6.Nâng cao sức cạnh tranh về chất lượng mặt hàng thủy sản 7.Tăng cường sự hỗ trợ từ phía nhà nước 8.Phát triển các hình thức hợp tác, liên doanh 9.Đa dạng hóa thị trường và chủ động mở
Trang 16.Trình độ quản lý, khoa học công nghệ
7.Xây dựng và quảng bá thương hiệu
VI Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản ở VN
1.Tổ chức lại sản xuất
2.Tăng cường hoạt động xúc tiến xuất khẩu vào thị trường
3.Phát triển nguồn nhân lực
4.Nghiên cứu biển
5.Bảo vệ môi trường
Trang 26.Nâng cao sức cạnh tranh về chất lượng mặt hàng thủy sản
7.Tăng cường sự hỗ trợ từ phía nhà nước
8.Phát triển các hình thức hợp tác, liên doanh
9.Đa dạng hóa thị trường và chủ động mở rộng thị trường xuất khẩu
VII.Kết luận
VIII.Tài liệu tham khảo
Trang 3I.Mở đầu:
Trong những năm qua, từ sau khi đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, từ nền kinh tế kếhoạc hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, kinh tế đất nước đã có những bước phat triển vượt bậc.cùng với chiến lược kinh tế hội nhập
và phát triển do Nhà nước đặt ra, thương mại quốc tế trở thành một bộ phận quan trọng có vai trò quyết định đến sự phát triển của quốc gia Vì vậy việc giao lưu
thương mại quốc tế nói chung và xuất khẩu hàng hóa dịch vụ nói riêng là mục tiêu phát triển kinh tế hàng đầu của nước ta
Trong đó có ngành nuôi trồng, khai thác và xuất khẩu thủy sản.Nghề khai thác thủy sản đã được hình thành từ lâu đời nguồn lao động có kinh nghiệm đánh bắt và nuôi trồng, giá nhân công thấp hơn so với khu vực và thế giới Hiện nay nhà nước đang coi thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn do đó có nhiều chính sách đầu tư
khuyến khích để đẩy mạnh sự phát triển của ngành
Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn nhiều khó khăn và vướng mắc đặt ra cho thủy sản nước ta đó là hoạt động tự cấp, tự túc, công nghệ thô sơ lạc hậu, sản phẩm tạo ra chấtlượng chưa cao Nguồn lao động tuy đông nhưng trình độ văn hóa kỹ thuật không cao, lực lượng đào tạo chiếm tỷ lệ nhỏ, hầu hết chỉ dựa vào kinh nghiệm do đó khó theo kịp sự thay đổi của điều kiện tự nhiên và nhu cầu thị trường cuộc sống của lao động trong nghề còn nhiều vất vả, bấp bênh do đó không tạo được sự gắn bó với nghề
Nhưng cơ bản có thể khẳng định VN có tiềm năng dồi dào để phát triển ngành thủy sản thành một ngành kinh tế quan trọng
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, thương mại quốc tế đang có xu hướng tăng tốc độ cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của nền sản xuất Điều này dẫn đến tỷ trọng của kim ngạch xuất nhập khẩu trong tổng sản phẩm quốc nội của các quốc gia ngày càng gia tăng Trước xu hướng đó thì vấn đề đẩy mạnh xuất khẩu,
Trang 4thâm nhập thị trường nước ngoài là yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển của ngành hàng và của nền kinh tế nói chung Điều đó đ ̣i hỏi phải có chiến lược kinh doanh rõ ràng, phù hợp và hiệu quả
Chiến lược kinh doanh thương mại quốc tế là một tập hợp các mục tiêu, bước đi vàcác biện pháp để thực hiện mục tiêu một cách thống nhất Chiến lược kinh doanhthương mại quốc tế gắn liền với việc khai thác các lợi thế so sánh và gia tăng khảnăng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế
Để xây dựng chiến lược kinh doanh, các nhà quản lí phải tiến hành phân tích môitrường kinh doanh, đánh giá thực trạng để đề ra các mục tiêu phù hợp và có các giảipháp để thực hiện mục tiêu với hiệu quả cao nhất
Trước thực trạng đầy biến động của môi trường kinh doanh tại VN,câu hỏi đặt ra chocác doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản VN đó là: “trước những thời cơ ,thách thức màthị trường tạo ra, bên cạnh các lợi thế song những điểm yếu vẫn tồn tại,liệu rằng vịthế của doanh nghiệp Việt sẽ như thế nào?”
