1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu chuỗi giá trị cam cao phong, tỉnh hòa bình

100 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm gần đây, nhiều chính sách liên quan đến phát triển ngành nông nghiệp như: Luật Đất đai năm 2013; Chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng; Chính sách khuyến khích phát triển

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chƣa từng đƣợc sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Bùi Tuấn Hƣng

Trang 2

là sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS Trần Hữu Dào đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Huyện ủy - HĐND - UBND huyện, chính quyền địa phương và nhân dân các xã, thị trấn thuộc huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình nơi tôi thực hiện nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn

Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tác giả luận văn

Bùi Tuấn Hưng

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHUỖI GIÁ TRỊ CAM5 1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị, ngành hàng 5

1.1.2 Đặc điểm của cây Cam [7] 8

1.1.3 Ý nghĩa việc phân tích chuỗi giá trị Cam [5] 10

1.1.4 Nội dung nghiên cứu chuỗi giá trị Cam [5] 12

1.1.5 Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động trong chuỗi giá trị Cam 16

1.2 Cơ sở thực tiễn 17

1.2.1 Tình hình sản xuất cam trên thế giới [9] 17

1.2.2 Tình hình sản xuất cam ở Việt Nam 18

1.3 Một số nghiên cứu chuỗi giá trị trên thế giới 24

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN ĐỊA BÀN HUYỆN CAO PHONG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình 25

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 25

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội [12] 29

Trang 4

2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển nông nghiệp của huyện

Cao Phong, tỉnh Hòa Bình [12] 35

2.1.4 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật trong trồng cam [13] 36

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 42

2.2.2.Thu thập số liệu 42

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 44

2.2.4.Phương pháp phân tích số liệu 44

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 45

2.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả 45

2.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của trồng Cam 45

2.3.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh lợi ích của các tác nhân trồng Cam 46

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47

3.1 Thực trạng phát triển cây cam trên địa bàn huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình 47

3.1.1 Thực trạng phát triển vùng trồng cam trên địa bàn huyện Cao Phong 47 3.1.2 Thực trạng diện tích, năng suất và sản lượng cam của huyện Cao Phong50 3.1.3 Về cơ cấu giống 50

3.1.4 Đặc điểm vượt trội của cam Cao Phong 51

3.1.5 Xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường 52

3.1.6 Những Thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển cây ăn quả có múi tại huyện Cao Phong 54

3.2.Phân tích hoạt động của các tác nhân trong chuỗi giá trị Cam Cao Phong55 3.2.1 Kết quả đánh giá chuỗi giá trị cam Cao Phong năm 2015 55

3.2.2 Các tác nhân tham gia chuỗi giá trị Cam Cao Phong 58

3.2.3 Sự hình thành giá trị gia tăng và thu nhập thuần của các tác nhân trong chuỗi giá trị 67

3.3.1.Mối liên kết dọc 70

Trang 5

3.3.2 Mối liên kết ngang 71

3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới từng tác nhân 72

3.4.1.Các nhân tố ảnh hưởng chung 72

4.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới từng tác nhân 73

3.4.3 Các nhân tố kỹ thuật 74

3.5 Định hướng phát triển cam Cao Phong 75

3.6 Các giải pháp nhằm hoàn thiện chuỗi giá trị cam Cao Phong 76

3.6.1 Giải pháp chung 76

3.6.2 Giải pháp cho từng tác nhân 80

3.6.3 Một số kiến nghị 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

CN - TTCN Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp

CN - TTCN - XDCB Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Xây dựng cơ bản CNH - HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Công cụ, mục đích phân tích của chuỗi giá trị 12 1.2 Các tác nhân trong chuỗi giá trị cây cam 13 2.1 Tình hình sử dụng đất đai huyện Cao Phong giai đoạn 2013 - 2015 27

3.1 Diện tích, sản lượng, năng suất cam Cao Phong giai đoạn 2013 - 2015 50

3.3 Kết quả tiêu thụ cam Cao Phong qua các kênh của 1ha 57 3.4 Thông tin chung của hộ điều tra trồng cam 59

3.6 Thông tin về thương lái buôn cam Cao Phong 63 3.7 Phân tích tài chính từ thương lái cam Cao Phong 64

3.9 Phân tích tài chính của người bán lẻ cam Cao Phong 66

3.10 Các chỉ tiêu tài chính của các tác nhân theo các kênh tiêu thụ trong

chuỗi giá trị cam Cao Phong tính cho 1 tấn 68

3.11 Hiệu quả kinh tế của các tác nhân trong chuỗi giá trị cam Cao

3.12 Những khó khăn, cản trở việc sản xuất, tiêu thụ cam Cao Phong đối

3.13 Tình hình tham gia tập huấn kỹ thuật ở các hộ điều tra 75

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

3.1 Sơ đồ kênh tiêu thụ trong chuỗi giá trị sản phẩm cam Cao Phong 56

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

Việt Nam là nước có khí hậu và thổ nhưỡng rất phù hợp cho việc phát triển các sản phẩm ngành nông nghiệp Trong những năm gần đây, ngành nông nghiệp vốn còn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu GDP của nền kinh tế phát triển khá ổn định Những năm gần đây, nhiều chính sách liên quan đến phát triển ngành nông nghiệp như: Luật Đất đai năm 2013; Chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng; Chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn; Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn và đặc biệt là Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tưởng Chính phủ phê duyệt Đề

án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đã hình thành các vùng nguyên liệu trái cây khá tập trung phục

vụ cho chế biến công nghiệp và tiêu dùng Hiện cả nước có khoảng 775.500ha cây ăn quả, trong đó diện tích đang thu hoạch khoảng 362.685ha với sản lượng gần 3,9 triệu tấn/năm Dự kiến đến năm 2020, diện tích cây ăn quả cả nước sẽ tăng lên khoảng 1,1 triệu ha, kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,2 tỷ USD Có thể nói, trái cây ở nước ta không chỉ đa dạng về chủng loại mà mùa nào cũng có sản phẩm

Tuy nhiên, các loại cây ăn quả đang trồng hầu hết đều cho năng suất không cao, chất lượng hạn chế (không đẹp, kích cỡ không đều, vị không đặc trưng), giá thành cao, nên khả năng cạnh tranh thấp Điều này dẫn tới cây ăn trái nước ta đang đứng trước thách thức lớn khi hội nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) và hiệp định kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TTP) và các hiệp định thương mại tự do khác đã ký kết Theo dự báo của Tổ chức Nông - Lương thế giới (FAO), nhu cầu tiêu thụ rau quả trên thị trường thế giới hàng

Trang 10

năm tăng khoảng 3,6%, trong khi đó thì khả năng tăng trưởng sản xuất chỉ là 2,6% nên thị trường thế giới đối với mặt hàng rau quả luôn ở tình trạng cung không đủ cầu, dễ tiêu thụ và giá cả luôn trong tình trạng tăng Có thể khẳng định rằng thị trường thế giới đối với rau quả là rất có triển vọng

Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, để sản phẩm cây có múi nói chung và cây cam nói riêng có thể cạnh tranh với các sản phẩm của các địa phương khác cũng như có thể xuất khẩu, chúng ta một mặt cần giữ ổn định cơ cấu cây trồng, cải tiến nhằm hạ chi phí, giá thành sản phẩm để cạnh tranh về giá, một mặt cần phải chuyển dịch sang các dòng sản phẩm có tính cạnh tranh các loại cây ăn quả theo tiêu chuẩn VietGap để cạnh tranh về chất lượng nhằm khai thác tối đa những lợi thế trong ngành trồng trọt của của nước ta

Thực trạng trồng cây ăn quả nhiều nơi ở nước ta còn mang tính tự phát

là phổ biến, các tác nhân tham gia từ sản xuất tới tiêu thụ sản phẩm về cơ bản chưa có sự ràng buộc lẫn nhau Người sản xuất đôi khi vì lợi nhuận có thể phá

vỡ hợp đồng với nơi tiêu thụ, bất chấp qui định về an toàn vệ sinh thực phẩm

mà vẫn bán các sản phẩm cam Cao Phong kém chất lượng vào thị trường; người buôn bán tự do ép giá người sản xuất Lợi nhuận tạo ra không được phân phối công bằng, không tương xứng với công sức và chi phí bỏ ra của các tác nhân Bên cạnh đó công tác kiểm tra quản lý chất lượng của các cơ quan chức năng chưa thực sự hiệu quả Hậu quả là người tiêu dùng không được hưởng dịch vụ tốt nhất, đôi khi là không có được sản phẩm tương xứng với chi phí đã bỏ ra

