Cơ sở đào tạo: Học Viện Nông nghiệp Việt Nam Chuỗi giá trị là một loạt các hoạt động sản xuất kinh doanh có quan hệ với nhau, từ việc cung cấp đầu vào, sản xuất, thu gom, chế biến và cuố
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
BÙI PHƯƠNG THÙY
NGHIÊN CỨU CHUỖI GIÁ TRỊ SẢN PHẨM CAM CAO PHONG TẠI HUYỆN CAO PHONG,
TỈNH HÒA BÌNH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Quyền Đình Hà
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc, bản luận văn này là nỗ lực, kết quả làm việc của cá nhân tôi (ngoài phần đã trích dẫn)
Tác giả luận văn
Bùi Phương Thùy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn Thạc sỹ “Nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm cam Cao Phong tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình”, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự dạy bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, các tổ chức,
cá nhân trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS Quyền Đình Hà, người thầy tâm huyết đã tận tình đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi Cục thống kê, các ban ngành của huyện Cao Phong, Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân huyện Cao Phong, UBND các xã Tây Phong và Bắc Phong, thị trấn Cao Phong huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình đã hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu thực hiện đề tài này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể gia đình, người thân, các tập thể, đồng nghiệp, bạn bè đã động viên, chia sẻ khó khăn, khích lệ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Tác giả luận văn
Bùi Phương Thùy
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 3
1.5 Phạm vi nghiên cứu 4
1.6 Đóng góp của đề tài 5
Phần 2 Lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị sản phẩm cam 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Những khái niệm cơ bản 5
2.1.2 Cấu trúc chuỗi giá trị sản phẩm 10
2.1.3 Đặc điểm về chuỗi giá trị sản phẩm nông sản 12
2.1.4 Ý nghĩa của phân tích chuỗi giá trị 14
2.1.5 Nội dung nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm 15
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị sản phẩm nông sản 16
2.2 Cơ sở thực tiễn 18
2.2.1 Kinh nghiệm phát triển chuỗi giá trị sản phẩm cây có múi ở một số nước trên thế giới 18
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển chuỗi giá trị sản phẩm một số loại cây ăn quả ở Việt Nam 21
2.2.3 Một số công trình nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm trái cây ở Việt Nam 23
Trang 5Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 26
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 26
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội của huyện 27
3.2 Phương pháp nghiên cứu 32
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu, chọn mẫu điều tra 32
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 34
3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 35
3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 35
3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 36
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 40
4.1 Thực trạng chuỗi giá trị cam Cao Phong 40
4.1.1 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ cam Cao Phong của huyện Cao Phong 40
4.1.2 Thực trạng chuỗi gía trị cam Cao Phong của huyện Cao Phong 47
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới chuỗi giá trị cam Cao Phong 83
4.2.1 Các yếu tố khách quan 83
4.2.2 Các yếu tố chủ quan 86
4.2.3 Phân tích SWOT chuỗi giá trị cam Cao Phong 89
4.3 Một số giải pháp nhằm cải thiện chuỗi giá trị cam Cao Phong của huyện Cao Phong trong những năm tới 94
4.3.1 Các căn cứ đề xuất giải pháp 94
4.3.2 Giải pháp tăng cường cải thiện chuỗi giá trị cam Cao Phong 94
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 99
5.1 Kết luận 99
5.2 Kiến nghị 100
5.2.1 Đối với cấp chính quyền 100
5.2.2 Đối với các tác nhân 101
Tài liệu tham khảo 103
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Cao Phong qua 3 năm 2013-2015 28
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động huyện Cao Phong qua 3 năm 2013-2015 29
Bảng 3.3 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Cao Phong qua 3 năm 2013-2015 32
Bảng 3.4 Số lượng mẫu điều tra 34
Bảng 4.1 Tình hình sản xuất cam huyện Cao Phong năm 2013- 2015 43
Bảng 4.2 Cơ cấu các giống cam của huyện Cao Phong qua 3 năm 2013-2015 45
Bảng 4.3 Giá bán và biến động giá bán sản phẩm cam qua 3 năm 2013-2015 46
Bảng 4.4 Tình hình cơ bản của các nhóm hộ điều tra năm 2015 50
Bảng 4.5 Tình hình sử dụng lao động của các hộ điều tra năm 2015 50
Bảng 4.6 Hạch toán chi phí sản xuất của tác nhân hộ sản xuất cam Cao Phong năm 2015 52
Bảng 4.7 Kết quả và hiệu quả kinh tế từ sản xuất cam của hộ năm 2015 54
Bảng 4.8 Thông tin chung về tác nhân thu gom cam Cao Phong năm 2015 55
Bảng 4.9 Cơ cấu lượng thu mua từng loại cam của tác nhân người thu gom năm 2015 56
Bảng 4.10 Kết quả và hiệu quả hoạt động của tác nhân thu gom cam Cao Phong năm 2015 58
Bảng 4.11 Thông tin chung về tác nhân bán buôn cam Cao Phong năm 2015 61
Bảng 4.12 Kết quả và hiệu quả hoạt động của tác nhân bán buôn cam Cao Phong năm 2015 63
Bảng 4.13 Thông tin chung về tác nhân người bán lẻ cam Cao Phong năm 2015 64
Bảng 4.14 Các hoạt động ra quyết định của tác nhân người bán lẻ cam Cao Phong năm 2015 66
Bảng 4.15 Kết quả và hiệu quả hoạt động của người bán lẻcam Cao Phong năm 2015 68
Bảng 4.16 Đánh giá thị hiếu của khách hàng về sản phẩm cam Cao Phong 69
Bảng 4.17 Kết quả và hiệu quả kinh tế của các tác nhân trong chuỗi giá trị cam Cao Phong năm 2015 75
Bảng 4.18 Giá trị gia tăng thuần của các tác nhân theo kênh I 78
Trang 8Bảng 4.19 Giá trị gia tăng thuần của các tác nhân theo kênh II 79 Bảng 4.20 Giá trị gia tăng thuần của các tác nhân theo kênh III 80 Bảng 4.21 Giá trị gia tăng thuần của các tác nhân theo kênh IV 81 Bảng 4.22 Mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị sản phẩm cam
Cao Phong 87 Bảng 4.23 Phân tích SWOTchuỗi giá trị cam Cao Phong 92
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Tên tác giả: Bùi Phương Thùy
2 Tên luận văn: “Nghiên cứu chuỗi gía trị cam Cao Phong tại huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình”
3 Ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 60.62.01.15
4 Cơ sở đào tạo: Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuỗi giá trị là một loạt các hoạt động sản xuất kinh doanh có quan hệ với nhau,
từ việc cung cấp đầu vào, sản xuất, thu gom, chế biến và cuối cùng là bán sản phẩm cho nguời tiêu dùng Sự hình thành và phát triển chuỗi giá trị cam Cao Phong đã mang lại nhiều ý nghĩa kinh tế, xã hội quan trọng như: thúc đẩy sản xuất kinh doanh tạo công ăn việc làm cho người lao động, xoá đói, giảm nghèo, hình thành mạng lưới chặt chẽ giữa người sản xuất, kinh doanh với người tiêu dùng Tuy nhiên mối liên kết và sự tương tác giữa các tác nhân tham gia và trách nhiệm của họ trong chuỗi hàng hoá dịch vụ đầu vào
và tiêu thụ sản phẩm với người sản xuất còn yếu Vì điều kiện và thời gian không cho phép, trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung phân tích thực trạng chuỗi giá trị sản phẩm cam Cao Phong tại huyện Cao phong, tỉnh Hoà Bình để đề xuất các giải pháp cải thiện chuỗi giá trị trong thời gian tới Tương ứng với đó là các mục tiêu cụ thể bao gồm: (1) Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị sản phẩm cam; (2) Đánh giá thực trạng của chuỗi giá trị sản phẩm cam Cao Phong; (3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới chuỗi giá trị sản phẩm cam Cao Phong; (4) Đề xuất các giải pháp để cải thiện chuỗi giá trị cam Cao Phong trong thời gian tới
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng linh hoat giữa số liệu thứ cấp và sơ cấp để đưa ra các phân tích nhận định Trong đó số liệu thứ cấp chủ yếu từ việc thu thập các số liệu, các tài liệu của huyện Cao Phong, qua internet, các nghiên cứu thị trường cam trên thế giới và Việt Nam Số liệu sơ cấp được thu thập bằng các công cụ phỏng vấn sâu, phỏng vấn cấu trúc, bán cấu trúc các đối tượng trong chuỗi giá trị: Ngừơi sản xuất, ngừơi thu gom, người bán buôn, người bán lẻ, người tiêu dùng Chúng tôi sử dụng các phương pháp phân tích như: thống kê mô tả, phân tổ thống kê,
so sánh, chuyên gia, nghiên cứu điển hình, ma trận SWOT để đánh giá chuỗi gía trị sản phẩm cam Cao Phong cũng như phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị sản phẩm cam Cao Phong
Qua phân tích thực trạng chuỗi giá trị sản phẩm cam Cao Phong tại huyện Cao phong cho thấy cam Cao Phong được tiêu thụ chủ yếu dưới dạng tươi thông qua các tác nhân thu gom, bán buôn nhỏ, bán lẻ và được phân phối tới nhiều tỉnh thành trong
Trang 10đó Hà Nội là nơi tiêu thụ nhiều nhất Chuỗi giá trị cam Cao Phong có hai kênh thị trường truyền thống chính với sự tham gia của nhiều tác nhân, cả hai kênh đều hoạt động tương đối hiệu quả, giá trị gia tăng của kênh rất cao (kênh I tiêu thụ khoảng 70%, kênh III tiêu thụ khoảng 13,73%) Các yếu tố chính ảnh hưởng tới chuỗi giá trị cam Cao Phong bao gồm yếu tố khách quan: (1) Sự phát triển nền kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế; (2) Một số áp lực cạnh tranh của chuỗi giá trị cam Cao Phong; (3) Một số rủi ro khác: thời tiết, sâu bệnh,…Các yếu tố chủ quan: (1) Trình độ, năng lực quản lý của cán bộ quản lý; (2) Trình độ và nhận thức của người nông dân trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cam Cao Phong; (3) Mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị sản phẩm cam Cao Phong
Thông qua nghiên cứu chúng tôi đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện chuỗi giá trị sản phẩm cam Cao Phong của huyện trong những năm tới như sau: (1) Giải pháp nâng cao năng suất và chất lượng cam; (2) Giải pháp cải thiện hợp lý kênh phân phối sản phẩm; (3) Giải pháp xây dựng kết nối thị trường giữa các nhà cung cấp vật tư nông nghiệp với tổ chức nông dân; (4) Giải pháp thành lập, củng cố các tổ chức nông dân; (5) Giải pháp tăng cường liên kết hỗ trợ vốn cho các tác nhân trong chuỗi giá trị; (6) Giải pháp phát triển ngành sản xuất cây giống và hiệp hội cây cam cảnh Trong đó giải pháp cải thiện hợp lý kênh phân phối sản phẩm tổ chức và thực hiện các hoạt động kết nối thị trường là giải pháp then chốt giúp mở rộng quy mô của kênh tiêu thụ có hiệu quả
