Chính sách thuế được thực hiện bằng cách thiết lập các văn bản pháp luật tronglĩnh vực nộp thuế, ban hành các loại thuế và ưu đãi về thuế trong từng giai đoạn phát triểnnhất định.. Các t
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN NGÂN HÀNG-TÀI CHÍNH
Trang 2MỤC LỤC
I CƠ SỞ LÝ LUẬN: 3
1 Hệ thống thuế: 3
2 Tính chất của một hệ thống thuế tối ưu: 6
2.1 Tính hiệu quả kinh tế: 6
2.2 Chi phí quản lý thuế: 7
2.3 Tính linh hoạt: 7
2.4 Tính công bằng: 8
II THỰC TRẠNG: 8
1 Thực trạng hệ thống thuế Việt Nam: 8
1.1 Hệ thống thuế: 8
1.2 Thực trạng thất thu thuế: 9
2 Giải pháp: 13
2.1 Giải pháp cải thiện hệ thống thuế Việt Nam: 13
2.2 Giải pháp chống thất thu thuế: 15
III LIÊN HỆ VỚI MỘT SỐ HỆ THỐNG THUẾ HIỆN ĐẠI TRÊN THẾ GIỚI: 18
1 Hệ thống thuế của Mỹ: 18
2 Hệ thống thuế của Australia và Canada: 20
Trang 3I CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1 Hệ thống thuế:
1.1 Khái niệm:
Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau, giữa chúng có mối quan
hệ mật thiết với nhau và việc xây dựng các loại thuế, phương pháp thu thuế được thựchiện theo những nguyên tắc nhất định
Tùy thuộc vào tình hình chính trị - kinh tế từng thời kỳ mà Nhà nước điều chỉnh
hệ thống thuế cho phù hợp Điều đó có nghĩa là hệ thống thuế chịu sự chi phối của chínhsách thuế
Chính sách thuế là tổng hợp các phương hướng của Nhà nước trong lĩnh vực thunộp thuế và các biện pháp hành thu để đạt mục tiêu đã đề ra Chính sách thuế thể hiệnđường lối và phương hướng động viên thu nhập dưới hình thức thuế trong nền kinh tếquốc dân Chính sách thuế được thực hiện bằng cách thiết lập các văn bản pháp luật tronglĩnh vực nộp thuế, ban hành các loại thuế và ưu đãi về thuế trong từng giai đoạn phát triểnnhất định
1.2 Các tiêu thức xây dựng hệ thống thuế:
Adam Smith (1723-1790) - Người sáng lập ra môn phái Kinh tế tự do cổ điểntrong tác phẩm “Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân giàu có của nhân loại” đã nêu rabốn nguyên tắc cơ bản sau :
- Thuế phải công bằng ;
- Thuế phải rõ ràng ;
- Thu thuế phải thuận tiện cho người đóng thuế ;
- Chi phí tiến hành thu thuế phải thấp nhất
Bên cạnh những nguyên tắc tương tự với nguyên tắc của A.Smith còn có một sốtác giả đưa ra một số nguyên tắc như “Thuế khóa tập trung”, “Nguyên tắc bình đẳng toánhọc trong thuế khóa”
Trang 4Trên cơ sở các nguyên tắc của A.Smith nêu trên, các nhà kinh tế học hiện đại đãhoàn chỉnh, bổ sung và khái quát thành những tiêu thức đánh giá hệ thống thuế tích cực,hiệu quả Các tiêu thức này đã trở thành kim chỉ nam trong việc xây dựng hệ thống chínhsách thuế ở các nước kinh tế thị trường Sau đây là các tiêu thức xây dựng hệ thống thuế :
a) Tính công bằng : Tính công bằng là một đòi hỏi khách quan trong tiến trình
phát triển của lịch sử Trong một xã hội dân chủ, tính công bằng phải được thực hiệntrong từng sắc thuế Có công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế mới tạo ra được mục tiêu bìnhđẳng trong sản xuất kinh doanh giữa các thành phần kinh tế Các nhà kinh tế cho rằngtính công bằng của thuế phải dựa theo nguyên tắc công bằng theo chiều ngang và theochiều dọc
- Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều ngang, nếu các cá nhân có điềukiện về mọi mặt như nhau thì được đối xử như nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế.Tuy nhiên, nguyên tắc này khó áp dụng trong thực tiễn không thể chỉ rõ tiêu thức nào đểxác định hai cá nhân có điều kiện mọi mặt như nhau, mặt khác cũng khó xác định cáchđối xử như nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế là như thế nào?
- Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều dọc, nếu người có khả năng nộpthuế nhiều hơn thì phải nộp thuế cao hơn những người khác có khả năng nộp thuế ít hơn.Trong thực tế, để áp dụng nguyên tắc này cần xác định rõ hai vấn đề : tiêu thức xác địnhkhả năng và mức độ nộp thuế cao hơn Vấn đề tiêu thức xác định khả năng nộp thuế cũng
có nhiều ý kiến khác nhau Hiện nay người ta hay dùng tiêu thức thu nhập hay tiêu dùng
để đánh giá khả năng nộp thuế Có ý kiến đề nghị rằng để đánh thuế công bằng nên dựavào lợi ích mà người nộp thuế nhận được từ việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộngcủa Nhà nước Trong thực tế có nhiều hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp khôngthể xác định được lợi ích cụ thể mà cá nhân nhận được để xác định mức thuế Việc căn cứvào lợi ích để đánh thuế chỉ xảy ra trong trường hợp mà việc cung cấp hàng hóa côngcộng đó xác định được một cách chính xác lợi ích mà cá nhân nhận được Tóm lại, côngbằng trong thuế khóa là một đòi hỏi khách quan, nhưng việc đánh giá một hệ thống thuế
Trang 5được coi là công bằng không phải là vấn đề đơn giản Do đó, công bằng trong thuế khóavẫn thuộc về nhận thức và quan điểm của mỗi quốc gia.
b) Tính hiệu quả :
Hệ thống thuế phải đảm bảo tính hiệu quả dựa trên các mặt sau :
- Hiệu quả đối với nền kinh tế : Một chính sách thuế đúng đắn sẽ thúc đẩy kinh tếphát triển Xây dựng chính sách thuế không sát với thực tế sẽ kìm hãm sự phát triển củanền kinh tế dẫn đến đối tượng nộp thuế có hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng trốn kêkhai nộp thuế cho Nhà nước, giảm thu Ngân sách Nhà nước
- Hiệu quả thu thuế là lớn nhất : Thể hiện tính hiệu quả là tổng số thuế thu được làlớn nhất với chi phí tổ chức thu thuế là thấp nhất Trong thực tế, khi thu thuế bao giờcũng phát sinh chi phí, đó là các khoản chi phí trực tiếp của cơ quan thuế và những chiphí gián tiếp do người nộp thuế gánh chịu Tính hiệu quả của thu thuế được thể hiện làtổng số thuế thu được nhiều nhất trên cơ sở chi phí trực tiếp của cơ quan thuế và chi phígián tiếp của người nộp thuế là thấp nhất Các khoản chi phí trên gọi là chi phí hànhchính Nhằm giảm bớt chi phí hành chính đòi hỏi hệ thống thuế phải đơn giản chứa đựng
ít mục tiêu Mặt khác, hệ thống thuế đơn giản, dễ hiểu thì việc quản lý, kiểm tra, kiểmsoát của Nhà nước đối với người nộp thuế mới dễ dàng, thuận tiện
c) Tính chính xác :
Một hệ thống thuế chính xác thể hiện sự rõ ràng và minh bạch Trước hết phải chỉ
rõ ai chịu thuế, mức thuế phải nộp và thời hạn nộp thuế, quy định rõ ràng mức phạt đốivới đối tượng nộp thuế, vi phạm Luật thuế, cơ quan thuế hướng dẫn cơ sở kinh doanhthực hiện sai quy định của Luật thuế Hệ thống thuế không rõ ràng, minh bạch sẽ gây khókhăn cho các nhà đầu tư trong nước, hạn chế thu hút vốn đầu tư trong nước và nướcngoài để phát triển kinh tế
d) Tính thuận lợi : Tính thuận lợi thể hiện sự dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ quản lý và
khả năng thích ứng của hệ thống thuế đối với những hoàn cảnh kinh tế thay đổi Yêu cầu