Cao Phong là một trong số các huyện vùng cao của tỉnh Hoà Bình, cách Trung tâm thành phố Hoà Bình trên 15km Huyện có tổng diện tích tự nhiên

là 25.527,83ha (Trong đó: có khoảng 1.700ha đất trồng cam, quýt các loại), điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng rất phù hợp để phát triển cây ăn quả Ngay sau ngày tách từ huyện Kỳ Sơn và chính thức đi vào hoạt động tháng 03/2002,

Trang 11

huyện Cao Phong đã thực hiện nhiều giải pháp ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp và đã thu được kết quả khả quan; các dự án đầu tư đã góp phần quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và nâng cao thu nhập cho người dân Cho đến nay, cây cam Cao Phong đã xác lập được thương hiệu, tuy nhiên phương thức sản xuất còn tự phát và chưa áp dụng đồng đều về khoa học kỹ thuật ở tất cả các hộ dân nên chất lượng cam còn hạn chế Hoạt động tiêu thụ cam vẫn chủ yếu theo phương thức tự do buôn bán Sự quản lý và định hướng phát triển sản phẩm của địa phương còn hạn chế, người sản xuất cũng không biết chính xác thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình đang nằm ở đâu, bên cạnh đó một số huyện lân cận cam chưa có thương hiệu và cam Trung Quốc đôi khi cũng bị thương lái trộn lẫn lấy thương hiệu cam Cao Phong để tiêu thụ dẫn đến niềm tin của người tiêu dùng đối với thương hiệu cam Cao Phong cũng bị ảnh hưởng

Để ngày càng khẳng định thương hiệu cam Cao Phong, mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và xa hơn là thị trường ngoài nước thì cần thiết phải hình thành chuỗi giá trị của cam, nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào để phát triển và mở rộng diện tích cam Cao Phong theo một chu trình từ sản xuất đến tiêu thụ để bảo đảm lợi ích giữa các tác nhân tham một cách bền vững, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương và sớm đạt mục tiêu xây dựng nông thôn mới huyện Cao Phong đến năm 2020 Cho đến nay vẫn chưa có một đề tài nghiên cứu nào có liên quan đến chuỗi

giá trị của cam Cao Phong Vì vậy, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu chuỗi giá trị cam Cao Phong, tỉnh Hòa Bình”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng chuỗi giá trị cam Cao phong, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chuỗi giá trị cam Cao Phong, tỉnh Hòa Bình

Trang 12

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị

- Đánh giá thực trạng chuỗi giá trị cam Cao Phong, tỉnh Hòa Bình

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chuỗi giá trị cam Cao Phong, tỉnh Hòa Bình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề về chuỗi giá trị của cam Cao Phong, tỉnh Hòa Bình

- Đối tượng khảo sát:

+ Các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị cam Cao Phong, tỉnh Hòa Bình gồm: người trồng cam, thương lái, người bán lẻ, người tiêu dùng

+ Các cơ quan, tổ chức có liên quan đến lĩnh vực sản xuất và tiêu thụ cam Cao Phong

+ Số liệu mới sẽ khảo sát, thu thập trực tiếp năm 2016

+ Các giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2016 - 2020

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị

- Đánh giá thực trạng chuỗi giá trị cam Cao Phong, tỉnh Hòa Bình

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị cam Cao Phong và ảnh hưởng tới các tác nhân trong chuỗi giá trị cam Cao Phong, tỉnh Hòa Bình

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chuỗi giá trị cam Cao

Phong, tỉnh Hòa Bình

Trang 13

Chuỗi cung ứng thể hiện tất cả các giai đoạn để thoả mãn nhu cầu của khách hàng Một chuỗi cung ứng là một hệ thống các hoạt động được khâu nối với nhau bởi các dòng vật chất, dòng thông tin và dòng tiền đi qua phạm

+ Thứ ba, một chuỗi cung ứng bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin

có định hướng, các hoạt động điều hành và quản lý

+ Thứ tư, các thành viên của chuỗi nỗ lực để đáp ứng mục tiêu là mang lại giá trị cao cho khách hàng thông qua việc sử dụng tối ưu nguồn lực của mình

Chế biến

Người Bán buôn

Người Chế biến

Trang 14

Chuỗi nông sản thực phẩm: Một chuỗi nông sản thực phẩm cũng là một chuỗi cung ứng sản xuất và phân phối nông sản thực phẩm bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin diễn ra đồng thời (Bijman, 2002) [4]

Chuỗi cung ứng nông sản thực phẩm khác với chuỗi cung ứng của các ngành khác ở các điểm (1) bản chất của sản xuất nông nghiệp, thường dựa vào quá trình sinh học, do vậy làm tăng tính biến động và rủi ro; (2) bản chất của sản phẩm, có những đặc trưng tiêu biểu như dễ dập thối và khối lượng lớn, nên yêu cầu chuỗi khác nhau cho các sản phẩm khác nhau; và (3) thái độ của xã hội và người tiêu dùng quan tâm nhiều về thực phẩm an toàn và vấn đề môi trường

b) Chuỗi giá trị

- Theo Michael Porter, 1985 trong cuốn“Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance”: Chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt động Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của các chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm thu được một số giá trị nào đó Chuỗi các hoạt động cung cấp cho các sản phẩm nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của tất cả các hoạt động cộng lại Điều quan trọng là không để pha trộn các khái niệm của chuỗi giá trị với các chi phí xảy ra trong suốt các hoạt động.Porter định nghĩa các hoạt động chính và hoạt động hỗ trợ tạo ra giá trị gia tăng, được thể hiện bởi sơ đồ sau: [5]

Sơ đồ 2.1: Chuỗi giá trị của Porter (1985)

Trang 15

+ Các hoạt động chính tạo giá trị gia tăng: (i) Hậu cần đến: Những hoạt động này liên quan đến tiếp nhận, lưu trữ và dịch chuyển đầu vào sản phẩm: cung cấp nguyên vật liệu theo yêu cầu, kho bãi, kiểm soát tồn kho, trả lại sản phẩm cho nhà cung cấp.(ii) Sản xuất: các quy trình xử lý đầu vào tạo ra sản phẩm

và dịch vụ hoàn thiện.(iii) Hậu cần ngoài ra: Đây là những hoạt động kết hợp với việc thu thập, lưu trữ và phân phối sản phẩm đến người mua (iv) Tiếp thị

và bán hàng: Những hoạt động liên quan đến quảng bá, khuyến mại, lựa chọn kênh phân phối, mối quan hệ giữa các tác nhân trong kênh và định giá như tiếp thị sản phẩm, bán hàng (v) Dịch vụ: Các hoạt động liên quan đến việc cung cấp dịch vụ nhằm gia tăng và duy trì sản phẩm như hỗ trợ, chăm sóc khách hàng sau khi cung cấp sản phẩm/dịch vụ, điều chỉnh sản phẩm [5]

+ Các hoạt động bổ trợ: Cơ sở hạ tầng, quản trị nguồn nhân lực, phát triển công nghệ, thu mua nguyên vật liệu

- Trong cuốn “Phân tích chuỗi giá trị - Lý thuyết và kinh nghiệm từ nghiên cứu ngành chè Việt Nam” do Quỹ MISPA tài trợ, các nhà nghiên cứu

đã đưa ra khái niệm chuỗi giá trị giản đơn và chuỗi giá trị mở rộng, theo đó: Chuỗi giá trị giản đơn là chuỗi hoạt động trong các khâu cơ bản từ điểm khởi đầu đến điểm kết thúc của sản phẩm, ví dụ thiết kế -> sản xuất -> phân phối -

> tiêu dùng.Chuỗi giá trị mở rộng chi tiết hoá các hoạt động và các khâu của chuỗi giá trị giản đơn để thấy rõ nhiều bên tham gia và liên quan đến nhiều chuỗi giá trị khác nhau [2]

- Theo Kaplinsky, R and M Morris, (2001, 2009): Chuỗi giá trị là một khối liên kết dọc hoặc một mạng liên kết giữa một số tổ chức kinh doanh độc lập trong một chuỗi sản xuất [4]

+ Theo chức năng, chuỗi giá trị được hiểu là một loạt các hoạt động kinh doanh có quan hệ với nhau, từ việc cung cấp đầu vào cụ thể cho một sản phẩm nào đó, đến sơ chế, chuyển đổi, marketing đến bán sản phẩm cuối cùng cho người tiêu dùng

