1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

nghiên cứu chuỗi giá trị cá cơm ở huyện đảo phú quốc, tỉnh kiên giang

135 469 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, để phát triển ngành thủy sản một cách bền vững và có hiệu quả, cũng cần phải nhận thức rõ những thách thức đang đặt ra cho toàn bộ chuỗi giá trị thủy sản từ khâu đầu tiên cho

Trang 1

MỤC LỤC

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển chuỗi giá trị thủy sản 16 2.1.6 Đặc điểm hình thái, thành phần loài và dinh dưỡng của cá cơm 20

2.2.1 Các chính sách phát triển thủy sản và nghiên cứu phát triển chuỗi ngành

2.2.2 Các chính sách phát triển thủy sản và nghiên cứu phát triển chuỗi ngành

Trang 2

2.2.3 Thực tiễn nước ngoài về chuỗi giá trị cá cơm và kinh nghiệm nâng cao

2.2.4 Thực tiễn trong nước về chuỗi giá trị cá cơm và kinh nghiệm nâng cao

4.1 Khái quát hiện trạng khai thác, chế biến và tiêu thụ cá cơm ở Huyện đảo

4.1.1 Khái quát hiện trạng khai thác cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc 46 4.1.2 Khái quát hiện trạng chế biến cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc 49

4.2.1 Tổng quan về chuỗi giá trị cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc 52 4.2.2 Chuỗi giá trị cá cơm sản xuất nước mắm truyền thống Phú Quốc 60

4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của chuỗi giá trị cá cơm 73

Trang 3

4.4.3 Cơ hội 85

4.5 Định hướng và giải pháp nâng cao chuỗi giá trị cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc 87 4.5.1 Định hướng phát triển chuỗi giá trị cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc 87 4.5.2 Giải pháp nâng cao chuỗi giá trị cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc 88

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt : Chữ đầy đủ

KT&BVNLTS : Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản

NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

4.1 Tình hình chế biến sản phẩm cá cơm của huyện Phú Quốc 50 4.2 Các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc 53

4.9 Quan hệ liên kết trong chuỗi giá trị cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc 59 4.10 Chi phí và lợi nhuận biên của các tác nhân trong chuỗi cá cơm

4.11 Giá bán, chi phí, giá trị gia tăng, chi phí tăng thêm và lợi nhuận

trong chuỗi giá trị nước mắm cá cơm truyền thống kênh 1 65 4.12 Giá bán, chi phí, giá trị gia tăng, chi phí tăng thêm và lợi nhuận

trong chuỗi giá trị nước mắm cá cơm truyền thống kênh 2 66 4.13 Chi phí và lợi nhuận biên của các tác nhân trong chuỗi cá cơm sấy

4.14 Giá bán, chi phí, giá trị gia tăng, chi phí tăng thêm và lợi nhuận

4.18 Trình độ ngư dân tham gia chuỗi giá trị cá cơm (n =85) 79

4.21 Khó khăn của các tác nhân trong tiếp cận nguồn vốn của các tổ

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ

4.1 Hiện trạng chế biến cá cơm khai thác ở Huyện đảo Phú Quốc 50

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

4.2 Biểu đồ sản lượng khai thác cá cơm tại địa bàn huyện đảo Phú Quốc 48 4.3 Biểu đồ số lượng tàu vây cá cơm theo nhóm công suất trên địa bàn

Trang 8

PHẦN I

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngành thủy sản Việt Nam phát triển nhờ vào lợi thế có bờ biển dài khoảng 3.260 km và vùng biển rộng hơn 1 triệu km² chứa nhiều nguồn lợi thủy sản phong phú đa dạng (FAO, 2005) Nguồn lợi chính là cá biển đã phát hiện hơn 2.000 loài khác nhau, trong đó trên 100 loài có giá trị kinh tế cao với tổng trữ lượng hải sản khoảng 3,1 triệu tấn, khả năng cho phép khai thác 1,4 triệu tấn/năm (FAO, 2004) Trong các nước xuất khẩu thủy sản trên thế giới, Việt Nam được coi là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng thủy sản nhanh, với tốc độ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn 1998-2008 đạt 18%/năm Thuỷ sản được xem là ngành hàng hội nhập thương trường quốc tế từ rất sớm, mang về nhiều ngoại tệ cho đất nước Tuy nhiên, để phát triển ngành thủy sản một cách bền vững và có hiệu quả, cũng cần phải nhận thức rõ những thách thức đang đặt ra cho toàn bộ chuỗi giá trị thủy sản từ khâu đầu tiên cho đến khâu cuối cùng, đó là: ngành hàng thuỷ sản vẫn mới chỉ dừng lại ở phân khúc sản xuất nguyên liệu và chế biến xuất khẩu sản phẩm thô; cạnh tranh bán - mua nguyên liệu giữa các doanh nghiệp và giữa doanh nghiệp với người nuôi chưa được lành mạnh, mối liên hệ và hợp tác lỏng lẻo của các tác nhân dọc theo chuỗi, chi phí sản xuất và rủi ro trong nuôi trồng thủy sản ngày càng tăng cao, người sản xuất thường không chú ý tới thị trường và các yêu cầu của thị trường, chất lượng an toàn thực phẩm chưa được chú ý đầy đủ; ý tưởng sản phẩm, thương hiệu và phân phối, những mắt xích có giá trị gia tăng cao vẫn thuộc về các doanh nghiệp nước ngoài, các sản phẩm Việt Nam lại thường không được tiêu thụ dưới nhãn mác của Việt Nam

Đảo Phú Quốc nằm trong vùng phát triển kinh tế của Đông Nam Á, có diện tích tự nhiên 567 km² với đường bờ biển dài khoảng 150 km, phía Bắc cách Campuchia khoảng 4 km, phía Đông cách Hà Tiên 46 km và cách thành phố Rạch Giá 115 km

Trang 9

Với vị trí địa lý riêng biệt, lại phân bố trên một phạm vi lãnh hải rộng lớn, huyện đảo Phú Quốc thực sự có một vai trò đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế xã hội Là điểm tiền tiêu cực kỳ trọng yếu về an ninh quốc phòng của vùng biển phía Tây Nam của tổ quốc

Với ngư trường rộng lớn có nguồn hải sản phong phú, đặc biệt là cá cơm

để sản xuất nước mắm Phú Quốc nổi tiếng Phát triển đánh cá nổi gắn liền với công nghiệp chế biến nước mắm đặc sản Phú Quốc, chế biến mực cao cấp tại Dương Đông và An Thới Điều này được phản ánh qua số lượng lớn lao động tham gia đánh bắt, chế biến, dịch vụ cũng như nguồn doanh thu có được từ sản lượng đánh bắt, các sản phẩm chế biến từ cá cơm ở khu vực này Theo truyền thống, ở nước ta, cá cơm được dùng để chế biến nước mắm, nổi tiếng nhất là nước mắm cá cơm Phú Quốc, theo sở thủy sản Kiên Giang trước đây (2006), chỉ khoảng 5% sản lượng cá cơm được dùng để chế biến nước mắm nhưng hàng năm Phú Quốc thu về khoảng 450,000 USD từ xuất khẩu nước mắm cá cơm

Theo báo cáo của Huyện hội chế biến nước mắm Phú Quốc, do không cạnh tranh mua được nguyên liệu cá cơm nên hiện nay, có khoảng 60% số thùng của các nhà thùng nước mắm Phú Quốc bỏ thùng trống, treo thùng; 10 doanh nghiệp sản xuất nước mắm không trụ lại được buộc phải giải thể, bỏ nghề và hiện chỉ còn khoảng 70 cơ sở hoạt động cầm chừng Nghề khai thác cá cơm bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu cho thấy sự phát triển không bền vững như sản lượng khai thác có xu hướng giảm dần, thị trường đầu ra cho các sản phẩm chế biến từ

cá cơm không ổn định, nhà thùng và một số cơ sở chế biến thiếu vốn, thiếu mặt bằng và thông tin thị trường để mở rộng và phát triển sản xuất Để bảo vệ ngành sản xuất nước mắm truyền thống Phú Quốc cũng như các sản phẩm được chế biến từ cá cơm cần quảng bá các sản phẩm giá trị gia tăng, triển khai nghiên cứu,

mô tả chuỗi giá trị cá cơm,từ đó đưa ra các giải pháp để nâng cao chuỗi giá trị Bên cạnh đó việc tổ chức và liên kết giữa các chủ thể tham gia chuỗi giá trị cá cơm không chặt chẽ, phương pháp đánh bắt khai thác và chế biến không hiệu quả nên ngành sản xuất và xuất khẩu cá cơm của Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn, bị cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ trực tiếp như Thái Lan

Trang 10

Trên thế giới nghiên cứu về chuỗi giá trị đã được đề cập đến từ rất sớm Durufle et al (1988) đã áp dụng phương pháp filiére (chuỗi, mạch) nghiên cứu đánh giá chuỗi về mặt kinh tế, tài chính Nghiên cứu đã tập trung vào vấn đề tạo thu nhập và phân phối thu nhập trong chuỗi hàng hóa, phân tích các chi phí và thu nhập giữa các thành phần kinh doanh nội địa và quốc tế để phân tích sự ảnh hưởng của chuỗi đến nền kinh tế quốc dân và sự đóng góp của nó vào GDP

Porter (1985) đã dùng khung phân tích chuỗi giá trị để xem xét công ty, xác định vị thế công ty trong thị trường và mối quan hệ với các nhà cung cấp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh Chuỗi giá trị được sử dụng như khung giá trị để

DN tìm ra các nguồn lợi thế cạnh tranh của mình Tính cạnh tranh của công ty

có thể phân tích bằng xem xét chuỗi giá trị bao gồm từ thiết kế sản xuất, mua vật tư đầu vào, hậu cần, tiếp thị, bán hàng, các dịch vụ hậu mãi và dịch vụ hỗ trợ (lập kế hoạch chiến lược, quản lý nguồn nhân lực, hoạt động nghiêp cứu triển khai v.v.)

Gereffi and Korzenniewicz (1994), Kaplinsky (1999) sử dụng phương pháp tiếp cận toàn cầu về chuỗi giá trị, đưa ra khung phân tích để hiểu cách thức

mà các công ty và quốc gia hội nhập toàn cầu, để đánh giá các nhân tố quyết định đến phân phối thu nhập toàn cầu thông qua việc lập sơ đồ chuỗi và phân tích chuỗi để làm sáng tỏ công ty, vùng, quốc gia được kết nối với nền kinh tế toàn cầu như thế nào

Đối với Việt Nam, nghiên cứu về phân tích chuỗi giá trị nói chung được chú ý từ sau năm 2000, đặc biệt khi Ngân hàng Phát triển châu Á triển khai một loạt các nghiên cứu của Dự án Nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo Các nghiên cứu trên đã phân tích chuỗi giá trị nói chung và chuỗi giá trị thủy sản (GTTS) nói riêng ở các khía cạnh khác nhau Chính vì vậy, để phát triển bền vững chuỗi GTTS cần đưa ra những giải pháp cụ thể hướng tới nâng cao kết quả, hiệu quả không những của từng tác nhân tham gia mà còn cả toàn bộ chuỗi GTTS Và đây cũng là một vấn đề mới, mang tính thời sự cao đối với Phú Quốc nói chung và ngành thủy sản nói riêng đòi hỏi phải nghiên cứu để làm rõ

Trang 11

Kết quả nghiên cứu góp phần hỗ trợ các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách xây dựng và đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả, nhằm góp phần bảo vệ bền vững nguồn lợi cá cơm và quảng bá thương hiệu các sản phẩm được chế biến từ cá cơm khai thác ở Huyện đảo Phú Quốc trong điều kiện hội nhập kinh tế

quốc tế Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã tiến hành chọn và nghiên cứu đề tài:

"Nghiên cứu chuỗi giá trị cá cơm ở huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Mô tả hiện trạng chuỗi giá trị cá cơm khai thác hiện tại ở Huyện đảo Phú Quốc, đánh giá và tìm ra những tác nhân ảnh hưởng đến chuỗi giá trị trong khai thác, thu mua, chế biến, tiêu thụ sản phẩm từ cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Từ đó đề xuất các giải pháp quản lý, phân phối hợp lý giá trị của cá cơm