Trang 6về tính dễ hiểu, dễ thực hiện thường thuộc về kỹ thuật xây dựng các văn bản pháp luậtquy định về thuế sao cho logic, mạnh dạn, rõ ràng, các từ dùng trong văn bản phải mangtính phổ thông để dễ hiểu và hiểu đúng thì thực hiện mới đúng và dễ kiểm tra, kiểm soátviệc thực hiện luật thuế trong thực tế Hệ thống thuế phải đảm bảo có khả năng dễ thíchứng với sự thay đổi của hoàn cảnh kinh tế thì mới phát huy được vai trò điều tiết vĩ mônền kinh tế của thuế, nhưng người thực hiện chính sách thuế ấy là tầng lớp dân cư trong
xã hội Cho nên chính sách thuế càng đơn giản, dễ hiểu thì người dân mới có điều kiệnhiểu rõ và làm đúng theo quy định của các luật thuế Có như vậy, thuế mới phát huy đượcvai trò là công cụ chủ yếu tạo nguồn thu cho NSNN và thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh
tế Để đảm bảo được yêu cầu này mà không vi phạm nguyên tắc đã định ra, khi xây dựng
hệ thống thuế thì cơ quan lập pháp thường chỉ quy định khung thuế suất, còn việc quyđịnh thuế suất cụ thể thường giao cho cơ quan hành pháp, có như vậy mới đảm bảo cho
hệ thống thuế thích ứng với những biến động của hoàn cảnh kinh tế
2 Tính chất của một hệ thống thuế tối ưu:
2.1 Tính hiệu quả kinh tế:
Tính hiệu quả ở đây được so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra
Tính hiệu quả được xem xét trên 2 góc độ
- Hiệu quả hành thu: Thể hiện tính hiệu quả của thuế là tổng số thuế thu được làlớn nhất với chi phí hành chính thuế là thấp nhất Chi phí hành chính thuế bao gồm cáckhoản chi phí trực tiếp quản lý của cơ quan thuế và những chi phí gián tiếp do người nộpthuế gánh chịu; các khoản chi phí này phụ thuộc vào: tính phức tạp hay đơn giản của hệthống thuế, số lượng và mức độ phân biệt của thuế suất đối với người nộp thuế cũng như
cơ sở tính thuế, sự lựa chọn các loại thuế Nói chung các loại thuế có cơ sở tính thuế phứctạp, yêu cầu quản lý cao thường có chi phí hành chính lớn
- Hiệu quả so với xã hội (hiệu quả về góc độ xã hội): Tính hiệu quả của thuế thểhiện ở chỗ gánh nặng phụ trội do thuế tạo ra phải ở mức thấp nhất Gánh nặng phụ trội ở
Trang 7đây là phần tổn thất phúc lợi xã hội vược quá số thuế mà chính phủ thu được, còn đượcgọi là chi phí phúc lợi xã hội hoặc phần mất trắng.
2.2 Chi phí quản lý thuế:
Chi phí hành chính để điều hành hệ thống thuế bao gồm chi phí về thời gian, côngsức của người nộp thuế và người quản lý thuế Các chi phí hành chính liên quan đến việcvận hành hệ thống thuế bao gồm ghi chép sổ sách, lưu trữ hóa đơn, chứng từ; quy địnhmiễn trừ thuế; chi phí liên quan đến việc phát hiện các hành vi vi phạm phát luật như trốnthuế, … Hệ thống thuế phức tạp với nhiều mức thuế suất có thể đạt hiệu quả về mặt kinh
tế , nhưng đòi hỏi chi phí hành chính lớn Vì thế, trong thực tế, hệ thống thuế thường đơngiản, ít mức thuế suất
sở tính thuế
- Đối với thuế trực thu, thuế thu nhập cá nhân cần dựa trên một cơ cấu thuế có cơ
sở tính thuế rộng, thuế suất biên tăng dần nhưng ở mức độ vừa phải, các ưu đãi về thuếnên được áp dụng hạn chế về cả phạm vi và thời hạn, ưu đãi về thuế nên được phân phối
Trang 8hợp lý giữa các ngành để tạo sự phát triển cân đối Về cơ sở tính thuế, hệ thống thuế cần