Trang 16

+ Theo thứ tự các chức năng mà và các nhà vận hành, chuỗi giá trị sẽ bao gồm hàng loạt các đường dẫn trong chuỗi hay gọi là các khâu Người thực hiện các chức năng trong từng khâu được gọi là tác nhân Đội ngũ vận hành, nâng cấp chuỗi được gọi là các nhà hỗ trợ

Để tiến hành phân tích chuỗi giá trị, đòi hỏi phải có một phương pháp tiếp cận thấu đáo về những gì đang diễn ra giữa những người tham gia trong chuỗi, những gì liên kết họ với nhau, những thông tin nào được chia sẻ và mối quan hệ giữa họ sẽ được hình thành và phát triển như thế nào

c) Ngành hàng

Ngành hàng là một chuỗi các tác nhân có những chức năng nhất định, sản xuất ra những sản phẩm nhất định, được sắp xếp theo một trật tự nhất định trong từng mạch hàng, liên kết với nhau thành từng luồng hàng, hoạt động theo sự vận hành của luồng vật chất (Phạm Vân Đình, 1998) Phân tích ngành hàng là phân tích quan hệ giữa các tác nhân với mục đích phát hiện những ách tắc nhằm đưa ra những giải pháp tháo gỡ, bảo đảm cho sự phát triển của ngành hàng [2]

1.1.2 Đặc điểm của cây Cam [7]

Cây cam thuộc họ cam Rutaseae, họ phụ cam quýt Aurantiodeae, chi Citrus có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam Châu á Họ cam Rutaseae bao gồm cam, bưởi, chanh, quýt Cam là loại quả cao cấp có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao Trong thành phần thịt quả có 6-12% đường (chủ yếu đường Saccaroza) hàm lượng Vitamin C từ 40-90mg/100g tươi, các axit hữu cơ từ 0,4 đến 1,2%, trong đó có nhiều loại axit có tính sinh học cao cùng với các khoáng chất và tinh dầu thơm Quả dùng để ăn tươi, làm mứt, nước giải khát và chữa bệnh Tinh dầu cất từ vỏ quả, lá, hoa được dùng nhiều trong công nghiệp thực phẩm và chế mỹ phẩm

Cây cam là loài cây lâu năm, được phát triển qua 2 giai đoạn: kiến thiết

Trang 17

cơ bản và kinh doanh Giai đoạn kiến thiết cơ bản thường kéo dài từ 3-4 năm chỉ có chi phí và chưa có thu hoạch Nếu giai đoạn này nếu được đầu tư chăm sóc đúng mức chẳng những rút ngắn được giai đoạn kiến thiết cơ bản mà còn cho năng suất cao và kéo dài giai đoạn kinh doanh Giai đoạn kinh doanh dài, ngắn với năng suất và sản lượng tăng dần theo tuổi cây và mật độ trồng đến đỉnh cao rồi lại giảm dần Giai đoạn kinh doanh dài hay ngắn tùy thuộc vào giống cây ăn quả và mức đầu tư thâm canh Nhìn chung, cây cam đều phải trải qua giai đoạn non trẻ, thời kì thuần thục và cuối cùng là già cỗi Tương ứng với các giai đoạn này là các thời kì mà cả quá trình sinh trưởng lẫn ra hoa kết quả cũng dần ngưng lại Từ đặc điểm này, khả năng tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế của cây cam chịu sự chi phối của môi trường khác nhau ở các giai đoạn và sự đầu tư thâm canh ở các giai đoạn cũng khác nhau

Anh Nguyễn Đức Huy - Khu 4, thị trấn Cao Phong, huyện Cao Phong [9]

Cây cam là cây đòi hỏi kỹ thuật gieo trồng và chăm sóc cao Vì vậy yêu cầu chọn đất phù hợp, chọn giống tốt, có liều lượng phân bón, thời gian bón

Trang 18

và phương pháp bón đúng, có sách lược phòng trừ sâu bệnh hại cây, hại quả Sản phẩm của cây cam là loại quả chứa nhiều nước dễ hư hỏng nhưng lại yêu cầu đảm bảo chất lượng tươi, tiêu dùng ngay và thường xuyên Vì vậy phải tổ chức tốt khâu thu hái, chế biến và tiêu thụ sản phẩm với trình độ kỹ thuật phải cao Việc tổ chức sản xuất nếu có điều kiện phải hình thành các vùng chuyên môn hóa để tiện lợi về mọi mặt và đạt hiệu quả kinh tế cao [7]

Cây cam là 1 trong những loại cây phản ứng rộng với điều kiện sinh thái khí hậu Tuy nhiên tính thích ứng rộng không có nghĩa là cam trồng bất

cứ ở đâu cũng được mà nó phụ thuộc vào từng loài, từng giống và tiểu vùng khí hậu Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu thời tiết tới sinh trưởng phát triển cây cam, các chuyên gia thế giới đã kết luận rằng các yếu tố nhiệt

độ, độ ẩm, lượng mưa và một số hiện tượng thời tiết đặc biệt như gió bão, sương muối và hạn hán là những yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc và quyết định đến sinh trưởng, năng suất và phẩm chất của cam

Trên đất gò đồi trồng cây cam đã cho hiệu quả cao lớn, nâng cao độ phì nhiêu của đất và tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên nước Sản phẩm cây cam xuất khẩu có giá trị kinh tế trong nền kinh tế hàng hóa Sản phẩm quả có lượng sinh khối lớn, thủy phần cao, màu sắc đẹp, hương vị đặc trưng rất giàu dinh dưỡng và có 1 số loại vitamin hiếm, do đó sản phẩm được ưa chuộng, có tính hàng hóa cao Mặt khác chúng có thể phân hóa trên địa bàn rộng, thích ứng với nhiều loại quy mô Diện tích vườn cam, sức lao động, nguồn vốn và sách lược kinh doanh có quan hệ mật thiết với nhau Vườn có diện tích lớn cỏ thể đầu tư tương đối để thực thi sách lược giá thành thấp bù lợi nhuận Vườn nhỏ có thể xem xét sách lược chuyên môn hóa sản phẩm kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm và ổn định nguồn thu nhập

1.1.3 Ý nghĩa việc phân tích chuỗi giá trị Cam [5]

+ Việc xác định các tác nhân (trực tiếp, gián tiếp) tham gia vào chuỗi giá

Trang 19

trị, đề xuất các giải pháp để tổ chức lại chuỗi (tăng, giảm hoặc liên kết các tác nhân), để tổ chức lại sản xuất và kinh doanh ngành hàng có hiệu quả hơn

+ Xác định những tác động bên ngoài đến chuỗi, mối quan hệ của các tác nhân trong chuỗi, đề xuất sự tăng cường những tác động có lợi hoặc giảm bớt những tác động bất lợi, củng cố và phát triển sự hợp tác để sản phẩm hàng hoá lưu thông tốt hơn

+ Xác định mức độ cạnh tranh của sản phẩm, đề xuất các giải pháp để cải tiến sản xuất và lưu thông nhằm hạ, tăng giá thành sản phẩm, hoặc cải tiến chất lượng và mẫu mã sản phẩm

+ Phân tích sự hình thành và biến đổi giá sản phẩm trong chuỗi, lợi nhuận của mỗi khâu, đưa ra các biện pháp giảm giá thành, cải thiện tính cạnh tranh hoặc phân chia lại lợi nhuận giữa các tác nhân

+ Phân tích kinh tế của chuỗi, xác định được các yếu tố cấu thành giá, hạch toán lỗ lãi để đề xuất các chiến lược sản xuất và kinh doanh

+ Phân tích địa lý cho phép xác định được nguồn gốc của sản phẩm, các kênh tiêu thụ và xây dựng được vùng sản xuất và phương án lưu thông sản phẩm

+ Phân tích các chính sách của Nhà nước và địa phương, có ảnh hưởng đến chuỗi (sản xuất và thương mại hoá sản phẩm) để đề xuất các cải cách hành chính và chính sách để phát triển chuỗi

+ Phân tích thương mại (sự thỏa hiệp của các tác nhân, tổ chức thị trường, hành vi của các tác nhân, sự thích nghi của sản phẩm với nhu cầu của người tiêu dùng) đề xuất các giải pháp thương mại hóa sản phẩm

+ Phân tích xã hội học để xác định sở thích tiêu dùng của các nhóm đối tượng xã hội khác nhau trong chuỗi để điều chỉnh lại sản xuất và xây dựng kế hoạch phát triển thị trường

+ Phân tích thể chế để tổ chức lại chuỗi theo khối lượng và chất lượng sản phẩm, mức độ chênh lệch giá và mức độ tiêu dùng