Trang 5II.Phương pháp nghiên cứu:
Môi trường kinh doanh là tổng hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài Môitrường bên trong là tổng hợp các yếu tố nội tại của mặt hàng, của doanh nghiệp như:điểm mạnh, điểm yếu Môi trường bên ngoài bao gồm các yếu tố kinh tế, chính trị,pháp luật đem đến những cơ hội, thách thức tác động khách quan đến sự phát triểncủa ngành hàng, hay của doanh nghiệp Việc phân tích môi trường kinh doanh là việclàm cần thiết để xác định rõ các mục tiêu của chiến lược, tạo điều kiện cần thiết đểxây dựng và thực hiện chiến lược thành công cũng như điều chỉnh chiến lược trongnhững trường hợp cần thiết.Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài thì mô hình SWOT
là thích hợp hơn cả
1 Mô hình SWOT
Mô hình SWOT chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối vớingành hàng, doanh nghiệp từ đó kết hợp phát triển các loại chiến lược, đề xuất cácgiải pháp để phát huy những điểm mạnh, khai thác những cơ hội, tối thiểu hoá nhữngđiểm yếu và hạn chế những thách thức để hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, lợinhuận lớn và tránh được các rủi ro Các loại chiến lược là: chiến lược thế mạnh-cơhội (SO); chiến lược điểm yếu-cơ hội (WO); chiến lược thế mạnh-đe doạ (ST); chiếnlược điểm yếu-đe doạ (WT) Ngoài ra còn có các chiến lược mở rộng kết hợp nhiềuyếu tố như: SOT, SWT, OWT, SWOT
Các yếu tố điểm mạnh, điểm yếu là các yếu tố bên trong (môi trường bên trong) c ̣ncác yếu tố cơ hội, thách thức (môi trường bên ngoài) Sự kết hợp các yếu tố bêntrong và bên ngoài là vấn đề cơ bản nhất và khó khăn nhất của việc xây dựng và sử
Trang 6dụnh ma trận SWOT Điều này đ ̣i hỏi phải có sự phán đoán tốt về mối quan hệ giữacác yếu tố.
2.Vận dụng mô hình SWOT trong xây dựng xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam vào thị trường TG
Cũng như sử dụng mô hình SWOT để phân tích môi trường kinh doanh của mặthàng bất kỳ, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài đã chỉ ra thế mạnh của hàng thuỷsản Việt Nam như: điều kiện tự nhiên, chất lượng sản phẩm, phong phú mặt hàng ;điểm yếu về nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu, về tŕnh độ khoa học kỹ thuật ;những cơ hội cho hàng thuỷ sản Việt Nam trên thị trường TG như: xu hướng tiêudùng gia tăng, những ưu đăi cũng như thách thức đặt ra cho hàng thuỷ sản nhưthách thức từ hệ thống pháp luật TG, khoảng cách về văn hoá kinh doanh Trongcác chương tiếp theo sẽ phân tích sâu hơn từng yếu tố trên và sự đánh giá kết hợp cácyếu tố đó trên cơ sở vận dụng mô hình SWOT
III.Cơ hội và thách thức:
Trang 7Lĩnh vực chế biến và xuất khẩu thủy sản của VN đang phải đối mặt với những tháchthức không nhỏ trước ngưỡng cửa gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO.