mở rộng cơ sở tính thuế , giảm dần thuế suất về cả tỷ lệ và số lượng
2.4 Tính công bằng:
Đánh thuế thu nhập tối ưu là chọn lựa thuế suất giữa các nhóm thu nhập để tối đahóa phúc lợi xã hội theo hướng đáp ứng nguồn thu theo yêu cầu của Chính phủ Từ cácgiả định, mô hình Edgeworth đã chỉ ra rằng, cần đánh thuế sao cho phân phối thu nhậpsau thuế càng công bằng càng tốt Thuế nên được thiết kế sao cho sự phân phối thu nhậpsau thuế thật công bằng, thông qua lấy bớt đi phần thu nhập của người giàu, bởi vì mứcthỏa dụng biên do bị mất đi một đồng thuế của người giàu nhỏ hơn người nghèo Thuếthu nhập nên đánh theo cấu trúc thuế lũy tiến để “bằng phẳng hóa thu nhập” từ những đốitượng có thu nhập cao để đạt được sự công bằng
Các nghiên cứu về thuế tối ưu áp dụng với hàng hóa và thu nhập, đều thống nhất
đi đến kết luận về các tiêu chuẩn của một hệ thống thuế tối ưu để đảm bảo tính công bằngtrong đánh thuế Một là, nên đánh thuế cao vào người có mức tiêu dùng cao, đánh thuếthấp vào người có mức thiêu dùng thấp Hai là, đánh thuế cao vào người có thu nhập cao,đánh thuế thấp vào người có thu nhập thấp
Trang 9thuế, bởi Tổng cục Hải quan Việt Na, thông qua các cơ quan của nó là cục hải quan, chicục hải quan, và các cán bộ chuyên môn được ủy quyền khác ở khắp các địa phươngtrong cả nước Đối với các phí và lệ phí, các cơ quan thu thuộc các bộ, ngành, chínhquyền địa phương có liên quan được ủy quyền thu
Về danh nghĩa, mức thuế ( thuế suất) do Quốc hội Việt Nam quy định Song trênthực tế, các mức thuế là do Chính phủ đề nghị với sự tư vấn của Bộ Tài chính mà cụ thểhơn nữa là Tổng cục Thuế Đối với một số sắc thuế như thuế xuất nhập khẩu, Quốc hộicho phép Chính phủ tự điều chỉnh khi cần thiết Riêng các phí và lệ phí là nguồn thu củachính quyền địa phương, chính quyền địa phương có quyền quyết định mức thu
Hệ thống thuế ở Việt Nam không chia thành các sắc thuế quốc gia và các sắc thuếđịa phương như ở nhiều nước Tuy nhiên, Luật Ngân sách Nhà nước số 01/2002/QH11 cóquy định một số sắc thuế và lệ phí mà chính quyền địa phương được hưởng 100% và một
số sắc thuế mà chính quyền các cấp chia nhau tùy theo tình hình từng địa phương
1.2 Thực trạng thất thu thuế:
Trang 10Thuế suất các sắc thuế ở mức trung bình
Bảng trên dẫn một số sắc thuế chủ yếu gồm thuế TNDN, thuế TNCN và thuếGTGT cho thấy mức thuế suất hiện tại của Việt Nam ở mức trung bình so với khu vựcĐông Nam Á và thấp hơn so với các nước phát triển
Tuy nhiên tình trạng thất thu thuế ở Việt Nam xảy ra ở hầu hết các ngành kinh tếnhư : Công nghiệp, dịch vụ, nông lâm thủy hải sản, y tế, giáo dục…
Ví dụ: Theo báo cáo của Tổng cụ Thuế, thu thuế nội địa cả năm 2014 vượt dựtoán, đạt trên 681.000 tỷ đồng, nhưng nợ thuế là 70.200 tỷ đồng => Số nợ thuế chiếm10% tổng thu thuế nội địa
Cơ quan thuế cũng đã thanh tra, kiểm tra chống gian lận, thất thu thuế với khoảnggần 68 000 doanh nghiệp và đã kiến nghị xử lý thu vào ngân sách tới trên 12 200 tỷ đồng.Sau khi kiểm tra 2900 doanh nghiệp kêu lỗ, doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá và có
Trang 11hoạt động giao dịch liên kết, đã giảm lỗ hơn 5800 tỷ đồng, đồng thời truy thu, truy hoàn