Như vậy, phân tích chuỗi giá trị có thể làm cơ sở cho việc hình thành

Trang 20

các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển, động thái cho một quá trình thay đổi chiến lược hoạt động sản xuất, kinh doanh theo hướng ổn định, bền vững

Trên quan điểm toàn diện, phân tích chuỗi giá trị cam Cao Phong sẽ cho phép chỉ ra những tồn tại, bất cập trong quá trình hoạt động của chuỗi, hạn chế trong quá trình giao dịch, phân phối lợi nhuận, mối liên kết và thông tin giữa các tác nhân để đưa ra giải pháp thúc đẩy chuỗi giá trị làm cho chuỗi hoạt động hiệu quả hơn

1.1.4 Nội dung nghiên cứu chuỗi giá trị Cam [5]

Để phân tích chuỗi giá trị đòi hỏi phải có phương pháp tổng hợp Phương pháp đó đòi hỏi sự phối hợp của nhiều công cụ phân tích khác nhau,

cụ thể:

Bảng 1.1 Công cụ, mục đích phân tích của chuỗi giá trị

1 Lập sơ đồ chuỗi Mô tả các tác nhân và phạm vi hoạt động

2 Phân tích quản trị trong

chuỗi

Xác định các cơ chế chi phối, các hình thức

tổ chức và kiểm soát trong chuỗi

3 Phân tích các mối liên kết Xác định và mô tả các mối liên kết để đánh

giá khả năng tham gia của các tác nhân

4 Phân tích chi phí, giá trị

gia tăng và lợi nhuận

Xác định các chi phí đầu vào, phân bổ và thay đổi chi phí, giá trị gia tăng và lợi nhuận giữa các tác nhân

5 Phân tích phân phối lợi

nhuận

Đánh giá vấn đề chia sẻ lợi ích, rủi ro giữa các tác nhân để đề xuất tác động phân phối công bằng hơn

(Nguồn:M4P, Making value chains work better for the Poor, 2008) [4]

Tùy vào các yêu cầu và mục đích phân tích ở các chuỗi hàng khác nhau

mà một nghiên cứu có thể sử dụng một số công cụ trên Trong đề tài này tôi chỉ

sử dụng những công cụ sau để phân tích chuỗi giá trị Cam Cao Phong:

+ Sự hoạt động của các tác nhân: Lập sơ đồ chuỗi giá trị và phân tích

Trang 21

các tác nhân tham gia chuỗi giá trị cam Cao Phong

+ Phân tích quản trị: hệ thống kênh tiêu thụ trong chuỗi

+ Phân tích các mối liên kết: mối liên kết dọc, liên kết ngang

+ Phân tích chi phí, giá trị gia tăng và lợi nhuận

+ Phân tích phân phối lợi nhuận

Nội dung nghiên cứu chuỗi giá trị cam Cao Phong được thể hiện như sau:

1.1.4.1 Sự hoạt động trong chuỗi giá trị [4]

Để hiểu được chuỗi giá trị mà chúng ta muốn phân tích, cần thiết sử dụng các mô hình, bảng, biểu đồ, số liệu và các hình thức khác để mô tả các tác nhân, đặc điểm và kết quả hoạt động của từng tác nhân Việc sử dụng các

sơ đồ vẽ các chuỗi giá trị sẽ giúp chúng ta dễ nhận thấy và dễ hiểu hơn trong quá trình nghiên cứu

Theo tài liệu tập huấn của dự án IMPP và PARA, sơ đồ chuỗi thể hiện các hoạt động sản xuất/kinh doanh (khâu), các tác nhân chính trong chuỗi và những mối liên kết của họ Lập sơ đồ chuỗi giá trị có nghĩa là vẽ một sơ đồ về hiện trạng của hệ thống chuỗi giá trị

Bảng 1.2 Các tác nhân trong chuỗi giá trị cây cam

tới hệ thống cửa hàng Người trồng

Cam Từ vùng trồng của địa phương và thương lái

(Nguồn: Tài liệu tập huấn dự án IMPP, năm 2011) [9]

Cũng giống như ngành hàng, trong quá trình vận hành của một chuỗi giá trị đã tạo ra sự dịch chuyển các luồng vật chất Sự dịch chuyển được xem xét theo 3 dạng sau:

Trang 22

- Sự dịch chuyển về mặt thời gian: Sản phẩm được tạo ra ở thời gian này

lại được tiêu thụ ở thời gian khác Sự dịch chuyển này giúp ta điều chỉnh mức cung ứng thực phẩm theo mùa vụ Để thực hiện tốt sự dịch chuyển này cần phải làm tốt công tác bảo quản và dự trữ thực phẩm

- Sự dịch chuyển về mặt không gian: Trong thực tế, sản phẩm được tạo

ra ở nơi này nhưng lại được dùng ở nơi khác Ở đây đòi hỏi phải nhận biết được các kênh phân phối của sản phẩm Sự dịch chuyển này giúp ta thoả mãn tiêu dùng thực phẩm cho mọi vùng, mọi tầng lớp của nhân dân trong nước và đó

là cơ sở không thể thiếu được để sản phẩm trở thành hàng hoá Điều kiện cần thiết của chuyển dịch về mặt không gian là sự hoàn thiện của cơ sở hạ tầng, công nghệ chế biến và chính sách mở rộng giao lưu kinh tế của nhà nước

- Sự dịch chuyển về mặt tính chất (hình thái) của sản phẩm: Hình dạng

và tính chất của sản phẩm bị biến dạng qua mỗi lần tác động của công nghệ chế biến Chuyển dịch về mặt tính chất làm cho chủng loại sản phẩm ngày càng phong phú và nó được phát triển theo sở thích của người tiêu dùng và trình độ chế biến Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng càng nhiều thì càng có nhiều sản phẩm mới được tạo ra

Tóm lại, căn cứ vào sự dịch chuyển vật chất ta sẽ xác định được hệ thống kênh phân phối tiêu thụ trong chuỗi giá trị cam Cao Phong, mức độ luân chuyển, phân loại sản phẩm

1.1.4.2 Mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị cam Cao Phong [7]

Cam Cao Phong đã là một thương hiệu được Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công Nghệ chứng nhận chỉ dẫn địa lý nên các mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi khá phúc tạp Trong khuôn khổ nghiên cứu này, tác giả tiếp cận chuỗi giá trị sản phẩm theo lý thuyết Filiere và phương pháp của Porter Trong điều kiện các tác nhân tham gia thị trường cam Cao Phong hiện chỉ ở thị trường nội địa và chưa được phân phối và phát triển đạt được các yêu cầu của

Trang 23

toàn cầu hóa Do đó, mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị cam Cao Phong có đặc thù trong phân khúc thị trường, cho nên chúng tôi chỉ lựa chọn nghiên cứu mối liên kết giữa các tác nhân theo hai chiều: mối liên kết dọc và mối liên kết ngang

* Mối liên kết theo chiều dọc[7]

Mối liên kết theo chiều dọc là liên kết giữa các tác nhân trong các khâu khác nhau của chuỗi nhằm giảm các chi phí, tạo sự đồng thuận, đáp ứng nhu cầu thị trường trong chuỗi Thông qua việc tham gia các hội chợ, triển lãm nhằm tập hợp các tác nhân trong cùng một chuỗi Đồng thời, tạo liên kết qua hợp đồng kinh tế từ doanh nghiệp tới người dân, đảm bảo việc cung cấp đầu vào và đầu ra rõ nguồn gốc, nâng cao chất lượng sản phẩm.Trong chuỗi giá trị cam Cao Phong mối liên kết dọc bao gồm: người trồng cam - thương lái -người bán lẻ

* Mối liên kết theo chiều ngang[7]

Mối liên kết theo chiều ngang là liên kết giữa các tác nhân trong cùng một khâu để giảm chi phí, tăng giá bán sản phẩm, tăng số lượng sản phẩm Mối liên kết này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp các lợi ích, các dịch vụ và chuyển giao thông tin giữa các tác nhân Khi các tác nhân liên kết hình thành các tổ hợp tác, nhóm sở thích, câu lạc bộ, hợp tác xã, tạo lợi ích

và hỗ trợ trong việc bao tiêu sản phẩm sẽ tạo đà nâng cao hiệu quả phát triển chuỗi giá trị cam Cao Phong