Cả cơ hội và thách thức đối với ngành thủy sản đều liên quan đến vấn đề thị trường khi có nhiều đối thủ cạnh tranh lớn mạnh như: Trung Quốc, Thái Lan,
Inđônêxia……
Khi nền kinh tế VN ngày càng hội nhập sâu rộng thì vấn đề thị trường xuất khẩu lại càng nổi lên như một trong những nhân tố quyết định đến hiệu quả sản xuất và xuất khẩu
Trên thực tế, trong thời gian qua, ngành thủy sản VN đã phải đối mặt với vấn đề này
Năm 2012, ngành thủy sản nước ta dự kiến giá trị xuất khẩu đạt 6,5 tỷ USD, tăng
20 đến 25% so năm 2011 Tuy nhiên, hết quý I, hầu hết các doanh nghiệp đều cho rằng, năm 2012 sẽ là năm rất khó khăn của ngành thủy sản khi phải đối mặt nhiều vấn đề lớn
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tháng 2-2012, xuất khẩu thủy sản ước đạt 400 triệu USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu hai tháng đầu năm lên 763 triệu USD, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2011 Song, theo số liệu của Tổng cục Hải quan, những tháng đầu năm, hầu hết các thị trường chủ lực của xuất khẩu thủy sản Việt Nam lại sụt giảm khá mạnh Trong đó, kim ngạch xuất khẩu sang
EU giảm 35%, Mỹ giảm 17,5%, Nhật Bản giảm 6,8%, Hàn Quốc giảm 4,8% và Trung Quốc giảm 5,9% Khó khăn về thị trường đang làm cho các doanh nghiệp phảitìm cách chuyển hướng xuất khẩu sang các thị trường ngách và thị trường mới Một trong những điểm yếu lớn nhất của các ngành hàng xuất khẩu của VN hiện nay là vấn đề thương hiệu: đây cũng là một thách thức lớn nữa mà ngành thủy sản đang phải đối mặt Các mặt hàng thủy sản của VN hiện được xuất khẩu thông qua các nhà nhập khẩu và được phân phối dưới nhiều thương hiệu khác nhau Một số sản
Trang 8phẩm có chất lượng cao đã bắt đầu xuất hiện trên thị trường quốc tế với thương hiệu của riêng mình, nhưng số đó vẫn còn rất ít.
Việc sử dụng thương hiệu của nhà nhập khẩu trung gian, trên thực tế, cũng là hình thức giúp đẩy mạnh xuất khẩu đối với nhiều doanh nghiệp, nhưng xét về lâu dài thì đây không phải là một biện pháp đem lại hiệu quả cao
Tuy nhiên, điều đáng nói là thị trường lại chưa phải vấn đề khiến doanh nghiệpcăng như dây đàn trong lúc này mà điểm mấu chốt thuộc về những yếu tố phát sinh
từ trong nước Trong đó, thiếu nguyên liệu, vấn đề cốt lõi của ngành thủy sản ViệtNam từ nhiều năm nay được coi là nỗi lo lớn nhất của doanh nghiệp từ đầu năm
2011 đến nay, các DN CBTSXK còn gặp phải những khó khăn, thách thức mới.Trong đó, khó khăn lớn nhất là chi phí đầu vào tăng đột biến, trong khi giá đầu rakhông tăng, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
Theo báo cáo của ngành thủy sản, từ đầu năm đến nay, các doanh nghiệp chế biến chỉ hoạt động từ 50 đến 60% công suất do thiếu nguyên liệu
*Vẫn cần mở rộng thị trường
Mặc dù, thủy sản Việt Nam đã có chỗ đứng trên thị trường Mỹ và EU, tuy nhiên,hiện suy thoái kinh tế khiến thị trường Mỹ ,EU ngày càng khắt khe hơn với hàng hóanhập khẩu, đặc biệt là hàng “made in Việt Nam”
Bên cạnh đó, Mỹ và EU còn áp dụng thêm những quy định mới như chống đánhbắt cá bất hợp pháp; Kiểm soát ký sinh trùng trong sản phẩm thủy sản dùng làm thựcphẩm khiến cho việc xuất khẩu sang thị trường này càng trở nên khó khăn hơn Theo các chuyên gia kinh tế, chính sách siết chặt tín dụng tại Mỹ và các nước châu
Âu đang thực hiện đã ít nhiều tác động đến xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào thịtrường này Và muốn có tín hiệu khả quan hơn thì không còn cách nào khác là phảichờ đợi sự mở rộng hạn mức tín dụng của ngân hàng để doanh nghiệp có nguồn tàichính tái đầu tư, ổn định sản xuất từ thị trường này
Trang 9IV Thế mạnh của thủy sản Việt Nam
1 Tiềm năng của ngành.
1.1 Điều kiện tự nhiên:
Vị trí địa lí của Việt Nam là niềm mơ ước của rất nhiều các quốc gia trên thế giới.Với 3260 km bờ biển từ Móng Cái đến Hà Tiên trải qua 13 vĩ độ từ 823’ vĩ độ bắcđến 2129' vĩ độ bắc Diện tích vùng nội thủy và lănh hải của Việt Nam rộng 226000
km và vùng biển đặc quyền kinh tế trên một triệu km rộng gấp 3 lần diện tích đấtliên
Trên vùng biển Việt Nam có trên 4000 hòn đảo, trong đó có nhiều đảo lớn như:
Cô Tô, Cát Bà, Phú Quốc… là nơi có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch đồng thời
đã, đang và sẽ được xây dựng thành một tuyến căn cứ cung cấp các dịch vụ hậu cần,chu chuyển sản phẩm cho các đội tàu khai thác hải sản, đồng thời là nơi cư trú củatàu thuyền trong mùa mưa băo
Ngoài ra nước ta c ̣n có 660 ngh́n ha vùng nước lợ, đây là môi trường giàu chấtdinh dưỡng cho thực vật thủy sinh Là nơi cư trú, sinh sản, sinh trưởng của tôm he,tôm nương, tôm rảo, tôm vàng, cá đối, cá vược, cá tráp, cá trai, cá bớp, cua biển… 1.2 Nguồn lợi thủy sản :
Biển Việt Nam có trên 2000 loài cá trong đó có khoảng 130 loài có giá trị kinh tế.Theo những đánh giá mới nhất trữ lượng cá trong toàn vùng biển là 4,2 triệu tấntrong đó sản lượng cho phép khai thác là 1,7 triệu tấn/năm bao gồm 850 ngh́n tấn cáđáy và 700 nghìn tấn cá nổi nhỏ và 120 nghìn tấn cá nổi đại dương
Bên cạnh cá biển c ̣n có nhiều nguồn lợi tự nhiên như trên 1600 loài giáp xác, sảnlượng cho phép khai thác hàng năm là 50-60 ngh́n tấn/năm, loài có giá trị kinh tế cao
là tôm biển, tôm hùm và tôm mũ ni, cua, ghẹ, khoảng 2500 loài động vật thân mềm
Trang 10trong đó có ý nghĩa kinh tế lớn nhất là bạch tuộc, sản lượng cho phép khai thác hàngnăm là 60-70 nghìn tấn/năm
Từ năm 2000 đến nay nuôi trồng thủy sản đă trở thành nghề sản xuất phổ biếntrong cả nước và chiếm vị trí quan trọng hàng đầu đưa xuất khẩu thủy sản tăng nhanhtrong thời gian qua Năm 2004, sản lượng thủy sản nuôi trồng khai thác nội địa đạt
1427000 tấn tăng 165,3% so với năm 1998 Trong đó tập trung vào phát triển các đốitượng có giá trị xuất khẩu cao và có khả năng về thị trường như tôm sú, cá tra, cábasa… Nuôi tôm sú phát triển nhanh về quy mô, năng suất và sản lượng, đưa sảnlượng tôm nuôi từ 25000 tấn năm 1998 lên khoảng 295000 tấn năm 2004 Cá tra, cábasa ngày càng phát triển, năm 2004 đạt khoảng 300000 tấn đưa kim ngạch xuấtkhẩu sản phẩm này lên gần 240 triệu USD
Như vậy, tiềm năng của thủy sản Việt Nam còn rất lớn đảm bảo nguồn nguyên liệuphong phú, dồi dào cho ngành chế biến thủy sản Việt Nam Điều đó tạo điều kiệncho các doanh nghiệp tập trung vào đổi mới công nghệ, tạo ra những sản phẩm thủysản chế biến chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu của các thị trường khó tính nóichung và thị trường Mỹ, EU nói riêng