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị

- Đánh giá thực trạng chuỗi giá trị cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

- Đề xuất một số giải pháp để nâng cấp chuỗi giá trị cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn chủ yếu nghiên cứu chuỗi và giải pháp nâng cao chuỗi giá trị của cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản mặt hàng cá cơm trong sản xuất nước mắm và cá cơm sấy khô được thực hiện trên chủ yếu địa bàn huyện đảo Phú Quốc-Tỉnh Kiên Giang

Thời gian: Số liệu thứ cấp từ năm 2010 - 2014

Số liệu điều tra năm 2014

Trang 12

PHẦN II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Chuỗi giá trị và một số khái niệm liên quan

2.1.1.1 Khái niệm chuỗi giá trị

Theo Porter (1985), chuỗi giá trị là chuỗi tất cả các hoạt động từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng trong doanh nghiệp mà chúng tạo ra giá trị cho sản phẩm hoặc dịch vụ Các hoạt động tạo giá trị bao gồm các hoạt động chính và các hoạt động hỗ trợ Mỗi hoạt động trong chuỗi sẽ tạo thêm một giá trị nhất định cho sản phẩm cung ứng cho khách hàng và tạo ra giá trị cho doanh nghiệp Các hoạt động chính là các hoạt động liên quan đến việc chuyển đổi về mặt vật lý, quản lý sản phẩm cuối cùng để cung cấp cho khách hàng, bao gồm: hậu cần đầu vào, sản xuất, hậu cần ra ngoài, marketing và bán hàng, dịch vụ khách hàng Các hoạt động hỗ trợ cho các hoạt động chính bao gồm các hoạt động thu mua, phát triển công nghệ, quản trị nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp Phân tích mô hình chuỗi giá trị của Porter (1985) giúp nhận dạng những điểm yếu trong mỗi hoạt động cần cải tiến cũng như phát hiện các nguồn lực tạo nên năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Porter (1985) lập luận rằng nếu bản thân mỗi hoạt động có khả năng tạo ra giá trị và sự liên kết chặt chẽ giữa các hoạt động được vận hành một cách hiệu quả

sẽ tạo nên một nguồn lực mạnh của lợi thế cạnh tranh

Hình 2.1 Sơ đồ về chuỗi giá trị của doanh nghiệp

Nguồn: Porter, 2008

Trang 13

Để doanh nghiệp tạo ra những giá trị lớn hơn dành cho khách hàng đầu tiên cần tiến hành tốt 4 hoạt động chính vì đây là những hoạt động đóng vai trò chính trong việc tạo ra giá trị cho khách hàng (hình 1.1) Các hoạt động chính bao gồm 5 loại hoạt động: i) Đưa nguyên vật liệu vào kinh doanh; ii) Vận hành, sản xuất- kinh doanh; iii) Vận chuyển ra bên ngoài; iv) Marketing và bán hàng; v) Cung cấp các dịch vụ liên quan Đó là một chuỗi công việc liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, từ việc đưa các yếu tố đầu vào về DN, chế biến chúng, sản xuất các thành phẩm, bán hàng và các hoạt động để phục vụ khách hàng Mục tiêu của các hoạt động này là cung cấp cho khách hàng một mức độ giá trị vượt quá chi phí của các hoạt động và thu được một mức lợi nhuận Lợi nhuận của doanh nghiệp lớn hay nhỏ phụ thuộc vào hiệu quả của việc thực hiện các hoạt động này Vì vậy nếu các hoạt động này được quản lý tốt với chi phí thấp, giảm giá thành, tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp thỏa mãn nhu cầu khách hàng tốt hơn, có

cơ hội để tạo ra giá trị vượt trội và tạo ra lợi thế cạnh tranh Một lợi thế cạnh tranh có thể đạt được bằng cách tham gia vào chuỗi giá trị để cung cấp chi phí thấp hơn hoặc tốt hơn sự khác biệt

Bên cạnh đó, DN cũng cần đầu tư cho những hoạt động hỗ trợ bao gồm:

cơ sở hạ tầng, quản trị nhân sự, phát triển công nghệ và mua sắm Đây là những hoạt động tuy không trực tiếp và đóng vai trò chính trong việc tạo ra giá trị dành cho khách hàng nhưng lại có ý nghĩa trợ giúp cho tất cả các hoạt động chủ chốt nói trên và thiếu chúng thì không thể tiến hành các hoạt động chủ chốt được Hai nhóm hoạt động này liên tục diễn ra cho đến khi sản phẩm được bán ra thị trường, thu lợi nhuận và tăng trưởng cho DN Để tạo ra giá trị tối đa dành cho khách hàng không chỉ yêu cầu hiệu quả của từng hoạt động, từng bộ phận riêng

rẽ mà còn yêu cầu sự phối hợp tốt hoạt động của tất cả các bộ phận khác nhau của DN

Mặt khác, theo quan điểm của Porter (2008) chuỗi giá trị của một doanh nghiệp trong một ngành cụ thể phải được gắn vào một dòng chảy các hoạt động lớn hơn mà ông đặt tên là hệ thống giá trị (hình 1.2) Hệ thống giá trị bao gồm

Trang 14

các nhà cung cấp (những người cung cấp đầu vào: như nguyên liệu thô, máy móc, dịch vụ) cho chuỗi giá trị của DN Đến người mua cuối cùng sản phẩm của một DN thường đi qua những chuỗi giá trị của các nhà phân phối hoặc bán lẻ Cuối cùng, các sản phẩm này lại trở thành đầu vào trong chuỗi giá trị của khách hàng, những người mua sản phẩm để thực hiện các hoạt động của chính họ Như vậy khái niệm hệ thống giá trị rộng hơn so với khái niệm chuỗi giá trị của DN Khái niệm hệ thống giá trị chủ yếu là công cụ giúp quản lý điều hành đưa ra các quyết định có tính chất chiến lược

Như vậy, chuỗi giá trị theo quan điểm của Porter tập trung tìm ra lợi thế cạnh tranh của DN

Theo quan điểm của Kaplinsky và Morris (2001), khi nói đến chuỗi giá trị

là nói đến một loạt những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, đến khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng Tiếp

đó, một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động để tạo ra tối đa giá trị trong toàn chuỗi

Một chuỗi giá trị cho bất kỳ sản phẩm hoặc dịch vụ sẽ bao gồm các hoạt động từ nghiên cứu và phát triển, qua nguồn cung cấp nguyên liệu và sản xuất, đến người tiêu dùng cuối cùng và hơn thế nữa vứt bỏ và tái chế Tất cả những hoạt động này tạo thành một chuỗi kết nối người sản xuất với người tiêu dùng và mỗi hoạt động lại bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối cùng Xem chuỗi giá trị như là một trình tự liên tiếp của các quá trình dịch chuyển từ việc cung cấp các đầu vào

cụ thể sản xuất, chế biến và marketing một sản phẩm cho đến khi tiêu thụ

Như vậy, theo các quan điểm trên chúng ta có thể nhìn chuỗi giá trị ở góc

độ rộng hơn, chi tiết hóa các hoạt động và các khâu, chuỗi giá trị là một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ, ) để biến một nguyên liệu thô thành thành phẩm được bán lẻ (Ngân hàng phát triển châu Á, 2007) Mức độ chi tiết càng cao, càng cho thấy rõ nhiều bên tham gia, nhiều DN tham gia và mức độ liên quan đến chuỗi giá trị khác nhau Đồng thời còn cho thấy các hoạt

Trang 15

động trong chuỗi không phải do một DN duy nhất tiến hành mà nó xem xét cả các mối liên kết ngược xuôi giữa các tác nhân tham gia chuỗi cho đến khi nguyên liệu thô được sản xuất và được kết nối với người tiêu dùng cuối cùng

Ngoài ra khái niệm chuỗi giá trị còn bao hàm cả các vấn đề về tổ chức, điều phối, chiến lược và quan hệ quyền lực giữa các bên tham gia khác nhau trong chuỗi

Tóm lại, có thể khái quát, chuỗi giá trị là tập hợp một chuỗi các hoạt động

để chuyển hóa nguồn lực đầu vào thành các sản phẩm đầu ra và tại mỗi hoạt động sẽ tạo thêm giá trị cho sản phẩm

- Khái niệm chuỗi giá trị cá cơm

Được hiểu là một chuỗi các hoạt động làm gia tăng giá trị trong sản xuất

và chế biến cá cơm, được thực hiện bởi các nhân tố khác nhau tham gia vào quá trình sản xuất như khai thác, nậu vựa/thương lái, chế biến (nhà thùng và cơ sở chế biến), doanh nghiệp Các đối tác tham gia vào quá trình hình thành và phát triển chuỗi, liên kết và tổ chức hợp đồng với nhau, cùng chia sẻ và thu lợi nhuận

từ những giá trị gia tăng

2.1.1.2 Phân biệt các khái niệm chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị

- Chuỗi cung ứng

Chuỗi cung ứng là một quá trình chuyển đổi từ nguyên vật liệu thô cho tới sản phẩm hoàn chỉnh thông qua quá trình chế biến và phân phối tới tay khách hàng cuối cùng (Ganeshan và Harrison, 1995) Trong chuỗi cung ứng, sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm luôn có sự thay đổi về giá cả cũng như giá trị

Khái niệm về chuỗi cung ứng xuất hiện từ những năm 60 của thế kỉ XX Khi đó, chuỗi cung ứng là đơn lẻ, chưa có sự kết hợp cả việc cung ứng vật tư, kĩ thuật, nguyên vật liệu, với việc phân phối sản phẩm Đến những năm 90, các chuỗi cung ứng hiện đại hình thành và phát triển mạnh ở nhiều công ty

Chuỗi cung ứng là sự liên kết các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường (Lambert et al., 1998) Như vậy, chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách

Trang 16

hàng Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất hay nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng (Sunil and Meindl, 2001)

Có thể xem chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành phẩm, phân phối chúng cho khách hàng (Ganeshan et al., 1995)

Theo các định nghĩa này thì một chuỗi cung ứng về cơ bản có ba phần chính là cung cấp, sản xuất và phân phối Cung cấp tập trung vào cách thức, nơi

mà từ khi nguyên liệu được mua và cung cấp cho sản xuất Sản xuất là quá trình chuyển đổi các nguyên liệu đến thành phẩm Phân phối là các sản phẩm này đã hoàn thành đưa đến khách hàng cuối cùng thông qua một mạng lưới các nhà phân phối, nhà kho và nhà bán lẻ

Tóm lại, một chuỗi cung ứng là một hệ thống các hoạt động được khâu nối với nhau bởi các dòng vật chất, dòng thông tin và dòng tiền đi qua các tổ chức

- Chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị

Theo các quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu thuật ngữ chuỗi cung ứng giống như chuỗi giá trị Bởi vì, thứ nhất, chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị đều có những đặc điểm chung cơ bản như đối tượng tham gia chuỗi, quá trình vận chuyển và lưu giữ các sản phẩm, quá trình tạo giá trị, quá trình trao đổi thông tin, quá trình chi trả Những thành phần này sẽ tác động qua lại với nhau để kết nối tài nguyên và sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng Thứ hai, mục đích cuối cùng và quan trọng nhất của chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị là quá trình tạo giá trị thông qua các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, phân phối

Như vậy, chuỗi giá trị hay chuỗi cung ứng đều được dùng để miêu tả cho một chuỗi các hoạt động có quan hệ chặt chẽ, với nhiều tác nhân tham gia từ nhà cung ứng nguyên liệu, nhà sản xuất, nhà phân phối và người tiêu dùng Và một chuỗi giá trị, hay một chuỗi cung ứng sẽ bao gồm tất cả các giai đoạn để thoả mãn nhu cầu của khách hàng

Một chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị hợp nhất nối liền từ người cung cấp đến người tiêu dùng thông qua một loạt các đơn vị liên quan như người chế biến, người bán buôn, người bán lẻ nhằm quản trị ba dòng là: sản phẩm dịch vụ (hàng