1.1.4.3 Phân tích chi phí, giá trị gia tăng và lợi nhuận [7]

Chi phí trong chuỗi giá trị cam Cao Phong được xác định bao gồm: Các khoản chi phí vật chất đầu tư trực tiếp tùy thuộc từng tác nhân (giống, phân bón, thuốc BVTV, vận chuyển, máy móc thiết bị ) và các khoản chi phí dịch

vụ, đây chính là mức vốn đầu tư cần thiết trong quá trình sản xuất, kinh doanh Doanh thu của tác nhân đứng trước chính là giá vốn của tác nhân đứng liền sau Để làm rõ cách xác định chi phí, lợi nhuận của từng tác nhân trong

Trang 24

chuỗi giá trị cam Cao Phong chúng tôi sẽ phân tích chi tiết hơn trong phần hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài

1.1.4.4 Phân tích phân phối lợi nhuận

Trong sản xuất hàng hóa, lợi nhuận có vai trò đặc biệt quan trọng Nó

là mục tiêu chính của tất cả các tác nhân Trong một chuỗi giá trị có sự tham gia của nhiều tác nhân thì sự phân phối lợi nhuận thường xảy ra tình trạng bất công bằng Đặc biệt đối với chuỗi giá trị nông sản, tác nhân sản xuất thường chịu nhiều rủi ro hơn nhưng nhận được tỷ lệ lợi nhuận thấp nhất và lợi nhuận thu được ở khâu tiêu thụ là cao nhất Đây chính là nguyên nhân mà rất ít nhà đầu tư bỏ vốn vào sản xuất mà chỉ tập trung cho thu mua và thương mại

Vì vậy phân tích phân phối lợi nhuận để thấy được hiện trạng và tính bất công bằng trong phân phối lợi nhuận để từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục tình trạng đó Đây là yếu tố quyết định giúp cho chuỗi giá trị tồn tại và phát triển bền vững

1.1.5 Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động trong chuỗi giá trị Cam

1.1.5.1 Giá cả hàng hóa và dịch vụ [5]

Giá cả của một sản phẩm trên thị trường nói chung cũng như giá cả của mặt hàng cam Cao Phong nói riêng được hình thành và thông qua quan hệ cung cầu Người bán hay người mua thỏa thuận hay mặc cả với nhau để đi đến mức giá cuối cùng đảm bảo lợi ích của cả hai bên Giá cả có vai trò quan trọng trong việc quyết định mua hay không mua của khách hàng Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng có quyền quyết định lựa chọn các sản phẩm có mức giá thấp hơn với các dịch vụ tốt hơn Giá cả như một nhân tố quan trọng làm lên giá trị của một sản phẩm trên thị trường

1.1.5.2 Sản phẩm và cơ cấu sản phẩm [5]

Sản phẩm sản xuất phải phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng và được thị trường chấp nhận

Trang 25

1.1.5.3.Chất lượng hàng hóa và dịch vụ [5]

Chất lượng của sản phẩm có tính chất quyết định sản phẩm đó có tồn tại được trên thị trường hay không Trong khi nền nông nghiệp của Việt Nam con đang trong giai đoạn phát triển lại phải đương đầu với nhiều đối thủ cạnh tranh nước ngoài có ưu thế hơn hẳn trong việc tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao Mặt khác việc chất lượng hàng hóa có được công nhận còn phải phụ thuộc vào nhãn hiệu, thương hiệu

1.1.5.4 Tiêu thụ sản phẩm [5]

Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất và kinh doanh Công tác tiêu thụ tốt là yếu tố quyết định uy tín cũng như chỗ đứng của sản phẩm đó trên thị trường ngoài việc đẩy mạnh các hoạt động tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm cũng cần tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại như tham gia các hội chợ, tổ chức quảng bá thương hiệu sản phẩm dưới nhiều hình thức dần tạo nên chuỗi giá trị bền vững cho sản phẩm đó

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tình hình sản xuất cam trên thế giới [9]

Hiện nay cam quýt được phát triển trên khắp các lục địa, sự phát triển của các vùng trồng cam trên thế giới có sự tương quan với các cuộc cách mạng công nghiệp ở các vùng Vùng nào sớm phát triển công nghiệp thì nghề trồng cam quýt cũng sớm phát triển và ngược lại

So sánh về diện tích ở 5 châu lục 2014 thì châu Á có tổng diện tích lớn nhất sau đó đến châu Mỹ, châu Phi, châu Âu và vùng có diện tích nhỏ nhất là châu Đại Dương

- Vùng châu Mỹ tập trung ở các nước Mỹ, Mexico, Cuba, Braxin, Achentina tuy vùng cam, quýt ở châu Mỹ được hình thành muộn hơn sơ với các vùng khác, tuy nhiên do điều kiện tự nhiên thuận lợi, do nhu cầu đòi hỏi của nền công nghiệp Hoa Kỳ đã thúc đầy ngành cam quýt ở đây phát triển mạnh

Trang 26

- Vùng lãnh thổ châu Á sản xuất cam gồm các nước Trung Quốc, Ấn

Độ, Thái Lan, Việt Nam là những vùng được khẳng định là quê hương của cam, quýt, hầu hết các nước châu Á đều trồng cam, quýt Tuy nhiên năng xuất bình quân vẫn còn ở mức thấp đó là do điều kiện kinh tế, xã hội vẫn còn ở các nước có những hạn chế nhất định, nghề trồng cam chưa được chú trọng nhiều

và đang tồn tại sự pha trộn của kỹ thuật hiện đại (Nhật Bản, Hàn Quốc) và sự canh tác truyền thống (Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan ), tình trạng sâu bệnh nhiều nghiêm trọng

1.2.2 Tình hình sản xuất cam ở Việt Nam

1.2.2.1 Chủ tương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong phát triển cam [12]

Việc phát triển cây ăn quả nói chung, với cây cam nói riêng góp phần tạo nên việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, xóa đói giảm nghèo

Cơ sở hạ tầng kinh tế và dân sinh được hình thành khi sản xuất cây ăn quả phát triển, những vùng chuyên canh cam như vùng cam Cao Phong, Cam đường Canh Lục Ngạn, Cam Vinh, Bắc Quang, Cam Sành Hà Giang, Qua

đó góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa [12]

Chính vì những ý nghĩa to lớn như đã nói ở trên, với những lợi thế về khí hậu, đất đai nguồn nước, lao động và kinh nghiệm cổ truyền của mình kết hợp với việc áp dụng các thành tựu khoa học trong sản xuất cây ăn quả tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu làm giàu cho đất nước Nhà nước ta đã có những chủ trương chính sách

để phát triển:

Trong tình hình thị trường và giá cả không ổn định, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách kinh tế tài chính để hỗ trợ sản xuất nông nghiệp đã tạo ra cơ sở pháp lý để hỗ trợ nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển nhanh, vững chắc Đặc biệt là Quyết định số 899/QĐ-

Trang 27

TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đã tạo cơ sở pháp lý để phát triển nông nghiệp hàng hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ và cụ thể hơn Nghị quyết đưa ra vấn đề cụ thể vè phát triển cây ăn quả, phát triển các loại cây ăn quả nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới, khai thác có hiệu quả mọi lợi thế của các vùng sinh thái nước ta, đáp ứng nhu cầu đời sống nhân dân và xuất khẩu lớn trong tương lai Ngoài các cây ăn quả thông dụng đáp ứng nhu cầu phổ biến của đời sống nhân dân, cần phải phát triển một số loại cây có khả năng cạnh tranh để xuất khẩu như vải, nhãn, dứa, thanh long

Về đầu tư tín dụng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác liên kết sản xuất gắn liền với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng mẫu lớn Quyết định trên đã giúp các doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp lớn của nhà nước như Tổng công ty rau quả Việt Nam chủ động ký kết hợp đồng nông sản với người sản xuất Doanh nghiệp đã mua được sản phẩm với chất lượng tốt, nguồn cung cấp ổn định để tiêu thụ chế biến và xuất khẩu, tận dụng có hiệu quả công suất máy móc thiết bị Các hộ nông dân tiêu thụ sản phẩm làm ra với giá cả hợp lý, thu nhập từng bước được cải thiện

Nhằm khắc phục một số tồn tại trong công tác quy hoạch vùng nguyên liệu và cơ sở chế biến, công tác đầu tư dàn trải thiếu trọng tâm, trọng điểm, nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ mới và khả năng cạnh tranh sản phẩm chế biến đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu góp phần tiêu thụ sản phẩm cho nông dân, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 24/2003/CT-TTg ngày 08/10/2003 về phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản Theo đó các dự án phát triển vùng nguyên liệu và công nghiệp chế biến nông lâm, thủy sản sẽ được hưởng một số ưu đãi về tài chính như được vay vốn với lãi suất ưu đãi từ nguồn vốn tín dụng đầu tư nước ngoài