2 Sản phẩm đă đáp ứng tiêu chuẩn của các nước nhập khẩu
Bộ thủy sản đă ban hành hàng loạt các tiêu chuẩn ngành về điêù kiện đảm bảo antoàn vệ sinh của tàu cá, cảng cá, chợ cá, cơ sở thu mua, cơ sở sản xuất nước đá, sơchế thủy sản, kho lạnh, cơ sở bán lẻ… Xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn an toàn
vệ sinh thực phẩm tương đương với tiêu chuẩn cuả các nước nhập khẩu Công táckiểm tra, kiểm soát về an toàn vệ sinh thực phẩm đă được chuyển đổi từ kiểm tra sảnphẩm cuối cùng sang quản lí và thực hiện các biện pháp về an toàn vệ sinh thựcphẩm theo hệ thống xuyên suốt từ khâu sản xuất nguyên liệu đến thu mua và chếbiến xuất khẩu
Trang 11Với sự nỗ lực của các cơ quan quản lí cùng các doanh nghiệp, tháng 11/1999Việt Nam đă chính thức được công nhận vào danh sách các nước xuất khẩu thủy sảnvào EU với 18 doanh nghiệp Đến nay đă nâng lên 153 đơn vị có code xuất khẩu đi
EU chiếm 38,7% trong tổng số cơ sở chế biến hiện có, khoảng 300 đơn vị áp dụngHACCP đủ tiêu chuẩn xuất hàng vào Mỹ Những doanh nghiệp này có giá trị kimngạch xuất khẩu chiếm trên 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành
Những nỗ lực đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về vệ sinh an toàn thựcphẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ của riêng Nhà nước mà từ các doanh nghiệp,sản phẩm thủy sản Việt Nam đă và đang tiến xa hơn và có thể xâm nhập và chiếmlĩnh thị trường thủy sản Mỹ,EU
3 Phát triển thị trường.
3.1 Phong phú về mặt hàng.
Bên cạnh việc tăng cường sản xuất các mặt hàng giá trị gia tăng, các doanhnghiệp c ̣n quan tâm đa dạng hóa các mặt hành xuất khẩu Song song với việc tiếp tụcphát triển tốt các mặt hàng chủ lực, nhiều mặt hàng mới đă xuất hiện đáp ứng các yêucầu tiêu dùng từ b́nh dân đến xa xỉ ở các thị trường khác nhau Các sản phẩm từ tômvẫn tăng về sản lượng và giữ vị trí chủ lực, chiếm khoảng 50% giá trị kim ngạch xuấtkhẩu hàng năm, tỷ trọng giá trị các sản phẩm tăng nhanh qua các năm, từ 14,06%năm 1998 đến nay lên đến trên 22,84% Các mặt hàng cua ghẹ, nhuyễn thể, thủy sảnphối chế cũng tăng lên đáng kể Mặt hàng khô đă có sự tăng lên mạnh mẽ về giá trị
và sản lượng: năm 1998 sản lượng hàng khô là dưới 6000 tấn th́ 11 tháng năm 2004
đă đạt 27742 tấn với giá trị trên 90 triệu USD
Với số lượng các mặt hàng ngày càng tăng thủy sản Việt Nam có thể đáp ứng nhucầu đa dạng của ngưới tiêu dùng Mỹvà EU, ngoài tôm đông lạnh còn nhiều mặt hàngtươi sống như cá ngừ đại dương, cá thu, của cùng nhiều loại chế biến khác với giá trịtương đối ổn định
Trang 123.2.Mở rộng thị trường.