Trang 17

hóa lưu thông), thông tin liên quan và cả về mặt tài chính Trong đó, người tiêu dùng không tạo ra giá trị gia tăng như các tác nhân khác, đơn thuần chỉ là người mua hàng của người bán lẻ Người bán lẻ là tác nhân cuối cùng tạo ra giá trị gia tăng trong chuỗi

Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản của chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng là khi nói đến chuỗi cung ứng người ta nhấn mạnh quá trình biến đổi các yếu tố vật chất thành sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng Còn khi nói chuỗi giá trị người ta nhấn mạnh giá trị của một sản phẩm (dịch vụ) được tăng lên khi đi qua các tác nhân khác nhau để đến tay người tiêu dùng

2.1.2 Tầm quan trọng của phân tích chuỗi giá trị

Một trong những vai trò lớn nhất của việc xây dựng chuỗi giá trị là nâng cao khả năng cạnh tranh và tạo lập lợi thế cạnh tranh bền vững (Kaplinsky và Morris, 2001) Với xu hướng toàn cầu hóa trong cung ứng, sản xuất và phân phối cùng với phân công lao động mạnh mẽ, xây dựng chuỗi giá trị toàn cầu gắn kết giữa các tác nhân là mô hình cạnh tranh nổi bật của nhiều ngành công nghiệp

và là chiến lược cạnh tranh sáng tạo của các doanh nghiệp (Feller và ctv, 2006)

Phân tích chuỗi giá trị xác định được những tác nhân kinh tế tham gia vào sản xuất, phân phối, marketing và bán hàng cho một sản phẩm cụ thể Việc hình thành sơ đồ chuỗi giá trị cho phép dễ dàng đánh giá đặc điểm hoạt động của các tác nhân, qui mô và dòng chảy của sản phẩm, cấu trúc chi phí và lợi nhuận, nhận diện xu hướng biến đổi của từng công đoạn, xác định những điểm yếu và khiếm khuyết trong chuỗi

Phân tích chuỗi giá trị đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định sự phân phối lợi ích của các tác nhân kinh tế trong chuỗi Điều này có thể nhận dạng được những tác nhân nào cần sự thay đổi hay hỗ trợ cần thiết để nâng cao năng lực và tạo sự cân bằng hợp lý lợi ích giữa các tác nhân Điều này là đặc biệt quan trọng ở các nước đang phát triển nói chung và trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng (Jacinto và Pomeroy, 2011)

Phân tích chuỗi giá trị được sử dụng để xem xét khả năng nâng cấp chuỗi, bao gồm việc nâng cấp sản phẩm liên quan đến chất lượng, sự đa dạng

Trang 18

hóa mẫu mã, chủng loại, nhằm gia tăng vị thế cạnh tranh lâu dài cho chuỗi Khả năng cải tiến chuỗi giá trị dựa vào nhiều yếu tố như sự phân phối lợi ích trong chuỗi, phương cách giao dịch và trao đổi thông tin, rào cản gia nhập ngành, cơ chế quản lý của Nhà nước, những rào cản và tiêu chuẩn trong thương mại, các yếu tố liên quan đến văn hóa và tập quán kinh doanh

Phân tích chuỗi giá trị cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của việc thiết lập cấu trúc mối quan hệ giữa các bên có liên quan, cơ chế phối hợp và vận hành trong chuỗi giá trị Điều này là quan trọng cho việc hình thành chính sách quản lý để nâng cao vị thế cạnh tranh của chuỗi, khắc phục các điểm yếu và tạo nhiều giá trị gia tăng cho ngành (Kaplinsky và Morris, 2001)

Với vai trò ưu việt trong cạnh tranh trên toàn cầu từ việc phân tích chuỗi giá trị, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở các quốc gia cho nhiều ngành như: ngành công nghiệp xe hơi (Humphrey và Memedovic, 2003), ngành sản xuất

xe đạp (Galvin và Morkel, 2001), ngành công nghệ điện tử (Sturgeon, 2002), ngành trang sức (Gereffi và Memodovic, 2003) Tác giả VDCWG (Value Chain Dynamics Working Group) ở Trường Đại học Cambridge đã thực hiện nhiều nghiên cứu cho một số ngành ở Mỹ như: ngành công nghiệp truyền thông, ngành dịch vụ điện thoại di động, kỹ thuật số Phân tích chuỗi giá trị cũng được ứng dụng nhiều cho nhiều sản phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp như: chuỗi giá trị rau sạch (Dolan và Humphrey, 2000, 2004), sản phẩm thịt heo (Lowe và Gereffi, 2008), sản phẩm thịt bò (Lowe và Gereffi, 2009), cà phê và ca cao (Gilbert, 2008)

2.1.3 Chuỗi giá trị thủy sản

2.1.3.1 Khái niệm chuỗi giá trị thủy sản

Áp dụng lý thuyết chuỗi giá trị vào trong ngành thủy sản, có thể hiểu chuỗi giá trị thủy sản (GTTS) là tập hợp các hoạt động từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng gồm các tác nhân sau: (i) Người sản xuất (người nuôi trồng thủy sản; người đánh bắt thủy sản); (ii) Người chế biến; (iii) Người kinh doanh Đây là những tác nhân trực tiếp tham gia vào chuỗi giá trị Quan hệ của các tác nhân này dựa trên dòng thông tin, dòng hàng hóa (dịch vụ) và dòng tiền trên chuỗi Sự vận động của chuỗi giá trị còn chịu tác động bởi các tác nhân và

Trang 19

yếu tố bên ngoài chuỗi như hệ thống cung ứng, hoạt động marketing, hệ thống luật pháp, cung cầu hàng hóa

- Chuỗi giá trị thủy sản tiêu biểu

Một chuỗi GTTS điển hình bao gồm sản xuất (đánh bắt, hoặc nuôi trồng thuỷ sản, hoặc kết hợp cả hai), sơ chế, chế biến, phân phối, tiếp thị và tiêu dùng cuối cùng (hình 2.2)

Hình 2.2 Chuỗi giá trị thủy sản tiêu biểu

Như vậy, một chuỗi GTTS tiêu biểu có năm bước Tuy nhiên cũng có thể

có nhiều hoặc ít hơn tùy thuộc vào việc chi tiết hóa các hoạt động và các khâu của chuỗi

2.1.3.2 Đặc trưng của chuỗi giá trị thủy sản

Chuỗi cung ứng là một góc nhìn của chuỗi giá trị cho nên chuỗi giá trị cũng là một hệ thống các hoạt động vật chất và các quyết định thực hiện liên tục gắn với dòng vật chất và dòng thông tin đi qua các tác nhân (Vorstet al., 2001) Theo Lambert and Cooper (2000) một chuỗi giá trị có bốn đặc trưng cơ bản: thứ nhất, chuỗi giá trị bao gồm nhiều công đoạn (bước) phối hợp bên trong các bộ phận, phối hợp giữa các bộ phận (tổ chức) và phối hợp dọc Thứ hai, một chuỗi bao gồm nhiều DN độc lập nhau, do vậy cần thiết phải có mối quan hệ về mặt tổ chức Thứ ba, một chuỗi giá trị bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin có định hướng, các hoạt động điều hành và quản lý Thứ tư, các thành viên của chuỗi nỗ lực để đáp ứng mục tiêu là mang lại giá trị cao cho khách hàng thông qua việc sử dụng tối ưu nguồn lực của mình

Nếu xem chuỗi GTTS là một chuỗi giá trị nông sản, thì theo Bijman (2002), chuỗi GTTS là một chuỗi bao gồm các tác nhân cung cấp đầu vào, sản xuất và phân phối thủy sản Chuỗi này chứa đựng đồng thời dòng vật chất và dòng thông tin Chuỗi GTTS nói chung khác với chuỗi giá trị của các ngành khác Sản xuất Sơ chế Chế biến Bán buôn Bán lẻ Người tiêu

dùng

Trang 20

ở các điểm (1) bản chất của quá trình sản xuất thường dựa vào quá trình sinh học,

do vậy làm tăng tính biến động và rủi ro; (2) bản chất của sản phẩm có những đặc trưng tiêu biểu như dễ hư hỏng và khối lượng lớn, nên yêu cầu chuỗi khác nhau cho các sản phẩm khác nhau; (3) thái độ của xã hội và người tiêu dùng quan tâm nhiều về thực phẩm an toàn và vấn đề môi trường

Tác giả Vorst (2000) tóm tắt các đặc trưng cơ bản của chuỗi cung ứng thủy sản-thực phẩm nói chung như sau:

+ Hạn sử dụng nhất định đối với nguyên liệu và các loại như thủy sản, sản phẩm dở dang và sản phẩm cuối cùng dễ thối nát, cũng như sự thay đổi chất lượng sản phẩm khi chuyển dịch trên chuỗi cung ứng

+ Quá trình thời gian sản xuất dài

+ Có tính mùa vụ trong sản xuất

+ Cung cấp sản phẩm theo mùa vụ và đòi hỏi nguồn cung ở nhiều vùng + Đòi hỏi điều kiện nhất định khi vận chuyển và bảo quản

+ Biến động cả số lượng và chất lượng do sự thay đổi điều kiện sinh thái, tính mùa vụ, các yếu tố liên quan đến thời tiết, dịch bệnh và thiệt hại về sinh thái khác

+ Các ràng buộc về khả năng bảo quản, ví dụ vật tư hoặc sản phẩm chỉ có thể giữ trong những công ten nơ đặc biệt

+ Luật lệ của nhà nước về môi trường và người tiêu dùng (phát tán CO2, ATTP) + Yếu tố vật lý của sản phẩm như các yếu tố cảm quan, ví dụ mùi, vị, hình thức, màu sắc, kích thước

+ Các yếu tố khác như sự thuận tiện cho bữa ăn

+ An toàn sản phẩm: quan tâm của người tiêu dùng ngày càng tăng về sản phẩm và cách thức sản xuất sản phẩm: không gây rủi ro cho người tiêu dùng

+ Chất lượng nhận thức, phù hợp với đúng chất lượng sản phẩm Ví dụ: quảng cáo, nhãn hiệu (marketing) có thể có ảnh hưởng đến nhận thức về chất lượng

Trong một chuỗi, sự phối hợp có thể dưới nhiều hình thức: hợp nhất dọc, hợp đồng dài hạn hoặc giao dịch trực tiếp trên thị trường Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng chuỗi GTTS nói riêng và thủy sản-thực phẩm nói chung, các giao dịch đang có sự thay đổi (Bijman, 2002) Hầu hết các lĩnh vực trong ngành thủy sản-thực phẩm đang dịch chuyển gần hơn tới liên kết dọc Theo Zuurbier

Trang 21

(2000), phối hợp dọc là một quá trình phối hợp các giao dịch thị trường giữa nhà cung cấp và khách hàng Phối hợp dọc trong kinh doanh thủy sản và ngành thực phẩm bao gồm một số hoặc nhiều giao dịch trao đổi các yếu tố đầu vào từ nhà cung cấp giống hoặc vốn tới người nông dân, hoặc trao đổi nguyên liệu giữa nông dân và người chế biến hoặc sản phẩm tươi sống giữa nhà bán buôn với người bán lẻ hoặc giữa người bán lẻ và người tiêu dùng