Trang 28

Như vậy, với các chính sách của Đảng và Nhà nước về miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp, khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thong qua hợp đồng, chính sách về hỗ trợ tài chính và ưu đãi thuế cho phát triển vùng nguyên liệu và chính sách về công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản đã góp phần tích cực cho phát triển ngành nông nghiệp nói chung và phát triển cây ăn quả nói riêng, tạo thêm việc làm và nâng cao đời sống của người dân

Bộ nông nghiệp và PTNT đưa ra quyết định số 52/2007/QĐ- BNN Phê duyệt quy hoạch phát triển vùng rau quả và hoa cây cảnh đến 2010, tầm nhìn 2020 Tiếp tục chương trình phát triển rau, quả và hoa cây cảnh trên cơ

sở khai thác lợi thế về điều kiện khí hậu, sinh thái đa dạng (nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới) của các vùng Kết hợp cải tạo vườn tạp, thâm canh vườn cây hiện có với trồng mới theo hướng sản xuất chuyên canh, sử dụng công nghiệp tiên tiến, thân thiện với môi trường; đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước và phục vụ xuất khẩu Tập trung phát triển cây ăn quả có lợi thế cạnh tranh, trong đó có 1 số loại cây chủ lực phục vụ xuất khẩu như: chuối, dứa, nhãn , thanh long, xoài, cam, bưởi, vải, vú sữa

Thủ tướng Chính phủ có Quyết định 01/2012/QĐ-TTg về chính sách

hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Đã quy định rõ mục tiêu, đối tượng, vấn đề tài chính, vấn đề đất đai như: điều tra khảo sát vùng có đủ điều kiện phát triển sản xuất rau, quả Đồng thời hỗ trợ kinh phĩ xây dựng các khu bảo quản, chế xuất cũng như xây dựng các chợ đầu mối, bán buôn

* Một số chủ trương chính sách khác

Chỉ thị số 24/2003/CT-TTg ngày 08/10/2003 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản Thông tư số 95/2004/TT-BTC ngày 11/10/2004 và Thông tư số 114/2007TT- BTC ngày 24/09/2007 về việc sửa đổi bổ sung Thông tư số 95/2004/TT-BTC ngày

Trang 29

11/10/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số chính sách hỗ trợ tài chính

và ưu đãi về thuế phát triển vùng nguyên liệu và công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, muối quy định: các tổ chức, cá nhân thuê đất đầu tư phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản, làm muối được miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước theo quy định

Quyết định số 107/2008/QĐ-TTg ngày 30/07/2008 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè ăn toàn đến 2015 Theo đó, ngân sách Nhà nước đầu tư điều tra xác định các vùng đủ điều kiện sản xuất rau, quả, chè an toàn tập trung, xây dựng, cải tạo cơ sở hạ tầng; ngân sách địa phương hỗ trợ đầu tư cho buôn bán, kho bảo quản, xúc tiến thương mại, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật; Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bố trí kinh phí đã phân bố hàng năm hỗ trợ giống, khuyến nông vùng sản xuất rau, quả, chè an toàn được ưu tiên thuê đất và được hưởng mức ưu đãi cao nhất về tiền sử dụng đất, giá thuê đất theo các quy định hiện hành

1.2.2.2 Phát triển cây cam tại Việt Nam [9]

Cam được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên khắp mọi miền của đất nước Tuy nhiên tùy vào lợi thế về điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng của từng nơi từ

đó hình thành nên những vùng trồng cam chính

Về diện tích trồng và diện tích cho sản xuất cam quýt có xu thế giảm trong năm 2009 (theo điều tra của Tổng cục Thống kê) do điều kiện thời tiết khí hậu biến đổi, nhưng đang có xu hướng khôi phục và mở rộng trở lại trong những năm gần đây Về sản lượng không ngừng tăng nhanh về số lượng và chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu

* Các vùng trồng cam chính ở Việt Nam [9]

- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: các yếu tố khí hậu, nhiệt độ độ ẩm,

Trang 30

lượng mưa và ánh sáng ở vùng náy rất phù hợp với việc phát triển cây có múi Lịch sử trồng cam quýt ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long có từ lâu đời nên người dân ở đây có nhiều kinh nghiệm trồng trọt, chăm sóc các loại cây có múi Cam chủ yếu được trồng ở các vùng đất phù sa ven sông hoặc trên các

cù lao lớn, nhỏ của sông Tiền, sông Hậu có nước ngọt quanh năm, nơi đây có tập đoàn giống cam rất phong phú như: Cam chanh, cam sành, cam giấy

- Vùng khu bốn cũ: gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh trọng điểm trồng cam vùng này là Phủ Quỳ - Nghệ An gồm một cụm các nông trường chuyên trồng cam với diện tích gần một nghìn ha Các giống cam ở vùng này sinh trưởng tốt và năng suất tương đối ổn định Hai giống Sunkiss

và Xã Đoài có ưu thế về tiềm năng, năng suất và sức chống chịu sâu bệnh hại trên cây và quả [9]

- Vùng miền núi phía Bắc: Vùng này có các tỉnh trồng cam có diện tích lớn là: Hòa Bình, Bắc Giang, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên với điều kiện hoàn toàn khác so với hai vùng trên, cam được trồng nhiều với diện tích trên 500 đến 1.000 ha như: Cao Phong-Hòa Bình, Lục Ngạn – Bắc Giang, Bắc Sơn – Lạng Sơn, Hàm Yên, Chiêm Hóa – Tuyên Quang, Bắc Quang – Hà Giang Tại các vung này, cam trở thành thu nhập chính của hộ nông dân, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất so với các loại cây trồng khác trên cùng một loại đất Do địa hình sinh thái phong phú, nên dẫn đến có nhiều loại cam, quýt, đặc biệt là vùng miền núi phía Bắc là nơi chứa tập đoàn cam quýt đa dạng

1.2.2.3 Bài học kinh nghiệm cho phát triển chuỗi giá trị cam Cao Phong [9]

Những ết quả đạt được

Xung quanh khái niệm chuỗi giá trị có nhiều quan điểm, nhưng quan điểm chung nhất có thể thể hiểu: Chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt động mà sản phẩm đi qua theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm thu được một số giá trị nào đó

Trang 31

Quá trình vận hành của một chuỗi giá trị đã tạo ra sự dịch chuyển các luồng vật chất trong ngành hàng đó theo 3 dạng: sự dịch chuyển về mặt thời gian, không gian và hình thái sản phẩm

Kết quả của quá trình nghiên cứu và phân tích chuỗi giá trị của cam đã góp phần đưa ra các giải pháp phát triển đồng đều và hiệu quả trong các công đoạn từ sản xuất đến tiêu thụ từ đó giúp đề xuất các giải pháp phát triển bền vững cam

- Điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai, lượng mưa có ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng của cam

- Cây cam là cây ăn quả có diện tích lớn tại huyện Cao Phong và có nhiều tiềm năng tác động để phát triển đáp ứng được nhu cầu của thị trường

- Người dân đã chủ động về khả năng tìm hiểu về khả năng phát triển thị trường tiêu thụ và dần có những bước chủ động hơn về kênh tiêu thụ

- Chính quyền địa phương đã bước đầu chủ động nghiên cứu xây dựng hình ảnh và thương hiệu cam Cao Phong của tỉnh Hòa Bình

Một số nghiên cứu gần đây liên quan đến nâng cao năng suất và chất lượng của cam cho bà con nông dân, đã góp phần đưa ra các giải pháp đẩy mạnh sản xuất thông qua việc chọn giống sạch có chất lượng khi đem trồng, áp dụng các qui trình kỹ thuật theo một chu trình khép kín nhằm tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao khi đưa ra thị trường Tuy nhiên, trên thực tế sản xuất luôn phát sinh rất nhiều vấn đề về giống, kỹ thuật, thổ nhưỡng, khí hậu và đầu

ra cho sản phẩm Do vậy, cần tiếp tục triển khai các nghiên cứu trên từng vùng hay ở từng vùng có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng khác nhau nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp

Những hạn chế r t ra

Phương pháp phân tích chuỗi giá trị là một phương pháp tĩnh và những tài liệu thu thập được là thông tin đã qua nghiên cứu và kiểm định và phương

Trang 32

pháp này chỉ cho phép phân tích một chuỗi giá trị độc lập.Đến nay vẫn chưa

có công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị về cam Cao Phong ở Việt Nam