Trang 11THESIS ABSTRACT
1 Author: Bui Phuong Thuy
2 Thesis topic: “Research on the Cao Phong orange value chain in Cao Phong district, Hoa Binh province.”
3 Major: Agricultural Economics Code: 60.62.01.15
4 Educational institution: Vietnam National University of Agriculture
Value chain could be defined as a series of the related production and business activities including input supplies, manufacturing, collecting, processing and selling the final product The establishment and development of the Cao Phong Orange value chain play a significant role in the socio-economic development by creating more jobs for local people, alleviating poverty and constructing the close-knit linkage between the producers and consumers However, the connection and interaction between the related stakeholders and their sense of responsibilities toward the flow of inputs, services and products consumption are comparatively weak In this research, because of the limited time, it is going to focus on analyzing the current situation of Cao Phong Orange value chain in Cao Phong district, Hoa Binh province Finally, the study seeks to propose several some solutions to improving that value chain in the future That general research objective could be decomposed into four specific objectives, including (1) To review the theoretical framework and empirical basis in orange value chain analysis; (2) To evaluate the current situation of Cao Phong orange value chain; (3) To analyze the factors affecting Cao Phong orange value chain; (4) To propose some solutions to improving value chain of Cao Phong Orange in the future
In this research, both secondary and primary data are utilized flexibly The secondary one includes the available figures and documents provided by Cao Phong district, the necessary information from the Internet and the scientific researches on the orange value chain in Vietnam and the world The primary data is collected by the in-depth, structured and semi-structured interviews with the agents in the value chain, namely the producers, collectors, wholesalers, retailers and consumers To evaluate the value chain of Cao Phong Orange and analyze the factors affecting the value chain of Cao Phong orange, the data analysis methods used are descriptive statistics, disaggregated statistics, comparison method, case-study method and SWOT analysis
Based on the analysis on the current situation of Cao Phong Orange value chain
in Cao Phong district, it is evident that Cao Phong Oranges are consumed mainly in the raw forms through collectors, small-scale wholesalers, retailers The oranges are
Trang 12distributed to many provinces including Hanoi where the volume of consumption is the highest Cao Phong Orange value chain has been operating in two main traditional channels with the participation of many agents Both channels function fairly effectively with the high added value To specify, channel I consumes about 70%, of the total products while channel II consumes approximately 13.73% The main objective factors affecting the value chain includes (1) The socio-economic development and international integration; (2) The competitive pressures that Cao Phong Orange value chain encounters; (3) Other risks like weather, diseases, etc The subjective affecting factors are (1) Qualification and capacities of the management staff; (2) Qualification and awareness of farmers; (3) The linkage between the agents in Cao Phong Orange value chain
The research finally proposes several implications to improve Cao Phong Orange Value Chain as following: (1) Enhancing the productivity and quality of the oranges; (2) Improving the distribution channels; (3) Establishing the connection between the agricultural input suppliers and farmer organizations; (4) Establishing and consolidating the farmer organizations; (5) Promoting the capital support for the value chain’s agents; (6) Developing the seedling production industry and Association of Ornamental Orange Trees Among the aforementioned solutions, the one regarding improving the distribution channel proves to be the most effective
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Việt Nam là nước có kiểu khí hậu nhiệt đới nên rất đa dạng về các loại cây
ăn quả, có khả năng phát triển nhiều loại cây ăn quả với quy mô lớn và tập trung nhằm giải quyết nhu cầu thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước
Trong những năm qua, ngành nông nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn, đóng góp một phần quan trọng vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Bên cạnh nhiều ngành hàng nông nghiệp có thế mạnh như: lúa gạo, rau ngành sản xuất quả đang từng bước vươn lên cải tiến cách thức sản xuất, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh hướng tới mục tiêu là mặt hàng nông sản xuất khẩu mũi nhọn Người nông dân trồng cây ăn quả đã góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, làm tăng giá trị sử dụng đất, tăng thu nhập cho hộ nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, phủ xanh đất trống đồi trọc, cải thiện môi trường Ở nước ta đã hình thành lên các vùng chuyên canh trồng các loại cây có chất lượng và giá trị kinh tế cao như vải thiều Lục Ngạn, cam sành Bắc Quang -
Hà Giang, bưởi diễn - Hà Nội,…Trong tương lai cây ăn quả là một ngành sản xuất hàng hóa lớn có giá trị xuất khẩu cao Năm 2012 Việt Nam đưa diện tích cây ăn quả lên 830 nghìn ha, tăng 10 nghìn ha so với năm 2011 và đạt kim ngạch xuất khẩu 350 triệu USD Trong đó chú trọng phát triển các loại cây ăn quả có lợi thế như: cam, quýt, nhãn, vải, thanh long, …(Đặng Bích Ngọc, 2012)
Cao Phong là một huyện có nhiều điều kiện thuận lợi cho sản xuất và tiêu thụ cam Địa hình của huyện được phân bố thành 3 vùng chính gồm: vùng cao, vùng giữa và vùng lòng hồ sông Đà Địa bàn huyện có QL 6, QL12B và tỉnh lộ
435 chạy qua, hệ thống cảng thuỷ nội địa thuận lợi cho lưu thông hàng hoá, phát triển KT-XH, đất đai màu mỡ, khí hậu mát mẻ, phù hợp với phát triển cây ăn quả nói chung và cây cam nói riêng Cam có giá trị về mặt dinh dưỡng và cả giá trị về mặt kinh tế do đó được sản xuất rộng rãi Trồng cam góp phần ổn định cuộc sống của các hộ gia đình Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi cũng gặp không ít những khó khăn thách thức Bản chất cam là quả chứa nhiều nước nên dễ bị hư hỏng nhưng không có nhà máy chế biến và phương pháp bảo quản hữu hiệu Trong khi đó, sản phẩm cam đòi hỏi tươi, ngon, chất lượng tốt để thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng nhưng thực tiễn chưa đáp ứng được Ngoài ra cam thường được sản xuất với chi phí cao Việc sản xuất cam còn gặp nhiều khó khăn
Trang 14do thiếu các mối liên kết gần gũi giữa những người trồng cam với các nhà cung ứng các hàng hóa dịch vụ đầu vào cũng như tiêu thụ sản phẩm Hay nói cách khác, mối liên kết, sự tương tác nhiều mặt giữa các tác nhân tham gia và trách nhiệm của họ trong chuỗi hàng hóa dịch vụ đầu vào và tiêu thụ sản phẩm với người sản xuất còn yếu Đây là hạn chế rất lớn có ảnh hưởng tới việc sử dụng hợp lý chi phí sản xuất, tối đa hóa lợi ích kinh tế của từng tác nhân trong chuỗi cũng như khó khăn trong phát triển mở rộng quy mô sản xuất cam Diện tích gieo trồng và sản lượng cam trên địa bàn huyện Cao Phong lớn nhưng phương tiện bảo quản còn thiếu thốn, người nông dân còn thiếu nhiều kinh nghiệm sản xuất, chưa được tập huấn về các kỹ thuật, thông tin tiếp cận thị trường khó khăn nên
hộ sản xuất cam thường bán cho những người thu gom và người bán lẻ Những năm gần đây người thu gom tại huyện và người buôn từ các địa phương khác đã xuất hiện trên huyện Cao Phong rất nhiều, dẫn đến việc tranh mua, tranh bán nên lợi ích của các tác nhân tham gia sản xuất và kinh doanh cam rất khác nhau Điều này đặt ra cho các nhà quản lý của huyện cần nghiên cứu để tổ chức và quản lý các hoạt động liên kết theo chuỗi giá trị hàng hóa nông sản
Việc nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm cam Cao Phong tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình có ý nghĩa rất quan trọng Nó sẽ giúp cho các quản lý kinh
tế, các chỉ đạo sản xuất hiểu rõ hơn hoạt động sản xuất, kinh doanh cam, những mối quan hệ, các tương tác và sự phân phối lợi ích của từng tác nhân trong chuỗi,
từ đó đề cập những giải pháp tác động hợp lý nhằm hình thành và nâng cấp chuỗi giá trị sản phẩm cam góp phần thúc đẩy việc mở rộng diện tích và tăng hiệu quả kinh tế cho từng tác nhân
Các nghiên trước đây ở huyện Cao Phong mới tập trung nghiên cứu thực trạng sản xuất và tiêu thụ cam, chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu chuỗi giá trị cam Cao Phong Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành chọn đề tài:
“Nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm cam Cao Phong tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích thực trạng chuỗi giá trị sản phẩm cam Cao Phong tại huyện Cao phong, tỉnh Hoà Bình để đề xuất các giải pháp cải thiện chuỗi giá trị trong thời gian tới
Trang 151.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị sản phẩm cam
- Đánh giá thực trạng của chuỗi giá trị sản phẩm cam Cao Phong
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị sản phẩm cam Cao Phong
- Đề xuất các giải pháp để cải thiện chuỗi giá trị cam Cao Phong trong thời gian tới
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, các nghiên cứu trong đề tài này là:
1 Chuỗi giá trị cam Cao Phong có cấu trúc, tổ chức và hoạt động như thế nào?
- Có những tác nhân nào tham gia chuỗi giá trị?