và phạt 1700 tỷ đồng
Ví dụ: Tình hình trốn thuế của các doanh nghiệp FDI
Việt Nam kể từ năm 1986 đã khá thành công trong việc thu hút nguồn vốn FDI.FDI đã thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp và xuất khẩu và đồng thời gia tăng đáng kểcho nguồn thu của Chính phủ Nhưng bên cạnh đó, do các chính sách miễn giảm thuế vàtình trạng trốn thuế của một số công ty mà Chính phủ Việt Nam hàng năm đã bị thất thoát
Nguồn: Báo các Thuế của AAV và VTA 2014
Biểu đồng trên thấy tỷ suất thuế TNDN giảm dần từ 32% vào năm 1997 xuốngcòn 25% vào năm 2009 và còn 22% vào năm 2014 Cho tới tháng 1 năm 2016 chri còn20%
Trang 12Thông qua các chính sách ưu đãi Thuế cho các doanh nghiệp FDI mà Chính phủcũng đã mất đi một phần thuế Số liệu năm 2012- năm cuối cùng có số liệu công bố- sốtiền mà Chính phủ đã mất đi do các doanh nghiệp FDI tránh thuế đã lên tới 20 triệu Đô la
Mỹ, chủ yếu thông qua hình thức chuyển giá
Hiện tượng doanh nghiệp FDI kê khai lỗ đang khá phổ biến ( khoảng 50% tổng sốdoanh nghiêp FDI đang hoạt động trên cả nước, trong đó có nhiều doanh nghiệp khai lỗliên tục trong 3 năm) Điển hình tại tỉnh Bình Dương - địa phương thu hút FDI khá tốt,năm 2010, trong tổng số 1490 DN có tới 754 DN FDI kê khai lỗ, chiếm 50,6% Đáng chú
ý, dù làm ăn thua lỗ trong thời gian dài nhưng nhiều DN vẫn không ngừng mở rộng đầu
tư
Từ năm 2006 đến nay, hiện tượng chuyển giá của các doanh nghiệp FDI ngàycàng tinh vi hơn, với việc điều chuyển lợi nhuận từ nơi có thuế suất cao sang nơi có thuếsuất thấp hơn để tránh thuế Những vụ việc chuyển giá “ đình đám” thời gian qua củaCoca-cola, Adidas, Metro Cash & Carry, Keangnam và Nestlé… liên tục báo lỗ
Tuy nhiên, con số trên chỉ phản ánh một góc của bức tranh về thực trạng trốn thuếcủa doanh nghiệp FDI Báo cáo của 63 cục thuế, hơn 100 chi cục thuế trên cả nước thực
sự khiến không ít người phải giật mình Cụ thẻ, kết quả thanh tra tại 870 doanh nghiêpFDI có tới 720 doanh nghiệp vi phạm
Đáng lưu ý là tại một số đơn vị, tỷ lệ vi phạm lên đến 100% như Cục thuế BắcGiang thanh tra 16 Doanh nghiệp thì cả 16 đều vi phạm Tỷ lệ này diễn ra tương tự tạiHòa Bình(16/16), Gia Lai ( 15/15)
Trang 13Hành vi vi phạm, thủ đoạn của các doanh nghiệp FDI đã được lực lượng thanh tralàm rõ Cụ thể, quá trình thu thập các thông tin, dữ liệu, thanh tra phát hiện các nhà đầu
tư nước ngoài thường góp vốn và DN trong nước bằng máy móc, thiết bị công nghệ lạchậu hoặc đã khấu hao hết nhưng được đẩy lên giá rất cao so với giá trị thực Bằng cáchnày đã giúp nâng khống giá trị vốn góp, gây thất thu cho ngân sách và bất lợi cho DNtrong nước
Một hình thức chuyển giá khác được các doanh nghiệp FDI áp dụng là bán hànghóa, nguyên vật liệu cho các bên có quan hệ liên kết với giá thấp hơn nhiều so với giá báncho các bên không có quan kệ liên kết Theo đánh giá của một lãnh đạo Bộ tài chính, đây
là hành vi phổ biến nhất Bởi với lợi thế nắm giữ phần vốn lớn tại các doanh nghiệp ViệtNam, bên liên kết nước ngoài có quyền định đoạt giá chuyển giao hàng hóa, nguyên liệu
để được nhiều lợi nhuận trước thuế ra nước ngoài