1.3 Một số nghiên cứu chuỗi giá trị trên thế giới

Trên thế giới người ta đã áp dụng lý thuyết chuỗi giá trị vào việc nghiên cứu các sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nhằm nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm và cải thiện giá trị gia tăng cho sản phẩm cũng như đêm lại lợi nhuận nhiều hơn cho các bên tham gia Người ta đã nhận thấy tầm quan trọng của liên kết giữa các bên tham gia trong thương mại quốc

tế như trường hợp thành công của ô tô Nhật Bản vào những năm 1970, 1971 Trong thập niên 80 và 90 trên thế giới người ta quan tâm nhiều đến chuỗi giá trị, đặc biệt là quản lý chuỗi cung cấp, chuỗi giá trị quan tâm đến việc chia sẻ thông tin giữa các bên tham gia để giảm chi phí về mặt thời gian, giảm giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng và tăng giá trị cho sản phẩm đó [4]

Các nhà cung cấp đầu vào, sản xuất khoai tây, trung gian, vận chuyển, buôn bán, công ty tư nhân và các tổ chức công cộng có liên quan tham dự hội thảo Tham gia phát triển một sự hiểu biết chung của khu vực cần can thiệp và

sự đồng thuận tích về vai trò của các diễn viên nông thôn và đô thị công cộng

và tư nhân cũng như trong các chuỗi giá trị khoai tây Các kết quả của hội thảo này trên chuỗi giá trị khoai tây tiết lộ sau đây: năng suất thấp do sự vắng mặt của đầu vào và hạt giống, chi phí giao dịch cao do sự thiếu tin cậy hiện hành giữa nông dân và thương nhân, dẫn đến số lượng thấp và lặp đi lặp lại giao dịch, tiếp thị không hiệu quả do sự hiện diện của các tập đoàn, thiếu thông tin thị trường và chi phí giao dịch cao, thất bại chính sách phản ánh qua

bộ sưu tập thiếu sự phối hợp của lệ phí đường bộ và thị trường sản phẩm, đó

là dễ bị hối lộ và tham nhũng dẫn đến qua thuế và thiếu khuôn khổ pháp lý cũng như cấp và tiêu chuẩn cho khoai tây [1]

Trang 33

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN ĐỊA BÀN HUYỆN CAO PHONG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình

2.1.1 Đi u kiện tự nhiên

Tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 254 km2

(chiếm 5,4% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Hòa Bình), dân số trung bình là 40.170 người (chiếm 5,1% dân số toàn tỉnh), mật độ dân số là 158 người/km2

(chỉ bằng 0,9 lần mật độ dân số cả tỉnh)

Độ cao trung bình của toàn huyện là 399 m Tuy là một huyện vùng cao nhưng trên địa bàn huyện Cao Phong lại ít có núi cao Nhìn chung, địa hình của huyện có cấu trúc thoai thoải, độ dốc trung bình của đồi núi khoảng 10 –

15o, chủ yếu là đồi dạng bát úp, thấp dần theo chiều từ đông nam đến tây bắc

Căn cứ vào địa hình, có thể phân chia huyện Cao Phong thành ba vùng: vùng núi cao (gồm 02 xã: Yên Thượng, Yên Lập), vùng giữa (gồm 08 xã: Dũng Phong, Nam Phong, Tây Phong, Tân Phong, Ðông Phong, Xuân Phong, Thu Phong, Bắc Phong và thị trấn Cao Phong) và vùng ven sông Đà (gồm 02 xã: Bình Thanh và Thung Nai)

Do điều kiện tự nhiên đa dạng, phức tạp nên Cao Phong có điều kiện rất thuận lợi để hình thành nền nông nghiệp đa dạng về cây trồng và vật nuôi

Trang 34

Tuy nhiên, địa hình đa dạng và phức tạp như vậy cũng sẽ gây khó khăn trong việc thiết kế, xây dựng và nâng cao hiệu quả sử dụng của các công trình thủy lợi và các cơ sở hạ tầng khác

2.1.1.2 Khí hậu [12]

Khí hậu Cao Phong thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều; mùa đông lạnh và khô Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 đến 24oC Lượng mưa trung bình hàng năm khá cao, dao động từ 1.800 đến 2.200 mm Tuy vậy, lượng mưa phân bố không đồng đều trong năm, tập trung chủ yếu trong các tháng 7, 8 và 9 nên dễ gây úng lụt, ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống của nhân dân

Nhìn một cách tổng thể, khí hậu Cao Phong mát mẻ, lượng mưa khá và tương đối điều hòa Điều kiện khí hậu như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi với nhiều hình thức canh tác hoặc mô hình chăn nuôi khác nhau

Hạn chế lớn nhất của khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp là nạn thiếu nước vào mùa khô, đặc biệt là ở những vùng chưa có các công trình thủy lợi

Về mùa đông, bên cạnh sự khô hạn, các yếu tố khí hậu khác như: nhiệt độ xuống thấp, sương muối, không đủ ánh sáng cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, tạo điều kiện cho dịch bệnh phát triển

2.1.1.3 Địa hình [12]

Trên địa bàn huyện Cao Phong có nhiều loại đất khác nhau Ở vùng địa hình đồi núi có các loại đất: nâu vàng, đỏ vàng, nâu đỏ và mùn đỏ vàng Vùng địa hình thấp có các loại đất: phù sa, dốc tụ Nhìn chung, đa số các loại đất

ở Cao Phong có độ phì cao, thích hợp cho việc trồng nhiều loại cây khác nhau, nhất là cây công nghiệp, cây ăn quả cũng như phát triển chăn nuôi

Trang 35

2.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên [12]

* Tài nguyên đất

Trong cơ cấu sử dụng đất của huyện Cao Phong, tính đến cuối năm

2015, đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá lớn (71,71%) tổng diện tích đất tự nhiên với 18.304,78 ha Trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 17,00% tổng diện tích đất nông nghiệp với 4.340,68 ha; đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất 54,36% tổng diện tích đất nông nghiệp với 13.875,78 ha; chiếm tỷ trọng thấp nhất là đất nuôi trồng thủy sản là 0,35% tổng diện tích đất nông nghiệp với 88,32 ha Tương tự là đất phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng 18,46% tổng diện tích đất tự nhiên với 4.713,20 ha Trong khi đó, đất chưa sử dụng chiếm tỷ lệ không cao (9,83%), chủ yếu là đất đồi núi Tuy diện tích đất chưa

sử dụng không nhiều nhưng vẫn còn tiềm năng cho việc phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả và cũng đặt ra nhiệm vụ trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc cho địa phương

Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất đai huyện Cao Phong giai đoạn 2013 - 2015

Đơn vị tính: ha

Loại đất Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015

Cơ cấu sử dụng đất năm 2015 (%) Tổng diện tích đất tự nhiên 25.527,83 25.527,83 25.527,83 100%

1 Diện tích đất nông nghiệp 17.650,69 17.522,03 18.304,78 71,71%

- Diện tích đất sản xuất nông nghiệp 3.954,46 3.883,77 4.340,68 17,00%

- Diện tích đất lâm nghiệp 13.618,54 13.560,59 13.875,78 54,36%

- Diện tích đất nuôi trồng thủy sản 77,69 77,67 88,32 0,35%

(Nguồn: Ban Thống kê huyện Cao Phong)

Trang 36

Xét trong giai đoạn từ 2013 -2015, diện tích đất theo mục đích sử dụng có

sự biến động cả về quy mô và cơ cấu Diện tích đất nông nghiệp và phi nông nghiệp có xu hướng tăng lên, diện tích đất chưa sử dụng bị giảm đi, nguyên nhân của sự biến động trên là do yêu cầu phục vụ mục đích phát triển kinh tế - xã hội của huyện, diện tích chưa sử dụng được chuyển dần sang diện tích đất ở và các mục đích công cộng khác như xây dựng cơ sở hạ tầng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

* Tài nguyên khoáng sản và du lịch [12]

Trên địa bàn huyện Cao Phong có sông Đà và hàng chục con suối lớn nhỏ chảy qua Tuy nhiên, do nền địa chất nơi đây nằm trong miền hoạt động Karst hóa mạnh, cộng với tình trạng tàn phá rừng đầu nguồn, nên vào mùa khô, nhiều suối có lưu lượng nước rất ít hoặc bị cạn kiệt

Theo những số liệu đánh giá chung về nguồn nước ở vùng Tây Bắc, tiềm năng nước ngầm ở Cao Phong tương đối dồi dào, có khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất và phục vụ đời sống nhân dân Hiện nay, các giếng nước trong các hộ dân ở bản, làng đang khai thác thường có độ sâu trên dưới 20m và cho nước có chất lượng khá tốt