Những kết quả đạt được trong xuất khẩu thủy sản những năm qua không thể táchrời với việc tập trung chỉ đạo công tác thị trường Nhà nước và doanh nghiệp tiếnhành nhiều hoạt động xúc tiến thương mại: hội thảo về thị trường, tham dự hội chợquốc tế về thủy sản, cung cấp thông tin về thị trường, tuyên truyền quảng cáo sảnphẩm thủy sản Việt Nam trên các phương tiện thông tin đại chúng, tạp chí chuyênngành quốc tế, bước đầu đưa thương mại điện tử vào ngành thủy sản … Nhờ đó ta đăh́nh thành thế chủ động và cân đối về thị trường, không lệ thuộc vào thị trườngtrường truyền thống Nhật Bản, giảm tỷ trọng các thị trường trung gian, bước đầugiành được vị trí quan trọng trên các thị trường lớn có yêu cầu khắt khe về chấtlượng và an toàn vệ sinh như Mỹ, EU
Cơ cấu của các thị trường đă có sự thay đổi, thị trường Nhật vẫn là thị trường lớnnhưng giảm về tỷ trọng: năm 1998 là 42,30% năm 2003 xuống c ̣n 26,3%, đứng thứ 2
là Mỹ Năm 2004 do tác động của vụ kiện bán phá giá tôm nên thị trường Mỹ lùixuống vị trí thứ 2 và Nhật Bản lại chiếm ngôi đầu bảng Tuy nhiên sau kết luận cuốicùng về việc kiện bán phá giá tôm của doanh nghiệp Việt Nam thì thị trường Mỹ sẽđược khôi phục lại vị trí của nó và ngày càng trở thành thị trường quan trọng
Như vậy với việc mở rộng phát triển thị trường, sản phẩm thủy sản Việt Nam
ngày càng có tiếng vang trên thị trường thế giới Do đó khi vào thị trường Mỹ,EUnhững thị trường nhiều biến động ta có thể linh hoạt chủ động đối phó với nhữngbiến động đó, không làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu thủy sản Khôngngừng giữ vững và nâng cao thị phần trên các thị trường truyền thống đồng thời mởrộng phát triển các thị trường tiềm năng tạo nên sự phát triển cân đối, bền vững chosản phẩm thủy sản Việt Nam
4 Đã có một số công nghệ cao trong chế biến và nuôi trồng
Trang 13Rào cản lớn cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ,EU hiện nay là
Mỹ và EU đă đưa ra các quy định về tiêu chuẩn chất lượng ngặt nghèo mà nhữngquy định này chủ yếu đối với các sản phẩm có nguồn gốc nuôi trồng Vì vậy để đảmbảo chất lượng cho hàng thủy sản xuất khẩu thì công tác nuôi trồng phải được xem làmột quá trình đòi hỏi phải làm tốt ở tất cả các khâu: từ chuẩn bị khu nuôi, công tácgiống, thức ăn, quá trình chăm sóc, theo dơi bệnh trong quá trình nuôi, thu hoạch vàvận chuyển đến khu chế biến
Hiện nay ngành thủy sản đă tập trung nghiên cứu công nghệ sản xuất giống nhữngđối tượng có giá trị xuất khẩu như tôm sú, tôm rảo, tôm càng xanh, cá tra, cá basa, rôphi đơn tính… trong đó một số đối tượng đă đi vào sản xuất đại trà Đồng thời cũng
đă nhập khẩu công nghệ sản xuất giống và nuôi nh bào ngư, điệp, tôm thể chântrắng… bước đầu có kết quả khả quan
Cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành chế biến thủy sản phát triển khá nhanh Năm
2000 cả nước có 272 cơ sở chế biến thủy sản, trong đó có 246 cơ sở chế biến đônglạnh, 65 dây chuyền IQF, với tổng công suất cấp đông là 2000 tấn/ngày Cuối năm
2002 tổng số doanh nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh là 235 với tổng công suất là
3147 tấn/ngày Phân chia theo vùng như sau miền Bắc 4%, miền Trung 27,2%, miềnNam 68,8% Nh vậy các cơ sở chế biến về cơ bản đă được xây dựng theo quy hoạch
Đa số các cơ sở chế biến đều có nhà xưởng, nhà kho, trang thiết bị, dụng cụ vệ sinh,
hệ thống xử lí nước thải, trang thiết bị kiểm tra sản phẩm đều đạt tiêu chuẩn chấtlượng Nhiều cơ sở tiến hành sản xuất theo phương thức công nghiệp Việc áp dụng
hệ thống quản lí chất lượng và các quy định về bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩmngày càng phổ biến
Qua việc phân tích các điểm mạnh của hàng thủy sản Việt Nam chóng ta thấy rơđược những ưu thế của sản phẩm Từ những lợi thế về điều kiện tự nhiên, đa dạnghóa về sản phẩm… cho đến những nỗ lực đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng