3.6 Cơ cấu cán bộ theo thâm niên công tác tại trung tâm 26 3.7 Tỷ lệ cán bộ được tập huấn về tiêm chủng và vacxin 27 3.8 Nhiệt độ bảo quản của vacxin theo chương trình TCMR tại trung tâm
Trang 2LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CK60720412
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thị Trâm
Nơi thực hiện: Trường Đại học Dược Hà Nội
Trung tâm y tế thành phố Việt Trì Thời gian thực hiện: từ 15/11/2013 đến 15/3/2014
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành khóa luận tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lời
cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo, gia đình, bạn bè và những người
đã giúp đỡ, ủng hộ tôi trong thời gian qua
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới
TS Vũ Thị Trâm – người thầy kính mến đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt thời
gian học tập và thực hiện đề tài Cảm ơn cô vì ngoài những kiến thức chuyên
môn tôi còn được dạy phương pháp làm việc hiệu quả, khoa học, trung thực
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới TS Nguyễn Thị Thanh Hương cùng toàn
thể các thầy cô trong bộ môn Quản lý và Kinh tế dược đã tận tình giúp đỡ tôi
hoàn thành đề tài này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban giám đốc trung tâm y tế
thành phố Việt Trì nơi tôi công tác đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học
tập nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn và hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người bạn bè trong lớp CKI
khóa 14 và các bạn bè thân thiết đã cùng chia sẻ những khó khăn trong cuộc
sống và dành cho tôi những tình cảm, sự động viên khích lệ trong suốt thời
gian qua
Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 2014
Ngô Thị Minh Phương
Trang 43.6 Cơ cấu cán bộ theo thâm niên công tác tại trung tâm 26 3.7 Tỷ lệ cán bộ được tập huấn về tiêm chủng và vacxin 27 3.8 Nhiệt độ bảo quản của vacxin theo chương trình TCMR
tại trung tâm
29 3.9 Quy trình theo dõi nhiệt độ của tủ lạnh tại trung tâm 29 3.10 Kết quả nhiệt độ trung bình của tủ lạnh 30 3.11 Nguồn nhân lực của khoa Dược tham gia bảo quản
Trang 53.19 Tình hình tiêm chủng cho trẻ em dưới 1 tuổi năm 2012 40 3.20 Thống kê tình hình tiêm chủng cho trẻ em trên 1 tuổi
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
3.1 Sơ đồ tổ chức nhân lực của trung tâm 25 3.2 Sơ đồ nhập, xuất vacxin của trung tâm 27
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
AIDS Acquired immunodeficiency
syndrome
Hội chứng suy giảm giảm miễn dịch mắc phải
HBV Hepatitis B virus Viêm gan siêu vi B HCV Hepatitis C virus Viêm gan siêu vi C
OPV Oral Polio Vaccine Vacxin phòng bại liệt
UNICEF United Nations Children's Fund Quỹ nhi đồng quốc tế WHO World Health Organization Tổ chức y tế thế giới
Trang 8MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 3
Chương 1 TỔNG QUAN 5
1.1 Tình hình tiêm chủng vacxin trên thế giới 5
1.1.1 Lịch sử phát triển của tiêm chủng vacxin trên thế giới 5
1.1.2 Vấn đề về an toàn tiêm chủng vacxin trên thế giới 7
1.2 Tình hình tiêm chủng tại Việt Nam 7
1.2.1 Tình hình tiêm chủng tại VN trong những năm gần đây 7
1.2.2 Các vacxin triển khai trong CT tiêm chủng mở rộng 9
1.3 Vacxin và bảo quản vacxin 12
1.3.1 Cơ sở khoa học của tiêm chủng 12
1.3.2 Khái niệm, phân loại và bảo quản vacxin 13
1.3.3 Phản ứng do vacxin 14
1.4 Tiêm chủng 17
1.4.1 Khái niệm 17
1.4.2 Lợi ích khi tiêm chủng 17
1.4.3 Chống chỉ định trong tiêm chủng 17
1.4.4 Kỹ thuật tiêm chủng 18
1.2.5 Quy trình tiêm chủng 19
1.4.6 An toàn trong tiêm chủng 20
1.4.7 Giám sát phản ứng sau tiêm chủng 22
1.5 Đôi nét về Trung tâm Y tế thành phố Việt Trì 22
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
Trang 92.2 Phương pháp nghiên cứu 25
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: mô tả hồi cứu 25
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 25
2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 25
2.2.4 Các chỉ số nghiên cứu 26
2.3 Phương pháp trình bày và xử lý số liệu 26
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Phân tích Cơ cấu nhân lực – trang thiết bị bảo quản vacxin tại
trung tâm y tế Việt Trì năm 2012 27
3.1.1 Nhân lực 27
3.1.2 Bảo quản vacxin tai trung tâm y tế thành phố Việt Trì 29
3.1.3 Tiêm chủng mở rộng tại trung tâm y tế Việt Trì năm 2012 39
3.2 Kết quả khảo sát tình hình cung ứng và sử dụng vacxin tại trung
tâm Y tế thành phố Việt Trì năm 2012 41
3.2.1 Kết quả khảo sát tình hình sử dụng vacxin theo chương trình
tiêm chủng mở rộng 42
Chương 4 BÀN LUẬN 48
4.1 Nhân lực, cơ sở vật chất bảo quản vacxin của trung tâm 48
4.1.1 Về nhân lực 48
4.1.2 Cơ sở vật chất bảo quản vacxin trong dây chuyền lạnh 49
4.1.3 Nguyên nhân 51
4.2 Tỷ lệ tiêm chủng vacxin 53
4.2.1 Tỷ lệ tiêm chủng vacxin tại trung tâm năm 2012 53
4.2.2 Thành tựu công tác TCMR 54
4.2.3 Hạn chế của TCMR 56
KẾT LUẬN 57
Trang 101 Thực trạng nhân lực, trang thiết bị bảo quản vacxin tại trung tâm
Y tế thành phố Việt Trì năm 2012 …57
2 Tình hình cung ứng và sử dụng vacxin thuộc tại trung tâm Y tế
thành phố Việt Trì năm 2012 58
KIẾN NGHỊ 59
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Nâng cao sức khỏe con người là nhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế,
sự nghiệp chăm sóc sức khỏe là sự nghiệp của toàn xã hội Trong những năm qua được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, chính quyền các cấp, sự phối hợp của các ban ngành, ngành y tế đã đạt một số thành tích trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân nói chung và công tác tiêm chủng nói riêng Chương trình tiêm chủng mở rộng không chỉ bảo vệ sức trẻ em mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội và quan hệ quốc tế quan trọng Đây là một trong những chương trình y tế Quốc gia ưu tiên hàng đầu và được đưa vào 10 nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu, đã mang lại thành công lớn trong việc giảm tỷ
lệ mắc, tỷ lệ chết ở trẻ em do 7 bệnh truyền nhiễm phổ biến gây ra Tiêm chủng phòng bệnh bằng các vacxin là một thành tựu trong y học ở thế kỷ XX
có ý nghĩa to lớn trong Y học dự phòng Chương trình tiêm chủng mở rộng
đã góp phần làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc và chết của trẻ em dưới 1 tuổi và 5 tuổi về các bệnh truyền nhiễm Ước tính hàng năm tiêm chủng đã cứu sống khoảng 1 triệu trẻ em ở các nước đang phát triển, và cứu sống khoảng 3 triệu người trên toàn thế giới, khống chế và loại trừ được nhiều căn bệnh truyền nhiễm [2]
Từ năm 1974, Tổ chức Y tế thế giới đã vận động các nước thành viên thực hiện Chương trình tiêm chủng mở rộng, bởi hàng năm có khoảng 5 triệu trẻ em chết và 5 triệu trẻ em khác tàn tật vì mắc các căn bệnh truyền nhiễm[3] Chương trình tiêm chủng mở rộng được triển khai ở Việt Nam từ năm 1981 được sự hỗ trợ của tổ chức Y tế Thế giới và quỹ nhi đồng Liên hợp quốc với vaxin phòng 6 bệnh truyền nhiễm: Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Sởi, Lao, Bại liệt cho trẻ em dưới 1 tuổi Năm 1985 TCMR được đẩy mạnh và triển khai trên phạm vi cả nước Mục tiêu của Chương trình tiêm chủng mở rộng đã hoàn thành với tỷ lệ trên 90% cho toàn trẻ em dưới 1 tuổi trong cả nước được tiêm chủng đầy đủ 6 loại vaccine Năm 2003 có 100% số huyện trên cả nước
Trang 12được tiêm vacxin viêm gan B Năm 2004 tỷ lệ tiêm 3 mũi viêm gan B đạt 94,2%
Từ đó vacxin viêm gan B được coi là vacxin thứ 7 trong chương trình tiêm chủng
mà trẻ em Việt Nam dưới 1 tuổi phải được tiêm chủng đầy đủ
Để tìm hiểu về thực trạng nhân lực, trang thiết bị bảo quản vacxin và tình hình cung ứng và sử dụng vacxin tại Trung tâm Y tế thành phố Việt Trì,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát tình hình cung ứng và sử
dụng vacxin tại trung tâm y tế thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ năm 2012”
với mục tiêu nghiên cứu như sau:
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Mô tả cơ cấu nhân lực, trang thiết bị bảo quản vacxin tại trung tâm Y tế thành phố Việt Trì năm 2012
2 Phân tích thực trạng sử dụng vacxin tại trung tâm Y tế thành phố Việt Trì
năm 2012
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tình hình tiêm chủng vacxin trên thế giới
1.1.1 Lịch sử phát triển của tiêm chủng vacxin trên thế giới
Vào cuối thế kỷ XVIII (1789) EDWARD JENNER (1749- 1823), một bác sĩ thú y người Anh đã tìm ra vacxin đậu mùa bằng cách chế từ vẩy đậu mùa ở bò, cuối thế kỷ XIX Pasteur đã tìm ra vacxin phòng dại và là người đầu tiên đặt nền móng cho việc sản xuất các loại vacxin phòng bệnh Cho đến nay con người đã sản xuất ra nhiều loại vacxin để phòng bệnh cho người và động vật Như vậy tiêm chủng đã góp phần quan trọng làm giảm
số mắc và chết các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở trẻ em[20],[21],[22] từ
đó góp phần quan trọng hạn chế những di chứng gây tàn phế dai dẳng cho bệnh nhân, tiết kiệm chi phí cho gia đình và xã hội.[23]
Trong những năm 70 của thế kỷ trước mới có khoảng 5 triệu trẻ em khác bị tàn tật, di chứng vì các bệnh truyền nhiễm trẻ em là bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi, bại liệt, lao Năm 1974, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đề xướng và vận động các nước thành viên thực hiện một chương trình có ích trong khuôn khổ các hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu nhằm thực hiện mục tiêu “Sức khỏe cho tất cả mọi người vào năm 2000” [24] Đó là Chương trình Tiêm chủng mở rộng (TCMR), viết tắt theo tiếng anh là EPI (Expanded Programe on Immunization) [22] Mục đích của Chương trình là mở rộng, phát triển công tác tiêm chủng cho toàn thể trẻ em trên thế giới đặc biệt trẻ
em ở các nước đang phát triển
Nhờ có tiêm chủng mà bệnh đậu mùa đã từng giết chết 2 triệu người mỗi năm được thanh toán vào năm 1979 Đã từng là dịch bệnh trên các châu lục, bại liệt giờ đây chỉ còn giới hạn ở châu Phi và Nam Á Các nước châu
Mỹ đã tuyên bố thanh toán được căn bệnh bại liệt vào năm 1994, sau đó là khu vực Tây Thái Bình Dương (2000) và Châu Âu (2002) [23] 2/3 số nước
đã loại trừ được uốn ván sơ sinh, [24] Số trường hợp tử vong do sởi được
Trang 14báo cáo giảm từ 6 triệu xuống còn 1 triệu/ năm, số mắc ho gà đã giảm từ 3 triệu trường hợp/ năm xuống chỉ còn 250.000 trường hợp, số mắc bạch hầu
đã giảm từ 80.000 trường hợp năm 1975 xuống còn 10.000 trường hợp hiện nay, vacxin phòng HIB đã làm giảm 90% tỷ lệ mắc bệnh viêm màng não do Hib ở châu Âu trong 10 năm Năm 1990, hơn 100 triệu trẻ em dưới 1 tuổi trong các nước phát triển, 80% tổng số trẻ em toàn cầu đã được tiêm chủng thành công phòng chống bệnh sời, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt và lao nhờ Chương trình TCMR [22]
Bên cạnh đó, chương trình tiêm chủng mở rộng vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn: bệnh bại liệt vẫn còn lưu hành nặng ở một số nước châu Phi, châu Á với hàng ngàn ca mắc năm 1999, dặc biệt ở Ấn Độ, Bangladesh, Pakistan… [20] Trong tình hình thế giới hiện nay, sự giao lưu giữa các nước trên thế giới sẽ là diều kiện thuận lợi cho dịch xâm nhập trở lại các nước đã thanh toán Uốn ván vẫn còn là một bệnh lưu hành phổ biến ở các nước đang phát triển Sởi vẫn là bệnh có số mắc và tử vong cao ở trẻ em, hàng năm có trên 40 triệu trường hợp mắc bệnh và trên 1triệu trường hợp tử vong do sởi, chiếm 10% tổng số trẻ em tử vong dưới 5 tuổi [12],[20]
Viêm gan virus B là bệnh có tỷ lệ mắc và mang virus cao, đặc biệt châu Á và Đông Nam Á, tỷ lệ mang dấu ấn virus Viêm gan B trong dân cư
là 15-20%, và đây là bệnh mà WHO khuyến cáo sử dụng vacxin rộng rãi vào đầu thế kỷ thứ XXI…[16], [17] Ngoài ra hiện chưa có vacxin phòng như: HIV/AIDS, SARS, cúm gà, các bệnh truyền nhiễm và không truyền nhiễm: sốt rét, sốt xuất huyết Dengue, bò điên, phong cùi, ung thư, tim mạch Trước mắt nhân loại đang tập trung tìm hiểu nguyên nhân gây dịch, chủ động phòng
và dập dịch bằng nhiều biện pháp tổng hợp, song không thể bỏ qua giải pháp toàn diện, triệt để nhất là sử dụng vacxin
Trang 151.1.2 Vấn đề về an toàn tiêm chủng vacxin trên thế giới
Trên thế giới đã chứng kiến những sự cố tiêm chủng không an toàn dẫn tới việc ngừng tiêm chủng: Năm 1995 ở Mỹ 79 trẻ bị bại liệt trong số 400.000 trẻ sử dụng vacxin Salk (9 vacxin bại liệt tiêm), nguyên nhân do người sáng chế vacxin này đề xuất không đầy đủ qui trình bất hoạt virus trong sản xuất.Tại Vương quốc Anh, mối lo lắng của người dân về các nguy cơ liên quan tới vacxin ho gà trong những năm 1970 khiến tỷ lệ tiêm chủng giảm (trước kia cao tới 80%) thì tỷ lệ ấy còn giảm xuống 30% Từ số ca mắc hàng năm theo báo cáo là 2000 - 8000 lên đến 100.000 trường hợp
Bên cạnh đó, theo WHO hàng năm trên toàn thế giới ước tính có khoảng
800 triệu mũi tiêm được thực hiện trong tiêm chủng Theo điều tra của WHO tại 4/6 khu vực thấy rằng có tới 30% số mũi tiêm chủng là không an toàn [20], [25]
Qui trình tiêm không an toàn còn là nguyên nhân gây ra hang triệu ca nhiễm HBV, HCV, HIV/AIDS mỗi năm Ở các nước đang phát triển, mỗi năm có khoảng 1/4 trong tổng số 21 triệu ca nhiễm mới HBV do tiêm không
an toàn
1.2 Tình hình tiêm chủng tại Việt Nam
1.2.1 Tình hình tiêm chủng tại Việt Nam trong những năm gần đây
Từ năm 1981 chương trình TCMR bắt đầu được triển khai ở Việt Nam với sự hỗ trợ của WHO và quỹ Nhi Đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), với mục tiêu phổ cập tiêm chủng cho toàn thể trẻ em dưới 1 tuổi trong cả nước được tiêm chủng đầy đủ 6 loại kháng nguyên (lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt và sởi) vào năm 1990
Giai đoạn từ năm 1980- 1985: Làm thí điểm và rộng dần Chương trình
TCMR một số địa phương Kết quả giai đoạn đầu đạt được là 20,8% số trẻ
em dưới 1 tuổi ở 20 tỉnh thành được tiêm chủng và giảm trên 40% tỷ lệ mắc
6 bệnh truyền nhiễm trẻ em so với thời kỳ 1976-1980 [15], [19]
Trang 16Từ năm 1986-1990: TCMR đã triển khai trên phạm vi cả nước, tiêm
chủng thường xuyên thay thế dần tiêm chủng chiến dịch Đạt được mục tiêu phổ cập tiêm chủng cho hơn 80% trẻ em dưới một tuổi trong cả nước Tuy nhiên chất lượng tiêm chủng còn là vấn đề phải cố gắng[15]
Trong giai đoạn từ năm 1991-2000: Chương trình TCMR đã không
còn để xã trắng về tiêm chủng, tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ 6 bệnh truyền nhiễm cho trẻ em liên tục đạt trên 90% Năm 1997, triển khai 4 vacxin mới viêm gan B, tả, thương hàn và viêm não Nhật Bản B Tháng 12 năm 2000 Chương trình TCMR hoàn thành mục tiêu thanh toán bệnh bại liệt Năm 1999 và năm
2000 tổ chức chiến dịch thí điểm tiêm nhắc mũi 2 vacxin sởi với tỷ lệ cao 99,7% trẻ em dưới 10 tuổi[19]
Từ năm 2001- 2005: Duy trì được những thành quả đã đạt và tỷ lệ tiêm
chủng đầy đủ 6 loại vacxin cho trẻ em dưới 1 tuổi đạt trên 90%, tiêm đủ liều vacxin uốn ván cho phụ nữ có thai đạt trên 80% và nữ tuổi sinh đẻ đạt trên 90% ở các huyện có nguy cơ cao Từ năm 2001 triển khai các chiến dịch tiêm vacxin sởi mũi 2 cho trẻ từ 9 tháng tới dưới 10 tuổi trên toàn quốc và chiến dịch tiêm bổ sung vacxin sởi cho học sinh phổ thông cơ sở, phổ thông trung học, 80% đối tượng vùng nguy cơ cao được tiêm vacxin viêm gan B, viêm não Nhật Bản, thương hàn, và uống vacxin tả Năm 2002, vacxin viêm gan B được triển khai trên 61 tỉnh, thành phố, kết quả 987.615 trẻ em dưới 1 tuổi trên cả nước[13]
Sau hơn 20 năm hoạt động, Chương trình TCMR đã thu được những thành quả to lớn và được Quốc tế thừa nhận là điểm sáng về công tác TCMR trong các nước đang phát triển với các kết quả: Thanh toán bệnh bại liệt năm 2000, loại trừ được uốn ván sơ sinh được đánh giá và công nhận tháng
12 năm 2005, số mắc bệnh sởi từ 125.176 ca/năm 1984 chỉ còn 227ca / năm
2004, tỷ lệ mắc ho gà giảm 183 lần, tỷ lệ mắc bệnh bạch hầu ở trẻ em giảm
từ 3,9/100.000 dân ( năm 1985) xuống còn 0,05/100.000 dân (năm 2004)[11]
Trang 17Thành quả đạt được sau 20 năm triển khai TCMR là rất lớn song vẫn còn nhiều tồn tại và thách thức:
+ Bệnh bại liệt chưa được thanh toán trên toàn cầu, nhiều nước đã thanh toán bại liệt nay lại bị virus hoang dại xâm nhập và trở thành lưu hành Bệnh Sởi, Bạch hầu, Ho gà chỉ mới được khống chế Sự lơ là trong công tác TCMR sẽ tạo điều kiện cho bệnh phát triển, đặc biệt vùng núi, khó khăn [26]
+ Kinh phí TCMR của nhà nước đầu tư còn hạn hẹp chỉ đáp ứng được 60% nhu cầu của công tác TCMR Đội ngũ người làm công tác TCMR bị thay đổi nhiều, thiếu cán bộ Y tế thôn bản, lương và phụ cấp thấp, chưa hợp lý, chưa khuyến khích được người làm công tác này[12], [16]
1.2.2 Các vacxin triển khai trong chương trình tiêm chủng mở rộng
Từ năm 1985, chương trình TCMR của Việt Nam triển khai tiêm 6 loại
kháng nguyên cơ bản cho trẻ em dưới 1 tuổi là lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, sởi Từ năm 1997 đến nay chương trình TCMR Việt Nam thực hiện triển khai thêm một số vacxin là viêm gan B, viêm não Nhật Bản B, tả và thương hàn Do nguồn kinh phí hạn hẹp nên các vacxin này chỉ triển khai ở vùng nguy cơ của bệnh Trong đó vacxin viêm gan B đã được triển khai tiêm chủng cho trẻ em trong toàn quốc từ năm 2003 với sự hỗ trợ của Liên minh toàn cầu
Một trẻ được tiêm chủng đầy đủ là được nhận đủ 7 loại vacxin và đủ liều như sau: vacxin BCG (phòng bệnh lao), 3 mũi vacxin DPT (phòng bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván), 3 mũi vacxin viêm gan B, 3 lần uống vacxin OPV (phòng bệnh bại liệt), vacxin sởi Chương trình tiêm chủng mở rộng tại Việt Nam ngay từ khi bắt đầu triển khai thì các khâu trong dây chuyền sản xuất vacxin đã được kiểm tra nghiêm ngặt
Trang 18Bảng 1.1 Lịch tiêm chủng vacxin cho trẻ em trong chương trình TCMR Tháng tuổi Vắc-xin cần tiêm Mũi tiêm/uống
- Viêm gan B
- Bại liệt lần 3
- Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván
- Viêm gan B mũi 3
9 tháng tuổi Sởi - Mũi 1 khi trẻ đủ 9 tháng tuổi
- Mũi 2 tiêm khi trẻ 6 tuổi
Từ 1-5 tuổi Viêm não Nhật
bản
- Vacxin viêm não mũi 1
- Vacxin viêm não mũi 2 (hai tuần sau mũi 1)
- Vacxin viêm não mũi 3 (một năm sau mũi 2)
Từ 2-5 tuổi Vacxin tả 2 lần uống ( lần 2 sau lần 1 hai tuần)
Từ 3-5 tuổi Vacxin Thương
hàn
Tiêm 1 mũi duy nhất
Từ năm 1986 – 1990 BKT sử dụng trong tiêm chủng là BKT nhựa hoặc thủy tinh sử dụng nhiều lần, dụng cụ khử trùng BKT là nồi hấp Một số
cơ sở ngại sử dụng nồi hấp hoặc sử dụng sai kỹ thuật khử trùng BKT [5] Giai đoạn 1991 – 2000 Chương trình TCMR đã đưa BKT sử dụng 1 lần vào
Trang 19sử dụng và dùng 1 hộp an toàn để thu gom BKT đã sử dụng.Song nguy cơ không đảm bảo vô khuẩn mũi tiêm vẫn còn Từ năm 2002, chương trình TCMR được sự hỗ trợ của liên minh toàn cầu về vacxin và tiêm chủng (GAVI), các tổ chức Quốc tế khác và sự nỗ lực sản xuất trong nước Chương trình TCMR đã đưa BKT tự khóa và nộp an toàn vào sử dụng trong tiêm chủng [14] Đánh giá hệ thống dây truyền lạnh của Việt Nam năm 2003 đã cho thấy mặc dù đã được trang bị và hoạt động ở các tuyến nhưng thực tế là
hệ thống này đã cũ (trên 10 năm sử dụng); một số nơi không có đủ hoặc dụng
cụ dây truyền lạnh bị vỡ, hỏng [10].Quản lý vacxin là một yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng của công tác tiêm chủng bao gồm vacxin đủ về số lượng
và đảm bảo chất lượng.Việc tập huấn về phản ứng xảy ra sau tiêm chủng đã được tiến hành cho cán bộ y tế tỉnh, huyện Trong 2 năm gần đây 2007- 2008 vấn đề phản ứng sau tiêm chủng trở thành vấn đề thời sự, cộng đồng đã có
sự quan tâm nhiều hơn sau những sự cố nặng xảy ra sau tiêm chủng vacxin Việc tiến hành giám sát các phản ứng sau tiêm chủng cũng đồng thời đòi hỏi cán bộ y tế có biện pháp xử trí đúng, kịp thời với từng trường hợp phản ứng
cụ thể[13]
Từ năm 2002 Chương trình TCMR và trung tâm kiểm định quốc gia vacxin và sinh phẩm đã phối hợp xây dựng và triển khai thí điểm công tác giám sát các sự cố sau tiêm chủng Chương trình đã triển khai trong toàn quốc hệ thống này từ năm 2006 [26] Tháng 2 năm 2002 đến tháng 7 năm
2006 Chính phủ Việt Nam với sự trợ giúp của WHO đã đề ra kế hoạch đánh giá được tiến hành trên qui mô toàn quốc , 8/61 tỉnh thành đại diện cho 4 khu vực Bắc, Trung, Nam và Tây Nguyên được lựa chọn vào nghiên cứu[9] Trong định hướng phát triển của công tác TCMR giai đoạn từ 2006 đến 2010 và 2015, việc tăng cường công tác an toàn tiêm chủng bao gồm vô khuẩn mũi tiêm, xử lý an toàn tiêm chủng bao gồm vô khuẩn mũi tiêm, xử
lý an toàn bơm kim tiêm đã sử dụng và giám sát sự cố sau tiêm chủng vẫn là
Trang 20một trong những mục tiêu cần được quan tâm nhằm nâng cao hiệu quả của việc tiêm chủng [17]
Sau sự cố một số trẻ có phản ứng mạnh và 1 trường hợp tử vong sau khi tiêm chủng vacxin tại Thành phố Hồ Chí Minh tháng 5 năm 2006, số trẻ
em đi tiêm chủng giảm rõ rệt, có nơi giảm 30-40%, nguy cơ cho việc bùng phát dịch nếu tỷ lệ tiêm chủng thấp kéo dài [2]
Tại Phú Thọ, khi chưa triển khai TCMR, hàng năm tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm như sởi, ho gà, bạch hầu, bại liệt, uốn ván sơ sinh đều ở mức trên 1/100.000 dân Các báo cáo thống kê đã cho thấy tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi đã được nâng lên hàng năm Năm 1990 tỷ lệ các mũi tiêm chủng luôn đạt trên 90%, từ đó tới nay hoạt động TCMR tiếp tục được duy trì,
mở rộng và nâng cao [27]
Theo WHO phương pháp giám sát, đánh giá định kỳ thực hành tiêm chủng vào công tác giám sát phản ứng sau tiêm chủng rất quan trọng để nhằm phát hiện ngăn nguy cơ để xảy ra những hậu quả đáng tiếc do tiêm chủng không an toàn gây ra cho người được tiêm, nhân viên y tế và cộng đồng
1.3 Vacxin và bảo quản vacxin
1.3.1 Cơ sở khoa học của tiêm chủng
Cơ thể cảm nhiễm và cơ chế miễn dịch
Cơ thể cảm nhiễm: là những cơ thể dễ dàng cảm thụ với mầm bệnh khi chúng xâm nhập vào cơ thể Vì cơ thể chưa có miễn dịch tương ứng (hoặc
hết miễn dịch)
Cơ thể miễn dịch: là những cơ thể không cảm thụ với mầm bệnh mặc dù có sự xâm của mầm bệnh vào cơ thể bởi vì cơ thể đã có miễn dịch tương ứng
Phân loại miễn dịch
- Miễn dịch tự nhiên: mang tính nòi giống
- Miễn dịch thu được tự nhiên chủ động: có sau mắc bệnh
Trang 21- Miễn dịch thu được tự nhiên thụ động: do mẹ truyền
- Miễn dịch thu được nhân tạo chủ động: sau khi dùng vaccine
- Miễn dịch thu được nhân tạo thụ động: dùng kháng huyết thanh
1.3.2 Khái niệm, phân loại và bảo quản vacxin
1.3.2.1 Khái niệm
Vacxin là những chế phẩm được sản xuất từ những vi khuẩn, virus, kí sinh trùng hoặc độc tố của chúng đã được làm yếu, làm giảm độc lực hoặc làm bất hoạt nhưng vẫn đủ khả năng kích thích cơ thể người sinh ra kháng thể đặc hiệu chống lại chúng [4],[5],[6]
1.3.2.2 Phân loại
Có nhiều cách phân loại vacxin Nếu căn cứ vào bản chất sinh học, có thể chia vacxin thành 3 loại truyền thống:
+ Vacxin giải độc đố: Là loại vacxin được sản xuất từ ngoại độc tố của vi
khuẩn, đã làm mất tính độc nhưng vẫn giữ được tính kháng nguyên
+ Vacxin chết (bất hoạt): Là vacxin được sản xuất từ vi sinh vật đã bị giết chết, có thể là protein hoặc polysaccharite
+ Vacxin sống giảm độc lực: Loại vacxin này được sản xuất từ vi sinh vật gây bệnh đã được làm giảm độc lực, hoặc làm yếu không còn khả năng gây bệnh bằng cách nuôi cấy nhiều lần trong phòng thí nghiệm
Ngoài ra, hiện nay còn có các loại vacxin khác hiệu quả cao như vacxin tái tổ hợp, vacxin DNA
1.3.2.3 Bảo quản vacxin
Vacxin là một sinh phẩm đặc biệt, cần được bảo quản nghiêm ngặt trong hệ thống dây truyền lạnh Nhiệt độ đảm bảo để giữ vacxin an toàn là
từ +2oC đến +8oC Nhiệt độ nóng và lạnh ngoài khoảng an toàn trên đều có thể làm hỏng vacxin [5],[7],[8] Vacxin cần phải được bảo quản liên tục trong dây truyền lạnh từ khi xuất xưởng cho tới điểm tiêm chủng và trong suốt
Trang 22buổi tiêm chủng.Vacxin bị phơi nhiễm ở nhiệt độ cao sẽ bị mất hiệu lực hoặc
có thể gây ra các phản ứng không mong muốn[1],[9]
Các vacxin giải độc tố như vacxin uốn ván, bạch hầu còn bị hỏng bởi nhiệt độ đông băng, vì vậy ở tất cả các tuyến y tế hiện nay cần được bảo quản
và vận chuyển vacxin trong điều kiện từ +2oC đến +8oC và không được để đông băng
Tất cả các vacxin sau khi pha đều trở nên nhạy cảm với nhiệt độ cao và ánh sáng và chỉ sử dụng sau khi pha 6 giờ Vì vậy vacxin được đựng trong
lọ sẫm màu Ngoài nhiệt độ và ánh sáng, các chất tẩy uế, sát trùng đều có thể phá hủy vacxin
Hệ thống dây truyền lạnh bảo quản vacxin trong chương trình TCMR
đã được trang bị từ trung ương đến xã, phường Mặc dù tình trạng dây truyền lạnh cũ và thiếu ở một số địa phương nhưng nhìn chung các địa phương đều
cố gắng khắc phục để bảo quản vacxin theo đúng qui định của chương trình tiêm chủng mở rộng
Theo dõi nhiệt độ dây chuyền lạnh bảo quản vacxin: vacxin phải được theo dõi nhiệt độ 2 lần/ ngày và 7 ngày trong tuần Trong buổi tiêm chủng vacxin cũng phải được theo dõi bảo quản
Thực chất vacxin rất an toàn Hầu hết các phản ứng phụ của vacxin đều nhẹ, xảy ra tạm thời như sốt nhẹ, sưng tại chỗ tiêm[10] Những phản ứng này có thể là một phần đáp ứng miễn dịch của cơ thể, ngoài ra có thể do một
số thành phần của vacxin như tá chất, chất bảo quản vacxin Có thể có những phản ứng mạnh, đây là những phản ứng có hại do vacxin, nhưng thường rất hiếm [12] Phản ứng sốc nặng cũng có thể qua khỏi nếu điều trị thích hợp [13] Ta có bảng những phản ứng nhẹ, thường gặp của vacxin và cách điều trị[8]
Trang 23Bảng 1.2 Các phản ứng thường gặp sau khi tiêm vacxin
Vacxin Phản ứng tại chỗ
(đau, sưng, đỏ) Sốt >38oC
Dễ bị kích thích, cảm giác khó chịu,
Bại liệt uống
- Bù dịch
- Mặc quần áo mát
- Lau mình hay tắm nước ấm
- Paracetamol***
- Bù dịch
- Paracetamol***
(Nguồn: Tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới, 2003)
* Những triệu chứng bao gồm tiêu chảy, nhức đầu, đau cơ
** Tỷ lệ phản ứng tại chỗ tăng đối với những liều tiêm nhắc lại: 50-80% ***Paracetamol: 15mg/kg cách 4 giờ 1 lần, tối đa 4 lần trong 24 giờ
Bảng 1.3 Những phản ứng hiếm gặp của vacxin
xuất hiện
Số phản ứng/ 1 triệu liều
sử dụng
Viêm xương BCG Nhiễm khuẩn BCG lan tỏa
2-6 tháng 1-12 tháng 1-12 tháng
100-1000 0,01-300 0,19-1,56
Trang 24Sởi* Những cơn co giật có sốt
Giảm tiểu cầu Phản ứng quá mẫn (dị ứng nặng)
Sốc phản vệ Bệnh não
6-12 ngày 15-35 ngày 0- 2 giờ 0-1 giờ 6-12 ngày
Bại liệt uống** Liệt mềm liên quan tới vac xin 4-30 ngày 0,4
Uốn ván Viêm dây thần kinh cánh tay
Sốc phản vệ
2-28 ngày 0-1 giờ
5-10 0,4-10 Bạch hầu- ho
Những cơn sốt cao co giật***
Giảm trương lực, giảm phản
xạ Sốc phản vệ Hội chứng não
0-24 giờ
0-2 ngày 0-24 giờ 0-1 giờ 0-2 ngày
(0,1 - 0,6%) 1.000- 60.000 80-570 30-990
20 0-1
(Nguồn: Tài liệu của WHO Tây Thái bình Dương, 1999)[14]
*Phản ứng (trừ sốc phản vệ) không xảy ra ở trẻ em đã được miễn dịch, những trẻ em trên 6 tuổi hầu như không bị những cơn sốt kịch phát
** Nguy cơ bại liệt do vacxin cao hơn đối với liều đầu tiên (1/750.000 so
với 1/5,1 triệu trường hợp hợp với những liều tiếp theo) và với những người lớn bị suy giảm miễn dịch
*** Sốt cao co giật tùy thuộc vào tuổi, nguy cơ xảy ra ít hơn ở những trẻ em dưới 6 tháng tuổi
Nguyên nhân của phản ứng có hại do vacxin không phải dễ dàng phát hiện được trong mọi trường hợp, bởi vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khó kiểm soát, ngoài vacxin được đưa vào cơ thể còn có yếu tố quan trọng đó là trạng thái
cơ thể lúc được tiêm chủng Mỗi loại loại vacxin đều có chống chỉ định hoặc tạm hoãn chỉ định dùng đối với tình trạng sức khỏe không bình thường của cơ thể và những điều đó được ghi rõ trong bản hướng dẫn sử dụng vacxin của các nhà sản xuất
Trang 251.4 Tiêm chủng
1.4.1 Khái niệm
Tiêm chủng là đưa vacxin vào cơ thể thông qua đường tiêm, uống, hít,
rỏ mũi…để kích thích cơ thể sinh ra kháng thể đặc hiệu chống lại mầm bệnh tương ứng khi chúng xâm nhập cơ thể [11],[12], [15]
1.4.2 Lợi ích khi tiêm chủng
Tiêm chủng là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả tốt và ít tốn kém nhất trong các hoạt động y tế [2],[12],[14]
Tiêm chủng phòng bệnh là cần thiết cho mọi đối tượng có nguy cơ nhiễm bệnh mà chưa có miễn dịch, đặc biệt là trẻ em Miễn dịch thụ động nhờ kháng thể do mẹ truyền qua rau thai hoặc qua sữa chỉ tồn tại một thời gian, trung bình khoảng 6 tháng [16], vì vậy trẻ có thể mắc một số bệnh ngay từ những tháng đầu tiên sau khi sinh Nếu trẻ không được tiêm vacxin, trẻ sẽ có nguy
cơ nhiễm bệnh và sẽ có nguy cơ tử vong hoặc tàn phế do bệnh truyền nhiễm gây lên [4]
Tiêm phòng cho từng cá nhân cũng góp phần bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng, đặc biệt cho những người không được miễn dịch, bao gồm trẻ chưa đến tuổi tiêm vacxin, những người không được tiêm chủng do các nguyên nhân khác nhau
1.4.3 Chống chỉ định trong tiêm chủng
Chống chỉ định trong tiêm chủng có hướng dẫn riêng đối với từng
loại vacxin, nhưng nói chung không được tiêm chủng cho các đối tượng sau:
+ Đang bị sốt cao trên 38,5oC, đang nhiễm trùng cấp tính
+ Đang trong tình trạng dị ứng
+ Đang điều trị thuốc làm suy giảm miễn dịch, hoặc đang bị bệnh ác tính
+ Có phản ứng mạnh như sốt cao co giật, sốc hoặc các triệu chúng về thần
kinh khác trong vòng 3 ngày đầu sau mũi tiêm lần trước của vacxin đó
Trang 26Tất cả các vacxin sống giảm độc lực không được tiêm cho phụ nữ đang mang thai hoặc những người thiếu hụt miễn dịch [3],[17]
0,1mg/0,1ml
Tiêm trong da
Mặt ngoài phía trên cánh tay trái- Qui định thống nhất chung của WHO để kiểm tra sẹo cho dễ
DPT, DT 0,5ml Tiêm bắp Với trẻ nhỏ nên tiêm mặt
ngoài giữa đùi
20µg/1ml
Tiêm bắp
Với trẻ nhỏ tiêm mặt ngoài giữa đùi
Trẻ lớn tiêm phần trên cánh tay
Sởi, sởi- Quai
bị- Rubella 0,5ml Tiêm dưới da Phần trên cánh tay trái Uốn ván, Bạch
hầu- Uốn ván 0,5ml Tiêm bắp Mặt ngoài giữa đùi
hoặc tiêm bắp
Trẻ nhỏ: Mặt ngoài đùi Trẻ lớn: Phần trên cánh
tay
Viêm não Nhật
Bản
Trẻ em<5 tuổi: 0,5ml Trẻ>5 tuổi:1ml
Tiêm dưới da Phần trên cánh tay
Viêm màng
não do não mô
cầu
0,5ml Tiêm dưới da
hoặc tiêm bắp Phần trên cánh tay
Thương hàn 0,5ml Tiêm dưới da
hoặc tiêm bắp Phần trên cánh tay
Trang 27Liều lượng, vị trí và đường tiêm khác nhau tùy loại vacxin:
Tiêm bắp đối với các vacxin chứa tá chất
Tiêm dưới da đối với các vacxin sống
Tiêm trong da đối với BCG để tránh tổn thương thần kinh mạch máu nhưng vẫn đảm bảo tính sinh miễn dịch [12],[16]
Trong tiêm chủng cần đảm bảo vô trùng ở mọi khâu:
+ Vacxin phải đảm bảo vô khuẩn: Cần lưu ý khi sản xuất, bảo quản và sử dụng vacxin tránh để vacxin bị nhiễm khuẩn
+ Dụng cụ tiêm chủng vô khuẩn: Sử dụng BKT đảm bảo vô trùng Hiện nay Chương trình TCMR thường sử dụng BKT sử dụng 1 lần hoặc bơm tự khóa Sau khi sử dụng BKT phải được bỏ ngay vào thùng hủy BKT được hủy bằng cách thiêu đốt hoặc chôn sâu dưới đất ít nất 50cm
+ Sự chuẩn bị của nhân viên y tế đúng qui định: bàn tay sạch sẽ, có đủ khẩu trang, mũ, quần áo công tác
+ Xử lý tại vết tiêm sau khi tiêm chủng đúng
+ Địa điểm tiêm chủng phải sạch, xa các nguồn ô nhiễm, đủ ánh sáng, đủ rộng rãi
1.2.5 Quy trình tiêm chủng
7 việc cần làm cho 1 buổi tiêm chủng: Cân đo; khám, phân loại; điều
trị các cháu có bệnh; danh sách; tiêm chủng; giải thích cho các bà mẹ; truyền thông giáo dục sức khỏe
Chuẩn bị: xác định số buổi tiêm; lập danh sách; báo cáo chính quyền,
thông qua báo cáo cho các đối tượng, phiếu hẹn; phân công cán bộ trong buổi tiêm; cử người đi lấy vacxin, chuẩn bị công tác vô trùng; chuẩn bị phòng tiêm, bàn tiêm
Thực hiện buổi tiêm chủng
+ Bố trí phòng tiêm
Trang 28Chú ý: - Trong phòng đợi có các tranh tuyên truyền
- Đặt câu hỏi cho các bà mẹ
- Thông báo phản ứng sau tiêm (có thể) và hướng dẫn cách xử trí
- Ghi vào phiếu tiêm chủng, hẹn lần sau
+ Những công việc sau khi tiêm
-Thống kê: + Số trẻ tiêm từng loại vacxin
+ Số trẻ (đối tượng) không tiêm
- Tiến hành tiêm
- Ghi mẫu theo dõi tiến độ tiêm chủng
- Hủy bỏ vacxin thừa
- Lau rửa lại dụng cụ tiêm chủng và bảo quản
- Lập dự trù cho tháng tới
- Báo cáo lên cấp trên về kết quả tiêm chủng, lượng vacxin đã dùng
- Họp rút kinh nghiệm
- Xử trí các trường hợp tai biến
1.4.6 An toàn trong tiêm chủng
Tiêm chủng không an toàn là tiêm chủng cho người được tiêm, nhân viên y tế và cộng đồng những tác hại khó lường Tổ chức Y tế Thế giới khuyến nghị rằng: Tất cả các mũi tiêm đều phải được đảm bảo an toàn Tiêm chủng là rất cần thiết cho nên đảm bảo an toàn trong tiêm chủng là nhiệm vụ hàng đầu[11]
An toàn mũi tiêm: Thực hành tiêm đảm bảo vô trùng Những thao tác
có thể có hại cho trẻ được tiêm vacxin là: sử dụng lại bơm,hoặc kim tiêm,sử
Trang 29dụng vacxin đông khô pha hồi chỉnh trên 6 giờ, dung tay hoặc vật không vô trùng ấn vào chỗ tiêm khi chảy máu, lưu kim tiêm ở lọ vacxin để lấy vacxin cho những liều sau, trộn lẫn hai lọ dung dở, chạm tay vào kim tiêm, bảo quản thuốc và vacxin trong cùng tủ lạnh…[6]
Sai sót trong thực hành tiêm chủng có thể gây ra cụm phản ứng, có cùng mối liên quan đến tiêm chủng như: cung cấp vacxin, thực hành tiêm tại
cơ sở y tế, nhiễm khuẩn hoặc pha hồi chỉnh không đúng[1],[19]
Mắc các bệnh lây truyền qua đường máu đặc biệt nguy hiểm như viêm gan B,C,D, virus HIV có thể lây truyền từ người mang mầm bệnh sang đối tượng khác do dụng cụ tiêm chủng bị nhiễm bẩn, lây sang cán bộ y tế,lây cho cộng đồng
Có thể nhiễm trùng tại chỗ hoặc nhiễm khuẩn huyết do dụng cụ tiêm không được tiệt khuẩn, vacxin bị nhiễm khuẩn, thao tác không vô khuẩn, xử
Các yếu tố đảm bảo an toàn trong tiêm chủng
Thực hành tiêm chủng an toàn đòi hỏi các cán bộ y tế phải đảm bảo các thao tác an toàn trước, trong và sau khi kết thúc buổi tiêm chủng Bao gồm đảm bảo vacxin được bảo quản ở nhiệt độ từ +2oC đến +8oC trong suốt buổi tiêm chủng, tiêm đúng chỉ định (đúng lịch, đúng tuổi tiêm chủng), đúng đường tiêm và đúng liều lượng [1],[16]
Các vacxin, đặc biệt là vacxin dùng trong chương trình TCMR, sau khi sản xuất đều được cơ quan kiểm định nhà nước kiểm tra chặt chẽ về mặt vô trùng, thuần khiết và không độc Vì vậy các khâu còn lại chủ yếu phụ thuộc các thực hành tiêm chủng Các sai sót trong thực hành tiêm chủng là các sai
Trang 30sót do con người hơn là do bản chất vacxin hoặc do kỹ thuật Có thể phòng tránh bằng cách tập huấn chuyên môn cho cán bộ, cung cấp đầy đủ trang thiết bị để thực hiện tiêm chủng an toàn.[19],[13]
1.4.7 Giám sát phản ứng sau tiêm chủng
Phản ứng sau tiêm chủng là tình trạng bệnh xảy ra sau khi tiêm chủng, được định nghĩa là do tiêm chủng gây ra Các trường hợp này có thể do vacxin hoặc liên quan tới quá trình thực hiện tiêm chủng Bao gồm:
Phản ứng của vacxin
Sai sót trong tiêm chủng
Trùng hợp: phản ứng xảy ra sau tiêm chủng nhưng không phải do vacxin hoặc do sai sót trong tiêm chủng mà do sự trùng hợp ngẫu nhiên
Phản ứng do tiêm
Không xác định được nguyên nhân
Giám sát phản ứng sau tiêm chủng là một bước quan trọng, từ đó đề
ra hành động thích hợp trong vấn đề an toàn tiêm chủng Các vacxin cũng như thuốc, vacxin có thể gây ra những phản ứng bất thường sau tiêm chủng Những phản ứng có thể nhẹ hoặc nghiêm trọng Những trường hợp đó nếu không được xử trí đúng và kíp thời có thể dẫn tới tử vong
Việt Nam đã và đang xây dựng một hệ thống giám sát các trường hợp phản ứng xảy ra sau tiêm chủng từ tuyến xã đến tuyến trung ương Một số trường hợp phản ứng sau tiêm chủng nặng đã được ghi chép và báo cáo
1.5 Đôi nét về Trung tâm Y tế thành phố Việt Trì
Trung tâm Y tế thành phố Việt Trì được thành lập tháng 11/1990 theo quyết định số 2040/ QĐ – UB ngày 02/10/1990 của UBND thành phố Việt Trì trên cơ sở hợp nhất hợp nhất: 2 phòng khám đa khoa khu vực, phòng Y
tế, đội sinh đẻ kế hoạch và đội vệ sinh phòng dịch
Trang 31Tháng 01/2006, Trung tâm Y tế Việt Trì được tách ra và thành lập Trung tâm Y tế dự phòng thành phố Việt Trì theo quyết định số 2110/ QĐ - UBND ngày 08/08/2005 của UBND tỉnh Phú Thọ
Thực hiện quyết định ksoos 4197/QĐ-UBND ngày 30/05/2008 của UBND Tỉnh Phú Thọ về việc đổi tên Trrung tâm Y tế dự phòng huyện, thành thị thành Trung tâm y tế huyện, từ tháng 08/2008 trung tâm Y tế dự phòng thành phố Việt Trì đổi tên thành Trung tâm Y tế thành phố Việt Trì và tiếp nhận, quản lý cơ sở vật chất và nhân lực trạm y tế 23 xã phường trên địa bàn thành phố
Trung tâm Y tế thành phố Việt Trì là đơn vị sự nghiệp trực thuộc sở y
tế chịu sự quản lý toàn diện của SYT Phú Thọ, sự quản lý nhà nước của UBND thành phố Việt Trì, về sự chỉ đạo về chuyên môn, kỹ thuật của Trung tâm Y tế dự phòng các tỉnh và các Trung tâm chuyên ngành tuyến tỉnh
Hiện tại về mô hình tổ chức của Trung tâm Y tế thành phố Việt Trì gồm 2 phòng chức năng, 5 khoa chuyên môn kỹ thuật và 23 trạm y tế xã phường
Nhân lực Trung tâm Y tế thành phố Việt Trì gồm 28 CBCNV làm nhiệm vụ chuyên môn là phòng chống dịch và CSSK ban đầu cho nhân dân
và 112 cán bộ trạm y tế các xã làm công tác CSSK ban đầu, khám chữa bệnh thông thường và cấp cứu cho bệnh nhân tại địa phương
Cơ cấu tổ chức:
+ Ban giám đốc: 1 giám đốc, 2 phó giám đốc
+ 2 Phòng ban: - Phòng chính sách tổng hợp
-Phòng truyền thông giáo dục sức khỏe
+ 5 khoa chuyên môn
- Khoa kiểm soát dịch bệnh – phòng chống HIV/ADS
- Khoa an toàn vệ sinh thực phẩm
- Khoa Y tế công cộng
Trang 32- Khoa chăm sóc sức khỏe sinh sản
- Khoa xét nghiệm
+ 23 trạm y tế phường xã
Trung tâm y tế thành phố Việt Trì là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở y
tế chịu sự quản lý toàn diện của Sở y tế Phú Thọ, sự quản lý Nhà nước của UBND thành phố Việt Trì, chỉ đạo về chuyên, kỹ thuật của Trung tâm y tế
dự phòng tỉnh và các Trung tâm chuyên ngành tuyến tỉnh
Năm 2013, Ban chỉ đạo chăm sóc sức khỏe nhân dân thành phố đã tham mưu cho Thành ủy, HĐND, UBND thành phố ban hành các văn bản chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân Trong năm qua, theo đúng kế hoạch 9/9 phường xã đã đạt chuẩn y tế là : Tân Dân, Tân Đức, Hy Cương, Kim Đức, Thanh Đình, Thụy Vân, Minh Nông, Thanh Miếu và Gia Cẩm Hoạt động khám, chẩn đoán, kê đơn điều trị thực hiện đúng quy định, không để xảy ra sai sót chuyên môn Kết quả đã khám cho trê 85.000 lượt người, trong đó có hơn 20.000 lượt bệnh nhân bảo hiểm
y tế với số tiền chi trả bảo hiểm là gần 274 triệu đồng Cùng với khám chữa bệnh, thì công tác phòng chống dịch bệnh cũng dược chú trọng Thành phố
đã tăng cường giám sát phòng chống cúm H5N1, sởi/rubella, tay chân miệng ; tiến hành kiểm tra, giám sát 23/23 phường xa và các trường mầm non, tiểu học trên địa bàn với 300 lượt kiểm tra, giám sát; thành phố cũng đã
mở 1 lớp tập huấn phòng chống bệnh dại cho 69 cộng tác viên y tế và cán bộ
y tế phường xã Kết quả chương trình tiêm chủng mở rộng cũng cơ bản hoàn thành với: tiêm chủng đầy đủ đạt 97,6%; tiêm viêm gan B đạt 81,9%; tiêm
AT cho phụ nữ có thai đạt 99%
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Trung tâm y tế thành phố Việt Trì
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ 01/2014 – 05/2014
- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm y tế thành phố Việt Trì
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: mô tả hồi cứu
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Hồi cứu lại các tài liệu:
+ Bảng kê khai về cơ cấu nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị của trung tâm y tế thành phố Việt Trì năm 2012
+ Báo cáo tổng hợp vacxin tiêm dịch vụ tại trung tâm y tế Việt Trì năm
2012
+ Báo cáo tổng hợp vacxin tiêm chủng mở rộng tại trung tâm y tế Việt Trì năm 2012
+ Báo cáo kiểm tra trang thiết bị bảo quản vacxin năm 2012
+ Bảng theo dõi nhiệt độ của vacxin tại kho bảo quản năm 2012
2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Phương pháp tỷ trọng: tính tỷ lệ phần trăm các giá trị trên tổng số
2.2.4 Các chỉ số nghiên cứu
- Cơ cấu nhân lực của trung tâm theo:
+ Trình độ chuyên môn: - bác sĩ, dược sĩ (trình độ ĐH và sau ĐH), dược sĩ trung học, cử nhân y tế công cộng và kế toán, y sĩ, nữ hộ sinh, điều dưỡng,
kỹ thuật viên kiểm nghiệm
+ Theo thâm niên công tác tại trung tâm: dưới 5 năm, 5-10 năm, 10-20 năm
và trên 20 năm
Trang 34- Bảo quản vacxin tại trung tâm:
+ Quy trình bảo quản vacxin tại trung tâm
+ Nhiệt độ bảo quản vacxin trung bình tại trung tâm
+ Phân loại các trang thiết bị sử dụng để bảo quản vacxin tại trung tâm theo vai trò của chúng: tại trung tâm và tại các trạm y tế xã, phường
-Phân loại các vacxin được sử dụng tại trung tâm Y tế thành phố Việt Trì năm 2012 theo:
+ Số lượng dự trù và sử dụng của 8 loại vacxin
+ Số lượng dự trù và tiêu thụ vacxin cho trẻ em dưới 1 tuổi
+ Số lượng dự trù và tiêu thụ vacxin cho trẻ em trên 1 tuổi
+ Số lượng dự trù và tiêu thụ vacxin phòng uốn ván cho phụ nữ có thai + Số lượng đăng ký và tiêu thụ vacxin phòng uốn ván cho phụ nữ 15 – 16 tuổi
+ Số lượng dự trù và tiêu thụ vacxin dịch vụ tại trung tâm năm 2012
2.3 Phương pháp trình bày và xử lý số liệu
- Phương pháp lập bảng: lập bảng số liệu gốc và bảng số liệu đã qua xử lý
- Phương pháp vẽ biểu đồ: dùng biểu đồ hình cột, biểu đồ đường thể hiện các chỉ tiêu nghiên cứu
- Trình bày và báo cáo kết quả bằng chương trình Microsoft office