Cao Phong có thảm thực vật tương đối đa dạng, bao gồm nhiều loại: gỗ, tre, nứa và gần đây trồng thêm các loại cây ăn quả, keo lá tràm

Theo kết quả điều tra thăm dò gần đây, Cao Phong có một số loại khoáng sản chính như: đất sét, cát, sỏi, quặng perit, quặng đồng, than

Ngoài các mỏ đất sét và vật liệu xây dựng dễ khai thác và thuận tiện trong việc vận chuyển, còn các mỏ khoáng sản khác thì cần tiếp tục khảo sát, đánh giá cụ thể về trữ lượng và khả năng khai thác

Ngoài ra, Cao Phong còn có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch vì có hai xã nằm trong khu vực lòng hồ sông Đà, lại có nhiều xóm, bản với các lễ hội đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số như bản Giang Mỗ

Trang 37

(người Dao) ở xã Bình Thanh, có các di tích lịch sử, văn hóa như di tích Anh hùng Cù Chính Lan, căn cứ Cao Phong – Thạch Yên Nếu được đầu tư, các địa chỉ văn hóa này đều là các danh lam thắng cảnh có khả năng thu hút khách

du lịch

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội [12]

2.1.2.1 Dân cư và lao động

Dân số huyện tính đến hết năm 2014 là 45.120 người (chiếm 5,2% dân

số toàn tỉnh), đứng thứ 10/11 trong các huyện, thành phố thuộc tỉnh Mật độ dân số huyện tương đối thấp, khoảng 166 người/km2

(đứng thứ 7/11 so với các huyện trong tỉnh), thấp hơn mật độ chung toàn tỉnh (173 người/km2

đó lao động nông nghiệp chiếm đa số với 91,8%; lao động trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng khoảng 2,2% và lao động dịch vụ chiếm 5,9%

Trang 38

Cùng với sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở Cao Phong thời gian qua có sự chuyển dịch, tỷ trọng lao động nông – lâm – thủy sản giảm từ 93,13% năm 2002 xuống còn 91,8% năm 2012 Qua những con số trên, ta thấy sự chuyển dịch cơ cấu lao động ở Cao Phong diễn ra tuy còn chậm nhưng theo hướng tích cực, cần phát huy hơn nữa trong thời gian tới

2.1.2.2 Cơ sở vật chất, kỹ thuật và dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp [12]

Đối với huyện Cao Phong, tạo ra được một cơ sở hạ tầng và tổ chức tốt

hệ thống dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp nông thôn là vấn đề có ý nghĩa hàng đầu đối với việc chuyển đổi và phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa Các vấn đề cụ thể như sau:

a) Điện

Đến năm 2015 đã có 13/13 xã, thị trấn và 97% số hộ dân được dùng điện từ nguồn điện lưới quốc gia

Nguồn điện cấp cho huyện qua trạm biến áp trung gian Cao Phong 35/10 KV – 1000 KVA, trạm này cấp cho 3 trạm 10/0,4 KV với tổng công suất 480 KVA Trên địa bàn huyện có tất cả 20 trạm biến áp 35/0,4 KV với tổng công suất 2600 KVA

Đây là yếu tố tương đối thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp nói chung và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng, đảm bảo cho việc phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, thủy lợi hóa, ứng dụng khoa học – kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất

b) Hệ thống giao thông

Huyện Cao Phong có hai hệ thống giao thông chủ yếu là đường bộ và đường thủy

* Đường bộ:

Tổng chiều dài đường trên địa bàn huyện Cao Phong là 227,5 km; trong

đó có hai trục đường đối ngoại chính là Quốc lộ 6 và đường 12B Quốc lộ 6 từ

Hà Nội lên thành phố Hòa Bình đi Sơn La – Lai Châu và chạy qua giữa huyện

Trang 39

với độ dài 14 km Đường 12B bắt đầu từ Quốc lộ 6 đi Kim Bôi và nối ra Quốc

lộ 21 Ngoài ra, trên địa bàn huyện có Tỉnh lộ 435 dài 35 km nối các xã Thung Nai, Bình Thanh với Thành phố Hòa Bình

Tổng chiều dài các tuyến đường huyện là 51 km bao gồm: đường trục huyện từ thị trấn Cao Phong đi Đông Phong – Xuân Phong dài 8 km; các tuyến đường liên xã đường Cao Phong – Tân Phong – Dũng Phong – Nam Phong – Tây Phong dài 14 km, đường Bắc Phong – Thung Nai dài 11 km, đường Tây Phong – Dũng Phong – Yên Lập – Yên Thượng dài 15 km (rải nhựa 4 km)

Mạng lưới giao thông nông thôn được phát triển rộng khắp trong toàn huyện Cho đến nay đã kiên cố hóa được 80 km đường giao thông nông thôn, rải nhựa được 33 km (47 km bê tông xi măng) đường giao thông liên xã

* Đường thủy:

Huyện có hai xã Bình Thanh và Thung Nai nằm trong khu vực lòng hồ sông Đà nên thuận lợi giao lưu bằng đường sông Chiều dài tuyến sông tiếp giáp với địa bàn huyện là 10 km Có hai bến thuyền tại xã Thung Nai (công suất 90.000 lượt người/năm) và Bình Thanh (công suất 75.000 lượt người/năm) và một bến vận tải hàng hóa

c) Thủy lợi

Cao Phong rất chú ý đến thủy lợi với hệ thống thủy lợi tự chảy và bằng điện để giải quyết tưới tiêu cho cây trồng Nhờ đó đã đưa năng suất lúa lên cao và giải quyết được một số vấn đề về thay đổi cơ cấu mùa vụ và đưa giống mới vào sản xuất nông nghiệp

Các công trình thủy lợi thường xuyên được kiểm tra, duy tu sửa chữa, đảm bảo đủ nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp Hàng năm, huyện tổ chức các phong trào toàn dân làm thủy lợi như phát dọn kênh mương, đào đắp nạo vét đất đá các loại, huy động mỗi năm hàng chục nghìn ngày công

Trang 40

Đến năm 2015, toàn huyện có 75% hệ thống kênh mương được kiên cố hóa, đảm bảo 80% nhu cầu tưới tiêu phục vụ sản xuất Các công trình thủy lợi được xây mới: Hồ Tuống (xã Bắc Phong), mương Bai Vòng, Bai Ràng (xã Yên Thượng), hồ Suối Lầy, mương Nà Chanh (xã Bắc Phong); các công trình thủy lợi được sửa chữa: hồ Đác Tra, hồ Nam Cừu (thị trấn Cao Phong), hồ Trung Thủy Nông (xã Thu Phong), kênh Bai Bót (xã Xuân Phong)

d) Cơ giới hóa

Trước đây, nông nghiệp Cao Phong chủ yếu sản xuất thủ công, dựa vào sức người lao động Trong những năm trở lại đây, việc trang bị, sử dụng máy móc trong sản xuất đã trở nên phổ biến Các loại phương tiện được người sản xuất đầu tư mua sắm nhiều như: máy bơm nước, máy nghiền thức ăn chăn nuôi, máy xay sát gạo, phương tiện vận tải, máy tuốt lúa

Trong ngành trồng trọt, tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất tăng lên rõ rệt

Cơ giới hóa chủ yếu là trong khâu tưới, tiêu nước, vận chuyển trong nông thôn tăng mạnh Tuy nhiên, ở một số khâu như cắt gặt, gieo cấy, làm khô, bảo quản nông sản , tỷ lệ cơ giới hóa còn rất thấp Do vậy, sản xuất còn mang nặng tính thủ công, năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế chưa cao

e) Khoa học và công nghệ

Cao Phong chú trọng triển khai có hiệu quả các mô hình ứng dụng tiến

bộ khoa học kỹ thuật, các đề tài dự án, góp phần tích cực vào phát triển kinh

tế - xã hội địa phương

Đối với các loại cây ngắn ngày như ngô, lúa, nhiều mô hình thâm canh tăng vụ được đẩy mạnh và nâng cao, nhiều ứng dụng khoa học công nghệ được đưa vào sản xuất Mô hình trồng đậu thử nghiệm trên đất hai vụ lúa, trồng lạc bằng phương pháp che phủ nilon, trồng rau an toàn mang lại hiệu quả cao Đây là điểm sáng cho bà con nông dân trong và ngoài vùng tham quan học tập và làm theo

Ngày đăng: 17/05/2021, 22:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm