1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu chuỗi giá trị cà phê tỉnh điện biên

100 367 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa thực tiễn Với sự nỗ lực của bản thân, kết hợp những kinh nghiệm, những kiến thức đã được học tập, nghiên cứu từ các tài liệu của các tác giả khác nhau, đặc biệt nhờ sự hướng dẫn

Trang 2

NGUYỄN THỊ PHƯỢNG

NGHIÊN CỨU CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ PHÊ

TỈNH ĐIỆN BIÊN Chuyên ngành: Phát triển nông thôn

Mã số: 60.62.01.16

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Minh Thọ

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực va chưa từng được dùng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã

được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ

nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Phượng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,tôi đã nhận được giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo

TS Nguyễn Thị Minh Thọ đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn để tôi hoàn thành luận

văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo thuộc Tỉnh

uỷ, UBND, tỉnh Điện Biên và bà con nông dân các xã: Tỏa Tình, Quài Cang huyện Tuần giáo; xã Ẳng Nưa, thị trấn Mường Ảng huyện Mường Ảng đã tạo

điều kiện giúp đỡ tôi trong việc thu thập tài liệu để thực hiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên,tháng 10 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Phượng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về chuỗi giá trị 4

1.1.2 Nội dung phân tích chuỗi giá trị ngành hàng 6

1.1.3 Các phương pháp phân tích chuỗi giá trị 9

1.1.4 Các hoạt động liên kết của chuỗi giá trị 16

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 19

1.2.1 Tình hình nghiên cứu chuỗi giá trị trên thế giới 19

1.2.2 Tình hình nghiên cứu về chuỗi giá trị của cây cà phê 21

1.2.3 Đánh giá chung về hoạt động phân tích chuỗi giá trị đối với cây cà phê 26

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 28

2.2 Nội dung nghiên cứu 28

2.3 Phương pháp nghiên cứu 28

2.3.1 Phương pháp tiếp cận 28

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 29

Trang 6

2.3.3 Phương pháp chọn mẫu điều tra 29

2.3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 31

2.3.5 Một số phương pháp khác 31

2.3.6 Các chỉ tiêu kinh tế được áp dụng 32

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 33

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 38

3.2 Thực trạng sản xuất cây cà phê của tỉnh Điện Biên 42

3.3 Phân tích chuỗi giá trị cà phê tỉnh Điện Biên 44

3.3.1 Sơ đồ tổng quát chuỗi giá trị cà phê Điên Biên 44

3.3.2 Các kênh tiêu thụ chính trong chuỗi giá trị cà phê Điện Biên 46

3.4 Phân tích chi phí, lợi nhuận của các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị cà phê tỉnh Điện Biên 47

3.4.1 Chi phí, lợi nhuận và thu nhập của các hộ nông dân trồng Cà phê 47

3.4.2 Chi phí, lợi nhuận và thu nhập của hộ thu gom Cà phê 55

3.4.3 Chi phí, lợi nhuận và thu nhập của doanh nghiệp kinh doanh chế biến Cà phê 56

3.4.4 Chi phí và lợi nhuận của các hộ bán buôn cà phê trong chuỗi giá trị 59

3.4.5 Chi phí và lợi nhuận của các hộ bán lẻ cà phê trong chuỗi giá trị 61

3.5 Phân tích sự phân chia lợi nhuận của các tác nhân trong chuỗi giá trị ngành cà phê tỉnh Điện Biên 62

3.5.1 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các tác nhân tham gia trong chuỗi giá cà phê Điện Biên 62

3.5.2 Sự hình thành giá và giá trị gia tăng của các tác nhân theo kênh tiêu thụ 64

3.5.3 Chuỗi giá trị gia tăng của các tác nhân theo kênh tiêu thụ 66

3.6 Một số tồn tại ảnh hưởng tới sự phát triển của chuỗi giá trị cà phê tỉnh Điện Biên 67

3.7 Giải pháp tăng cường mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị nhằm thúc đẩy phát triển bền vững cây cà phê của tỉnh Điện Biên 68

Trang 7

3.7.1 Quan điểm phát triển cây cà phê của tỉnh Điện Biên 68

3.7.2 Định hướng phát triển cây cà phê của tỉnh Điện Biên đến năm 2020 69

3.7.3 Giải pháp tăng cường mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị nhằm thúc đẩy phát triển bền vững cây cà phê của tỉnh Điện Biên 70

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75

1 Kết luận 75

2 Kiến nghị 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 80

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Diện tích, năng suất và sản lượng cà phê tỉnh Điện Biên giai đoạn

2011 - 2015 42 Bảng 3.2: Chi phí đầu tư kiến thiết cơ bản trồng 1ha cà phê 48 Bảng 3.3: Chi phí sản xuất bình quân 1 ha cà phê kinh doanh của hộ nông dân 52 Bảng 3.4: Kết quả và hiệu quả kinh tế của các hộ nông dân trồng cà phê (tính

BQ/1 ha) 53 Bảng 3.5 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các hộ thu gom cà phê (tính BQ/1

tấn cà phê tươi) 55 Bảng 3.6: Chi phí và lợi nhuận của Doanh nghiệp chế biến cà phê (tính BQ/

1 tấn cà phê tươi) 57 Bảng 3.7 Chi phí và lợi nhuận giữa doanh nghiệp chế biến cà phê so với các

hộ nông dân và hộ thu gom (tính BQ/1 tấn cà phê tươi) 58 Bảng 3.8 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các hộ bán buôn cà phê (tính BQ/1

tấn cà phê tươi) 60 Bảng 3.9 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các hộ bán lẻ cà phê (tính BQ/1

tấn cà phê nguyên liệu) 61 Bảng 3.10 Tổng hợp kết quả, hiệu quả kinh tế của các tác nhân tham gia

trong chuỗi giá trị (tính BQ/1 tấn cà phê nguyên liệu) 63 Bảng 3.11 Sự hình thành giá và giá trị gia tăng của các tác nhân theo kênh

tiêu thụ (Tính bình quân 1 tấn cà phê nguyên liệu) 65

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Chuỗi giá trị của Porter 12

Hình 1.2 Hệ thống giá trị 12

Hình 1.3 Mô hình liên kết bên ngoài của chuỗi giá trị 17

Hình 3.1 Vị trí của tỉnh Điện Biên 33

Hình 3.2: Diện tích, năng suất và sản lượng cà phê tỉnh Điện Biên giai đoạn 2011-2015 43

Hình 3.3 Sơ đồ chuỗi giá trị cà phê tại Điện Biên 45

Hình 3.4 Các kênh tiêu thụ chính của sản phẩm cà phê Điện Biên 46

Hình 3.5: Cơ cấu chi phí đầu tư kiến thiết cơ bản trồng 1ha cà phê 49

Hình 3.6 So sánh chi phí và lợi nhuận của Doanh nghiệp chế biến cà phê với các hộ trồng và thu gom cà phê 59

Hình 3.7 Hiệu quả kinh tế của các tác nhân trong chuỗi giá trị cà phê Điện Biên 64

Hình 3.8 Chuỗi giá trị gia tăng theo kênh tiêu thụ 66

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trên thế giới hiện nay có 75 nước trồng cà phê, trong đó có 51 nước xuất khẩu Đứng đầu thế giới về cả diện tích và sản lượng là Brazil, tiếp theo là Việt Nam và Côlômbia Diện tích, sản lượng cà phê trên toàn thế giới dao động ở mức 11,3-11,5 triệu ha và 6,7-8,0 triệu tấn, trong đó cà phê chè chiếm tới 70% diện tích Thị phần thương mại xuất nhập khẩu toàn cầu hàng năm khoảng 5,2-5,7 triệu tấn, trong đó các nước trồng cà phê tiêu thụ khoảng 1,6 triệu tấn, bằng 20-22% sản lượng, còn lại 80% là để xuất khẩu Giá cà phê xuất khẩu luôn có sự biến động lớn phụ thuộc vào thời tiết, chính sách dự trữ và lượng tồn kho của các

nước xuất nhập khẩu [12]

Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước

đang phát triển và chiếm tỷ lệ khá lớn trong kim ngạch thương mại thế giới

tương đương khoảng 60 tỷ USD/năm Tuy nhiên, thu nhập và lợi nhuận lại chủ yếu tập trung vào một số nhà đầu cơ, nhà chế biến và tiêu thụ trên thế giới Phần lớn các nước trồng cà phê là những nước chậm phát triển hoặc đang phát triển Ngành công nghiệp cà phê thế giới chứng kiến sự mất cân đối lớn ở tầm quốc tế giữa các tác nhân trong chuỗi ngành hàng này Tại nước ta sản xuất người nông dân nhận được lợi ích thiếu công bằng trong quá trình phân phối thu nhập, giá trị thặng dư trong chuỗi cà phê Khoảng cách ngày càng rộng hơn khi tính tỉ lệ thu nhập mà người sản xuất nhận được và tỉ lệ thu nhập của các tập đoàn xuyên quốc gia thống trị chuỗi các công đoạn buôn bán, sản xuất và bán lẻ ở các nước tiêu thụ Sự chi phối đến ngành công nghiệp chế biến cà phê bởi các yếu tố về điều kiện tự nhiên, hạn chế về nguồn lực lao động, cung vượt cầu, thiếu điều tiết và quyền lực kiểm soát ngành hàng của các tập đoàn chế biến

Điện Biên là một tỉnh miền núi thuộc vùng núi Tây bắc, có vị trí địa lý

quan trọng nối liền với các tình Sơn La, Lai Châu và các tỉnh trung du miền núi Bắc bộ Trong những năm đổi mới Điện Biên đã có nhiều bước phát triển mạnh

mẽ, song vẫn còn hết sức khó khăn do địa hình hiểm trở, chia cắt và có nền khí

Trang 12

hậu phức tạp khiến cho việc phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân gặp không ít khó khăn, nhất là đối với lĩnh vực nông - lâm nghiệp Để lựa chọn được cây trồng phù hợp, đưa vào sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao tại địa phương góp phần nâng cao mức sống của người dân, trong những năm gần đây, tình Điện Biên đã có những dự án đầu tư từ phía Nhà nước trồng thử nghiệm các loại cây trồng mới, trong đó có cây cà phê Sau thời gian triển khai thử nghiệm, tỉnh đã kết luận đây là cây trồng có tiềm năng vượt trội hơn cả Tới niên vụ 2014

- 2015, tổng diện tích cà phê của tỉnh Điện Biên đạt 4.222ha, trong đó có 1.500

ha đang cho thu hoạch Sản lượng thu hoạch đạt 5.411tấn cà phê nhân, trong đó riêng huyện Mường Ảng đóng góp 3.200 tấn cà phê nhân vào tổng sản lượng cà phê toàn tỉnh Năng suất cà phê bình quân của tỉnh đạt 2,5 tấn cà phê nhân/ha Ngày 25/6/2012, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên phê duyệt “Quy hoạch phát triển cây cà phê đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020” Theo quy hoạch này, diện tích cà phê dự kiến sẽ đạt 4.909 Ha vào năm 2015 và tăng lên 6.139 ha vào năm 2020 [20]

Mặc dù có tiềm năng lớn, song việc sản xuất kinh doanh loại cây cà phê trên địa bàn tỉnh còn có những khó khăn về vốn, kỹ thuật, nhân lực và sự liên kết giữa các tác nhân trong quá trình sản xuất cũng như chế biến, tiêu thụ sản phẩm của loại cây trồng tiềm năng này Xuất phát từ ý nghĩa kinh tế - xã hội của cây cà phê đối với đời sống đồng bào các dân tộc tỉnh Điện Biên và từ thực tiễn nói

trên, tôi quyết định chọn đề tài: "Nghiên cứu chuỗi giá trị cà phê tỉnh Điện Biên" để nghiên cứu với mong muốn góp phần công sức nhỏ bé giúp tỉnh Điên

Biên phát triển bền vững cho loại cây trồng tiềm năng này

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Luận giải được những vấn đề về chuỗi giá trị cả về phương diện lý luận

Trang 13

- Đề xuất được một số giải pháp tăng cường mối liên kết giữa các tác nhân

trong chuỗi giá trị nhằm thúc đẩy phát triển bền vững cây cà phê của tỉnh Điện Biên về mặt kinh tế, xã hội và môi trường

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học

Đề tài là thông tin cơ sở về đặc điểm, giá trị cây cà phê địa bàn tỉnh Điện Biên

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn tăng cường liên kết theo chiều ngang giữa các hộ trồng cà phê,

Luận văn nghiên cứu thành công có thể là công trình khoa học dùng để tham khảo cho lãnh đạo tỉnh Điện Biên, các sở, ban ngành thuộc tỉnh Điện Biên trong công tác phát triển cây cà phê nhằm xóa đói giảm nghèo tại địa phương

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Với sự nỗ lực của bản thân, kết hợp những kinh nghiệm, những kiến thức

đã được học tập, nghiên cứu từ các tài liệu của các tác giả khác nhau, đặc biệt

nhờ sự hướng dẫn của Người hướng dẫn khoa học, đề tài có ý nghĩa sau:

- Phân tích thực trạng chuỗi giá trị cây cà phê, và cho thấy giá trị cây cà phê trên địa bàn tỉnh Điện Biên trong giai đoạn 2011-2015 Qua việc sử dụng các phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu về chuối giá tị cây cà phê để minh họa về những kết quả đạt được cũng như hạn chế của hoạt động phát triển cây cà

phê trên địa bàn tỉnh Điện Biên

- Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao giá trị cây cà phê với mục tiêu đưa cây cà phê làm một trong những cây trồng hiệu quả đối với công tác xóa đói giảm nghèo, ngoài ra đảm bảo tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững của địa phương

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về chuỗi giá trị

1.1.1.1 Chuỗi sản xuất - cung ứng

Đây là khái niệm mới sử dụng trong kinh tế thị trường, với mục tiêu là sản

xuất hàng hóa theo ngành hàng Từ các quản điểm của các nhà kinh tế khác nhau, một chuỗi sản xuất được hiểu là tất cả các bên tham gia vào một hoạt động kinh tế có sử dụng các yếu tố đầu vào để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh và chuyển giao sản phẩm đó đến người tiêu dùng cuối cùng

Trong một chuỗi sản xuất - cung ứng thì dòng luân chuyển thông tin thường không phải là chủ yếu mà là mục tiêu chính hướng đến chi phí và giá Chiến lược sản xuất thường tập trung vào các sản phẩm, hàng hóa cơ bản Định hướng của chuỗi sản xuất - cung ứng chủ yếu là hướng tới sản phẩm đưa tới người tiêu dùng Vấn đề trọng tâm của chuỗi sản xuất chính là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp (về giá, về chất lượng) và kết cấu tổ chức trong chuỗi là

các tác nhân tham gia độc lập [1]

1.1.1.2 Chuỗi giá trị

Chuỗi giá trị hàng hóa là những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm

từ lúc còn là khái niệm khác nhau, đến khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng Một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động và có trách nhiệm tạo ra giá trị tối đa trong toàn chuỗi Chúng ta có thể hiểu theo hai nghĩa hẹp hoặc nghĩa rộng Theo nghĩa hẹp, chuỗi giá trị là một khối liên kết dọc hoặc một mạng liên kết giữa một số cá nhân, tổ chức kinh doanh độc lập trong một chuỗi sản xuất Hay nói một cách khác, một chuỗi giá trị gồm một số các hoạt động thực hiện trong một đơn vị sản xuất để sản xuất ra một sản phẩm nhất định Tất cả các hoạt động này tạo thành một chuỗi kết nối người sản xuất với người tiêu dùng, mặt khác mỗi hoạt động lại bổ sung giá trị cho sản phẩm cuối cũng

Trang 15

Nếu hiểu chuỗi giá trị theo nghĩa rộng thì đó là một phức hợp những hoạt

động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện để biến một nguyên liệu thô

thành thành phẩm được bán lẻ Kết quả của chuỗi có được khi sản phẩm đã được

bán cho người tiêu dùng cuối cùng [1]

Như vậy, khái niệm về chuỗi giá trị đã bao hàm cả tổ chức và điều phối, các chiến lược và quan hệ quyền lực của những người tham gia khác nhau trong chuỗi

1.1.1.3 Ngành hàng

Theo Vũ Đình Tôn và Fabre “Ngành hàng được coi là tập hợp các tác nhân kinh tế quy tụ trực tiếp vào việc tạo ra các sản phẩm cuối cùng Như vậy ngành hàng đã vạch ra sự kế tiếp của các hoạt động, xuất phát từ điểm ban đầu

đến điểm cuối cùng của một nguồn lực hay một sản phẩm trung gian, trải qua

nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chế biến để tạo ra một hay nhiều sản phẩm hoàn chỉnh ở mức độ người tiêu thụ”Nói cách khác “Ngành hàng là tập hợp những tác nhân kinh tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất, tiếp đó là gia công

sản phẩm, chế biến và đi đến một thị trường hoàn tất của các sản phẩm [18]

Nói chung, ngành hàng bao gồm toàn bộ các hoạt động được gắn kết chặt chẽ với nhau trong một quá trình từ sản xuất, vận chuyển, chế biến đến phân phối sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng Chúng ta thấy rằng ngành hàng là một chuỗi tác nghiệp, chuỗi các tác nhân và cũng là một chuỗi những thị trường, nó kéo theo những luồng vật chất và những bù đắp bằng giá trị tiền tệ

Trang 16

1.1.1.5 Sản phẩm

Trong một ngành hàng, mỗi tác nhân đều tạo ra sản phẩm riêng của mình, trừ những sản phẩm bán lẻ cuối cùng Sản phẩm của mọi tác nhân khác chưa phải là sản phẩm cuối cùng của ngành hàng mà chỉ là kết quả hoạt động kinh tế,

là đầu ra quá trình sản xuất của từng tác nhân Do tính chất phong phú về chủng loại các sản phẩm nên trong phân tích ngành hàng thường chỉ phân tích sự vận hành của các sản phẩm chính Sản phẩm của ngành hàng thường lấy tên sản phẩm của tác nhân đầu tiên [5]

1.1.2 Nội dung phân tích chuỗi giá trị ngành hàng

Nội dung phân tích chuỗi giá trị gồm 8 nội dung hay được gọi là công cụ dùng để phân tích Trong đó 4 công cụ đầu tiên được coi là “Công cụ cốt yếu” cần được thực hiện để đạt được phân tích tối thiểu về chuỗi giá trị Bốn công cụ tiếp theo là “Các công cụ nâng cao” có thể tiến hành để có một bức tranh tổng thể hơn về một số mặt của chuỗi giá trị [19]

1.1.2.1 Lựa chọn các chuỗi giá trị để nghiên cứu

Trước khi tiến hành phân tích chuỗi giá trị, chúng ta cần phải quyết định xem sẽ ưu tiên lựa chọn tiểu ngành nào, sản phẩm hay hàng hóa nào để phân tích Vì các nguồn lực để tiến hành nghiên cứu là hạn chế nên cần phải lập phương án nhất định để phân tích chuỗi giá trị

1.1.2.2 Lập sơ đồ chuỗi giá trị

Để hiểu được chuỗi giá trị mà chúng ta muốn phân tích, cần thiết phải sử

dụng các mô hình, bảng, biểu đồ, số liệu và các hình thức khác để mô tả các tác nhân, đặc điểm và kết quả tác động của từng tác nhân Việc sử dụng các sơ đồ vẽ các chuỗi giá trị giúp chúng ta dễ nhận thấy và dễ hiểu hơn trong quá trình nghiên cứu

1.1.2.3 Xác định chi phí và lợi nhuận

Sau khi lập sơ đồ chuỗi giá trị bước tiếp theo là nghiên cứu một số khía cạnh của chuỗi giá trị Có rất nhiều khía cạnh có thể được lựa chọn để nghiên cứu tiếp Nhưng xác định chi phí và lợi nhuận của một đối tượng tham gia trong

Trang 17

chuỗi giá trị có ý nghĩa hơn cả Có nghĩa là cần xác định chênh lệch của số tiền một người tham gia trong chuỗi bỏ ra và thu về

1.1.2.4 Phân tích công nghê, kiến thức

Công nghệ áp dụng trong sản xuất là nói đến công nghệ truyền thống (thường được phát triển bởi người sử dụng dựa trên kinh nghiệm), công nghệ cao (được hình thành thông qua nghiên cứu và phát triển mở rộng) Phân tích công nghệ và kiến thức nhằm phân tích tính hiệu quả và hiệu lực của công nghệ, kiến thức dùng trong chuỗi giá trị Trên cơ sở xác định loại hình công nghệ đang áp dụng so với những đòi hỏi công nghệ, kiến thức của chuỗi giá trị để thấy được mức độ hợp lý của công nghệ đang áp dụng Từ đó đưa ra những giải pháp cho

sự lựa chọn cải tiến nâng cấp công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu chất lượng của sản phẩm đầu ra, tiết kiệm chi phí và nâng cao thu nhập cho chuỗi giá trị

1.1.2.5 Phân tích thu nhập

Mục tiêu của phân tích thu nhập là: Phân tích tác động, phân bổ thu nhập trong và giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị theo cấp bậc Phân tích tác động của hệ thống quản trị chuỗi giá trị tới sự phân bổ thu nhập và giá sản phẩm cuối cùng Miêu tả sự đa dạng của thu nhập rủi ro thường gặp và các tác

động đến chuỗi giá trị

1.1.2.6 Phân tích việc làm

Mục đích của phân tích việc làm trong chuỗi giá trị nhằm: Phân tích tác

động của chuỗi giá trị tới việc phân bổ việc làm giữa các tác nhân tham gia

chuỗi Miêu tả sự phân bổ việc làm theo chuỗi giá trị, miêu tả sự năng động của việc lam dọc theo chuỗi giá trị Phân tích tác động của hệ thống quản trị khác nhau của chuỗi giá trị đến sự phân bổ việc làm Phân tích sự tác động của các chiến lược khác nhau của chuỗi giá trị lên sự phân bổ việc làm

1.1.2.7 Quản trị và dịch vụ

Việc phân tích quản trị và các dịch vụ nhằm: Phân tích các bên tham gia trong chuỗi giá trị phối hợp với các hoạt động của họ như thế nào thông qua các nguyên tắc chính thức và không chính thức Hiểu sự tuân thủ nguyên tắc được

Trang 18

giám sát như thế nào, phân tích những nhóm khác nhau của những người tham gia chuỗi giá trị nhận những hình thức hỗ trợ đầy đủ như thế nào để có thể giúp

họ đạt được các tiêu chuẩn yêu cầu Đánh giá tác động của các nguyên tắc tới các nhóm khác nhau

1.1.2.8 Sự liên kết giữa các tác nhân

Trong nghiên cứu chuỗi giá trị cần thiết miêu tả mối liên kết giữa những người tham gia trong chuỗi giá trị và mối liên kết của họ với các tác nhân ngoài chuỗi Miêu tả những cam kết, trách nhiệm và lợi ích giữa những người tham gia, sự áp dụng đối với sự phát triển chung của chuỗi

1.1.2.9 Ý nghĩa của phân tích chuỗi giá trị

Chuỗi giá trị có thể được phân tích từ góc độ của bất kỳ tác nhân nào trong số các tác nhân tham gia trong chuỗi Phép phân tích chuỗi thường được sử dụng cho các công ty, các doanh nghiệp hay cơ quan quản lý nhà nước Phân tích chuỗi giá trị thường được áp dụng trong sản xuất nông nghiệp mang các ý nghĩa sau đây:

- Thứ nhất: Phân tích chuỗi giá trị giúp lập sơ đồ một cách hệ thống các bên tham gia vào quá trình sản xuất, phân phối, tiếp thị và bán một (hoặc nhiều) sản phẩm cụ thể

- Thứ hai: Phân tích chuỗi giá trị có vai trò trung tâm trong xác định sự phân phối lợi ích của những bên tham gia trong chuỗi Điều này đặc biệt quan trọng đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ

- Thứ ba: Phân tích chuỗi giá trị có thể dùng để xác định vai trò của việc nâng cấp trong chuỗi giá trị Bằng cách áp dụng công nghệ, thay đổi tổ chức tham gia của các tác nhân trong chuỗi giúp cho nâng cao giá trị của sản phẩm hàng hóa tạo ra

- Thứ tư: Phân tích chuỗi giá trị có thể nhấn mạnh vai trò của quản trị trong chuỗi, giúp ích cho việc hoạch định chính sách, chiến lược để ngành hàng phát triển bền vững hơn

Trang 19

Như vậy, phân tích chuỗi giá trị có thể làm cơ sở cho việc hình thành các

dự án, chương trình hỗ trợ cho một chuỗi giá trị hoặc một số chuỗi giá trị nhằm

đạt được một số chuỗi kết quả phát triển mong muốn hay nó là động thái bắt đầu

một quá trình thay đổi chiến lược hoạt động sản xuất kinh doanh theo hướng ổn

định, bền vững

1.1.3 Các phương pháp phân tích chuỗi giá trị

Đã có rất nhiều nghiên cứu về chuỗi giá trị thành công và được ứng dụng

rộng rãi trong phân tích các chuỗi giá trị ngành hàng tại các quốc gia trên thế giới Trong đó có thể nhắc tới ba luông nghiên cứu chính về chuỗi giá trị đã xây dựng nên những phương pháp nghiên cứu mang tính hệ thống Các phương pháp phân tích này đã được áp dụng rộng rãi trong phân tích chuỗi giá trị không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp, trong phạm vi một công ty, một quốc gia mà còn

được dùng phân tích chuỗi giá trị, hệ thống chuỗi giá trị trên phạm vi toàn cầu

Các phương pháp phân tích chuỗi giá trị đó là: Phương pháp chuỗi, khung khái niệm do Porter lập ra (1995) và phương pháp chuỗi giá trị toàn cầu

1.1.3.1 Phương pháp chuỗi (Filière)

Phương pháp ‘filière’ (filière nghĩa là chuỗi, mạch) gồm các trường phái

tư duy và truyền thống nghiên cứu khác nhau Khởi đầu, phương pháp này được dung để phân tích hệ thống nông nghiệp của các nước đang phát triển trong hệ thống thuộc địa của Pháp Phân tích chủ yếu làm công cụ để nghiên cứu cách thức mà các hệ thống sản xuất nông nghiệp (đặc biệt là cao su, bong, cà phê và dừa) được tổ chức trong bối cảnh của các nước đang phát triển Trong bối cảnh này, khung filière chú trọng đặc biệt đến cách các hệ thống sản xuất địa phương

được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và khâu tiêu dùng

cuối cùng

Do đó, khái niệm chuỗi (filière) luôn bao hàm nhận thức kinh nghiệm thực tế được sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyển động của hàng hóa và xác định những người tham gia và các hoạt động Tính hợp lý của chuỗi (filière) hoàn toàn tương tự như khái niệm rộng về chuỗi giá trị trình bày ở trên Tuy nhiên,

Trang 20

khái niệm chuỗi chủ yếu tập trung vào các vấn đề của các mối quan hệ vật chất

và kỹ thuật định lượng, được tóm tắt trong sơ đồ dòng chảy của các hàng hóa và

sơ đồ mối quan hệ chuyển đổi

Phương pháp chuỗi có hai luồng có vài điểm chung với phân tích chuỗi giá trị: việc đánh giá chuỗi về mặt kinh tế và tài chính (được trình bày trong Duruflé, Fabre và Yung, 1988, và được sử dụng trong một số dự án phát triển do Pháp tài trợ trong thập niên 80 và 90) chú trọng vào vấn đề tạo thu nhập và phân phối trong chuỗi hàng hóa, và phân tách các chi phí và thu nhập giữa các thành phần được kinh doanh nội địa và quốc tế để phân tích sự ảnh hưởng của chuỗi

đến nền kinh tế quốc dân và sự đóng góp của nó vào GDP theo “phương pháp ảnh hưởng” (“méthode des effets”)

Phân tích có tính chất chú trọng vào chiến lược của phương pháp chuỗi,

được sử dụng nhiều nhất ở trường đại học Paris-Nanterre, một số viện nghiên

cứu như CIRAD và INRA và các tổ chức phi chính phủ như IRAM làm về phát triển nông nghiệp, nghiên cứu một cách có hệ thống sự tác động lẫn nhau của các mục tiêu, các cản trở và kết quả của mỗi bên có liên quan trong chuỗi; các chiến lược cá nhân và tập thể, cũng như các hình thái quy định mà Hugon (1985) đã xác định là có bốn loại liên quan đến chuỗi hàng hóa ở châu Phi được phân tích gồm: quy định trong nước, quy định về thị trường, quy định của nhà nước và quy

định kinh doanh nông nghiệp quốc tế Moustier và Leplaideur (1989) đã đưa ra

một khung phân tích về tổ chức chuỗi hàng hóa (lập sơ đồ, các chiến lược cá nhân và tập thể, và hiệu suất về mặt giá cả và tạo thu nhập, có tính đến vấn đề chuyên môn hóa của nông dân và thương nhân ngành thực phẩm so với chiến lược đa dạng hóa

1.1.3.2 Khung phân tích của Porter

Năm 1985 Porter đã dùng khung phân tích chuỗi giá trị để đánh giá xem một công ty nên tự định vị mình như thế nào trên thị trường và trong mối quan

hệ với các nhà cung cấp, khách hàng và đối thủ cạnh tranh khác Ý tưởng về lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể được tóm tắt như sau: một công ty

Trang 21

có thể cung cấp cho khách hàng một mặt hàng (hoặc dịch vụ) có giá trị tương

đương với đối thủ cạnh tranh của mình nhưng với chi phí thấp hơn (chiến lược

giảm chi phí) như thế nào? Cách khác là làm thế nào để một doanh nghiệp có thể sản xuất một mặt hàng mà khách hàng muốn mua với giá cao hơn (chiến lược tạo sự khác biệt)?

Trong bối cảnh này, khái niệm chuỗi giá trị được sử dụng như một khung khái niệm mà các doanh nghiệp có thể dùng để tìm ra các nguồn lợi thế cạnh tranh (thực tế và tiềm tàng) của mình Đặc biệt, Porter lập luận rằng các nguồn lợi thế cạnh tranh không thể tìm ra nếu nhìn vào công ty như một tổng thể Một công ty cần được phân tách thành một loạt các hoạt động và có thể tìm thấy lợi thế cạnh tranh trong một (hoặc nhiều hơn) những hoạt động đó Porter phân biệt giữa các hoạt động sơ cấp, trực tiếp góp phần tăng thêm giá trị cho sản xuất hàng hóa (hoặc dịch vụ) và các hoạt động hỗ trợ có ảnh hưởng gián tiếp đến giá trị cuối cùng của sản phẩm

Trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị không trùng với

ý tưởng về chuyển đổi vật chất Porter giới thiệu ý tưởng theo đó tính cạnh tranh của một công ty không chỉ liên quan đến quy trình sản xuất Tính cạnh tranh của doanh nghiệp có thể phân tích bằng cách xem xét chuỗi giá trị bao gồm thiết kế sản phẩm, mua vật tư đầu vào, hậu cần, hậu cần bên ngoài, tiếp thị, bán hàng, các dịch vụ hậu mãi và dịch vụ hỗ trợ như lập kế hoạch chiến lược, quản lý nguồn nhân lực, hoạt động nghiên cứu v.v

Do vậy, trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị chỉ áp dụng trong kinh doanh Kết quả là phân tích chuỗi giá trị chủ yếu nhằm hỗ trợ các quyết định quản lý và chiến lược điều hành Ví dụ như một phân tích về chuỗi giá trị của một siêu thị ở châu Âu có thể chỉ ra lợi thế cạnh tranh của siêu thị đó so với các đối thủ cạnh tranh là khả năng cung cấp rau quả giống nước ngoài Tìm ra nguồn lợi thế cạnh tranh là thông tin có giá trị cho các mục đích kinh doanh Tiếp theo những kết quả tìm được đó, doanh nghiệp kinh doanh siêu thị có lẽ sẽ tăng cường củng cố mối quan hệ với các nhà sản xuất hoa quả giống ngoại và chiến dịch quản cáo sẽ chú ý đặc biết đến những vấn đề này

Trang 22

Hình 1.1 Chuỗi giá trị của Porter

Một cách khác để tìm ra lợi thế cạnh cạnh là dựa vào khái niệm “hệ thống giá trị” Ý chính là: thay vì chỉ phân tích lợi thế cạnh tranh của một công ty duy nhất, có thể xem các hoạt động của công ty như một phần của một chuỗi các hoạt

động rộng hơn mà Porter gọi là “hệ thống giá trị” Một hệ thống giá trị bao gồm

các hoạt động do tất cả các công ty tham gia trong việc sản xuất một hàng hóa hoặc dịch vụ thực hiện, bắt đầu từ nguyên liệu thô đến phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng Vì vậy, khái niệm hệ thống giá trị rộng hơn so với khái niệm

“chuỗi giá trị của doanh nghiệp” và giống với khái niệm mà cuốn sách hướng dẫn này nói đến khi phân tích chuỗi giá trị (phương pháp rộng hơn) Tuy nhiên, cần chỉ ra rằng trong khung phân tích của Porter, khái niệm hệ thống giá trị chủ yếu là công cụ giúp quản lý điều hành đưa ra các quyết định có tính chất chiến lược

Hình 1.2 Hệ thống giá trị

1.1.3.3 Chuỗi giá trị toàn cầu

Trong những năm gần đây khái niệm các chuỗi giá trị được áp dụng để phân tích toàn cầu hóa Tài liệu này dùng khung phân tích chuỗi giá trị để tìm hiểu các cách thức mà các công ty và các quốc gia hội nhập toàn cầu và để đánh giá các yếu tố quyết định đến phân phối thu nhập toàn cầu

Chuỗi giá trị của nhà cung cấp

Chuỗi giá trị của công

ty

Chuỗi giá trị của người mua

Trang 23

Kaplinsky và Morris (2001) quan sát được rằng trong quá trình toàn cầu hóa, có nhận thức (trong phần lớn các trường hợp đều có minh chứng rõ ràng) rằng khoảng cách trong thu nhập trong và giữa các nước tăng lên Các tác giả này lập luận rằng phân tích chuỗi giá trị có thể giúp giải thích quá trình này, nhất

là trong một viễn cảnh năng động

Thứ nhất, bằng cách lập sơ đồ một loạt những hoạt động trong chuỗi, một phân tích chuỗi giá trị nhất trí phân tích tổng thu nhập của chuỗi giá trị thành những khoản mà các bên khác nhau trong chuỗi giá trị nhận được Phương pháp này sẽ được giới thiệu trong phần hai của cuốn sách hướng dẫn này Để hiểu

được sự phân phối thu nhập, phân tích chuỗi giá trị là cách duy nhất để có được

thông tin đó Các cách xem xét các hình thái phân phối toàn cầu khác chỉ cho biết một phần về các hiện tượng này Ví dụ như các số liệu thống kê thương mại chỉ cung cấp số liệu về doanh thu gộp chứ không phải là về doanh thu thuần, và các phân tích cụ thể về từng ngành (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) chỉ thể hiện được một phần của cả câu chuyện

Thứ hai là một phân tích chuỗi giá trị có thể làm sáng tỏ việc các công ty, vùng và quốc gia được kết nối với nền kinh tế toàn cầu như thế nào Cách phân tích lồng ghép này sẽ xác định ở mức độ rộng hơn các kết quả phân phối của các

hệ thống sản xuất toàn cầu và năng suất mà các nhà sản xuất cá thể phải nâng cao hoạt động và do đó tự đặt mình vào con đường tăng trưởng thu nhập bền vững

Trong khuôn khổ chuỗi giá trị, các mối quan hệ thương mại quốc tế được coi là một phần của các mạng lưới những nhà sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu và bán lẻ, trong đó tri thức và quan hệ được phát triển để tiếp cận được các thị trường và các nhà cung cấp Trong bối cảnh này, sự thành công của các nước

đang phát triển và của những người tham gia thị trường ở các nước đang phát

triển phụ thuộc vào khả năng tiếp cận các mạng lưới này

1.1.3.4 Sử dụng khái niệm "chuỗi giá trị" của Kaplinsky trong nghiên cứu nông sản

Vào năm 1994, Gereffi đã đưa ra một quan điểm về nghiên cứu chuỗi giá trị, theo đó chuỗi giá trị được đặc trưng bởi một nhóm hoặc một số nhóm người giữ vai trò quyết định toàn bộ đến sự vận động và phát triển của chuỗi giá trị

Trang 24

Ông đã nhấn mạnh đến sự phối hợp của các hệ thống sản xuất và phân phối phân tán trên thị trường của từng nền kinh tế, đồng thời cũng cho thấy được sự kết nối của nó với thị trường thế giới như thế nào Và đến năm 1999, một khái niệm cụ thể và phù hợp hơn trong nghiên cứu nông sản đã được Kaplinsky đưa ra, đó là:

"Chuỗi giá trị (value chain) mô tả tổng thể các hoạt động cần thiết để đưa sản phẩm hay dịch vụ từ ý tưởng, thông qua trung gian sản xuất, đưa tới người tiêu

dùng cuối cùng và loại bỏ sau khi sử dụng" [24]

Khái niệm này có thể được hiểu theo hai cách khác nhau:

- Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì chuỗi giá trị là một loạt các hoạt động thực hiện trong một đơn vị sản xuất (công ty, doanh nghiệp…) để sản xuất ra một sản phẩm nhất định Tất cả những hoạt động này tạo thành một chuỗi kết nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng

- Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng thì nó là tập hợp của những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện như: người sản xuất, chế biến, thu gom, chủ buôn, người cung cấp dịch vụ, người bán lẻ… để biến một nguyên liệu thô thành thành phẩm được người tiêu dùng sử dụng

Khái niệm chuỗi giá trị này sẽ bao gồm cả các vấn đề về tổ chức, điều phối, các chiến lược và quan hệ của những người tham gia vào chuỗi, ngoài ra

đó còn cả các vấn đề liên quan đến các khía cạnh xã hội (quan hệ cộng đồng,

thói quen và quan điểm sản xuất, tiêu dùng của người dân,…) và môi trường (thoái hóa đất đai, ô nhiễm nước, đa dạng sinh học,…)

Trong 5 năm trở lại đây, khái niệm này đã được sử dụng khá nhiều ở Việt nam với sự tham gia của các tổ chức NGOs, một số Viện nghiên cứu… Đặc biệt

là nó được vận dụng vào trong quá trình nghiên cứu chuỗi giá trị nông sản nhằm

đánh giá những tác động đến người nghèo và đạt đến các giải pháp để tăng thu

nhập của người nghèo, vì thế người nghèo là chủ thể của các hoạt động hỗ trợ trong chuỗi giá trị

Khái niệm chuỗi giá trị chủ yếu quan tâm đến liến kết, phân phối giá trị theo chiều dọc, từ đó xác định giá trị, lợi ích thu được của từng tác nhân trong

Trang 25

ngành hàng Những hạn chế của tiếp cận này là các yếu tố thể chế, xã hội, lãnh thổ, chính sách ít được quan tâm so với phương pháp commodity chain (filiere)

1.1.3.5 Chuỗi giá trị của nông sản

Chuỗi giá trị của bất kỳ một sản phẩm nông nghiệp nào cũng bao gồm tất

cả các khâu từ sản xuất tới tiêu dùng đảm bảo để cho một loại nông sản đó có thị trường ổn định, có khả năng phát triển bền vững và có giá trị gia tăng cao, mang lại lợi nhuận tối đa cho tất cả mọi khâu, mọi thành viên tham gia trong chuỗi giá trị của sản phẩm Tuy nhiên không phải loại sản phẩm hoặc phân khúc sản phẩm nào cũng có thể quản trị theo lý thuyết chuỗi mà chỉ nhấn mạnh vào việc tạo ra những sản phẩm dịch vụ theo nhu cầu của người tiêu dùng thay vì sản xuất những gì có thể Thêm vào đó, điểm khác biệt của chuỗi giá trị là việc các tác nhân trong chuỗi phải cùng nhau chuyển từ trạng thái cạnh tranh lẫn nhau sang cùng hợp tác, có chung tầm nhìn, chung chiến lược và mục tiêu, cùng chia sẻ lợi nhuận và rủi ro

Một chuỗi giá trị được hình thành không phải để đáp ứng nhu cầu của mọi người tiêu dùng ở tất cả các phân khúc thị trường mà là để đáp ứng nhu cầu của một bộ phận người tiêu dùng với những yêu cầu cụ thể (Thí dụ: không thể tổ chức một chuỗi giá trị ngành hàng thịt chung chung vì có nhiều loại thịt trên thị trường: lợn ngoại, lợn nội, lợn nuôi công nghiệp, lợn nuôi hoang dã, lợn nhiều nạc, lợn nhiều mỡ và mỗi loại có giá trị và giá bán khác nhau tới người tiêu dùng, trong khi hoàn toàn có thể tổ chức theo chuỗi ngành hàng lợn đen, bò Mông, gà lông màu thả vườn vì những sản phẩm này có giá trị đặc sản và đáp ứng được nhu cầu cụ thể của bộ phận khách hàng có thu nhập cao hoặc có thị hiếu tiêu dùng riêng, họ chấp nhận một giá cả hàng hóa mang tính “riêng” nên lợi cho người sản

xuất, nhất là ở vùng cao còn nhiều khó khăn hoặc với người nghèo)

Việc phát triển chuỗi giá trị hàng hóa nông sản cần dựa trên việc lựa chọn cẩn thận các ngành hàng và việc sản xuất liên quan, thông qua hệ thống chế biến

và tiếp thị mà có thể tạo ra việc làm cho người nghèo Mỗi vùng nên chọn sản phẩm có giá trị kinh tế cao, khuyến khích và quản lí rủi ro cho sự tham gia của

người nghèo từ trang trại ra thị trường, hợp đồng tiêu thụ sản phẩm; tiếp cận các

Trang 26

dịch vụ tài chính (tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm); phát triển kỹ năng cho các hoạt động kinh doanh phi nông nghiệp (như chế biến, tiếp thị, du lịch); nâng cao cơ

sở hạ tầng cộng đồng, kết nối thị trường với cơ sở hạ tầng quốc gia và nâng cao

khả năng kết nối với địa bàn xa thị trường; phát huy những sáng kiến để phổ biến

và ứng dụng công nghệ phù hợp đem đến năng suất cao trong chăn nuôi, trồng trọt, sản xuất lâm nghiệp, và các hoạt động bảo quản, chế biến sau thu hoạch cũng như các hoạt động kinh doanh khác đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng

Tổ chức liên kết nông dân với người kinh doanh, chế biến, buôn bán dọc theo chuỗi giá trị sẽ mang đến cơ hội kinh tế quan trọng cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp, giúp nhiều gia đình nghèo thoát nghèo vì duy trì được sản xuất bền vững

Việc tổ chức sản xuất các loại nông sản theo chuỗi có vai trò lớn, vì nó:

- Nâng cao lợi ích và sự bền vững của các tác nhân tham gia vào quá trình hình thành và phát triển chuỗi giá trị, đặc biệt, tổ chức sản xuất theo chuỗi còn là vấn đề sinh kế cho nông dân nghèo, người sản xuất nhỏ thuộc vùng khó khăn

- Từ các kết quả của chuỗi giá trị góp phần khuyến nghị với địa phương, trung ương về chính sách trong phát triển sản phẩm theo hướng chất lượng và

bền vững [21]

1.1.4 Các hoạt động liên kết của chuỗi giá trị

Mối liên kết bên trong chuỗi giá trị:

Các hoạt động liên kết với nhau bởi:

- Phương pháp thực hiện: Các hoạt động có mối liên kết với nhau bởi phương pháp thực hiện Đầu ra của hoạt động này là đầu vào của hoạt động kia

- Chi phí thực hiện: Cách thức hoạt động tạo ra chi phí khác nhau, việc tăng khối lượng ở hoạt động A làm giảm khối lượng ở hoạt động B nhưng sẽ làm tăng chi phí tại A và giảm chi phí tại B

Ví dụ việc kiểm tra nguyên liệu đầu vào cẩn thận sẽ giảm chi phí tạo ra sản phẩm không đảm bảo tiêu chuẩn ở khâu sản xuất nhưng lại tăng chi phí cho việc kiểm tra Việc kiểm tra hàng ra khỏi kho cẩn thận sẽ giảm chi phí hàng trả lại nhưng lại làm tăng chi phí cho việc kiểm tra

Trang 27

Mối liên kết có thể giữa các hoạt động sơ cấp mà cũng có thể giữa hoạt

động sơ cấp và hoạt động hỗ trợ Ví dụ phòng nhân sự tuyển dụng được nhân lực

tốt sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động sơ cấp Hệ thống công nghệ thông tin hiện đại sẽ hỗ trợ việc phối hợp giữa các hoạt động được tốt hơn

Mối liên kết bên ngoài chuỗi giá trị:

Hình 1.3 Mô hình liên kết bên ngoài của chuỗi giá trị

Nhà cung cấp, đại lý, khách hàng đều có chuỗi giá trị của riêng họ Mỗi hoạt động của chuỗi giá trị doanh nghiệp sẽ liên kết với hoạt động của các chuỗi còn lại Ví dụ nếu như khách hàng tự vận chuyển hàng về nhà thì doanh nghiệp

sẽ không có hoạt động vận chuyển tới khách hàng

Nếu như nhà cung cấp vận chuyển nguyên liệu tới tận doanh nghiệp thì ở các khâu quản lý đầu vào của doanh nghiệp sẽ không phải lo tới vận chuyển, hạn chế rủi ro trong quá trình vận chuyển

Nếu như nguyên liệu đầu ra của nhà cung cấp được kiểm tra kỹ lưỡng thì phần quản lý đầu vào của doanh nghiệp đỡ chi phí kiểm tra, giảm thiểu chi phí

xử lý sản phẩm không đảm bảo chất lượng

Lợi thế cạnh tranh không chỉ đến từ mối liên kết bên trong mà cũng có thể

đến từ bên ngoài

Mối liên kết trong chuỗi giá trị nông sản:

Theo các chuyên gia nông nghiệp, trong chuỗi giá trị của các ngành hàng nông sản hiện có 2 hình thức liên kết đặc trưng Đó là liên kết các đối tượng cùng tham gia trong quá trình sản xuất kinh doanh (liên kết ngang) và liên kết theo đường

đi của sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng (hay mối liên kết dọc)

- Liên kết ngang giữa những người sản xuất kinh doanh nông sản:

Xét trên bình diện quốc gia hay ở mỗi địa phương, để có thể cạnh tranh trên thị trường nông sản rất cần phải có khối lượng hàng hóa lớn, chất lượng cao,

Chuỗi giá trị

của nhà cung

cấp

Chuỗi giá trị của doanh nghiệp

Chuỗi giá trị của kênh phân phối

Chuỗi giá trị của khách hàng

Trang 28

đạt tiêu chuẩn nội địa hoặc quốc tế; giao hàng đúng lúc, giá thành cạnh tranh Hộ

nông dân cá thể không thể làm được điều này Các hộ nông dân phải có được sự thống nhất cao, có được "hành động tập thể" để thực hiện quy trình sản xuất chung theo từng cánh đồng lớn, từng trang trại với quy mô đủ lớn hoặc vùng chăn nuôi gồm nhiều hộ nông dân với quy mô đủ lớn/hộ để có sản phẩm chăn nuôi hàng hóa Quy trình sản xuất, thu hoạch, bảo quản và hoạt động thương mại của nông dân được thiết lập trên cơ sở yêu cầu của doanh nghiệp, của thị trường

về khối lượng cung ứng, chất lượng hàng hóa, mẫu mã, khối lượng đóng gói…

Đây chính là các yếu tố để nông dân xây dựng hành động tập thể Hàng hóa nông

sản cần được xác định rõ về số lượng, chất lượng đối với từng thị trường để làm

cơ sở xây dựng kế hoạch cung ứng; xác định rõ chất lượng và số lượng sản phẩm nông sản trong sản xuất Yêu cầu chất lượng nông sản đặt ra trên thị trường phải làm căn cứ cơ bản để xây dựng quy trình kỹ thuật cho các mô hình liên kết Sự liên kết ngang của nông dân cần phải được tổ chức sao cho cung ứng đủ nguyên liệu cho hoạt động của doanh nghiệp

Về hình thức liên kết: Nông dân phải được liên kết lại bằng cách vào đơn

vị kinh tế tập thể dạng HTX, tổ hợp tác, nhóm sở thích Hình thành tốt được sự liên kết ngang của nông dân trong sản xuất chính là đã hình thành được “động lực đẩy” với dòng sản phẩm nông sản ra thị trường tới tay người tiêu dùng, là

điều kiện cần của sự liên kết trong bài toán chuỗi giá trị nông sản Tuy nhiên,

dấu ấn của mô hình kinh tế HTX trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước kia vẫn còn đọng lại trong nông dân với những ấn tượng thiếu thiện cảm nên họ không dễ tin vào mô hình liên kết mới

Cũng cần phải kể đến một nguyên nhân làm cho nông dân thiếu niềm tin vào các hình thức liên kết trên là: sự tham mưu cho lãnh đạo để triển khai đầy đủ các nhiệm vụ quản lý nhà nước về kinh tế tập thể của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành chưa được chủ động để hấp dẫn được nông dân Một bộ phận cán

bộ quản lý nhà nước về kinh tế tập thể trong nông nghiệp yếu về năng lực và trình độ nên chất lượng tham mưu hạn chế Bên cạnh đó, ở nhiều nơi, chính quyền chưa thực sự quan tâm đúng mức tới lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế

Trang 29

tập thể Sự phối hợp của các ngành, các cấp, các đoàn thể ở địa phương trong việc hướng dẫn, hỗ trợ kinh tế tập thể thiếu chặt chẽ…

- Liên kết dọc theo đường đi của sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng:

Điều kiện đủ của bài toán chuỗi giá trị nông sản là phải tạo được “động lực

kéo” mà hoạt động cơ bản nhất là xây dựng được liên kết dọc giữa nông dân với doanh nghiệp (cả doanh nghiệp cung ứng vật tư đầu vào và chế biến, tiêu thụ đầu ra) Việc xây dựng mối liên kết dọc về thực chất là xây dựng kênh tiêu thụ mới ngắn hơn, tiếp cận nhanh giữa sản xuất với tiêu dùng thông qua loại bỏ bớt tác nhân trung gian giữa người sản xuất và doanh nghiệp Nếu không có liên kết này, việc tổ chức sản xuất thông qua liên kết ngang không đạt được lợi ích như mong muốn Hiện tại, nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong cả nước mới dừng lại ở việc gom nông sản thô, hoặc sơ chế đóng gói Vì thế, ngay bản thân các doanh nghiệp cũng không tiếp cận tới được người tiêu dùng thông qua thương hiệu của mình cho nên kinh doanh của doanh nghiệp chỉ mang tính thời vụ, không ổn định

Để xây dựng liên kết dọc có hiệu quả, cần ưu tiên chọn các doanh nghiệp đầu tư

trong chuỗi giá trị phải là những doanh nghiệp có khả năng chế biến sâu, thu mua hoặc bán sản phẩm trực tiếp, có thương hiệu đến người tiêu dùng thông qua các hệ thống phân phối trong và ngoài nước; hoặc liên kết với những doanh nghiệp chứng minh được họ đã liên kết, là một phần hữu cơ của một chuỗi hàng hóa nào

đó trong các khía cạnh về chất lượng, thương hiệu, rủi ro…

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Tình hình nghiên cứu chuỗi giá trị trên thế giới

Trên thế giới người ta đã áp dụng lý thuyết chuỗi giá trị vào việc nghiên cứu các sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nhằm nâng cao tính cạnh tranh của các sản phẩm và cải thiện giá trị gia tăng cho các sản phẩm cũng như

đem lại lợi nhuận nhiều hơn cho các bên tham gia

Trong thập niên 80 và 90 trên thế giới người ta quan tâm nhiều đến chuỗi giá trị, đặc biệt là quản lý chuỗi cung cấp Nguyên tắc cơ bản của chuỗi giá trị trong giai đoạn này rất đơn giản và dễ hiểu đó là chuỗi giá trị quan tâm

Trang 30

đến việc chia sẻ thông tin giữa các bên tham gia để giảm chi phí về mặt thời

gian, giảm giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả trong việc đáp ứng nhu cầu của

khách hàng và tăng giá trị cho sản phẩm đó [23]

Fearne và Hughes (1998) cũng đã phân tích được những ưu điểm và nhược điểm của việc áp dụng chuỗi giá trị:

Ưu điểm: Giảm mức độ phức tạp trong mua và bán; Giảm chi phí và tăng

chất lượng sản phẩm; Giảm thời gian tìm kiếm những nhà cung cấp mới;Cùng nhau thực thi kế hoạch và chia sẻ thông tin dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau; Giá cả đầu vào ổn định

Nhược điểm: Tăng sự phụ thuộc giữa các bên tham gia chuỗi; Giảm sự canh tranh giữa người mua/người bán; Phát sinh những chi phí mới trong chuỗi;

Eaton và Shepherd (2001) đã có một nghiên cứu về chuỗi giá trị ngành chè tại Kenya và cacao tại Indonesia, nghiên cứu này tập trung vào vấn đề chuỗi giá trị và giải pháp sinh kế bền vững, tác giả đã chỉ ra được những vấn

đề mà chuỗi giá trị ngành chè Kenya, chuỗi giá trị ngành Cacao Indonesia

gặp phải và những vấn đề liên quan đến sinh kế của những người sản xuất nhỏ, những người dễ bị tổn thương Những nghiên cứu về cấu trúc thị trường, những kênh tiêu thụ trong chuỗi giá trị, mối quan hệ tương tác giữa những chuỗi giá trị đó Điều quan tâm của nghiên cứu này là những “mối quan hệ” giữa các tác nhân, những tác động của hộp P.I.P (Policies, Institutions, Processes) và khung sinh kế bền vững SLF (sustainable livelihood framwork) đến những người nắm giữ những tư liệu sản xuất nhỏ

và những người làm thuê Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, với các nước chậm phát triển như Kenya và Indonesia, chuỗi giá trị hoạt động chưa được tốt, nghĩa là các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị chưa có những mối quan

hệ ràng buộc, giá trị gia tăng trong chuỗi còn thấp, đặc biệt người sản xuất là những người hưởng lợi nhuận thấp nhất Chính vì chưa có mối quan hệ ràng buộc nên những tác nhân đóng vai trò chủ đạo trong chuỗi thường là đối tượng hưởng lợi nhuận nhiều nhất và sẵn sàng rời bỏ chuỗi này để chuyển sang chuỗi mới có lợi nhuận cao hơn

Trang 31

Trong báo cáo của FAO về chuỗi giá trị ngành khoai tây năm 2008 đã đề cập đến vấn đề làm thế nào để tăng sự bền vững của chuỗi giá trị của ngành hàng Họ đã chỉ ra được vấn đề đang gặp phải ở các nước đang phát triển như: Khoai tây thường được bán phân tán với những phân đoạn thị trường nhỏ lẻ và ít

có sự liên kết, phối hợp và thiếu những thông tin về thị trường, điều này đang gây ra sự chia rẽ các mối quan hệ trong chuỗi Giá cả đầu vào tăng cao đang gây

ra sự “e dè” trong đầu tư sản xuất của các hộ nông dân có quy mô sản xuất nhỏ

lẻ Hậu quả là họ đang bị loại dần ra khỏi thị trường và không tham gia được vào chuỗi giá trị Vấn đề quan trọng đặt ra cho chuỗi giá trị ở các nước này là cần một nền sản xuất bền vững, với chất lượng sản phẩm tốt và sự hỗ trợ về các vật

tư đầu vào cùng với sự phối hợp hành động trong chuỗi

1.2.2 Tình hình nghiên cứu về chuỗi giá trị của cây cà phê

Các nghiên cứu gần đây cho rằng "giá cả cà phê quốc tế giảm 2/3 từ năm

1997 và không mong đợi sự hồi phục nào đáng kể sớm hơn" Trong khi giá cà phê nhân ở mức thấp trên thị trường thế giới, các nông dân trồng cà phê nhỏ lẻ phải đối mặt với đời sống ngày càng đi xuống và thường không đủ khả năng nuôi sống gia đình và bản thân Salla cho rằng đầu tư trong ngành công nghiệp

cà phê giúp cải thiện chất lượng, quy trình sản xuất và cung ứng cà phê Indonesia tại địa phương, trong khu vực và trên thị trường quốc tế Điều này có thể đạt đươc thông qua việc áp dụng và triển khai thưc hiện chuỗi cung ứng toàn cầu đã được xác định trên cơ sở lý thuyết Ngoài ra, các đề xuất và khung lý thuyết này cũng có thể được áp dụng cho các ngành cà phê tại nước đang phát triển cùng chung bối cảnh với Indonesia, giúp phát huy lợi thế cạnh tranh cho các ngành này Đề cập khác đến các nước trồng cà phê nỗ lực sát nhập và mở rộng kiểm soát đối với các giai đoạn chế biến có giá trị tăng thêm cao hơn trong chuỗi Trong khi đó các tập đoàn xuyên quốc gia lại sát nhập theo chiều hướng ngược lại bằng cách đặt các nhà máy gần nguồn cung cấp cà phê nhân Kết quả

là các quốc gia sản xuất cà phê có lợi ích hạn chế, thành công của chiến lược sát nhập bị hạn chế bởi “chi phí quảng cáo thương hiệu và kênh phân phối do các

Trang 32

tập đoàn xuyên quốc gia điều phối” Vì vậy có thể nói các lợi ích tiềm năng đối với việc nâng cấp ngành công nghiệp cà phê phụ thuộc vào tính kinh tế và sinh thái của cà phê

Lê Huy Khôi đã làm rõ sự phát triển của ngành cà phê Việt Nam trong thời gian qua còn chứa đựng những yếu tố kém bền vững như: chủ yếu là xuất khẩu cà phê nhân, cà phê chế biến và thương hiệu còn thấp, giá trị của cà phê nhân xuất khẩu thấp, không chú trọng đến chất lượng và tính lâu dài của sản phẩm Tỉ lệ tiêu dùng cà phê ở trong nước vẫn ở mức thấp Do vậy, giá trị giá tăng của cà phê Việt Nam hiện nay còn rất thấp, chủ yếu được tạo ra ở khâu sản xuất và xuất khẩu cà phê nhân, còn những khâu nghiên cứu - triển khai, xuất khẩu cà phê tinh chế, phân phối và xây dựng thương hiệu là những khâu tạo ra giá trị gia tăng cao thì chúng ta lại chưa khai thác được Qua đó tác giả đã đưa ra các giải pháp để phát triển ngành cà phê Việt Nam một cách bền vững và khai

thác triệt để giá trị gia tăng của mặt hàng cà phê [12]

Cần có nghiên cứu sâu hơn tập trung vào thành phần sản xuất trong ngành công nghiệp cà phê Các nghiên cứu lưu ý rằng có hơn 90% sản lượng được sản xuất ở các nước đang phát triển, trong khi lượng tiêu thụ tập trung chủ yếu ở các nền kinh tế công nghiệp Do phần lớn lực lượng lao động trong sản xuất cà phê

đều không có kỹ năng chuyên môn, nên các nước đang phát triển chưa tham gia

sâu vào công đoạn này trong chuỗi hàng hàng hoá Các nghiên cứu gần đây đề cập và phân tích về đời sống ngày càng đi xuống của người sản xuất cà phê ở các quốc gia đang phát triển trên thế giới

- Cạnh tranh của ngành cà phê: Cục Trồng trọt nhận định sản phẩm cà phê robusta Việt Nam có khả năng cạnh tranh chủ yếu dựa trên 4 yếu tố chính: (1) giá lao động rẻ, góp phần làm giảm giá thành sản phẩm; (2) năng suất cao nhờ

điều kiện tự nhiên thuận lợi và sử dụng nhiều phân bón, nước tưới; (3) lợi thế về

khoảng cách vận chuyển, các vùng xuất khẩu cà phê chính của Việt Nam đều gần các cảng xuất khẩu; (4) hệ thống chính sách của nhà nước đối với ngành cà phê thông thoáng so với các nước khác

Trang 33

Đỗ Thị Nga (2010) khi nghiên cứu chuỗi thị trường sản phẩm cà phê ở

Đắk Lắk đã xây dựng khung phân tích lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân

của các tổ chức kinh tế ở tỉnh Đắk Lắk Theo đó, lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân được phân tích ở bốn khía cạnh, đó là: hiệu quả, chất lượng sản phẩm, thị phần và khả năng đáp ứng cầu Qua phân tích cho thấy cà phê Đắk Lắk có lợi thế cạnh tranh về năng suất, giá thành, thị phần và kém lợi thế cạnh tranh ở chất lượng sản phẩm và năng lực đáp ứng cầu thấp

- Nguyên liệu trong lĩnh vực chế biến cà phê: Salla cho rằng ảnh hưởng giống và phương pháp chế biến đến chất lượng cà phê Xác định giống cà phê, môi trường canh tác và phương pháp chế biến tác động đến chất lượng cà phê Sản phẩm cà phê bền vững cần hướng đến chất lượng có sự lựa chọn giống tốt,

địa điểm trồng và đồng thời phương pháp chế biến tốt sau thu hoạch

Van der Vossen đề cập đến cà phê hữu cơ, xem cà phê hữu cơ là cách

thức áp dụng tốt nhất cho sản xuất và sau thu hoạch Trong “Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp tiết kiệm chi phí đầu vào đối với cây cà phê ở Tây Nguyên”(2012) tác giả Trương Hồng đề cập đến hình thức tổ chức sản xuất cà

phê nguyên liệu, các tiêu chuẩn cà phê nguyên liệu, cơ chế chính sách, các nhân

tố tác động đến chất lượng cà phê Nghiên cứu đã xây dựng hệ thống công cụ quản lý và các chỉ tiêu đánh giá, giám sát từ khâu đầu vào (trồng, chăm sóc, giống) đến đầu ra (sản phẩm cà phê thu hoạch, chế biến) được xem là hệ thống các chỉ tiêu giám sát đánh giá trong quá trình thực hiện chuỗi giá trị Tác giả đề xuất các giải pháp tác động về tổ chức sản xuất, quản lý chất lượng, cơ chế, chính sách đối với sản xuất cà phê chất lượng cao cho vùng Tây Nguyên

Trần Đức Thuận đã kết hợp sử dụng các phương pháp phân tích truyền thống và hiện đại để đánh giá, phân tích các các yếu tố ảnh hưởng cơ bản đến năng suất, sản lượng và cung cà phê nhân tại Tây Nguyên trong ngắn hạn và trong dài hạn Chỉ ra được hệ số co giãn của cung cà phê nhân đối với giá trong dài hạn giao động từ 0,6 đến 0,86 (co giãn ít) Cung cà phê nhân chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố cơ bản bao gồm: điều kiện tự nhiên, giá cả cà phê, quy hoạch

Trang 34

vùng sản xuất, quy mô sản xuất hộ, tổ chức sản xuất cà phê, nguồn nhân lực, vốn sản xuất và tín dụng, quy trình kỹ thuật sản xuất - chế biến, đầu tư công và dịch

vụ công Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp chủ yếu, bao gồm: giải pháp sử dụng hợp lý điều kiện tự nhiên, hoàn thiện các chính sách liên quan đến giá cà phê nhân, giải pháp quy hoạch sản xuất, quy mô hộ sản xuất và

tổ chức sản xuất, tăng cường nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường vốn và mở rộng dịch vụ tín dụng, cải tiến quy trình kỹ thuật sản xuất và nâng cao năng lực chế biến, tăng cường và nâng cao chất lượng đầu tư công, dịch vụ công

và đầu tư tư nhân

Trung tâm khuyến nông quốc gia cho rằng nguyên liệu cà phê chè quả tươi của các cơ sở chế biến tập trung nhìn chung có phẩm chất thấp, đánh giá ngành công nghiệp trong nước có thể chế tạo được dây chuyền, thiết bị cho chế biến cà phê

Cục Chế biến nông lâm sản và nghề muối đưa ra một số kết luận sau: cần

ổn định sản lượng và chất lượng cà phê, chất lượng cà phê hiện nay còn kém so

với thế giới và với tiềm năng của chính nó Với năng lực của khu vực chế biến tập trung và phân tán có thể chế biến được 700.000 - 800.000 tấn/năm, trước mắt cần đẩy mạnh cơ giới hóa khu vực chế biến phân tán, các doanh nghiệp nên chú

trọng đến dây chuyền chế biến ướt cà phê Trần Thị Quỳnh Chi 2010 “Nghiên cứu cơ sở khoa học thành lập HTX và hiệp hội người sản xuất cà phê Việt Nam- 2010” cho rằng các yếu tố đầu vào trong sản xuất cà phê nguyên liệu đang gặp

nhiều khó khăn Nguồn nước trong sản xuất cà phê đang bị khai thác quá mức, giá nhiên liệu gia tăng làm cho chi phí tưới nước ngày càng trở nên tốn kém Giá phân bón và thuốc trừ sâu cũng đang gia tăng trong những năm gần đây làm cho chi phí sản xuất cà phê tăng mạnh, các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật cho người sản xuất cà phê tuy đã được cải thiện song không phải lúc nào cũng đáp ứng được

đúng yêu cầu, đúng đối tượng

- Phát triển cà phê bền vững: Giovannucci và Ponte trong “Standards and Sustainability in the Coffee Sector” đưa ra sáng kiến bền vững trong công nghiệp

Trang 35

cà phê, nghiên cứu các chỉ tiêu của chuẩn cà phê bền vững Hầu hết chất lượng

và thủ tục chứng chỉ về cà phê bền vững thiếu sự minh bạch, rõ ràng Van Wesel nghiên cứu tính kinh tế của sản phẩm cà phề bền vững tại Costa Rica, nghiên cứu tính điểm cho mức độ bền vững kết hợp với chế biến sản phẩm, cho rằng bền vững không có liên quan đến chi phí lao động cao hơn trên đơn vị héc ta Tucker Waud nhấn mạnh đến vai trò của các hợp tác xã ở các nước sản xuất cà phê là chìa khoá giúp tìm ra phương pháp mới cho việc nâng cấp ngành công nghiệp cà phê Feuerstein nghiên cứu mối quan hệ giữa chi phí và giá của cà phê rang tại Đức, phân tích thực tế chỉ ra rằng tăng chi phí không làm tăng lợi nhuận Nguyễn Xuân Trình cho rằng tác động của hội nhập kinh tế quốc tế sẽ làm cho toàn bộ quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm dịch chuyển từ phương thức sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường, hướng vào xuất khẩu, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm Hiện nay chủng loại sản phẩm cà phê chế biến còn ít, chưa phong phú đa dạng, chưa theo kịp nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, đặc biệt là thị trường cao cấp và những người có thu cao Nghiên cứu đề cập đến chất lượng và giá thành là hai yếu tố tạo sức cạnh tranh quan trọng mà các tác nhân tham gia sản xuất, chế biến

và tiêu thụ phải lưu ý

Một số nghiên cứu khác cho thấy tăng trưởng xuất khẩu cà phê Việt Nam chủ yếu dựa vào lượng, đã chạm ngưỡng giới hạn về sản xuất Xuất khẩu cà phê nhân đang gặp khó khăn vì phải chịu mức giá trừ lùi gần như là được mặc định trên thị trường thế giới Khuyến nghị Việt Nam nên nghiên cứu phát triển cà phê rang, cà phê bột và cà phê hòa tan để xuất khẩu nhằm gia tăng giá trị cho mặt hàng cà phê, nhấn mạnh cà phê Việt Nam chỉ có một khe cửa rất hẹp để bước vào thị trường thế giới nếu chúng ta không sáng tạo được ra một loại sản phẩm

cà phê có hương vị và thương hiệu độc đáo

Từ Thái Giang 2012 “Nghiên cứu phát triển sản xuất cà phê bền vững trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk” nhận định những tồn tại hạn chế trong ngành cà phê

do: cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất, công nghệ, thiết bị, sơ chế, chế biến còn sơ sài lạc hậu; diện tích cà phê được trồng các giống cũ vẫn

Trang 36

còn cao, việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và thực hiện tưới nước, thu hoạch, sơ chế và bảo quản chưa đảm bảo theo quy trình sản xuất và yêu cầu

kỹ thuật, đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường; thị trường mua bán cà phê thiếu ổn định, các mối liên kết còn đơn điệu Tác giả đưa ra các giải pháp phát triển bền vững cà phê Đắk Lắk như: Hoàn thiện chủ trương chính sách, quy hoạch diện tích đất trồng cà phê, tăng cường cơ sở hạ tầng, tổ chức sản xuất hợp

lý, đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, tăng cường mối liên kết, ổn định thị trường tiêu thụ

Nguyễn Văn Hóa (2013) nêu rõ phát triển cà phê ở tỉnh Đắk Lắk tăng trưởng qua hàng năm, có hiệu quả và lợi thế cạnh tranh nhưng chưa ổn định, nhấn mạnh quan điểm phát triển sản xuất chạy theo lợi nhuận nhất thời, bất chấp việc phá hủy tài nguyên môi trường và làm mất cần bằng sinh thái sẽ là nguy cơ của việc phát triển cà phê không bền vững Các giải pháp và chính sách bảo đảm phát triển cà phê bền vững ở tỉnh Đắk Lắk và khẳng định nhóm chủ thể sản xuất

là nền tảng quyết định Bên cạnh đó cần tích cực phát triển thị trường, mở rộng thị trường nội địa, đầu tư đổi mới công nghệ kỹ thuật và sự hỗ trợ từ chính sách

đầu tư công của Chính phủ để bảo đảm phát triển cà phê bền vững

Ngoài các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến lĩnh vực sản xuất, chế biến, kinh doanh cà phê Việt Nam và Đắk Lắk còn có nhiều dự án, chương trình, hội thảo, các chuyên đề, lễ hội cà phê được các tác giả trong và ngoài nước quan tâm, đăng tải trên các tạp chí, công bố trên các phương tiện thông tin

1.2.3 Đánh giá chung về hoạt động phân tích chuỗi giá trị đối với cây cà phê

Công cụ phân tích chuỗi giá trị giúp chúng ta thay đổi cách nhìn và cách làm khi chúng ta sản xuất và/hoặc kinh doanh Chuỗi giá trị giúp chúng ta nhắm đến thị trường tiêu thụ sản phẩm trước khi sản xuất Nó giúp xác định nhu cầu và yêu cầu của thị trường! Thông qua đó quản lý được sản xuất kinh doanh, xác định nhu cầu đầu tư hỗ trợ để nâng cấp chuỗi

Nói cách khác trước khi sản xuất nông dân cần phải xác định rõ ràng sản xuất để bán cho ai?! Nguyên tắc của thị trường là tiêu dùng quyết định sản xuất

- Sản xuất phải theo yêu cầu của thị trường

Trang 37

Tương tự như lương thực, thực phẩm khác, các sản phẩm cà phê được hình thành từ rất nhiều công đoạn khác nhau từ đồng ruộng, đồi cà phê cho đến mâm cơm, bàn uống nước Có thể gọi đó là chuỗi giá trị vì qua mỗi công đoạn sản xuất - chế biến - tiêu thụ, giá trị của sản phẩm cà phê sẽ tăng lên Về nguyên tắc, chuỗi giá trị càng dài càng tốt Và, càng tiếp cận trực tiếp đến người tiêu dùng cuối cùng bao nhiêu, chuỗi giá trị càng có cơ hội tăng lên và tăng nhiều lần

Phần nhiều nông sản chúng ta bán ra,nhưng là sản phẩm thô, ít giá trị Vì thế, tuy khối lượng có rất lớn thì người nông dân vất vả sản xuất đầu tiên ra sản phẩm lại được hưởng rất ít trong “chiếc bánh giá trị” của sản phẩm Muốn người nông dân cải thiện thu nhập, được hưởng nhiều hơn từ giá trị sản phẩm cuối cùng thì phải kết nối họ vào chuỗi giá trị gia tăng của sản phẩm

Hiện thay để có được sản phẩm cà phê thành phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng, cần qua rất nhiều công đoạn như: trồng, chăm bón, thu hái, sơ chế, chế biến thành phẩm, bảo quản, đóng gói, nghiên cứu (xúc tiến thị trường, kênh phân phối), bán lẻ, tiêu dùng…

Tuy nhiên cho đến nay, còn một bộ phận lớn nông dân trồng và sản xuất chè mới chỉ tham gia vào rất ít trong các công đoạn sản xuất, kinh doanh nói trên Nông dân chủ yếu là trồng, thu hoạch, sơ chế hoặc sản phẩm vẫn còn khá thô, chưa phải là thành phẩm cao cấp Các công đoạn sau như chế biến thành phẩm chất lượng cao, đóng gói bảo quản, làm thương hiệu, tiêu thụ thì hoàn toàn

tự phát, phụ thuộc nhiều vào tư thương, cơ sở thu mua, vào các nhà XK

Ngoài ra, các công đoạn sản xuất kinh doanh chè chưa liên kết, gắn liền thành chuỗi liên hoàn, chưa có nhiều giá trị gia tăng thêm Đặc biệt để sản phẩm

cà phê có thể trở thành một thương hiệu nổi tiếng, giá trị thương mại cao thì cần xây dựng thương hiệu từ tất cả các công đoạn của cả chuỗi giá trị

Trang 38

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là: Chuỗi giá trị cà phê tỉnh Điện Biên

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Đề tài lựa chọn 2 huyện là huyện Mường Ảng và

huyện Tuần Giáo là 2 huyện có diện tích cà phê lớn nhất của tỉnh để nghiên cứu

- Phạm vi thời gian: Các số liệu thứ cấp có liên quan đến đề tài được thu

thập trong các năm từ năm 2011 - 2015; Các số liệu sơ cấp khảo sát số liệu trong

niên vụ cà phê năm 2016

2.2 Nội dung nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn này tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:

- Đánh giá một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh

Điện Biên

- Đánh giá hiện trạng phát triển cây cà phê trên địa bàn tỉnh Điện Biên

- Phân tích được thực trạng chuỗi giá trị của cây cà phê tỉnh Điện Biên

- Đề xuất được một số giải pháp tăng cường mối liên kết giữa các tác nhân

trong chuỗi giá trị nhằm thúc đẩy phát triển bền vững cây cà phê của tỉnh về mặt

kinh tế, xã hội và môi trường

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp tiếp cận

Hiện nay, giới nghiên cứu chuỗi giá trị ở Việt Nam thường áp dụng một vài khung phương pháp luận về đánh giá chuỗi giá trị do các cơ quan phát triển quốc tế phát triển và đề xuất, dựa trên các ly thuyết về chuỗi giá trị và chuỗi ngành hàng Các khung phương pháp luận về chuỗi giá trị được GTZ, ACDI/VOCA, và M4P đề xuất và áp dụng khá phổ biến cho các nghiên cứu chuỗi giá trị ở Việt Nam và các nước đang phát triển Mặc dù có những khác biệt nhất định, các khung phân tích được áp dụng có nhiều điểm tương đồng, và đặc

Trang 39

biệt là đều phù hợp cho bối cảnh nghiên cứu - phát triển cho khu vực nông nghiệp và nông thôn Việt Nam Phương pháp luận về phân tích ngành hàng của FAO (2005) cũng được áp dụng trong quá trình nghiên cứu

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu phân tích chuỗi giá trị cây cà phê tỉnh Điện Biên sử dụng một

số phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng khác nhau như sau:

Các phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng nhằm tìm hiểu bản chất của chuỗi giá trị cây cà phê tỉnh Điện Biên, quá trình vận động, tương tác giữa các tác nhân, và giữa chuỗi giá trị và hệ thống chính sách tác động đến nó Ở giai đoạn thu thập dữ liệu, phương pháp định tính được áp dụng bao gồm phỏng vấn chuyên gia, nghiên cứu tình huống, và quan sát

Đối với nhóm phương pháp định lượng, nghiên cứu áp dụng các công cụ điều tra thống kê, phân tích chi phí - lợi nhuận, phân tích giá trị gia tăng cho từng

công đoạn và toàn bộ chuỗi giá trị theo một số kênh sản phẩm chủ yếu

2.3.3 Phương pháp chọn mẫu điều tra

Chúng tôi dự kiến áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất để thu thập thông tin thay vì chọn mẫu xác suất vì một số lí do thực tế như sau:

Thứ nhất, tổng thể nghiên cứu là nông dân trồng cà phê trên địa bàn tỉnh Điện Biên là một tổng thể gần như là không xác định và việc thiết lập danh sách khung mẫu là gần như không thể thực hiện được trên thực tế Đồng thời, cũng khó xác lập danh sách các hộ thu gom, thương lái, ngoại trừ các cơ sở

và doanh nghiệp chế biến sản phẩm cà phê

Thứ hai, sự tiếp xúc đối với nhóm này đòi hỏi phải thiết lập được sự quen biết và tin cậy nhất định, mà mẫu quan sát không thể được lựa chọn một cách hoàn toàn ngẫu nhiên

Thứ ba, doanh nghiệp thường bảo vệ hệ thống số liệu kinh doanh của họ như là bí mật kinh doanh Do đó, khó có khả năng chắc chắn về mức tin cậy tuyệt đối và khả năng đại diện của nguồn số liệu này để từ đó phỏng đoán được

số liệu của tổng thể

Trang 40

Vì các lí do trên, chúng tôi quyết định áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất, mà cụ thể là phương pháp chọn mẫu định mức theo tỷ lệ, kết hợp chọn mẫu thuận tiện Các bước chọn mẫu được tiến hành như sau:

Bước 1 Căn cứ trên khả năng thực hiện và quỹ thời gian cho phép, xác lập cỡ mẫu cần thiết

Bước 2.Chọn huyện đại diện cho vùng trồng cà phê quy mô lớn của tỉnh

Điện Biên: tập trung các huyện: Tuần giáo và huyện Mường Ảng

Bước 3.Chọn mỗi huyện 2 xã đại diện cho vùng trồng cà phê tập trung của từng huyện, các xã được chọn phải là các xã có diện tích trồng cà phê lớn của huyện Với tiêu chí đó chúng tôi chọn các xã: Tỏa Tình, Quài Cang huyện Tuần giáo; xã Ẳng Nưa, thị trấn Mường Ẳng huyện Mường Ảng

Bước 4: Chọn mẫu cụ thể đối với các tác nhân trong chuỗi

• Các hộ trồng cà phê

Chọn hộ theo phương pháp thuận tiện, dựa trên sự lựa chọn và thu xếp gặp

gỡ của cán bộ khuyến nông địa phương Có 2 nhóm hộ được chọn điều tra đó là nhóm hộ trồng và bán cà phê tươi và nhóm hộ trồng và có tự sơ chế sản phẩm

Để đảm bảo qui luật số lớn trong việc phân tích thống kê, số mẫu của 2 nhóm hộ này 30 hộ trên một xã Tổng số mẫu điều tra hộ trồng cà phê là 120

• Các hộ thu mua

Đối với tác nhân này chúng tôi chọn mẫu điều tra theo phương pháp chọn

mẫu thuận tiện kết hợp với chọn mẫu theo kinh nghiệm đối với các hộ thu gom, thương lái, cơ sở và doanh nghiệp chế biến sản phẩm cà phê Mẫu được phân bố như sau:

- 20 Các hộ thu mua nhỏ: Các hộ này có khả năng thu mua trung bình

khoảng 500 kg cà phê tươi mỗi ngày, tương đương với khoảng 50-60 tấn mỗi vụ

Mỗi xã chọn 5 hộ

- 4 đại lý thu mua (các hộ thu mua quy mô trung bình): Nhóm này bao

gồm các đại lý và doanh nghiệp tư nhân nhỏ Quy mô thu mua trung bình mỗi ngày của các hộ vào khoảng 60-70 tấn cà phê tươi, tương đương với khoảng

Ngày đăng: 05/09/2017, 16:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w