- Chi phí, lợi nhuận được phân bổ như thế nào giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị cam?
2 Kết quả, hiệu quả tài chính của từng tác nhân tham gia và toàn chuỗi giá trị sản phẩm cam Cao Phong?
3 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của chuỗi giá trị cam?
4 Các giải pháp cải thiện chuỗi giá trị sản phẩm cam Cao Phong?
1.4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Những vấn đề lý luận về chuỗi giá trị
- Những vấn đề thực tiễn về chuỗi giá trị cam Cao Phong, các tác nhân tham gia chuỗi giá trị cam
- Các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng tới chuỗi giá trị cam
Các tác nhân đầu vào: giống, thuốc trừ sâu, phân bón,…
Hộ nông dân
Các tác nhân thương mại: thu gom, thương lái,…
Các tác nhân dịch vụ: ngân hàng, vận tải, …
Các tác nhân hỗ trợ: khuyến nông,…
Trang 16- Đề tài được tiến hành trên phạm vi toàn huyện Cao Phong
- Một số nội dung chuyên sâu được khảo sát ở các tác nhân tham gia chuỗi giá trị sản phẩm cam tại một số xã đại diện trên địa bàn huyện (hộ sản xuất,
hộ thu gom, hộ bán buôn, hộ bán lẻ, người tiêu dùng cam đại diện)
Phạm vi thời gian:
- Dữ liệu sử dụng đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ cam được thu thập chủ yếu trong 3 năm 2013 đến 2015
- Các dữ liệu sơ cấp sẽ khảo sát sâu trong năm 2015
- Giải pháp cho phát triển và nâng cấp chuỗi giá trị sản phẩm cam sẽ áp dụng từ năm 2016 đến 2020
1.6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Về lý luận
Luận văn đã đưa ra các khái niệm cơ bản về chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng, mối quan hệ giữa chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị, sơ đồ chuỗi gía trị, liên kết ngang, liên kết dọc, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của chuỗi giá trị, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị sản phẩm
-Về thực tiễn
Luận văn đã phân tích thực trạng chuỗi giá trị cam Cao Phong của huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình thời gian 2013 – 2015 Phân tích đánh giá thực trạng của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị sản phẩm cam Cao Phong Làm rõ các yếu
tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị cam Cao Phong của huyện Cao Phong trong năm tới Đưa ra kết quả đạt được và những hạn chế gặp phải, từ đó đưa ra giải pháp tăng cường cải thiện chuỗi giá trị cam Cao Phong
Trang 17Bên trong mỗi tổ chức, chẳng hạn nhà sản xuất, chuỗi cung ứng bao gồm tất
cả các chức năng liên quan đến việc nhận và đáp ứng nhu cầu khách hàng Những chức năng này bao gồm phát triển sản phẩm mới, marketing, sản xuất, phân phối, tài chính và dịch vụ ngân hàng Trong một chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu được mua ở một hoặc nhiều nhà cung cấp, các bộ phận được sản xuất ở một nhà máy hoặc nhiều hơn, sau đó vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trung gian, cuối cùng đến nhà bán lẻ và khách hàng Chuỗi cung ứng cũng được xem như mạng lưới hậu cần, bao gồm các nhà cung cấp, các trung tâm sản xuất, nhà kho, các trung tâm phân phối, các cửa hàng bán lẻ, cũng như nguyên vật liệu, tồn kho trong quá trình sản xuất và sản phẩm hoàn thành dịch chuyển giữa các cơ sở
Theo Hau Lee và Corey Bilington (1995): “Chuỗi cung ứng là mạng lưới các phương tiện phục vụ thu mua nguyên vật liệu thô, chuyển hóa chúng thành những sản phẩm trung gian, tới sản phẩm cuối cùng và giao sản phẩm đó tới khách hàng thông qua hệ thống phân phối”
Cũng có định nghĩa khác về chuỗi cung ứng như sau: “Chuỗi cung ứng là môi trường nơi dòng sản phẩm, dịch vụ, thông tin di chuyển từ nhà cung ứng đầu tiên tới khách hàng cuối cùng và ngược lại” (David Sharpe, 2008)
Như vậy, chuỗi cung ứng là một mạng lưới phức tạp bao gồm các tác nhân liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc cung ứng sản phẩm cho khách hàng cuối cùng một cách nhanh và hiệu quả thông qua dòng sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm
Trang 182.1.1.2 Chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị là một loạt các hoạt động sản xuất kinh doanh có quan hệ với nhau, từ việc cung cấp đầu vào, sản xuất, thu gom, chế biến và cuối cùng là bán sản phẩm cho người tiêu dùng
Chuỗi giá trị ám chỉ đến một loạt những hoạt động cần thiết để mang một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau đến người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ nó sau khi sử dụng (Kaplinsky, 1999; dẫn theo Trần Tiến Khai, 2012) Một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi đều hoạt động để tạo ra tối đa giá trị trong toàn chuỗi
Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng là một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ v.v…) để biến nguyên liệu thô thành thành phẩm được bán lẻ Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên vật liệu và chuyển dịch theo các mối liên kết với các đơn vị sản xuất, kinh doanh, lắp ráp, chế biến v.v…Chuỗi giá trị bao gồm các chức năng trực tiếp như sản xuất hàng hóa cơ bản, thu gom, chế biến, bán sỉ, bán lẻ, cũng như các chức năng hỗ trợ như cung cấp vật tư nguyên liệu đầu vào, dịch vụ tài chính, đóng gói và tiếp thị (Sonja Vermeulen et al., 2008) Khái niệm chuỗi giá trị bao gồm cả các vấn đề về tổ chức và điều phối, chiến lược và mối quan hệ quyền lực của các tác nhân khác nhau trong chuỗi (Trần Tiến Khai, 2012)
Chuỗi giá trị còn gắn liền với các khía cạnh xã hội và môi trường Việc thiết lập (hoặc sự hình thành) các chuỗi giá trị có thể gây sức ép đến nguồn tài nguyên thiên nhiên (như nước, đất đai),có thể làm thoái hóa đất, mất đa dạng sinh học hoặc gây ô nhiễm Đồng thời, sự phát triển của chuỗi giá trị có thể ảnh hưởng đến các mối ràng buộc xã hội và tiêu chuẩn truyền thống
Cách tiếp cận của chuỗi giá trị theo nguyên tắc là xem xét từng tác nhân tham gia trong chuỗi và quan hệ một bước tiến, một bước lùi, bắt đầu từ sản xuất nguyên vật liệu cho đến người tiêu dùng cuối cùng
Theo Micheal Porter (1985): “Chuỗi giá trị của một doanh nghiệp bao gồm các hoạt động chính và các hoạt động bổ trợ tạo nên lợi thế cạnh tranh khi được cấu hình một cách thích hợp” Khái niệm này được phát triển như một công cụ để phân tích cạnh tranh và chiến lược Các hoạt động chínhlà những hoạt động
Trang 19hướng đến việc chuyển đổi về mặt vật lý và quản lý sản phẩm hoàn thành để cung cấp cho khách hàng Bao gồm 5 hoạt động sau: hậu cần đến, sản xuất, hậu cần ra ngoài, marketing và bán hàng, dịch vụ khách hàng Trong các hoạt động trên thì hậu cần đến và hậu cần ra là các thành tố quan trọng và then chốt của chuỗi giá trị, là yếu tố chính tạo ra “giá trị” cho khách hàng của doanh nghiệp và mang lại lợi ích tài chính cho công ty Các hoạt động bổ trợ cho phép hoặc hỗ trợ các hoạt động chính Bao gồm: thu mua, phát triển công nghệ, quản trị nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng công ty
Theo Cẩm nang ValueLinks – Phương pháp luận để thúc đẩy chuỗi giá trị: Một chuỗi giá trị là một loạt các hoạt động kinh doanh (hay chức năng) có quan
hệ với nhau, từ việc cung cấp các đầu vào cụ thể cho một sản phẩm nào đó, đến
sơ chế, chuyển đổi, marketing Đến việc cuối cùng là bán sản phẩm đó cho người tiêu dùng (theo quan điểm chức năng với chuỗi giá trị) (GTZ Eschborn, 2007) 2.1.1.3 Mối quan hệ giữa chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị
Nếu xem xét, nhìn nhận các chuỗi hoạt động và tổ chức ở các khía cạnh khác nhau thì sẽ hình thành các tên gọi khác nhau Nếu con người nhấn mạnh đến hoạt động sản xuất thì họ gọi chuỗi đó là quy trình sản xuất; khi họ nhấn mạnh đến khía cạnh marketing họ gọi chúng là kênh phân phối; khi họ nhìn nhận ở góc
độ tạo ra giá trịhọ gọi chúng là chuỗi giá trị; khi họ tập trung vào sự dịch chuyển nguyên vật liệu thì ta gọi đó là chuỗi cung ứng hay chuỗi cung cấp
Như vậy, đặt ra một câu hỏi cấp thiết mà chưa có câu trả lời rõ ràng liên quan đến việc phân biệt và làm rõ sự khác nhau giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng
Ở cấp độ tổ chức, chuỗi giá trị rộng hơn chuỗi cung ứng vì nó bao gồm tất