Một số ngành (ví dụ như ngành gia cầm) đã phát triển liên kết dọc chặt chẽ vài năm trở lại đây, trong khi những ngành khác xem khái niệm này còn tương đối mới (Hobbs and Young, 2000) Sự thay đổi căn bản là chuyển dịch từ sản xuất định hướng sang thị trường định hướng trong chiến lược của người sản xuất Sự thay đổi này dẫn đến làm tăng sự trao đổi thông tin giữa các tác nhân Một trong những thay đổi khác liên quan đến đổi mới sản phẩm, đây là một sự thay đổi rất quan trọng trong chuỗi thủy sản-thực phẩm Tất cả sự thay đổi đó dẫn đến kết quả làm tăng cầu của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm cao hơn và chủng loại sản phẩm cũng nhiều hơn Hơn nữa, các vấn đề như ATTP và điều kiện sản xuất cũng là những vấn đề được nhiều người tiêu dùng quan tâm hiện nay Những thay đổi về sở thích của người tiêu dùng, cũng làm thay đổi quá trình chế biến và bán lẻ thủy sản-thực phẩm Các nhà chế biến và nhà bán lẻ cũng

mở rộng lớn hơn và có tính quốc tế hóa hơn

2.1.4 Nội dung phân tích chuỗi giá trị thủy sản

Phân tích chuỗi giá trị thủy sản là quá trình phân tích, đánh giá sản phẩm thủy sản từ nhiều cấp độ, nhiều khía cạnh để thấy được bức tranh về dòng chảy sản phẩm, dòng thông tin, dòng tiền, các tác nhân liên quan tới sản phẩm, quan

hệ của các tác nhân với nhau và giá trị tăng thêm tại mỗi mắt xích Từ đó có thể khám phá và xác định một cách đầy đủ những hạn chế và khó khăn cản trở trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, vị trí cạnh tranh của các tác nhân tham gia vào chuỗi Chính vì vậy, phân tích chuỗi giá trị thủy sản bao gồm những nội dung cụ thể sau:

Thứ nhất:

Lập bản đồ chuỗi giá trị thủy sản là xây dựng một sơ đồ có thể quan sát bằng mắt thường về hệ thống chuỗ̃i giá trị thủy sản (Tổ chức Hợp tác kỹ thuật

Trang 22

Đức, 2007) Các sơ đồ này có nhiệm vụ định dạng các hoạt động kinh doanh (chức năng), các nhà vận hành chuỗi, dòng chảy (thông tin, tiền, sản phẩm) và những mối liên kết của họ cũng như các nhà hỗ trợ chuỗi nằm trong chuỗi giá trị này

Thứ hai:

Phân tích hoạt động và mối liên kết của các tác nhân dọc theo chuỗi Xem xét các hoạt động trong chuỗi, mỗi hoạt động sẽ tạo ra chi phí, hiểu được chi phí của mỗi hoạt động và tỷ trọng trong tổng chi phí có thể giúp cải thiện hiệu suất Các hoạt động được các tác nhân thực hiện, để biết được hoạt động thực hiện có hiệu quả cần phân tích đánh giá kết quả hoạt động của từng tác nhân tham gia bao gồm phân tích đánh giá các vấn đề về chi phí bỏ ra, giá trị sản xuất kinh doanh, lợi nhuận (Humphrey and Schmitz, 2002) Các tác nhân cùng thực hiện một chức năng hoạt động giống nhau nhưng khi tham gia vào các chuỗi khác nhau nếu chi phí bỏ ra ít và kết quả thu được (doanh thu, lợi nhuận) lớn thì tác nhân đó hoạt động có kết quả tốt Mối liên kết phản ánh cách thức phối hợp các nhà vận hành chuỗi trong tất cả các giai đoạn của chuỗi Mối liên kết giữa các nhà vận hành có thể là một trao đổi thị trường tự do hay các hợp đồng liên kết được ký trước Loại hình liên kết phụ thuộc vào chất lượng và tính phức tạp của sản phẩm cuối cùng

Thứ ba:

Phân tích đánh giá kết quả thực hiện chuỗi giá trị thủy sản: Phân tích mức

độ mà một chuỗi giá trị thủy sản đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng cuối cùng bằng các chỉ tiêu về thời gian, sản phẩm và chi phí Để đánh giá kết quả thực hiện của chuỗigiá trị thủy sản cần đánh giá được 4 lĩnh vực: Kết quả và hiệu quả: Là phải đánh giá toàn bộ giá trị gia tăng được sản sinh ra bởi chuỗi giá trị thủy sản và tỷ trọng của các giai đoạn khác nhau; xác định việc phân phối lợi ích của các tác nhân tham gia trong chuỗi; Xác định ai có lợi ích từ sự tham gia trong chuỗi; Tác nhân nào có thể có lợi từ các hỗ trợ của các tổ chức Tính linh hoạt:

Là tiêu chí đo lường sự thỏa mãn của khách hàng và khả năng đáp ứng yêu cầu

về số lượng, chủngloạisản phẩm cũng như sự năng động trong phân phối Khả năng đáp ứng: Là tiêu chí đo lường khả năng chuỗi giá trị đáp ứng những mong đợicủa khách hàng Bất kể khách hàng nào mà đang được phục vụ, chuỗi giá trị

Trang 23

phải đáp ứng được các mong đợi của khách hàng đó Chất lượng sản phẩm: Chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm trong lý thuyết thường chia thành thuộc tính chất lượng bên trong và bên ngoài Tổng hợp tất cả các yếu tố bên trong và bên ngoài xác định hành vi mua bán (Jongen 2000)

Thứ tư:

Nâng cấp chuỗi giá trị thủy sản Nâng cấp là chỉ con đường để phát triển chuỗi giá trị (Gereffi and Korzenniewicz, 1994) Nâng cấp sản phẩm là việc đổi mới, đa dạng hóa hay cải tiến sản phẩm cuối cùng, nâng cấp quy trình là cải tiến công nghệ sản xuất, tiêu thụ và hậu cần, nâng cấp chức năng là việc chuyển các chức năng của chuỗi giá trị từ một người vận hành này sang một người vận hành khác Cải thiện hay nâng cấp chuỗi giá trị thủy sản, khác với việc đổi mới công nghệ như trong sản xuất Việc cải thiện và nâng cấp là nhằm tạo ra lợi ích và hạn chế rào cản gia nhập thị trường đối với sản phẩm của chuỗi Các dạng nâng cấp bao gồm: nâng cấp theo quy trình; nâng cấp theo sản phẩm; nâng cấp chức năng; nâng cấp chuỗi Từ đây có thể đưa ra được giải pháp để phát triển chuỗi

2 1.5 Các nhân t ố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển chuỗi giá trị thủy sản

- Nhóm nhân tố khách quan

+ Điều kiện tự nhiên, ngư trường nguồn lợi

Ngư trường nguồn lợi là nguồn cùng cấp nguyên liệu đầu vào là nhân tố khách quan quan trọng trong sự hình thành và phát triển chuỗi Yếu tố đầu vào là một yếu tố rất quan trong, ngay từ ban đầu nếu không có yếu tố đầu vào thì không thể hình thành được chuỗi giá trị

+ Kết cấu cơ sở hạ tầng, quy mô của các tác nhân

Tác nhân đầu tiên của chuỗi GTTS là những hộ nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Quy mô nuôi, công suất đánh bắt lớn hay nhỏ sẽ quyết định đến số lượng sản phẩm và khả năng đáp ứng của chuỗi GTTS Một chuỗi hoạt động với

số lượng sản phẩm lớn thì hoạt động của chuỗi cũng sẽ linh hoạt của chuỗi Mặt khác nếu hộ nuôi, đánh bắt có quy mô lớn sẽ tận dụng được lợi thế về quy mô và tiết kiệm được chi phí, do đó có thể cạnh tranh với các đối thủ hiện có

Trang 24

+ Quản lý của nhà nước, của chính quyền địa phương, sữ hỗ trợ của hiệp hội, ngành hàng

Sản phẩm của chuỗi có được diễn ra thông suốt từ “ao nuôi đến bàn ăn” hay không, một phần là nhờ vào các cơ chế, chính sách Nếu như có một hệ thống chính sách đồng bộ thì sẽ khuyến khích, tạo động lực rất lớn cho chuỗi phát triển, giúp tác nhân đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, chiếm lĩnh thị phần ngày càng lớn và thu hút ngày càng nhiều khách hàng biết đến sản phẩm chuỗi (Đỗ Đoàn Hiệp và cs., 2001) Các cơ chế, chính sách bao gồm các chính sách đầu tư, tài chính, tiền tệ, đất đai, công nghệ, thị trường, hỗ trợ liên doanh liên kết, kiểm soát chất lượng, đều ảnh hưởng đến hoạt động của các tác nhân cũng như toàn bộ quá trình hoạt động của chuỗi Sự phù hợp của chính sách sẽ góp phần nâng cao năng lực của chuỗi Chính vì vậy, cần có một thể chế, chính sách tốt để hỗ trợ cho các chuỗi GTTS nói chung và các tác nhân tham gia nói riêng giảm bớt thua thiệt, tăng năng lực sản xuất, kinh doanh

Tuy nhiên, thể chế chính sách sẽ tạo những thuận lợi cho một số tác nhân này nhưng tạo ra những bất lợi cho tác nhân khác Nếu biết vận dụng tốt thì các tác nhân sẽ nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, tiết kiệm thời gian, giảm chi phí đầu tư sản xuất, kinh doanh Tác nhân phải biết nắm bắt kịp thời những thay đổi của các chính sách để có những điều chỉnh nhằm thích nghi với điều kiện mới

Ngoài ra, các chương trình đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, của tỉnh, sở ban ngành, trung tâm nghiên cứu, của các công ty và các tổ chức cũng hỗ trợ tích cực đến sự phát triển của chuỗi

+ Ảnh hưởng của phát triển sản xuất hàng hóa và toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa dẫn đến sự tăng trưởng nhanh chóng của thương mại thế giới, quốc tế hóa các hoạt động sản xuất và kinh doanh của các tập đoàn đa quốc gia và sự sụt giảm chi phí thông tin và liên lạc Trong thế giới hiện đại ngày nay, cách sống thay đổi rất nhiều, bao gồm cả cách thức ăn uống, nhất là đối với tầng lớp trung lưu thành thị, do sự lan tỏa cách sống hiện đại thông qua

Trang 25

truyền thông và du hành Sự thay đổi cách thức ăn uống có các đặc trưng là đa dạng, thuận tiện và phá vỡ truyền thống Ngoài ra, người tiêu dùng ở các đô thị có xu hướng sử dụng nhiều hơn thức ăn phi truyền thống nhờ vào khả năng tiếp cận tốt hơn đến các hệ thống siêu thị hoặc cửa hàng bán lẻ và các chiến dịch tiếp thị

Một trong những xu hướng liên quan đến toàn cầu hóa hiện nay là sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của các thị trường hiện đại Các thị trường hàng hóa này liên kết chặt chẽ với các hệ thống siêu thị bán sỉ, lẻ quy mô lớn Các thị trường này đòi hỏi khối lượng hàng hóa lớn và các sản phẩm giá thấp

và phải đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh và an toàn thực phẩm Hệ thống thu mua hàng hóa của các thị trường này thường được hợp nhất theo chiều dọc, tầm hoạt động mang tính toàn cầu và có độ phức tạp cao Các thị trường kiểu này có tính năng động rất lớn, đáp ứng nhanh chóng với biến động giá, nhu cầu của người tiêu dùng và các cơ hội công nghệ mới Quy mô doanh thu của các hệ thống thị trường hiện đại này rất lớn, và kết hợp với chi phí thấp, dẫn đến lợi nhuận chung là con số khổng lồ Sự tập trung của các thị trường là rất lớn, chỉ một vài tập đoàn bán lẻ đã có thể khống chế hầu hết doanh số (Sonja Vermeulen, Jim Woodhill, Felicity Proctor & Rik Delnoye, 2008) Sự thay đổi này dẫn đến sự thống trị thị trường nông sản của các siêu thị và sự thay đổi về thể chế và tổ chức trong suốt chuỗi tiếp thị thực phẩm Các thay đổi này cũng gắn chặt với sự thiết lập các tiêu chuẩn tư nhân về chất lượng, vệ sinh

và an toàn thực phẩm ; hình thành hệ thống mua bán, sản xuất theo hợp đồng

- Nhóm nhân tố chủ quan

+ Vị trí, vai trò của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị cá cơm

Tác nhân đầu tiên của chuỗi GTTS là những hộ nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Quy mô nuôi, công suất đánh bắt lớn hay nhỏ sẽ quyết định đến số lượng sản phẩm và khả năng đáp ứng của chuỗi GTTS Một chuỗi hoạt động với

số lượng sản phẩm lớn thì hoạt động của chuỗi cũng sẽ linh hoạt của chuỗi Mặt khác nếu hộ nuôi, đánh bắt có quy mô lớn sẽ tận dụng được lợi thế về quy mô và tiết kiệm được chi phí, do đó có thể cạnh tranh với các đối thủ hiện có

Trang 26

Trình độ của các tác nhân tham gia chuỗi được xem là yếu tố quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển chuỗi GTTS nói chung cũng như sự phát triển sản xuất kinh doanh của chính tác nhân (Nguyễn Thị Thúy Vinh và Trần Hữu Cường, 2012) Trình độ học vấn là một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng làm việc của các tác nhân Trình độ học vấn sẽ giúp cho tác nhân có khả năng tiếp cận và xử lý mọi tình huống một cách khoa học, có hiệu quả hơn Trình độ của các tác nhân không chỉ đơn thuần là trình độ học vấn mà còn thể hiện những kiến thức hiểu biết trên nhiều lĩnh vực như chuyên môn, xã hội, phong tục tập quán, pháp luật, thông lệ quốc tế, liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các tác nhân Một tác nhân được đánh giá có chất lượng khi tác nhân đó có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng làm việc thành thạo

Mỗi doanh nghiệp là một tập hợp của các hoạt hoạt động để thiết kế, sản xuất, bán hàng, phân phối và hỗ trợ sản phẩm của họ Tất cả các hoạt động này,

có thể được thể hiện trong một chuỗi giá trị Sự hình thành chuỗi giá trị của một doanh nghiệp được phản ánh trong lịch sử của doanh nghiệp đó, của chiến lược, phương pháp triển khai chiến lược và đặt nền móng kinh tế cho bản thân các hoạt động này

Khả năng tương ứng để xây dựng một chuỗi giá trị chính là hoạt động của chuỗi giá trị chính là các hoạt động của doanh nghiệp trong ngành của họ Một ngành – một khu vực của ngành – có chuỗi giá trị rộng lớn Mặc dù các doanh nghiệp trong cùng một ngành có thể có chuỗi giá trị tương tự nhau, nhưng các đổi thủ cạnh tranh thường có những chuỗi giá trị khác nhau Chính sách hoạt động, dòng sản phẩm, kênh phân phối của mỗi doanh nghiệp là nguồn gốc cơ bản cho sự khác biệt của chuỗi giá trị Chuỗi giá trị tại các tập hợp con này của doanh nghiệp được liên kết chặt chẽ với nhau, tuy thế chỉ có thể hiểu rõ sự liên kết này trong bối cảnh sự xâu chuỗi các đơn vị kinh doanh

Chuỗi giá trị thể hiện tổng giá trị, bao gồm các hoạt động giá trị và lợi nhuận Hoạt động giá trị là những hoạt động đặc trưng về phương diện vật lý và công nghệ của doanh nghiệp Mỗi hoạt động giá trị ( thu mua đầu vào, nhân lực

và một hình thái công nghệ nào đó thể hiện chức năng của nó) đều ảnh hưởng rất

Trang 27

lớn đến sự hình thành chuỗi giá trị Các hoạt động giá trị có thể chia thành hai loại chính: Hoạt động sơ cấp và hoạt động hỗ trợ Phương thức tiến hành của mỗi hoạt động này và sự liên hệ đến tính kinh tế của chúng sẽ xác định doanh nghiệp

có chi phí cao hay thấp đối với đối thủ cạnh tranh Mỗi hoạt động này hoạt động như thế nào cũng quyết định đến sự đóng góp của nó đến nhu cầu của người mua

và theo đó là sự khác biệt hóa các chuỗi giá trị

+ Công nghệ, kỹ thuật

Công nghệ, kỹ thuật là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các tác nhân, là nhân tố cơ bản quyết định việc hình thành chất lượng sản phẩm (Nguyễn Thị Thúy Vinh và Trần Hữu Cường, 2012) Các nhân tố công nghệ, kỹ thuật trong suốt quá trình của chuỗi GTTS bao gồm quy trình kỹ thuật sản xuất, bảo quản và chế biến, thiết bị sản xuất, Công nghệ,

kỹ thuật phù hợp sẽ cho phép rút ngắn thời gian sản xuất, bảo đảm chất lượng sản phẩm, giảm chi phí, giá thành sản phẩm Tuy nhiên công nghệ, kỹ thuật được lựa chọn phải phù hợp với nguồn lực của tác nhân, phải phù hợp với điều kiện, môi trường kinh doanh Để có công nghệ phù hợp, các tác nhân cần có thông tin về công nghệ, chuyển giao công nghệ, tăng cường nghiên cứu cải tiến công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, đầu tư đổi mới công nghệ Đồng thời tác nhân cần đào tạo nâng cao trình độ tay nghề để sử dụng

có hiệu quả công nghệ hiện đại

+ Người tiêu dùng

Người tiêu dùng là tác nhân cuỗi cùng trong chuỗi, quyết định sự sống còn của sản phẩm Người tiêu dùng có quyền quyết định có hay không mua sản phẩm, từ đó ảnh hưởng đến toàn bộ chuỗi GTTS

2.1.6 Đặc điểm hình thái, thành phần loài và dinh dưỡng của cá cơm

2.1.6.1 Hình thái học và thành phần loài

- Hình thái học

Cá cơm thường có cơ thể màu sáng mờ, hai bên sườn có dải màu trắng bạc Mình cá thon dài, miệng quay xuống dưới, mõm nhô ra phía trước, xương hàm trên kéo dài Ở phần bụng, gai xương chỉ có ở phía trước vây bụng Các vây đều không có gai

Trang 28

cứng Vây lưng ngắn, khởi điểm nằm phía trước khởi điểm vây hậu hậu môn Vậy bụng

bé Vây ngực nằm ở phần thấp của thân và ở gốc có vây nách Vây hậu môn ngắn và không dính liền với vây đuôi ( Lê Trọng Phấn và Nguyễn Văn Lục, 1991)

Synonym: Encrasicholina heterolobus

Đặc điểm hình thái :Khởi điểm vây hậu môn nằm sau gốc vây lưng Mút cuối của xương hàm trên kéo dài ra đến khe mang Mõm nhọn, nhô ra phía trước Vây lưng và vây hậu môn có hai tia đầu không phân nhánh Gai xương viền bụng

5 ÷ 6 Thân màu xám trắng, hai bên thân có một giải bạc chạy từ sau xương nắp mang đến vây đuôi

Cá cơm đê vi

Tên địa phương: Cá cơm mõm nhọn, Cá cơm sọc trắng

Tên tiếng Anh: Devis' anchovy

Synonym: Amentum devisi

Đặc điểm hình thái: Khởi điểm vây hậu môn nằm sau gốc vây lưng Mút cuối của xương hàm trên kéo dài ra đến khe mang Mõm nhọn, nhô ra phía trước Vây lưng và vây hậu môn có ba tia đầu không phân nhánh Gai xương viền bụng

5 ÷ 6 Thân màu trắng đục Hai bên thân có một giải bạc chạy từ sau xương nắp mang đến vây đuôi, phía trước sọc hẹp, phía sau hơi rộng

Cá cơm sọc xanh

Tên địa phương: Cá cơm sọc xanh, Cá cơm than, Cá cơm đỏ

Tên tiếng Anh: Buccaneer anchovy

Synonym: Stolephorus punctifer

Trang 29

Đặc điểm hình thái: Khởi điểm vây hậu môn nằm sau gốc vây lưng Mút cuối của xương hàm trên không kéo dài ra đến khe mang Mõm tù, ít dô ra phía trước Bên thân có một dải xanh đen rất rõ Gai xương viền bụng 4 ÷ 6 cái Thân màu xám trắng pha màu hồng nhạt, dọc hai bên thân có giãi bạc khá rộng chạy từ xương nắp mang đến vây đuôi

Cá cơm thường

Tên địa phương: Cá cơm trắng, Cá cơm sọc phấn, Cá cơm bạc

Tên tiếng Anh: Commersons anchovy

Synonym: Stolephorus commersoni

Đặc điểm hình thái: Khởi điểm vây hậu môn nằm ngay dưới gốc vây lưng Xương hàm trên kéo dài vượt quá rìa sau của xương nắp mang trước Giữa vây ngực và vây bụng có 6 ÷ 7 gai xương Thân có màu trắng đục Bên thân có một sọc trắng bạc mỏng chạy từ say xương nắp mang đến vây đuôi

Cá cơm Ấn Độ

Tên địa phương: Cá cơm trỏng, Cá cơm trắng, Cá cơm săn

Tên tiếng Anh: Indian anchovy Synonym: Engraulis indicus

Đặc điểm hình thái: Khởi điểm vây hậu môn nằm ngay dưới gốc vây lưng Xương hàm trên không kéo dài đến khe mang Giữa vây ngực và vây bụng có 4 ÷ 5 gai xương Thân có màu trắng đục Bên thân có một sọc trắng bạc, trước hep hơn sau

2.1.6.2 Một số đặc điểm dinh dưỡng của cá cơm

Nhìn chung, nhóm Copepoda, Phytonplanton là thức ăn chính của hầu hết các loài cá cơm ở khu vực nghiên cứu Đặc biệt là nhóm cá cơm sọc xanh, Cơm mõm nhọn và Cơm đê vi, tần suất bắt gặp các nhóm thức ăn khác khá thấp so với

2 nhóm này Ngoài 2 loại thức ăn thường gặp trên, cá cơm thường và Cơm ấn độ khá thường xuyên bắt gặp nhóm Macura Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu còn cho thấy có sự tương đồng nhau về thành phần thức ăn giữa cá cơm mõm nhọn, Cơm sọc xanh và Cơm đê vi Cơm Ấn Độ và Cơm thường cũng tương đối giống nhau về tập tính ăn

Trang 30

2.1.6.3 Một số đặc điểm sinh học sinh sản

Theo “Đánh giá nguồn lợi cá cơm ở vùng biển Tây Nam Bộ và đề xuất giải pháp bảo vệ và khai thác hợp lý” của tác giả Đặng Văn Thi (2006) cá cơm có một số đặc điểm sinh học sinh sản sau đây:

- Kích thước và tuổi thành thục

Tổng số, 17.975 cá thể được thu thập ở Tây Nam bộ trong 2 năm 2005,

2006 nhằm tiến hành phân tích sinh học Trong đó, cá cơm mõm nhọn được phân tích nhiều nhất, tiếp đến là loài cá cơm sọc xanh và thấp nhất là loài cá cơm ấn

độ Kết quả ước tính kích thước, tuổi thành thục cũng như số lượng mẫu sử dụng của mỗi loài cá cơm được trình bày chi tiết ở bảng 10 Cá cơm đê vi và cá cơm mõm nhọn có kích thước thành thục tương tự nhau và nhỏ hơn khá nhiều so với 3 loài còn lại, đặc biệt, cá cơm ấn độ có chiều dài thành thục lớn hơn cả, 106 mm

- Mùa vụ sinh sản

Sinh sản:

Cá cơm thông thường đẻ rải rác quanh năm, tuy nhiên, có hai mùa đẻ chính là tháng 5 ÷ 7 và tháng 11 cho đến tháng 2 năm sau Điều này cũng tương đồng với nhận định của các nghiên cứu khác về trứng cá, cá con, đó là trứng cá ÷

cá con của cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc chủ yếu tập trung ở vùng biển ven bờ, quanh các đảo vào các tháng 5 ÷ 7 và tháng 11 đến tháng 2 năm sau

Nhìn chung, toàn bộ 5 loài cá cơm đề cập đến ở đây đều thành thục rải rác

ở tất cả các tháng trong năm Tuy nhiên, tỷ lệ (%) cá thể thành thục của cá cơm mõm nhọn cao vào tháng 5 ÷ 7 và tháng 11 cho đến tháng 1 năm sau; cá cơm sọc xanh vào tháng 5 và tháng 9 ÷ 12; rõ ràng nhất là cá cơm đê vi và cá cơm thường đẻ rải rác từ tháng tháng 5 ÷ 6 và từ tháng 9 đến tháng 01 năm sau, nhưng rộ nhất vào tháng 5 và 10 (cá cơm đê vi) và tháng 6, 9, và 12 (cá cơm thường); cá cơm ấn độ vào tháng 3, 7, 9 và 12 Qua đó nhận thấy cá cơm ở vùng biển Kiên Giang có hai mùa đẻ chính trong năm là tháng 5 ÷ 7 và tháng 11 cho đến tháng 2 năm sau

- Kích thước thành thục lần đầu

Chiều dài đến chẽ vây đuôi (FL), tại đó 50% số cá thể lần đầu tham gia vào quá trình sinh sản của 4 loài cá cơm bắt gặp ở Huyện đảo Phú Quốc được

Trang 31

trình bày ở bảng 11 Riêng đối với cá cơm Ấn độ do số lượng cá thể ít nên việc ước tính chiều dài thành thục lần đầu không thể thực hiện được Nhìn chung, kích thước thành thục của cá thể đực và cái ở mỗi loài khác nhau không nhiều

- Sức sinh sản

Trứng – cá con:

Trứng cá, cá con thuộc nhóm cá cơm thu được hầu như quanh năm Tuy nhiên, vào mùa gió Tây Nam phân bố mật độ trứng cá, cá con thường dày hơn so với mùa gió Đông Bắc, khu vực phân bố tập trung thường trùng với khu vực phân bố của trứng cá, cá con các loài cá khác

Ở mùa gió Tây Nam, xu thế phân bố mật độ trứng cá tập trung, xảy ra ở vùng biển nằm giữa các đảo Hòn Thơm, Nam Du, Thổ Chu và Hòn Chuối Ở mùa gió Đông Bắc, xu thế phân bố mật độ trứng cá tập trung, xảy ra ở vùng biển gần bờ, xung quanh các đảo Hòn Thơm, Nam Du và Hòn Chuối Đối với cá con, khu vực phân bố tập trung, cũng gần trùng với khu vực phân bố trứng cá

Sức sinh sản tuyệt đối

Nhìn chung, sức sinh sản tuyệt đối - sức chứa trứng tuyệt đối của cá cơm

có xu hướng tăng dần theo chiều dài cơ thể Đối với cá cơm đê vi sức chứa trứng tuyệt đối dao động từ 1.917 trứng, tương ứng với chiều dài FL = 57 mm, đến 7.697 trứng tương ứng với chiều dài FL = 80 mm, và sức chứa trứng trung bình khoảng 3.566 trứng (67 mm) Trứng có kích thước lớn có khoảng 551 trứng đến 2.463 trứng, trứng nhỏ dao động từ 1.830 trứng đến 5.234 trứng; cá cơm mõm nhọn, dao động từ 1.670 trứng (57 mm) đến 14.946 trứng (80 mm), trung bình 5.070 trứng; cá cơm sọc xanh có từ 3.587 trứng (60 mm) đến 15.357 trứng (73 mm), trung bình 7.928 trứng, trứng có kích thước lớn dao động trong khoảng 363

÷5.821 trứng, trứng có kích thước nhỏ nằm trong khoảng 1.752 ÷ 10.803 trứng Trong khi đó, cá cơm thường có số lượng trứng biến động từ 1.230 trứng (70 mm) đến 5.062 trứng (80 mm), và trung bình có khoảng 2.843 trứng Do số mẫu thu được không đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy nên việc ước tính sức chứa trứng đối với cá cơm ấn độ không thể thực hiện được

Trang 32

Sức sinh sản tương đối

Sức chứa trứng tương đối của Cá cơm thường chỉ đạt khoảng 500 trứng/g

cơ thể, thấp hơn 3 loài còn lại rõ ràng Chỉ số này cao nhất ở cá cơm sọc xanh khoảng 3.000 trứng/g cơ thể, tiếp đó là cá cơm đê vi và cá cơm mõm nhọn, khoảng trên 1.000 trứng/g cơ thể Cụ thể, cá cơm đê vi có sức sinh sản tương đối dao động từ 570 ÷ 1.937 trứng/g cơ thể; cá cơm mõm nhọn dao động từ 1.099 ÷ 3.292 trứng/g cơ thể; cá cơm sọc xanh dao động từ 1.510 ÷ 4.095 trứng/g khối lượng cơ thể; cá cơm thường dao động từ 308 ÷ 858 trứng/g cơ thể

đủ các nghiên cứu về lý thuyết phân tích chuỗi giá trị nhằm thực hiện nghiên cứu ứng dụng cho các sản phẩm nông nghiệp (UNIDO, 2009) Tuy nhiên, lý thuyết chuỗi giá trị của UNIDO (2009) được tổng hợp chủ yếu dựa trên các nghiên cứu trước đó của Kaplinsky và Morris (2001), Gereffi (1994, 1999) and Gereffi and Korzeniewicz (1994) UNIDO đã tiến hành nghiên cứu ứng dụng về phân tích chuỗi giá trị một số sản phẩm nông nghiệp như các sản phẩm ngũ cốc, các sản phẩm dầu từ thực vật, cà phê, ca cao, đường, sữa, thịt động vật, trái cây, trà, rau, mật ong ở một số quốc gia như Ethiopia, Nicaragua, Ecuador, Ai Cập, Sri Lanka, Indonesia, Việt Nam, một số nước ở Châu Âu (UNIDO, 2009; Folke và ctv, 2010) Phương pháp tiếp cận cho các nghiên cứu này chủ yếu dựa trên các nội dung phân tích chuỗi giá trị được trình bày trong phần 1.2.5 của đề tài này Các nghiên cứu cho thấy cấu trúc thị trường các chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp là đa dạng và khác biệt giữa các quốc gia, có sự khác nhau về phân phối lợi ích và đặc biệt là các chuỗi giá trị chịu tác động khác nhau lớn bởi cơ chế và chính sách từ các Chính phủ UNIDO (2009) đã báo cáo rằng 98% sản phẩm nông nghiệp từ các nước phát triển được chế biến công nghiệp và thu được 185

Trang 33

USD giá trị gia tăng trên 1 tấn sản phẩm nông nghiệp chế biến, trong khi đó tỷ lệ này tại các nước đang phát triển là 38% tương ứng với giá trị gia tăng là 40 USD trên 1 tấn sản phẩm nông nghiệp Thêm vào đó, giá trị tổn thất sau thu hoạch ở những nước đang phát triển khoảng 40%, trong khi đó ở các nước công nghiệp phát triển là rất nhỏ UNIDO (2009) kết luận rằng chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp ở các nước đang phát triển tạo ra giá trị thấp và nhìn chung đang ở vị thế cạnh tranh bất lợi so với các nước phát triển

Nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản, có một số công trình nghiên cứu của FAO đã được thực hiện Ngoài những kết quả nghiên cứu của FAO (2006) và De Sival (2011) đã trình bày ở trên, trong khuôn khổ những dự

án của FAO, Bjorndal và Gordon (2010) đã tiến hành xây dựng mô hình lý thuyết

về biến động giá cả và lợi ích biên giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản Nghiên cứu đã trình bày khung mô hình sự thay đổi giá cả từ tác nhân này sang các nhân khác tùy thuộc vào độ co dãn của cầu giữa các quốc gia và đặc điểm cạnh tranh ở mỗi thị trường (cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo và độc quyền) Tuy nhiên hai tác giả này kết luận rằng cần có những nghiên cứu thực nghiệm nhiều hơn để kiểm định cho các mô hình lý thuyết này (Bjorndal và Gordon, 2010) FAO (2011b) đã trình bày nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm những mặt hàng thủy sản khai thác nội địa của Campuchia FAO (2011b) lần lượt phân tích các tác nhân trong chuỗi về đặc điểm sản xuất, phương thức giao dịch trao đổi mua bán, từ đó xây dựng một chuỗi giá trị tổng quát cho chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác Campuchia Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa xác định được sự phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi vì thiếu dữ liệu điều tra thực tế

Trong khuôn khổ dự án AU/NEPAD ở Châu Phi, Hempel (2010) đã có báo cáo phân tích chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác ở một số quốc Châu Phi, bao gồm Tanzania, Maroc, Namibia, Uganda, Kenya, Negieria, Ghana Dựa vào phương pháp phân tích chuỗi giá trị của Kaplinsky và Morris (2001), Hempel (2010) đã vận dụng mô hình phân tích chuỗi giá trị của FAO (2006) như hình 1.3 để xây dựng sơ đồ chuỗi giá trị cho những sản phẩm được lựa chọn ở

Trang 34

các quốc gia này và phân tích mối quan hệ tương tác giữa các tác nhân trong sự vận hành chuỗi giá trị Nghiên cứu cũng chỉ ra những tác động của các chính sách vĩ

mô đến sự vận hành các chuỗi giá trị và những thách thức từ rào cản thương mại đối với việc tạo lập vị thế cạnh tranh bền vững trên thị trường quốc tế

Trung tâm nghiên cứu CGGC (Center on Globalization, Governance and Competitiveness) của Trường Đại học Duck (Mỹ) là một trong những nơi thực hiện khá nhiều nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu trong lĩnh vực nông nghiệp ở các quốc gia Châu Mỹ, ví dụ Lowe và Gereffi (2008, 2009) phân tích chuỗi giá trị sản phẩm thịt heo và bò, Fernandez-Stark và ctv (2011) nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm rau và trái cây Năm 2010, Dubay và ctv (2010) đã phân tích chuỗi giá trị sản phẩm tôm biển khai thác của Mexico xuất khẩu vào thị trường Mỹ Trong nghiên cứu này, các tác giả đã xác định cấu trúc kênh thị trường từ khâu đầu tiên (người đánh bắt) đến người tiêu dùng cuối cùng bao gồm

cả sự phân phối tỷ lệ sản lượng mua bán qua các tác nhân đến người tiêu dùng Mexico và Mỹ Kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng 90% tôm khai thác của Mexico được xuất khẩu đến thị trường Mỹ Phương thức tổ chức và vận hành chuỗi cũng được chú trọng phân tích và đánh giá, và cuối cùng xác định sự phân phối thu nhập và chi phí giữa các tác nhân trong chuỗi (Dubay và ctv, 2010) Mặc dù nghiên cứu của Dubay và ctv (2010) không đề cập đến mô hình lý thuyết SCP, nhưng qua kết quả nghiên cứu trình bày ta thấy rằng nghiên cứu này đã tiến hành xác định cấu trúc thị trường của chuỗi giá trị, đánh giá sự vận hành và tổ chức hoạt động mua bán trên thị trường và tính toán lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi

2.2.2 Các chính sách phát triển thủy sản và nghiên cứu phát triển chuỗi ngành hàng thủy sản ở Việt Nam

Hiện nay, Nhà nước có nhiều chính sách có liên quan đến ngành thủy sản

từ hoạt động sản xuất đến tiêu thụ trên thị trường Một số chính sách, nghị định, quy chế ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của một số nghề khai thác và chế biến

cá cơm như chính sách về quản lý hoạt động tàu thuyền, chính sách về bảo vệ nguồn lợi thủy sản, chính sách về vệ sinh an toàn thực phẩm, chính sách tín dụng

Trang 35

a Chính sách về quản lý hoạt động tàu thuyền, bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Đề án tái cơ cấu nghành nông nghiệp theo Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013;

Quyết định số 1445/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản đến năm 2020, tầm nhìn 2030;

Quyết định số 375/QĐ-TTg ngày 01/3/2013 của Thủ tướng về phê duyệt

Đề án tổ chức lại sản xuất trong khai thác hải sản;

Quyết định số 188/QĐ-TTg ngày 13/2/2012 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản;

Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010 và Quyết định số 65/QĐ-TTg ngày 02/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau khi thu hoạch đối với nông sản, thủy sản;

Nghị định số 103/2013/NĐ-CP của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản;

Chỉ thị số 689/CT-TTG ngày 18/5/2010 và Công điện số 1329/CĐ-TTG ngày 30/8/2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp ngăn chặn, giảm thiểu tình trạng tàu cá, ngư dân Việt Nam bị nước ngoài bắt giữ, xử lý

Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg; số 39/2011/QĐ-TTg và số TTg của Thủ tướng Chính phủ; rà soát danh sách các tàu cá đã đăng ký tham gia khai thác ở vùng biển xa để có biện pháp theo dõi, quản lý hỗ trợ

38/2013/QĐ-Nghị định 67/2014/NĐ-CP, Về một số chính sách phát triển thủy sản Nghị đinh 31/2010/NĐ-CP ngày 29/3/2010 của Chính phủ ban hành Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản;

Nghị định 33/2010/NĐ-CP ngày 29/3/2010 của Chính phủ về việc quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển; Quyết định 18/2011/QĐ-UBND ngày 07/4/2011 của UBND tỉnh Kiên Giang ban hành Quy định về quản lý hoạt động khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Tỉnh Kiên Giang và Cà Mau đã ký bản thỏa thuận số 28/BTT-UBNDTCM -UBNDTKG ngày 18/8/2009 về phân định ranh giới quản lý hoạt động khai thác

Trang 36

thủy sản trên vùng biển ven bờ giữa tỉnh Cà Mau và Kiên Giang tạo hành lang pháp

lý cho hoạt động khai thác của tàu thuyền hoạt động trên Huyện đảo Phú Quốc Tăng cường đàm phán với các nước trong khu vực như In-đô-nê-xia, Myanmar, Brunei và các nước khác để đưa tàu cá đi khai thác hải sản; đồng thời phối hợp với tỉnh Kiên Giang đánh giá mô hình đưa tàu cá, ngư dân đi khai thác hải sản tại In-đô-nê-xia để kịp thời điều chỉnh, hỗ trợ, phổ biến và nhân rộng

Triển khai thực hiện ký các thỏa thuận, Quy chế phối hợp với các lực lượng chức năng như Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát giao thông đường thủy, Cảnh sát biển, Hải quân về phối hợp bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc phòng vùng biển, hải đảo, quản lý hoạt động nghề cá và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Tiếp tục vận động chủ tàu và thuyền trưởng ký cam kết không vi phạm vùng biển của các nước trong khu vực đánh bắt hải sản

Đám phán hợp tác và thỏa thuận với Camphuchia đồng ý cho phép tàu khai thác của Việt Nam sang vùng biển Campuchia khai thác hải sản

Quyết định số 423/ 2000/ QĐ.NHNN ngày 22/9/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc giảm lãi suất vay vốn để sản xuất kinh doanh đối với các tổ chức, cá nhân nuôi trồng thuỷ sản

Trước tình hình thiếu vốn trong khi nhu cầu cải hoán nâng cấp tàu thuyền, mua ngư lưới cụ của các chủ tàu khai thác cao, Chính phủ đã có nhiều chính sách

hỗ trợ, nhiều chương trình liên kết với các ngân hàng thương mại các tổ chức tín dụng giải quyết vấn đề thiếu vốn cho ngư dân, cho vay với lãi suất ưu đãi, thủ tục

hồ sơ vay đơn giản

Trang 37

c.Chính sách của chính phủ đối với các doanh nghiệp/cơ sở chế biến

Quyết định số 63/2010/QĐ –TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 15 tháng 10 năm 2010 v/v hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thuỷ sản;

Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 4 tháng 6 năm 2010;

Chính sách về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006)

Nghị định số 106/2008/NĐ-CP ngày 19/9/2008 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 151/2006/NĐ-CP đối với việc đầu tư mới và đầu tư nâng cấp các cơ sở chế biến thủy sản đủ điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và cơ sở áp dụng công nghệ chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng đạt trình độ tiên tiến Các chính sách của Nhà nước đối với sản phẩm nước mắm Phú Quốc.Chính sách hỗ trợ nhà thùng vay vốn ưu đãi từ các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng Lãi suất ưu đãi từ 9-12%/năm đối với các nhà thùng

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản vẫn còn khiêm tốn và rời rạc Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một số mặt hàng thủy sản nuôi trồng như cá tra và tôm như trong báo cáo của GTZ và Dự án nuôi trồng phát triển thủy sản theo chuẩn thương mại (Dự án SEAT - Sustaining Ethical Aquatic Trade) Những nghiên cứu này trọng tâm nghiên cứu các bên liên quan dọc theo chuỗi giá trị ngành hàng cá tra và tôm để tìm hiểu và nhận diện các vấn

đề phát triển bền vững liên quan đến việc sản xuất và thương mại hai ngành hàng này trong phạm vi nội địa và quốc tế Các nghiên cứu cho thấy thiếu sự liên kết người nuôi cá và tôm đang gặp nhiều khó khăn Qua kết quả khảo sát, phân tích trên 3 khía cạnh kinh tế, môi trường, xã hội/ tổ chức, từ nhận thức các nhóm liên quan, về các yếu tố tác động đến hoạt động trong tương lai, trong đó riêng khía cạnh kinh tế hiện đang nổi lên yếu tố khó khăn, ảnh hưởng đến phát triển bền vững (xem SEAT, 2012) Nhóm những người nuôi và nhà máy chế biến thủy sản gặp hạn chế nguồn vốn đầu tư; giá sản phẩm thấp; nhà máy gặp tình trạng nguồn nguyên liệu không ổn định và thách thức từ rào cản kỹ thuật Nhóm sản xuất giống phản ánh khó khăn trong tiếp cận công nghệ Nhóm thương lái thu mua ít gặp những rủi ro từ những biến động trên thị trường (GTZ, 2009; SEAT, 2012)

Trang 38

Đối với sản phẩm thủy sản khai thác biển, Thủy và ctv (2011) đã tiến hành phân tích chuỗi giá trị sản phẩm cá cơm tại thị trường Khánh Hòa Báo cáo đã sử dụng mô hình SCP phân tích cấu trúc chuỗi giá trị mặt hàng thủy sản cá cơm, đánh giá vai trò của các tác nhân, phân tích hoạt động tổ chức và vận hành chuỗi giá trị, và xác định sự phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi Kết quả nghiên cứu cho thấy việc phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân chênh lệch khá lớn Ngư dân là người thu được lợi ích kinh tế thấp nhất, nhưng họ phải chịu nhiều rủi ro Giá bán của ngư dân phụ thuộc hoàn toàn vào giá của nậu vựa đưa

ra, nhưng quyền lực định giá trên thị trường là nhà nhập khẩu Các tác nhân cuối cùng trong chuỗi (cơ sở chế biến thủy sản, cơ sở sản xuất nước mắm) là những người được hưởng lợi nhiều nhất, đặc biệt là cơ sở xuất khẩu Các công ty chế biến tạo ra giá trị nhiều nhất trong chuỗi, tuy nhiên tác nhân này gặp rủi ro trong vấn đề tiêu thụ sản phẩm Người được lợi ích kinh tế cao thứ hai trong chuỗi là các chủ nậu vựa

Duy và ctv (2012a) đã phân tích phân phối lợi ích giữa các tác nhân sản xuất và phân phối cá ngừ sọc dưa ở thị trường Khánh Hòa Tuy nhiên, hạn chế trong nghiên cứu của Duy và ctv (2012a) là sử dụng số liệu 1 năm, trong đó tác nhân công ty chế biến thủy sản xuất khẩu chỉ có 1 quan sát Điều này không những ảnh hưởng đến tính đại diện của tác nhân công ty chế biến xuất khẩu mà còn không đánh giá được các biến động theo thời gian và những thay đổi trong cấu trúc chuỗi Vì vậy, luận văn tốt nghiệp này sẽ khảo sát số liệu theo thời gian

và gia tăng số lượng quan sát các tác nhân, đồng thời mở rộng phân tích những vấn đề liên quan đến chất lượng sản phẩm và thực hiện truy xuất nguồn gốc của các tác nhân trong chuỗi cũng như ảnh hưởng của cơ chế chính sách ngành và địa phương tác động đến việc tổ chức và vận hành chuỗi giá trị sản phẩm này

2.2.3 Thực tiễn nước ngoài về chuỗi giá trị cá cơm và kinh nghiệm nâng cao chuỗi giá trị cá cơm

Theo một nghiên cứu về Chuỗi giá trị cá cơm ở Peru của tác giả Yvonne Evans (2010), cá cơm Peru sinh sống và phát triển ở vùng biển phía Đông Nam Thái Bình Dương Các tàu lưới vây thường khai thác cá cơm dọc theo bờ biển

Trang 39

Peru Sản lượng khai thác hiện tại của cá cơm tại Peru bị giới hạn 5,8 triệu tấn cá nguyên liệu tương đương với 1,35 triệu tấn bột cá và 203.000 tấn dầu cá/ năm Sản lượng đánh bắt hầu như được sử dụng trong chế biến bột cá và dầu cá, chỉ có một số lượng nhỏ được người dân tiêu dùng trực tiếp, và bán ra trong nước, còn lại là để phục vụ cho chế biến để xuất khẩu Peru là một trong những nước xuất khẩu bột cá lớn nhất trên thế giới Công nghệ chế biến bột cá và dầu cá tại các nhà máy hiện nay được nhập khẩu từ Na Uy và một số nước khác, nên mức đầu

tư và chi phí lớn Bột cá cơm Peru được xuất khẩu chủ yếu sang Trung Quốc và châu Âu Giá xuất khẩu được xác định trên cơ sở hàng tháng và hàng năm thông qua nhiều nguồn và được kiểm tra chéo, chẳng hạn như: Aduanet, Sociedad Nacional de Pesqueria, Ministerio de la Produccion và IFFO (OilWorld) Ngoài

ra, sản phẩm cá cơm tươi ngày càng được người tiêu dùng ưa chuộng Cá cơm đông lạnh được sử lý đóng hộp nhằm mục đích tích trữ để xử dụng trong thời gian cấm khai thác của chính phủ nước này Tại Peru, ba thương hiệu nổi tiếng của sản phẩm cá cơm đóng hộp là cá cơm đóng hộp trong dầu, nước sốt cà chua, dầu ô liu hoặc một số đặc sản quý hiếm

Theo Báo cáo về chuỗi giá trị cá cơm của Ma-rốc năm 2011, các hoạt động khai thác thủy sản tại nước này diễn ra 06 ngày/tuần và chủ yếu là khai thác

cá cơm Sản lượng khai thác cá cơm mỗi tàu khoảng 500 hộp, trung bình là 10.000 kg Chuỗi giá trị cá cơm tại Ma-rốc gồm các công đoạn: Đánh bắt Đưa

về cảng cá Bán cho những thị trường ưu tiên hoặc bán trong CAPI (Công ty chấm điểm của ngành công nghiệp cá) Bán cho các đơn vị sản xuất đồ hộp hoặc bán tại các thị trường bán buôn Xuất khẩu và bán lẻ Người tiêu dùng cuối cùng Giá cá cơm dao động từ 50 đến 500 DHS/hộp, giá trung bình là 250DHS/hộp (tương đương với 12.5DHS/kg) Người mua cá cơm chủ yếu là các nhà bán buôn Họ thu mua cá cơm sau đó cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến để bán ra thị trường và xuất khẩu Trong những năm gần đây, giá cá cơm tại Ma-rốc liên tục tăng nhẹ, khiến tỷ suất lợi nhuận trung bình cho ngư dân luôn được giữ ở mức ổn định Chi phí cho hoạt động đánh bắt cá cơm gồm có: Nhiên liệu 4,192 DHS/1 chuyến, đá ướp 380DHS/chuyến Tỷ suất lợi nhuận của

Trang 40

các chủ tàu được tính toán sau khi trừ các chi phí thông thường là 22%, 4 % của giá bán để duy trì bảo dưỡng tàu, 22% thuế, 20% nhiên liệu, các chi phí khác 10% Phần còn lại của doanh thu được chia đều cho các chủ tàu và thủy thủ theo

và Nam bộ Vùng biển Tây Nam Bộ Việt Nam và vịnh Thái Lan được coi là một trong những nơi tập trung nhiều chủng loại cá cơm nhất trên thế giới (Đặng Văn Thi và cộng sự, 2006)

Nghiên cứu đã đánh giá được trữ lượng nguồn lợi cá cơm ở vùng biển Tây Nam Bộ và đã phân loại được các loài cá cơm nhưng nghiên cứu chưa chỉ ra được những giải pháp cụ thể để bảo vệ nguồn lợi cá cơm

Nghiên cứu của Đặng Văn Thi và cộng sự (2008) cho thấy nguồn lợi cá cơm có vai trò tương đối quan trọng đối với nghề cá Việt Nam, đặc biệt là đối với cộng đồng ngư dân ở Huyện đảo Phú Quốc như Cà Mau, Kiên Giang Điều

Ngày đăng: 17/02/2017, 10:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Nguyễn Ngọc Duy, Nguyễn Thị Kim Anh và Nguyễn Thị Trâm Anh (2012), “Hài hòa lợi ích giữa ngư dân và các tác nhân trong chuỗi giá trị sản phẩm thuỷ sản khai thác - trường hợp mặt hàng cá ngừ sọc dưa tại Khánh Hòa”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Số 6, Kỳ 2-Tháng 3/2012, tr. 11-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hài hòa lợi ích giữa ngư dân và các tác nhân trong chuỗi giá trị sản phẩm thuỷ sản khai thác - trường hợp mặt hàng cá ngừ sọc dưa tại Khánh Hòa
Tác giả: Nguyễn Ngọc Duy, Nguyễn Thị Kim Anh và Nguyễn Thị Trâm Anh
Năm: 2012
9. Vũ Việt Hà, Nguyễn Bá Thông, Đặng Văn Thi và ctv (2005). Hiện trạng nguồn lợi biển Việt Nam. Báo cáo chuyên đề dự án "Đánh giá Nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam, giai đoạn 2", 55 trang. Hải Phòng, Viện Nghiên cứu Hải sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá Nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam, giai đoạn 2
Tác giả: Vũ Việt Hà, Nguyễn Bá Thông, Đặng Văn Thi và ctv
Năm: 2005
18. Đào Mạnh Sơn (2002). Báo cáo tổng kết đề tài "Nghiên cứu, thăm dò nguồn lợi hải sản và lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp phục vụ phát triển nghề cá xa bờ Việt Nam". Lưu trữ tại thư viện Viện Nghiên cứu Hải sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, thăm dò nguồn lợi hải sản và lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp phục vụ phát triển nghề cá xa bờ Việt Nam
Tác giả: Đào Mạnh Sơn
Năm: 2002
21. Sở Thủy sản Kiên Giang (2000). Báo cáo khoa học “Hiện trạng tài nguyên thủy sản trên các vùng sinh thái cửa sông, ven biển, hải đảo tỉnh Kiên Giang” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng tài nguyên thủy sản trên các vùng sinh thái cửa sông, ven biển, hải đảo tỉnh Kiên Giang
Tác giả: Sở Thủy sản Kiên Giang
Năm: 2000
23. Đặng Văn Thi và cộng sự (2006). Báo cáo tổng kết đề tài “Đánh giá nguồn lợi cá cơm ở vùng biển Tây Nam Bộ và đề xuất giải pháp bảo vệ và khai thác hợp lý”.Viện Nghiên Cứu Hải Sản, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nguồn lợi cá cơm ở vùng biển Tây Nam Bộ và đề xuất giải pháp bảo vệ và khai thác hợp lý
Tác giả: Đặng Văn Thi và cộng sự
Năm: 2006
29. Viện Nghiên cứu Hải sản (2005). Đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khai thác bền vững nguồn lợi các cơm tỉnh Kiên Giang ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khai thác bền vững nguồn lợi các cơm tỉnh Kiên Giang
Tác giả: Viện Nghiên cứu Hải sản
Năm: 2005
36. De Silva D.A.M. (2011), “Value chain of fish and fishery products: origin, functions and application in developed and developing country markets”, In FAO (2012) Value-chain in small scale fisheries, Value-chain bibliography, Food and Agriculture Organization Sách, tạp chí
Tiêu đề: Value chain of fish and fishery products: origin, functions and application in developed and developing country markets
Tác giả: De Silva D.A.M
Năm: 2011
37. Dolan C. and Humphrey J. (2000), “Governance and Trade in Fresh Vegetables: The Impact of UK Supermarkets on the African Horticulture Industry”, Journal of Development Studies, 37(2): 147–76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Governance and Trade in Fresh Vegetables: The Impact of UK Supermarkets on the African Horticulture Industry
Tác giả: Dolan C. and Humphrey J
Năm: 2000
47. Galvin P. and Morkel A. (2001), “The Effect of Product Modularity on Industry Structure: The Case of the World Bicycle Industry”, Industry and Innovation, 8(1):31-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Effect of Product Modularity on Industry Structure: The Case of the World Bicycle Industry
Tác giả: Galvin P. and Morkel A
Năm: 2001
48. Ganesham, Ran and Terry P.Harrison (1995).“An introduction to supply chain management” Sách, tạp chí
Tiêu đề: An introduction to supply chain management
Tác giả: Ganesham, Ran and Terry P.Harrison
Năm: 1995
57. Guthman, J. (2009). Unveiling the unveiling: Commodity chains, commodity fetishism, and the “value” of voluntary, ethical food labels. In J. Bair (Ed), Frontiers of commodity chain research. Stanford, CA: Stanford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: value
Tác giả: Guthman, J
Năm: 2009
63. Jacinto E.R. and Pomeroy R.S. (2011), “Developing Markets for Sma.lI-scale Fisheries: Utilizing the Value Chain Approach”, Chapter 9 in Small-Scale Fisheries Management – Frameworks and Approaches for the Developing World, Pomeroy R.S. and Andrew N.L. (Eds.), 2011, pp. 160-177 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Developing Markets for Sma.lI-scale Fisheries: Utilizing the Value Chain Approach
Tác giả: Jacinto E.R. and Pomeroy R.S
Năm: 2011
76. Sturgeon T. (2002), “Modular Production Networks: A New American Model of Industrial Organization”, Industrial and Corporate Change, 11(3): 451–96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Modular Production Networks: A New American Model of Industrial Organization
Tác giả: Sturgeon T
Năm: 2002
79. Upper Saddle Riverm NI: Prentice Hall c.1 (2001); “Supply chain management: strategy, planing and operation” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Supply chain management: strategy, planing and operation
5. Văn Cương (2010). Khai thác cá trên vùng biển Tây Nam- Xuất khẩu cá Cơm: Việt Nam đang bị ép (Nguồn Báo Bà Rịa Vũng Tàu:http://www.hanghoaviet.com/vietnamproducts/news/Thi-truong/Khai-thac-ca-tren-vung-bien-Tay-Nam-Xuat-khau-ca-com-Viet-Nam-dang-bi-ep-3062/ Link
34. Bijman, W.J.J. (2002). Essays on agricultural co-operatives: governance structure in fruit and vegetable chains, Proefschrift Rotterdam, Download 20/08/2008 from [http://www.lei.wageningen-ur.nl/publicaties/PDF/2002/PS_xxx/PS_02_02.pdf] Link
44. FAO (2006), Revenue distribution through the seafood value chain, Gudmundsson E., Asche F., and Nielsen M., (Eds.), FAO, Rome, Italy. Availble at http://www.fao.org/docrep/009/a0564e/a0564e00.HTM Link
45. FAO (2011b), Fishery value chain analysis in Cambodia, FAO, Rome, Italy, http://www.fao.org/fileadmin/user_upload/fisheries/docs/Cambodia_edited.doc Link
52. Gereffi G. and Memodovic O. (2003), The Global Apparel Value Chain: What Prospects for Upgrading by Developing Countries?, United Nations Industrial Development Organization (UNIDO), Sectoral Studies Series, Available at http://www.unido.org/doc/12218 Link
81. Van der Vorst, J.G.A.J. (2000). Effective food supply chains: generating, modelling and evaluating supply chain scenarios, Proefschrift Wageningen, Download 17/7/2008 from [http://www.library.wur.nl /wda/dissertations/dis2841.pdf] Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Sơ đồ về chuỗi giá trị của doanh nghiệp - nghiên cứu chuỗi giá trị cá cơm ở huyện đảo phú quốc, tỉnh kiên giang
Hình 2.1. Sơ đồ về chuỗi giá trị của doanh nghiệp (Trang 12)
Hình 4.1. Các ngư trường chủ yếu của nghề khai thác cá cơm - nghiên cứu chuỗi giá trị cá cơm ở huyện đảo phú quốc, tỉnh kiên giang
Hình 4.1. Các ngư trường chủ yếu của nghề khai thác cá cơm (Trang 54)
Hình 4.2. Biểu đồ sản lượng khai thác cá cơm tại địa bàn huyện đảo - nghiên cứu chuỗi giá trị cá cơm ở huyện đảo phú quốc, tỉnh kiên giang
Hình 4.2. Biểu đồ sản lượng khai thác cá cơm tại địa bàn huyện đảo (Trang 55)
Hình 4.3. Biểu đồ số lượng tàu vây cá cơm theo nhóm công suất trên địa bàn - nghiên cứu chuỗi giá trị cá cơm ở huyện đảo phú quốc, tỉnh kiên giang
Hình 4.3. Biểu đồ số lượng tàu vây cá cơm theo nhóm công suất trên địa bàn (Trang 55)
Bảng 4.2. Các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị cá cơm - nghiên cứu chuỗi giá trị cá cơm ở huyện đảo phú quốc, tỉnh kiên giang
Bảng 4.2. Các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị cá cơm (Trang 60)
Bảng 4.3 Đặc điểm của các tầu đánh bắt - nghiên cứu chuỗi giá trị cá cơm ở huyện đảo phú quốc, tỉnh kiên giang
Bảng 4.3 Đặc điểm của các tầu đánh bắt (Trang 62)
Bảng 4.4. Chi phí trung bình chuyến biển của tầu theo công suất - nghiên cứu chuỗi giá trị cá cơm ở huyện đảo phú quốc, tỉnh kiên giang
Bảng 4.4. Chi phí trung bình chuyến biển của tầu theo công suất (Trang 62)
Bảng 4.5. Thông tin chung về thương lái, nậu vựa - nghiên cứu chuỗi giá trị cá cơm ở huyện đảo phú quốc, tỉnh kiên giang
Bảng 4.5. Thông tin chung về thương lái, nậu vựa (Trang 63)
Bảng 4.9. Quan hệ liên kết trong chuỗi giá trị cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc - nghiên cứu chuỗi giá trị cá cơm ở huyện đảo phú quốc, tỉnh kiên giang
Bảng 4.9. Quan hệ liên kết trong chuỗi giá trị cá cơm ở Huyện đảo Phú Quốc (Trang 66)
Sơ đồ 4.3. Chuỗi giá trị nước mắm cá cơm truyền thống Phú Quốc - nghiên cứu chuỗi giá trị cá cơm ở huyện đảo phú quốc, tỉnh kiên giang
Sơ đồ 4.3. Chuỗi giá trị nước mắm cá cơm truyền thống Phú Quốc (Trang 68)
Bảng 4.11 Kết quả trong chuỗi giá trị nước mắm cá cơm kênh 1 - nghiên cứu chuỗi giá trị cá cơm ở huyện đảo phú quốc, tỉnh kiên giang
Bảng 4.11 Kết quả trong chuỗi giá trị nước mắm cá cơm kênh 1 (Trang 72)
Sơ đồ 4.4. Chuỗi giá trị cá cơm sấy khô - nghiên cứu chuỗi giá trị cá cơm ở huyện đảo phú quốc, tỉnh kiên giang
Sơ đồ 4.4. Chuỗi giá trị cá cơm sấy khô (Trang 76)
Sơ đồ 4.5. Mô hình đề nghị của chuỗi giá trị cá cơm - nghiên cứu chuỗi giá trị cá cơm ở huyện đảo phú quốc, tỉnh kiên giang
Sơ đồ 4.5. Mô hình đề nghị của chuỗi giá trị cá cơm (Trang 101)
Hình thức  thanh toán - nghiên cứu chuỗi giá trị cá cơm ở huyện đảo phú quốc, tỉnh kiên giang
Hình th ức thanh toán (Trang 126)
Hình thức  thanh toán - nghiên cứu chuỗi giá trị cá cơm ở huyện đảo phú quốc, tỉnh kiên giang
Hình th ức thanh toán (Trang 131)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w