gần đây bạn: Có thể tập trung vào bất kỳ việc gì bạn đang làm/ Dành nhiều thời để nói chuyện với mọi người/ Cảm thấy hạnh phúc hay buồn bã?” Bảng câu hỏi GHQ có cấu trúc dài, bao gồm 30, 28 hoặc 20 mục khác nhau, và cấu trúc ngắn khoảng 12 mục Trong khi bảng câu hỏi dạng ngắn chủ yếu được sử dụng để tìm hiểu trạng thái cảm xúc nói chung và cung cấp kết quả tương đối cho từng cá nhân ( tức là cá nhân tốt hơn hoặc tệ hơn thường lệ? ), bảng câu hỏi dạng dài thường được dùng để phát hiện “caseness” ( tức là cá nhân có suy sụp hay không?).Các biện pháp một chiều khác bao gồm: bệnh viện lo âu và trầm cảm qui

mô( HAD) (Zigmond and Snaith 1983) và thang đánh giá trầm cảm Beck (BDI) (Beck et

al 1961), cả hai thang đánh giá này đều tập trung vào cảm xúc; bảng đánh giá sự đau McGill, đánh giá các mức độ đau (Melzack 1975); các phương pháp đo lường sự tự tin, như là thang đo lòng tự trọng (Rosenberg 1965) và sự kiểm soát lòng tự trọng

(Coopersmith 1967); các biện pháp hỗ trợ xã hội (e.g Sarason et al 1983, 1987); các biện pháp hài lòng với cuộc sống (e.g Diner et al 1985); và các thang đo của triệu chứng (e.g deHaes et al 1990) Do đó, các biện pháp đơn giản này đánh giá sức khoẻ

Trang 8

theo một khía cạnh cụ thể của y tế và có thể dùng riêng lẻ hoặc kết hợp với các biện pháp khác

Các phương pháp đa chiều

Các phương pháp đa chiều đánh giá sức khỏe theo hướng rộng nhất Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các phương pháp này luôn dài và phức tạp Ví dụ như, nhà nghiên cứu thường dùng các mục đơn lẻ như, “ bạn nói sức khỏe của bạn : tuyệt vời/ tốt/ khá tốt/ kém ?” hoặc “đánh giá tình trạng sức khỏe hiện tại của bạn” trên các mức độ khác nhau

từ “kém” đến “ hoàn hảo” Xa hơn, một số nhà nghiên cứu chỉ yêu cầu người trả lời để đưa ra một đánh giá tương đối về sức khỏe của họ trên các mức độ từ “ Tốt nhất có thể” đến “ tệ nhất có thể” Mặc dù các phương pháp đơn giản này không cung cấp nhiều khía cạnh như các phương pháp dài hơi hơn, chúng được thể hiện sự tương quan cao với các biện pháp phức tạp khác và hữu ích nhiw một thang đo kết quả (Idler and Kasl 1995) Về

cơ bản, các nhà nghiên cứu có xu hướng sử dụng các thang đo tích hợp Do nhiều các xác định chất lượng cuộc sống, nhiều phương pháp khác đã được phát triển Một số tập trung vào các nhóm cụ thể, như là người già (Lawton 1972, 1975; McKee et al 2002), trẻ em (Maylath 1990), hoặc những người đang ở những năm cuối cùng của cuộc đời (Lawton

et al 1990) Một số khác tập trung vào các bệnh cụ thể, như là bệnh tiểu đường (Brook

et al 1981; Bradley 1996; Bradley et al 1999), viêm khớp (Meenan et al 1980), bệnh tim (Rector et al 1993) và bệnh thận (Bradley 1997) Thêm vào đó, các biện pháp chung về chất lượng cuộc sống cũng đã và đang được phát triển, các biện pháp mà có thể áp dụng chung cho tất cả mọi người Chúng bao gồm: Hồ sơ y tế Nottingham(NHP), (Hunt et al 1986), cấu trúc ngắn 36 (SF36) (Ware and Sherbourne 1992), và hồ sơ tác động bệnh tật (SIP) (Bergner et al 1981) Tất cả các biện pháp này đều bị phê bình vì quá rộng và do

đó kết quả đánh giá về chất lượng cuộc sống đều bao quát, mơ hồ và không tập trung Tất cả các biện pháp này đều bị chỉ trích vì quá rộng, dẫn đến việc khái niệm chất lượng cuộc sống bao gồm tất cả mọi thứ, mơ hồ và không tập trung Ngược lại, chúng cũng bị chỉ trích vì quá tập trung và có thể bỏ lỡ các khía cạnh quan trọng khác mà các cá

Trang 9

nhân quan tâm về chất lượng cuộc sống Cụ thể, khi yêu cầu các cá nhân trả lời bộ câu hỏi đã được xác định trước và đánh giá những phát biểu mà các nhà nghiên cứu đã xây dựng thì mối quan tâm riêng của những người trả lời có thể bị bỏ qua Điều này đã dẫn đến sự phát triển của các biện pháp đo lường chất lượng cuộc sống cá nhân

Các biện pháp đo lường chất lượng cuộc sống cá nhân

Các biện pháp đo lường tình trạng sức khoẻ chủ quan yêu cầu cá nhân đánh giá sức khoẻ của họ Điều này hoàn toàn trái ngược với các đánh giá của người chăm sóc, các nhà nghiên cứu hoặc một người quan sát về khả năng tử vong, bệnh tật và hoạt động của các cơ quan bên trong cơ thể Tuy các biện pháp trên cho phép các cá nhân đánh giá tình trạng sức khoẻ của mình, nhưng chúng lại không đưa ra một tiêu chuẩn để họ đánh giá mức độ đó Ví dụ, có một biện pháp đó là hỏi các cá nhân về công việc được giả định là quan trọng với họ nhưng có thể họ lại không muốn làm Thêm một biện pháp khác nữa là hỏi về cuộc sống gia đình, mà đối tượng hướng đến là những người không thường xuyên gặp gia đình thì sẽ thấy vui Làm sao mà một nhóm cá nhân (chính là các nhà nghiên cứu) lại biết được điều gì là quan trọng đối với chất lượng cuộc sống của một nhóm cá nhân khác? Để phù hợp với quan điểm này, các nhà nghiên cứu đã phát triển các biện pháp đanh giá chất lượng cuộc sống cá nhân, trong đó các đối tượng sẽ đánh giá tình trạng sức khoẻ của mình theo một tiêu chuẩn mà các nhà nghiên cứu đã định sẵn Một biện pháp như vậy, là lịch trình đánh giá chất lượng cá nhân của cuộc sống (SEIQoL) (McGee et al

1991 O'Boyle et al 1992) yêu cầu các chủ thể lựa chọn 5 lĩnh vực trong cuộc sống quan trọng đối với họ, rồi đánh giá mức độ hài long hiện tại của họ theo các tiêu chuẩn đã định sẵn (xem Tiêu điểm nghiên cứu 16.1 dưới đây)

THU T ĐI U CH NH HÔNG Ậ Ề Ỉ

Trang 10

Chất lượng cuộc sống cá nhân ở bệnh nhân điều chỉnh hông (O'Boyle et al.1992):

Đây là một tài liệu thú vị vì nó minh họa cách thức một công cụ đo lường, được phát triển theo khuôn khổ tâm lý học, có thể được sử dụng để đánh giá tác động của can thiệp phẫu thuật Thêm vào đó, nó so sánh việc sử dụng cách đánh giá phức hợp với cách đánh giá chất lượng cuộc sống cá nhân

Bối cảnh:

Đã có rất nhiều các biện pháp đo lường chất lượng cuộc sống, hầu hết trong số đó đều yêu cầu bệnh nhân đánh giá một bộ quan điểm được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu

để nâng cao chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, liệu cách tiếp cận này đã thực sự đánh trúng những gì bệnh nhân nghĩ chưa là không rõ ràng Vì vậy, O'Boyle et al (1992) đã đưa ra cách đo lường chất lượng cuộc sống của họ và điều này yêu cầu bệnh nhân tự quyết định điều gì là quan trọng đối với họ Nó được gọi là lịch trình đánh giá chất lượng

cá nhân của cuộc sống (SEIQoL) Ngoài ra, các tác giả muốn so sánh kết quả khi sử dụng SEIQoL với khi sử dụng các công cụ đánh giá truyền thống hơn: "Chúng tôi muốn biết liệu SEIQoL có thể trả lời câu hỏi" Bệnh nhân nghĩ gì? "

Ph ươ ng pháp lu n ậ Đối tượng: các bệnh nhân viêm khớp hông đến bệnh viện ở Dublin được yêu cầu tham

gia Chúng được kết hợp để kiểm soát đối tượng từ địa phương về tuổi, giới tính và trình

độ học vấn Nghiên cứu gồm 20 đối tượng bao gồm người đã trải qua phẫu thuật thay thế hông và 20 kiểm soát

Thiết kế: nghiên cứu sử dụng một thiết kế đo lặp lại với các biện pháp đã hoàn thành

trước và sau (sau 6 tháng theo dõi) phẫu thuật thay thế toàn bộ hông

Các biện pháp: các đối tượng đã hoàn thành các biện pháp sau đây ở giai đoạn đầu và

theo dõi:

■ Chất lượng cuộc sống cá nhân: điều này liên quan đến các giai đoạn sau Thứ nhất, các

Ngày đăng: 19/11/2017, 20:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w