cả các hoạt động dưới hình thức của các hoạt động chính và hoạt động bổ trợ Mặt khác chuỗi cung ứng bao gồm các hoạt động thu mua nguyên vật liệu, vận chuyển, chuyển hóa các đầu vào sản phẩm, phân phối các sản phẩm tới khách hàng đều tồn tại trong chuỗi giá trị Hay chuỗi cung ứng chính là đại diện cho các hoạt động chính của chuỗi giá trị nên chuỗi cung ứng có thể coi là tập con của chuỗi giá trị
2.1.1.4 Sơ đồ chuỗi giá trị
Sơ đồ thể hiện các hoạt động sản xuất/ kinh doanh (khâu), các tác nhân chính trong chuỗi và những mối liên kết của họ Lập sơ đồ chuỗi giá trị có nghĩa
Trang 20là vẽ một sơ đồ về hiện trạng của hệ thống chuỗi giá trị Thể hiện qua sơ đồ chuỗi giá trị dưới đây:
Ghi chú:
Các tác nhân chính thực hiện các khâu trong chuỗi:
Người tiêu dùng cuối cùng:
Nhà hỗ trợ chuỗi giá trị:
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ chuỗi giá trị tổng quát trong các ngành hàng nông nghiệp
Nguồn: Tài liệu tập huấn chuỗi giá trị (2013)
Sơ đồ 2.1 cho biết chuỗi giá trị ngành hàng nông nghiệp cũng bao gồm hai hoạt động là các hoạt động chính và các hoạt động bổ trợ Các hoạt động chính như cung ứng các yếu tố đầu vào như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chăm sóc, thu hoạch, thu gom, vận chuyển, bảo quản, bán sỉ, bán lẻ,…của các tác nhân tham gia chuỗi trong quá trình phân phối sản phẩm từ người sản suất, qua các trung gian để đến tay người tiêu dùng cuối cùng Các hoạt động bổ trợ từ chính quyền địa phương, các Sở/ ngành liên quan, hệ thống ngân hàng,… sẽ thúc đẩy một phần hoặc toàn bộ hoạt động của chuỗi
Thu gom Vận chuyển
Làm sạch Đóng gói
Bán sỉ Bán lẻ
Nhà sơ chế Người bán
sỉ, người bán lẻ Trong nước
Chính quyền địa phương, ngân hàng, các Sở/ngành liên quan,…
Trang 21tác) để giảm chi phí, tăng giá bán sản phẩm, tăng số lượng hàng bán (Nguyễn Kim Anh, 2006)
Nông dân hợp tác với nhau và mong có được thu nhập cao hơn từ những cải thiện trong tiếp cận thị trường đầu vào, đầu ra và các dịch vụ hỗ trợ (Ví dụ: Tổ chức mua vật tư đầu vào theo tập thể có thể tạo ra một số lợi ích cho các thành viên bao gồm: mua vật tư với giá thấp nhờ mua số lượng lớn và trực tiếp từ người cung cấp; tổ chức mua theo tập thể sẽ giảm được chi phí vận chuyển nếu phải mua xa; tiêu thụ qua tập thể, tổ chức có khả năng hợp đồng bán với số lượng lớn, đảm bảo uy tín và đỡ rủi ro )
Tóm lại, liên kết ngang mang lại lợi ích như: Giảm chi phí sản xuất, kinh doanh cho từng thành viên của tổ/nhóm qua đó tăng lợi ích kinh tế cho từng thành viên; Có thể đảm bảo được chất lượng và số lượng cho khách hàng; Có thể
ký hợp đồng đầu ra, sản xuất quy mô lớn; Phát triển sản xuất, kinh doanh một cách bền vững
Để hỗ trợ cho liên kết ngang phát triển bền vững, việc tổ chức lại sản xuất thành lập các Tổ Hợp tác theo Nghị định 151/2007/NĐ – CP Chính Phủ là một biện pháp có tác động tích cực trong phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn 2.1.1.6 Liên kết dọc
Liên kết dọc là liên kết giữa các tác nhân trong các khâu khác nhau của chuỗi (Ví dụ: Tổ hợp tác liên kết với doanh nghiệp thông qua hợp đồng tiêu thụ sản phẩm)
Liên kết dọc có tác dụng: Giảm chi phí chuỗi; Có cùng tiếng nói của những người trong chuỗi; Hợp đồng bao tiêu sản phẩm được bảo vệ bởi pháp luật Nhà nước; Tất cả tác nhân trong chuỗi đều nắm được thông tin thị trường để có kế hoạch sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường; Niềm tin phát triển chuỗi cao hơn (Nguyễn Kim Anh, 2006)
Để thúc đẩy liên kết dọc phát triển bền vững, Quyết định 80/2002/QĐ-TTg
là một tài liệu quan trọng, tạo điều kiện phát triển liên kết dọc và nhấn mạnh vai trò quan trọng của hợp đồng tiêu thụ sản phẩm
2.1.1.7 Tác nhân
Tác nhân là một “tế bào” sơ cấp với các hoạt động kinh tế là trung tâm, hoạt động độc lập và tự quyết định hành vi của mình Tác nhân có thể là những
Trang 22hộ hay những doanh nghiệp tham gia trong các ngành hàng thông qua hoạt động kinh tế của họ (Pierre Fabre, 1994) Có thể chia tác nhân làm hai loại: tác nhân là người thực hiện và tác nhân tinh thần có tính tượng trưng Nếu theo nghĩa rộng, người ta dùng tác nhân để nói một tập hợp các đơn vị có cùng một hoạt động
2.1.2 Cấu trúc chuỗi giá trị sản phẩm
Kaplinsky (2000) nói rằng cấu trúc của một chuỗi giá trị bao gồm tất cả các doanh nghiệp trong chuỗi và có thể được đặc trưng về năm yếu tố (thị trường, kinh doanh và môi trường thuận lợi, liên kết dọc, liên kết ngang và thị trường hỗ trợ)
2.1.2.1 Thị trường
Thị trường cuối là những người xác định các đặc trưng bao gồm giá cả,
số lượng, chất lượng và thời gian của một sản phẩm hay dịch vụ thành công (Kaplinsky, 2000) Người mua là người quyết định thị trường, làm thay đổi thị trường Họ là nguồn quan trọng của thông tin nhu cầu và trong một số trường hợp là sẵn sàng đầu tư vào trong các công ty tiếp tục bắt đầu chuỗi mới Phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị đánh giá cơ hội hiện tại và tiềm năng trong tất cả các thị trường có thể, thông qua các cuộc phỏng vấn với các khách hàng hiện tại có xu hướng xem xét, các đối thủ cạnh tranh tiềm năng và các yếu tố năng động khác
2.1.2.2 Kinh doanh và môi trường thuận lợi
Môi trường kinh doanh thuận lợi ở cấp địa phương, quốc gia và quốc tế bao gồm các chỉ tiêu, hải quan, pháp luật, quy định, chính sách, các hiệp định thương mại quốc tế và cơ cấu hạ tầng công cộng (đường giao thông, điện) hoặc
Trang 23tạo điều kiện thuận lợi hoặc cản trở việc di chuyển của một sản phẩm hoặc dịch
vụ cùng chuỗi giá trị sản phẩm (Kaplinsky 2000) nhiều hiệp định thương mại quốc tế và tiêu chuẩn chất lượng hiện nay cơ hội mở rộng thị trường, nhưng có thể cực kỳ tốn kém cho các doanh nghiệp Chính sách quốc gia và môi trường pháp lý là rất quan trọng cho các hoạt động của thị trường và doanh nghiệp Quy định thuế gia tăng chi phí giao dịch và rủi ro, hạn chế đầu tư vào các mối quan hệ
mở rộng thị trường Chính sách địa phương nói chung có thể bị ảnh hưởng một cách dễ dàng hơn so với các luật và quy định và có thể có một tác động tích cực đáng kể về khả năng cạnh tranh của một ngành nông nghiệp
2.1.2.3 Mối liên kết theo chiều dọc
Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp ở các cấp độ khác nhau của chuỗi giá trị rất quan trọng cho việc di chuyển một sản phẩm hoặc dịch vụ cho thị trường cuối (Kaplinsky, 2000) Giao dich hiệu quả hơn giữa các thông tin theo chiều dọc liên quan đến chuỗi giá trị tăng sức cạnh tranh của toàn bộ ngành công nghiệp Ngoài ra, liên kết dọc tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp các lợi ích và các dịch vụ và chuyển giao kỹ năng thông tin giữa các doanh nghiệp lên, kỹ năng mới và một loạt các dịch vụ, và có thể giảm rủi ro thị trường bằng cách đảm bảo doanh số bán hàng trong tương lai
2.1.2.4 Mối liên kết theo chiều ngang
Mối quan hệ giữa hợp tác và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thực hiện các chức năng tương tự trong một chuỗi giá trị (Kaplinsky, 2000) Mối quan hệ chính thức hoặc không chính thức giữa các công ty có thể làm giảm chi phí giao dịch cho người mua khi giao dịch với nhiều nhà cung cấp nhỏ Bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho người mua số lượng lớn các yếu tố đầu vào hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị đặt hàng lớn, liên kết ngang có thể giúp các công ty nhỏ tạo ra nền kinh tế có quy mô Các hiệp hội ngành công nghiệp có thể cho phép việc tạo ra các tiêu chuẩn công nghiệp và thực hiện các chiến lược tiếp thị Chìa khoá để đạt được giá trị từ hợp tác ngang giữa các doanh nghiệp là cần thiết
để kích thích đổi mới và làm cho một ngành công nghiệp có khả năng đáp ứng những thay đổi của thị trường tốt hơn
2.1.2.5 Hỗ trợ thị trường
Các dịch vụ hỗ trợ là chìa khoá để nâng cấp sản phẩm của công ty Bao gồm các dịch vụ tài chính, xuyên suốt các dịch vụ như tư vấn kinh doanh, tư vấn pháp lý và viễn thông và các ngành dịch vụ cụ thể (thiết bị tưới tiêu hoặc các dịch
Trang 24vụ thiết kế thủ công mỹ nghệ) Nơi mà các dịch vụ này là cần thiết trong một thời gian dài, họ phải được cung cấp thương mại hoặc các thị trường Các thị trường
có thể bao gồm các dịch vụ được cung cấp bởi các tác nhân trong chuỗi, hoặc bởi các nhà cung cấp dịch vụ độc lập Các dịch vụ được cung cấp bởi các tác nhân trong chuỗi có xu hướng được tăng thêm giá trị sản phẩm, như vậy mà chi phí của dịch vụ được xây dựng thành một giao dịch thương mại hiện có Công nghệ mới, các dịch vụ kỹ thuật có thể có một tác động đáng kể về hiệu suất của một ngành công nghiệp và thậm chí có thể thay đổi lợi thế cạnh tranh trong thị trường nhất định (Nguyễn Thị Thiêm, 2015)
2.1.3 Đặc điểm về chuỗi giá trị sản phẩm nông sản
Về cơ bản sự hình thành và phát triển các chuỗi giá trị nông sản nói chung hay chuỗi giá trị cam Cao Phong nói riêng cũng giống như sự hình thành và phát triển các chuỗi giá trị sản phẩm phi nông sản Tuy nhiên do những đặc thù rất riêng của sản xuất hàng hoá nông sản từ khâu canh tác trên đồng ruộng với chế biến và tiêu thụ mà chuỗi giá trị nông sản có những đặc thù và tính riêng cần lưu
ý, nghiên cứu để tham gia thành công và có hiệu quả vào các chuỗi giá trị này 2.1.3.1 Đặc điểm về tính mùa vụ và bảo quản
Do đối tượng cây trồng của sản xuất nông nghiệp luôn mang tính mùa vụ nên hàng hoá nông sản làm ra cũng mang tính mùa vụ theo, làm cho chuỗi giá trị sản phẩm nông sản thường mang đặc điểm không liên tục và có sự thay đổi rất nhanh về khối lượng, chất lượng trong quá trình cung ứng ra thị trường Thể hiện vào vụ thu hoạch khối lượng hàng hoá nhãn tăng rất nhanh, chất lượng cao và nhu cầu bán ra thị trường rất lớn, làm cho giá nhãn trên thị trường hạ, ngược lại thu hoạch thì hàng hoá giảm rất nhanh, chất lượng thấp, nhưng giá bán trên thị trường lại cao Đặc điểm này làm cho việc phân phối hàng hoá trở nên rất khó khăn và giá cả không ổn định
Hàng hoá tươi, dễ bị hỏng, nhanh giảm phẩm chất sau khi thu hoạch, việc vận chuyển đi xa nếu không có xe chuyên dùng thì rất khó khăn, bảo quản tốt trước khi vận chuyển, điều này đồng nghĩa với giá thành sản xuất sẽ tăng lên nếu sản phẩm được trải qua các công đoạn chế biến, chọn lọc và bảo quản đúng yêu cầu kỹ thuật Đặc điểm này gây ra nhiều khó khăn cho người sản xuất và hạn chế
sự phát triển mở rộng của chuỗi giá trị Vì vậy, tính toàn cầu hoá các hàng hoá cam Cao Phong trở nên rất hạn chế, muốn phát triển được chuỗi giá trị sản phẩm cam Cao Phong này với không gian mở rộng đòi hỏi các nhà sản xuất kinh doanh phải có công nghệ cao, thích hợp về chế biến, bảo quản đồng thời giá cả tiêu thụ
Trang 25phải tăng lên nhiều lần so với giá bán sản phẩm tại nơi sản xuất.Nói chung chi phí để bảo quản rất lớn và thời hạn bảo quản không được lâu
2.1.3.2 Đặc điểm về tác động của thời tiết, bệnh dịch và an toàn thực phẩm
Sản xuất nông nghiệp chịu tác động mạnh bởi các nhân tố khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng và các nguồn lực khác như đất đai, nguồn nước Sự thay đổi những nhân
tố này theo bất kỳ chiều hướng nào cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến kết quả sản xuất, có thể là tích cực, có thể là tiêu cực và làm cho tính ổn định của chuỗi giá trị trở nên không bền vững và biến động mạnh mẽ theo thời gian
Sản xuất nông sản bị hạn chế bởi những điều kiện tự nhiên không phù hợp, nên sản phẩm bị khu vực hoá mạnh mẽ tập chung nhiều ở một số vùng, trong khi những vùng khác không thể phát triển được Chính vì vậy hơn bất cứ sản phẩm nào của ngành nghề phi nông nghiệp, chuỗi giá trị sản phẩm thường mang tính vùng rất cao Cộng thêm khả năng vận chuyển khó khăn, chi phí tốn kém đã tạo ra hạn chế mạnh mẽ khả năng phát triển các kênh tiêu thụ của chuỗi nông sản đến các vùng sa nơi sản xuất và tính toàn cầu bị hạn chế hơn nhiều so với hàng hoá phi nông sản
Vấn đề dịch bệnh, đòi hỏi về an toàn thực phẩm cũng là những cản trở lớn đến sự phát triển chuỗi giá trị hàng nông sản trên phạm vi toàn cầu bởi những hàng hoá này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, đời sống người tiêu dùng Chính phủ các nước thường đặt ra những hàng rào kiểm soát về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hàng nông sản nhập khẩu và không cho nhập những lô hàng kém phẩm chất,
có mần bệnh, hoặc có chứa hoá chất độc hại quá mức cho phép Những biện pháp này là chính đáng và cần thiết, nhưng ảnh hưởng sấu đến thương mại nông nghiệp
mà người ta gọi là thất bại của thị trường từ đó ảnh hưởng không thuận lợi đến sự lan toả của chuỗi giá trị nông sản
và rất khó điều chỉnh để có thể tạo ra khối lượng lớn sản phẩm đồng nhất về chất
Trang 26lượng, đặc biệt khả năng tự điều chỉnh quy mô sản xuất theo tính hiệu chỉnh của thị trường, nhất là đối với sản phẩm ở những quốc gia có số lượng nông dân đông
Đặc điểm số lượng lao động trong sản xuất nông nghiệp đông đảo đòi hỏi phải có các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp để thu hút hữu hiệu nông dân cùng sản xuất ra sản phẩm cùng chất lượng, cùng mẫu mã và đưa ra thị trường về sản phẩm nông sản nào đó
2.1.3.4 Đặc điểm về chế biến và lưu trữ sản phẩm
Trong chuỗi giá trị nông sản, hàng hoá muốn vận chuyển đi xa đến những thị trường nằm cách xa nơi sản xuất thì hàng hoá đó không thể vận chuyển dưới trạng thái tươi sống, mà phải thông qua chế biến thành hàng hoá khô hoặc đóng hộp bảo quản, nếu là hàng hoá tươi thì cũng phải thông qua các thiết bị bảo quản Chính vì vậy mà công nghệ chế biến nông sản đã phát triển đa dạng với nhiều thành tựu to lớn về kỹ thuật và bí quyết công nghệ cao trong những năm vừa qua vẫn chưa tháo gỡ hết mọi vấn đề của chuỗi giá trị nông sản
Thường những công nghệ chế biến cao cấp thì chi phí đầu tư sẽ rất lớn và
từ đó giá thành sản phẩm nông sản đã qua chế biến sẽ rất cao, làm cho hiệu quả của chuỗi giá trị có thể giảm, lợi ích của các tác nhân nhất là những nông dân tham gia chuỗi giá trị bị ảnh hưởng tiêu cực và động lực tham gia có thể sẽ mất
đi Khi đó chuỗi giá trị sẽ bị phá sản Đặc điểm này thường là nguyên nhân gây
ra tình trạng thừa thiếu lẫn lộn trên thị trường nông sản, tạo ra sự chênh lệch về giá tiêu thụ rất lớn giữa nơi sản xuất và nơi tiêu thụ tuỳ theo khoảng cách và điều kiện vận chuyển và hiện tại thách thức lớn đối với các biện pháp mổ rộng chuỗi giá trị nông sản Những người nông dân tham gia sản xuất ở những chuỗi nông sản này chịu rủi ro và thua thiệt lớn khi thị trường bị biến động
2.1.4 Ý nghĩa của phân tích chuỗi giá trị
Chuỗi giá trị có thể được phân tích từ góc độ của bất kỳ tác nhân nào trong số các tác nhân tham gia trong chuỗi Phép phân tích chuỗi thường được sử dụng cho các công ty, các doanh nghiệp hay cơ quan nhà nước Bốn khía cạnh trong phân tích chuỗi giá trị nhưng được áp dụng trong nông nghiệp mang nhiều
ý nghĩa đó là:
- Thứ nhất: Phân tích chuỗi giá trị giúp chúng ta lập sơ đồ một cách hệ thống các bên tham gia vào sản xuất phân phối, tiếp thị và bán một (hoặc nhiều) sản phẩm cụ thể
Trang 27- Thứ hai: Phân tích chuỗi giá trị có vai trò trung tâm trong việc xác định
sự phân phối lợi ích của những người tham gia trong chuỗi Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển (nhất là về nông nghiệp) khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa
- Thứ ba: Phân tích chuỗi giá trị có thể dùng để xác định vai trò của việc nâng cấp trong chuỗi giá trị
- Thứ tư: Phân tích chuỗi giá trị có thể nhấn mạnh vai trò của quản trị trong chuỗi giá trị
Như vậy, phân tích chuỗi giá trị có thể làm cơ sở cho việc hình thành các
dự án, chương trình hỗ trợ cho một chuỗi giá trị hoặc một số chuỗi giá trị nhằm đạt được một số chuỗi kết quả phát triển mong muốn hay nó là động thái bắt đầu một quá trình thay đổi chiến lược hoạt động sản xuất, kinh doanh theo hướng ổn định, bền vững
2.1.5 Nội dung nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm
2.1.5.1 Sơ đồ hoá mang tính hệ thống
Những tác nhân tham gia sản xuất, phân phối, tiếp thị, bán một hay các sản phẩm cụ thể
Đánh giá các đặc điểm của các tác nhân tham gia, cơ cấu lợi nhuận và chi phí dòng hàng hoá trong suốt chuỗi, các đặc điểm của việc làm, địa chỉ tiêu thụ
và khối lượng bán hàng trong và ngoài nước
Những chi tiết như thế nào có thể được tập hợp từ việc phối hợp khảo sát
cơ bản, phỏng vấn nhóm, đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia, các phóng vấn không chính thức và giữ liệu thứ cấp
2.1.5.2 Xác định phân phối lợi ích giữa những tác nhân tham gia trong chuỗi, bao gồm
Phân tích chênh lệch giá và lợi nhuận trong chuỗi
Xác định ai được lợi từ việc tham gia chuỗi
Những tác nhân nào có thể hưởng lợi từ việc hỗ trợ hay tổ chức lại sản xuất 2.1.5.3 Nghiên cứu vai trò nâng cấp bên trong chuỗi
Cải tiến trong chất lượng và thiết kế sản phẩm giúp các nhà sản xuất thu được giá trị cao hơn hoặc qua việc đa dạng hoá các dòng sản phẩm cung cấp
Trang 28Đánh giá lợi nhuận của những người tham gia trong chuỗi cũng như thông tin về những ràng buộc
Vấn đề quản trị, cấu trúc các quy định, rào cản gia nhập ngành, ngăn cấm thương mại và các tiêu chuẩn
2.1.5.4 Vai trò của nhà quản lý
Cơ cấu của các mối quan hệ và cơ chế điều phối tồn tại giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị
Góc độ chính sách: Xác định sắp xếp về thể chế nhằm cải thiện năng lực hoạt động của chuỗi, xoá bỏ các bóp méo trong phân phối và gia tăng giá trị trong ngành
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị sản phẩm nông sản
Nghiên cứu một chuỗi giá trị sản phẩm cần trả lời được các câu hỏi: Các tác nhân trong chuỗi hoạt động có hiệu quả hay không? Sự phân phối giá trị gia tăng, lợi ích giữa các tác nhân ra sao?Kết quả hoạt động của tác nhân này ảnh hưởng như thế nào đến các tác nhân còn lại trong chuỗi?… Câu trả lời của các câu hỏi trên phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ đề cập đến hai nhóm yếu tố là các yếu tố khách quan và các yếu tố chủ quan
Hai là sự phát triển nền kinh tế và hội nhập của nền kinh tế: Cây ăn quả có múi được biết đến là loại cây cho giá trị kinh tế rất cao nhưng do yêu cầu kỹ thuật thâm canh, đầu tư ban đầu rất lớn, nên việc cập nhật, áp dụng các kỹ thuật canh tác mới, công cụ lao động hiện đại trong sản xuất, thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự mở rộng, phát triển bền vững
Trang 29của chuỗi giá trị sản phẩm cam Cao Phong trong tương lai Các áp lực cạnh tranh
mà ngành phải đối mặt: Yếu tố cạnh tranh vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với
sự phát triển của mọi ngành hàng Nếu các tác nhân nắm bắt được những lợi thế,
cơ hội của địa phương, thị trường,…sản phẩm của chuỗi sẽ có khả năng cạnh tranh trên thị trường thì chuỗi giá trị sẽ phát triển theo hướng đi lên; ngược lại thì chuỗi giá trị sẽ phát triển theo hướng tụt lùi
Ba là các yếu tố rủi ro khác như thời tiết, sâu bệnh, thiên tai,… đều nằm ngoài những dự tính của con người, do vậy việc chủ động phòng tránh, tăng cường công tác dự báo là cách tốt nhất để đối phó với rủi ro (Dẫn theo Nguyễn Phú Son, 2013)
Hai là trình độ và nhận thức của người dân trong sản xuất tiêu thụ sản phẩm: Yếu tố quyết định để nâng cao giá trị gia tăng và lợi ích của toàn chuỗi giá trị sản phẩm chính là chất lượng sản phẩm Đối với các mặt hàng nông sản, chất lượng sản phẩm ngoài phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên như đất, nước, khí hậu, còn phụ thuộc rất lớn vào trình độ, sự hiểu biết của người trồng Người trồng cam có trình độ, kinh nghiệm canh tác thuần thục, khả năng nhận thức các biến động, xu hướng thị trường sẽ có cách thức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm sao cho hiệu quả nhất, hạn chế tối đa các rủi ro, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng được niềm tin vững chắc với các tác nhân khác trong chuỗi, thúc đẩy chuỗi phát triển
Ba là sự liên kết giữa các tác nhân trong kênh tiêu thụ: Yếu tố này là điều kiện tiên quyết hình thành nên chuỗi giá trị, sự liên kết bền chặt giữa các tác nhân
sẽ giúp người sản xuất yên tâm sản xuất, các tác nhân trung gian yên tâm có nguồn hàng để phân phối, tiêu thụ Các tác nhân thực hiện đúng chức năng chuyên môn của mình thì tất yếu sẽ đạt được hiệu quả cao hơn Tuy nhiên, trên thực tế sự liên kếtgiữa “4 nhà” đặc biệt là nhà nông và nhà doanh nghiệp trong
Trang 30chuỗi giá trị chưa thật sự gắn kết, giữa người trồng với các trung gian còn lỏng lẻo, liên kết yếu Đây chính là nguyên nhân dẫn tới sự phân phối không hiệu quả giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị mà người chịu thiệt thường là người nông dân Sự phát triển của các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ: Với các hoạt động như đóng gói, bảo quản, nhãn mác, quảng cáo, giới thiệu sản phẩm,… thì sự tham gia của các doanh nghiệp chế biến, bao tiêu sản phẩm vào chuỗi giá trị sản phẩm cam Cao Phong sẽ góp phần nâng cao giá trị cho trái cam, nâng cao giá trị gia tăng, lợi nhuận cho các tác nhân tham gia chuỗi Các hoạt động của các doanh nghiệp còn có tác dụng quảng bá, xây dựng thương hiệu cam Cao Phong một cách hiệu quả, giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động địa phương (Nguyễn Kim Anh, 2006)
và thu được giá trị gia tăng ở mức cao nhất có thế
Trung Quốc và Thái Lan là hai quốc gia Châu Á, có các điều kiện tự nhiên – xã hội tương đối giống Việt Nam song hai nước này lại đang xâm nhập mạnh vào chuỗi giá trị toàn cầu hàng nông sản và thu về nhiều giá trị gia tăng hơn nhiều so với Việt Nam
Từ các kinh nghiệm thực tế của hai quốc gia này Việt Nam có thể vạch ra những bước đi chiến lược cho ngành nông sản để nâng cao vị thế của nông sản Việt Nam
Trung Quốc là nước có nền nông nghiệp lớn và lâu dài nhất thế giới, đồng thời là một trong những chiếc nôi của nền nông nghiệp thế giới Do đó, quốc gia này đã tích lũy nhiều kình nghiệm thâm canh cổ truyền với một hệ thống công cụ sản xuất thủ công phong phú, đa dạng, tận dụng nguồn lao động dồi dào ở nông thôn, bảo đảm sản xuất nông nghiệp tự túc, tự cấp có hiệu quả cao Kinh tế nông nghiệp Trung Quốc đã có sự chuyển dịch cơ cấu tích cực nhằm tạo ra năng suất cây trồng và hiệu quả cao, sản xuất nhiều nông sản hàng hóa
Trang 31Chỉ sử dụng 9% diện tích đất trồng trọt toàn cầu, quốc gia đông dân nhất hành tinh này không những đã đáp ứng nhu cầu của hơn 1,3 tỷ người về lương thực, thực phẩm và các nông sản khác mà còn có thể xuất khẩu ra thế giới và đạt nhiều thành tựu trong việc xâm nhập chuỗi giá trị toàn cầu ngành nông sản Hiện nay Trung Quốc đứng thứ 8 trên thế giới về xuất khẩu nông sản và đứng đầu Châu Á, cung cấp 15% tất cả các nông sản nhập vào Nhật – một trong những thị trường khó tính nhất khu vực và trên thế giới (Đào Huyền, 2013)
Từ thực tiễn của Trung Quốc, bài học được rút ra cho Việt Nam như sau:
- Chính sách phát triển nông nghiệp hướng vào sản xuất những nông sản
có lợi thế so sánh Khi không còn bảo hộ sản xuất cho một nông sản nào, cách tồn tại và phát triển là phải phát huy những ngành có lợi thế so sánh hoặc tạo ra lợi thế so sánh để tồn tại và phát triển
- Coi trọng hỗ trợ phát triển công nghiệp chế biến, Phát triển công nghiệp chế biến tạo ra giá trị gia tăng cao và tạo đầu ra ổn định hơn cho ngành trồng trọt Hơn nữa việc chế biến nông sản đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng đang thay đổi của thế giớ sẽ giúp Việt Nam giành được thị phần cho hàng hóa của mình trên thị trường quốc tế
- Tăng cường hỗ trợ thông tin theo hướng cung cấp cập nhật, chính xác thông tin về thị trường nông sản cho nông dân
- Hệ thống chính sách và quản lý liên quan tới nông nghiệp cũng cần có những thay đổi kịp thời, định hướng cho nông nghiệp chuyển đổi cơ cấu sản xuất, xuất khẩu
- Tăng cường năng lực của các hiệp hội ngành hàng Đây là đơn vị tập hợp
và tăng cường liên kết các doanh nghiệp kinh doanh nông sản gia tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Thái Lan là một quốc gia thuộc khối ASEAN, có diện tích canh tác 19.620.000 ha gấp 2,62 lần nước ta Với nền nông nghiệp tương đồng với Việt Nam, thậm chí có những điều kiện còn hạn chế hơn nhưng Thái Lan đã vươn lên trở thành nước đứng đầu về xuất khẩu nông sản với giá trị cao hơn hẳn so với Việt Nam Chính phủ Thái Lan xác định hướng chiến lược là xây dựng nền nông nghiệp với chất lượng cao, có sức cạnh tranh mạnh Do đó, Thái Lan tập trung mũi nhọn phát triển mạnh hàng chế biến nông sản và công nghiệp phục vụ nông nghiệp Hiện Thái Lan có tới ¼ số xí nghiệp gia công sản phẩm được xây dựng
Trang 32ngay tại nông thôn, nhờ đó đã tạo dựng sự vững mạnh và ổn định về kinh tế nông nghiệp Bên cạnh đó, Chính phủ còn chú trọng xây dựng các tổ chức nông nghiệp
và nông thôn trên cơ sở sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý hướng tới phát triển bền vững (Đào Huyền, 2013)
Điểm đáng chú ý là trái cây và nông sản của Thái Lan sản xuất theo quy trình GAP nên được người tiêu dùng ưu chuộng Ở Thái lan, đa số nông dân được chính phủ hướng dẫn và hỗ trợ cặn kẽ quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn GAP từ khâu chọn giống cho đến khâu bón phân, thu hoạch, chế biến và bảo quản sau thu hoạch Trong khâu tiêu thụ tại đây có sự kết hợp giữa các nhà bán lẻ với hệ thống siêu thị rồi từ đó chia nhỏ ra thành những đại lý ở nhiều nơi để thu mua hàng hóa tại nơi sản xuất Nhờ có chính sách khuyến nông phát triển mạnh
mẽ, Thái Lan đã đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo (khoảng 5 triệu tấn/ năm), là nước xuất khẩu thực phẩm mạnh nhất khu vực Đông Nam Á (Đào Huyền, 2013)
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam: từ những chính sách và thành công trong phát triển kinh tế nông nghiệp của Thái Lan có thể rút ra những bài học sau cho nước ta:
- Tập trung để phát triển nông nghiệp thực hiện đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp; đầu tư đồng bộ cho công nghiệp chế biến; đổi mới công nghệ sinh học, bảo quản và đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng;
- Phối hợp đồng bộ các chính sách và giải pháp để đạt mục tiêu đề ra trong từng thời kỳ, đặc biệt ngành hàng xuất khẩu được hỗ trợ bởi chương trình khoa học công nghệ và vốn;
- Sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô để can thiệp gián tiếp và điều tiết sản xuất nông nghiệp có hiệu quả;
- Chú trọng phát huy các lợi thế so sánh thực hiện chiến lược sản phẩm, quy hoạch, đầu tư đồng bộ cho các vùng sản xuất chuyên canh tập trung sản xuất hàng hóa nhằm phát huy lợi thế về quy mô Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng hạ giá thành sản phẩm, phản ứng nhanh nhẹn trước yêu cầu và thị hiếu của thị trường về hình thức chất lượng nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh;
- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp;
- Tăng cường đổi mới hệ thống tiếp thị, phát triển các kênh sản xuất tiêu thụ xuất khẩu, coi trọng chữ tín để mở rộng và tạo lập thị trường mới Đồng thời chú
Trang 33trọng đào tạo nguồn nhân lực được xem là một trong những nhân tố quyết định
sự thành công
Chuỗi giá trị toàn cầu không còn là một khái niệm mới mẻ mà đã được xem xét từ những năm đầu thập niên 1990 của thế kỷ XIX và đang trở nên phổ biến trên thế giới hiện nay Việc nhận thức được chuỗi giá trị toàn cầu trên cơ sở
lý thuyết cơ bản là những nghiên cứu đã được công bố rộng rãi của các nhà nghiên cứu uy tín và nổi tiếng sẽ giúp các tác nhân tham gia chuỗi và tác nhân ngoài chuỗi có được cái nhìn tổng thể về kết quả và như những đặc trưng của nó;
từ đó xác định cách quản trị và nâng cấp chuỗi phù hợp với điều kiện cụ thể của nước mình và bắt kịp xu hướng chung của thế giới
Trong quá trình nhận biết và nắm bắt những xu hướng hiện đại thì những bài học kinh nghiệm thực tiễn từ sản xuất nông nghiệp của Trung Quốc và Thái Lan cũng như việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu nông sản của hai quốc gia này
sẽ giúp ích rất nhiều cho Việt Nam, đặc biệt là khi cả hai quốc gia có nền nông nghiệp tiên tiến này có điều kiện kinh tế - xã hội tương đối giống Việt Nam 2.2.2 Kinh nghiệm phát triển chuỗi giá trị sản phẩm một số loại cây ăn quả
đã mang lại hiệu quả kinh tế lớn, làm thay đổi bộ mặt nông thôn, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho nhiều vùng quê
Theo Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và PTNT (2012), ở Nam Bộ, chủ yếu là đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), từ lâu đã hình thành những vùng sản xuất cây có múi khá nổi tiếng, với những chủng loại cây có múi “độc nhất vô
Trang 34nhị” như: Quýt Hồng Lai Vung (Đồng Tháp), cam Sành Tam Bình (Vĩnh Long), chanh Tàu ở Cái Bè (Tiền Giang) và Cao Lãnh (Đồng Tháp)
Gần đây, do hiệu quả kinh tế cao, một số vùng chuyên canh cây có múi được hình thành và mở rộng sang các vùng lân cận như cây cam Sành mở rộng diện tích rất lớn sang huyện Trà Ôn (Vĩnh Long), Cái Bè (Tiền Giang), Cầu Kè (Trà Vinh), Phụng Hiệp (Hậu Giang); cây bưởi da xanh cũng phát triển mạnh ở các huyện trên địa bàn tỉnh Bến Tre, cây cam Canh – bưởi Diễn tại Lục Ngạn (Bắc Giang)
Bên cạnh đó, cây có múi cũng có nhiều ưu điểm so với một số loại cây trồng khác như có thể cho năng suất đến trên 100 tấn/ha, cao hơn rất nhiều so với nhiều loại cây ăn trái khác như xoài, sầu riêng, nhãn chỉ đạt năng suất từ 10-20 tấn/ha Mặt khác, đây cũng là nơi có nhiều loại trái cây có múi được chứng nhận chỉ dẫn địa lý, độc quyền nhãn hàng hóa… là cơ hội cho tổ chức thu mua, đóng gói, tiêu thụ
Trong khi đó, cây có múi là cây ăn trái có giá trị kinh tế cao, chiếm diện tích ưu thế ở các tỉnh, thành Nam bộ Đến nay, nhiều tỉnh, thành ở khu vực ĐBSCL đã thực hiện các mô hình sản xuất cây có múi theo tiêu chuẩn GlobalGAP và VietGAP như: Mô hình sản xuất bưởi Năm Roi theo GlobalGAP (Vĩnh Long), mô hình sản xuất bưởi da xanh theo VietGAP (Bến Tre), mô hình sản xuất cam Sành theo VietGAP (Tiền Giang)
Theo định hướng phát triển cây có múi ở vùng ĐBSCL, diện tích cây ăn trái chủ lực (đặc sản) được quy hoạch gần 150.000 ha, chiếm 36% tổng diện tích cây
ăn trái toàn vùng bao gồm 14 chủng loại, trong đó cây có múi bao gồm: bưởi da xanh, bưởi năm Roi, bưởi đường lá cam, quýt Hồng, quýt đường, cam mật, cam Sành, chanh
Theo phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Lục Ngạn (2012), toàn huyện hiện có tổng diện tích cây ăn quả có múi trên 700 ha giá trị kinh tế cao Trong đó bưởi Diễn khoảng 220 ha, chủ đạo là cây cam đường Canh có quy
mô gần 500 ha, sản lượng ước đạt gần 4.000 tấn, đồng nghĩa với việc người dân trồng cam Đường Canh ở đây thu về gần 200 tỷ đồng mỗi năm Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất của các loại cây này là đầu tư lớn, yêu cầu chăm sóc cao, đòi hỏi phải có kỹ thuật trong khi một bộ phận người dân chưa được trang bị tốt cho việc này Chính vì vậy, UBND huyện Lục Ngạn xác định xây dựng thương hiệu cho sản phẩm cam Đường Canh là một trong những yếu tố quyết định để thúc đẩy sản xuất phát triển bền vững
Trang 352.2.2.2 Một số khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cây có múi của Việt Nam hiện nay
Tuy cây có múi cho hiệu quả kinh tế cao cây có múi trong vùng phát triển còn thiếu ổn định và tiềm ẩn nhiều rủi ro như: Quy mô sản xuất vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, trồng nhiều chủng loại cây trên cùng diện tích, thiếu sự liên kết giữa người trồng để thống nhất quy trình và đầu tư đồng bộ, chưa tổ chức hệ thống tiêu thụ chuyên nghiệp; sự liên kết giữa “4 nhà” đặc biệt là nhà nông và nhà doanh nghiệp chưa thật sự gắn kết Ngoài ra,“vấn nạn” bệnh vàng lá Greening đe dọa các vùng trồng cây này, trong khi đó việc quản lý dịch bệnh rất khó khăn và phức tạp dẫn đến nhiều hộ nông dân đứng ngồi không yên
Đã có nhiều chủng loại trái cây có múi ngon đủ sức cạnh tranh trên thương trường quốc tế như: bưởi da xanh, cam Sành, chanh không hạt nhưng lại không
có vùng chuyên canh đúng nghĩa, không có nhà máy đóng gói đạt tiêu chuẩn; giống cây có múi chất lượng kém chiếm trên 50% diện tích trồng; thiếu liên kết trong sản xuất và tiêu thụ; công tác bảo quản sau thu hoạch, an toàn vệ sinh thực phẩm, chất lượng sản phẩm chưa được quan tâm đúng mức, việc lạm dụng các chất kích thích sinh trưởng đang có chiều hướng gia tăng, tỷ lệ trái cây hư hỏng sau thu hoạch lên đến 25-30% Đây là những rào cản dẫn đến sản xuất cây có múi ở nước ta vẫn còn thiếu ổn định, tiềm ẩn nhiều rủi ro
2.2.3 Một số công trình nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm trái cây ở Việt Nam
Trong nền kinh tế thị trường, với xu hướng hội nhập người sản xuất không chỉ quan tâm tới thị trường tiêu dùng trong nước mà còn hướng mạnh ra xuất khẩu, từ đó đã hình thành nên các chuỗi trong ngành hàng Riêng ngành rau, hoa, quả, các chuỗi đã bắt đầu hình thành nhưng còn đơn giản, có ít các tác nhân tham gia Sự liên kết và trách nhiệm của các tác nhân trong kênh tiêu thụ còn yếu, lỏng lẻo nên khái niệm về chuỗi hàng hóa dịch vụ còn mang tính lý thuyết Trước thực
tế này đã có nhiều những nghiên cứu liên quan nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận
về chuỗi giá trị, đánh giá thực trạng hoạt động của mỗi tác nhân trong ngành hàng cũng như đề ra các giải pháp nhằm nâng cao chuỗi giá trị ngành hàng rau, quả Tuy nhiên, đi nghiên cứu sâu về chuỗi giá trị ngành hàng cây có múi nói chung, cây cam Cao Phong nói riêng thì còn rất hạn chế Sau đây là một số đề tài nghiên cứu có liên quan:
Trang 361 Nguyễn Thị Lý (2010) “Phân tích chuỗi cung ứng sản phẩm cây quất cảnh tại xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên”, Luận văn tốt nghiệp, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Gia Lâm, Hà Nội.Tác giả luận văn đã chỉ ra được đặc điểm cơ bản của chuỗi cung ứng quất cảnh tại xã Mễ Sở (Hưng Yên) có
4 tác nhân tham gia là người sản xuất, thu gom, bán buôn và người bán lẻ Trong
đó, dòng sản phẩm chủ yếu theo hướng những người bán lẻ tại các địa phương khác để đến tay người tiêu dùng Vai trò của hợp đồng tiêu thụ được phát huy, gắn kết giữa các thành viên còn hạn chế… Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, kết quả phân tích tài chính chuỗi cung ứng của tác giả còn sơ sài, bỏ qua sự phân phối giá trị gia tăng giữa các tác nhân trong chuỗi Đây là mặt hạn chế của đề tài, cần được khắc phục
2 Nguyễn Phú Son (2013) “Nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm táo tỉnh Ninh Thuận”, Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ, Số 28, trang 71 – 78 Bài báo khoa học trên đã chỉ ra được chuỗi giá trị sản phẩm táo Ninh Thuận có 2 kênh phân phối truyền thống đối với sản phẩm táo tươi và một kênh phân phối tiềm năng đối với sản phẩm táo sấy Phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi hiện theo hướng không có lợi cho người trồng Tuy nhiên vẫn có thể cải thiện hiện trạng phân phối thu nhập giữa các tác nhân theo hướng gia tăng phân phối thu nhập cho người trồng
3 Chương trình Phát triển MPI – GTZ (2007) “Phân tích chuỗi giá trị bưởi Vĩnh Long” Chương trình Phát triển này nhằm hướng tới mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm bưởi Vĩnh Long (đã có thương hiệu, là đặc sản của vùng), bằng cách xây dựng hệ thống liên kết chặt chẽ từ người sản xuất đến các trung gian, doanh nghiệp, các đại lý bán lẻ bằng các cam kết hoạt động lâu dài Xuất phát từ kết quả phân tích thực trạng, tổ chức này đề xuất ra các nhóm chiến lược nhằm nâng cấp chuỗi giá trị như nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu, chiến lược marketing thông minh, nhãn mác chỉ dẫn thương hiệu sản phẩm, cải tiến phương thức vận chuyển, bảo quản, mở rộng thị trường xuất khẩu,…
Những công trình nghiên cứu trên đã phân tích, đánh giá được một phần thực trạng các hoạt động của các tác nhân trong chuỗi giá trị ngành hàng, từ đó
đề ra các biện pháp, các hướng đi để các ngành hàng cây có múi có khả năng cạnh tranh hơn, thành công hơn, trong đó các thành phần của chuỗi giá trị đều
Trang 37được hưởng lợi Tuy nhiên, do sử dụng các phương pháp tiếp cận khác nhau nên hướng nghiên cứu của mỗi công trình trên còn chưa trọn vẹn về các mặt của chuỗi giá trị do vậy, những phân tích dưới đây sẽ góp phần nghiên cứu toàn diện chuỗi giá trị dưới góc độ khác đồng thời chia sẻ những kinh nghiệm thiết thực trong việc tìm ra giải pháp, kiến nghị việc nâng cấp chuỗi giá trị ngành rau hoa quả nói chung và cây cam Cao Phong nói riêng
Trang 38PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý và địa hình
Cao Phong là một huyện miền núi nằm giữa tỉnh Hoà Bình
Phía Bắc giáp thành phố Hoà Bình và huyện Đà Bắc
Phía Đông giáp với huyện Kim Bôi
Phía Tây giáp huyện Tân Lạc
Phía Nam giáp với huyện Lạc Sơn
Huyện Cao Phong nằm trên trục đường Quốc lộ 6 từ Hà Nội lên thành phố Hoà Bình đi Sơn La, Lai Châu; đường 12B đi Kim Bôi, đồng thời huyện có 2 xã nằm trong khu vực lòng hồ Sông Đà
Với vị trí địa lý như trên Cao Phong có điều kiện giao lưu thuận lợi với thành phố Hoà Bình và các huyện trong tỉnh, đồng thời có thể dễ dàng đi lại bằng
cả đường sông và đường bộ đi Hà Nội, Sơn La, Lai Châu
Huyện Cao Phong nằm ở độ cao trên 300 m so với mực nước biển, song huyện lại ít núi cao Địa hình có cấu trúc thoai thoải, độ dốc của đồi núi khoảng 10-15 độ, hình thành nhiều đồi dạng bát úp, thấp dần từ Đông Nam xuống Tây Bắc về phía hạ lưu sông Đà
Về mặt địa hình huyện Cao Phong chia làm 3 vùng chính: vùng núi cao (2
xã Yên Lập và Yên Thượng), vùng giữa (8 xã và thị trấn Cao Phong), và vùng ven Sông Đà (2 xã Bình Thanh và Thung Nai) Với nhiều kiểu địa hình như trên Cao Phong có điều kiện thuận lợi thực hiện đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi Tuy nhiên, do địa hình đa dạng và phức tạp sẽ gây khó khăn trong việc thiết kế, xây dựng và nâng cao hiệu quả sử dụng các công trình thuỷ lợi (Phòng tài nguyên và môi trường huyện Cao Phong, năm 2015)
3.1.1.2 Điều kiện thời tiết, khí hậu, thuỷ văn
Nằm trong miền khí hậu của miền Bắc Việt Nam, thời tiết khí hậu vùng Cao Phong cũng mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa hè nóng và mưa nhiều, mùa đông lạnh và khô Nhiệt độ trung bình hàng năm cao 22-24oC
Trang 39Lượng mưa trung bình hàng năm cũng khá cao, khoảng 1.800-2.200 mm Độ ẩm không khí dao động từ 83-88% (Phòng tài nguyên và môi trường huyện Cao Phong, năm 2015)
Nhìn chung, khí hậu của huyện Cao Phong mát mẻ hơn, lượng mưa cao cao và điều hoà hơn một số huyện trong tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi với nhiều mô hình canh tác, chăn nuôi khác nhau Tuy nhiên, yếu tố hạn chế lớn đến sản xuất nông nghiệp là vào mùa khô cây trồng thiếu nước, đặc biệt là các chân đất chưa có công trình tưới Về mùa đông, bên cạnh khô hạn, nhiệt độ xuống thấp, sương muối và âm u, thiếu ánh sáng cũng ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng, phát triển của cây trồng, cũng như tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển
Cao Phong có sông Đà và nhiều con suối lớn nhỏ chảy qua Do lượng mưa phân bố không đều trong năm, tập trung vào các tháng 7, 8, 9 nên dễ gây úng lụt nội đồng ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống người dân
3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội của huyện
3.1.2.1 Tình hình đất đai và sử dụng đất đai
Như toàn tỉnh Hoà Bình nói chung, do cấu tạo địa chất đa dạng và phức tạp, Cao Phong có nhiều loại đất khác nhau Vùng đồi núi có các loại đất nâu vàng, đất đỏ vàng, đất nâu đỏ và mùn đỏ vàng Vùng đất thấp có các loại đất phù
sa, đất dốc tụ Nhìn chung huyện có nhiều loại đất có độ phì cao và đa dạng, có thể bố trí nhiều loại cây trồng, nhất là cây công nghiệp và cây ăn quả (Phòng tài nguyên và môi trường huyện Cao Phong, năm 2015)
Trang 40Tình hình sử dụng đất của huyện được thể hiện qua bảng 3.1:
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Cao Phong
qua 3 năm2013-2015
Loại đất
100,00
55,93 13,21 11,68 1,54 42,42 0,30 15,19 6,67 2,98 22,88 0,20 25,49 3,19
25.460,07
14.752,14 3.348,40 2.957,42 390,98 11.326,64 77,20 3.895,85 1.699,02 785,11 6.812,08 45,67 5.954,91 811,50
100,00
57,94 13,15 11,62 1,54 44,49 0,30 15,30 6,67 3,08 26,76 0,18 23,39 3,19
25.460,07
14.754,37 3.350,57 2.959,99 390,98 11.326,20 77,20 3.898,52 1.698,89 785,11 6.807,17 45,67 5.950,00 811,50
100.00
57,95 13,16 11,63 1,54 44,48 0,30 15,316 6,67 3,08 26,74 0,18 23,37 3,19 Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cao Phong (2016)Tình hình sử dụng đất ở huyện qua 3 năm nhìn chung không có nhiều thay đổi Đất nông nghiệp chiếm phần lớn diện tích (55,93% năm 2013; 57,94 năm 2014; 57,94 năm 2015) Trong đó, đất lâm nghiệp chiếm diện tích khá lớn 10.798,96 ha năm 2013, chiếm 42,42% tổng diện tích và tăng lên đến 11.326,2 ha năm 2015, chiếm 44,48% diện tích Điều này cũng là dễ hiểu đối với 1 huyện miền núi như Cao Phong