1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích thực trạng hệ thông thương mại và phân phối trên thị trường quốc tể của việt nam về kinh doanh mặt hàng thủ công mỹ nghệ

17 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 113,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, nhóm chúng tôi chọn đề tài: “ Phân tích thực trạng hệ thông thương mại và phân phối trên thị trường quốc tể của Việt Nam về kinh doanh mặt hàng thủ công mỹ nghệ” để đi tìm hiểu th

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Nhìn lại những năm cuối thế kỷ XX, ta thấy Việt Nam đã đạt những thành tựu nổi bật, trong đó không thể không kể đến sự phát triển vượt bậc của hoạt động xuất khẩu Có được những kết quả này là nhờ sự đổi mới về chính sách, chế độ quản lý, đa dạng đa phương hóa hoạt động ngoại thương

Hiện nay, Việt Nam có trên 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đây là những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn, chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Mỗi mặt hàng có đặc tính, điều kiện sản xuất khác nhau Hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam là sản phẩm của những ngành nghề thủ công truyền thống, mang nét văn hóa dân tộc, văn hóa phương đông, những dấu ấn lịch

sử nhất định nên không chỉ là những vật phẩm đáp ứng nhu cầu sử dụng trong cuộc sống hàng ngày mà còn là những văn hóa phẩm phục vụ đời sống tinh thần, đáp ứng nhu cầu thưởng thức tinh hoa văn hóa dân tộc Vì vậy hàng thủ công mỹ nghệ vừa có nhu cầu ngày càng tăng ở trong nước mà còn có nhu cầu ngày càng cao trên thị trường nước ngoài theo sự phát triển giao lưu văn hóa giữa các nước, các dân tộc trên thế giới

Những năm qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả khả quan về sản xuất

và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu mặt hàng này làm cho kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng, chất lượng, mẫu mã, chủng loại hàng hóa đa dạng hơn Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của nước

ta cũng đang còn đứng trước những khó khăn, thách thức Do đó, nhóm chúng tôi

chọn đề tài: “ Phân tích thực trạng hệ thông thương mại và phân phối trên thị trường quốc tể của Việt Nam về kinh doanh mặt hàng thủ công mỹ nghệ” để đi

tìm hiểu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm việc xuất khẩu ngành thủ công mỹ nghệ ngày càng phát triển trên thị trường quốc tế

Trang 2

Kết cấu đề tài như sau:

Chương 1: Thực trạng hệ thống thương mại và phân phối trên thị trường quốc tế của Việt Nam với kinh doanh ngành thủ công mỹ nghệ

2.1 Thực trạng cung ứng hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ cho thị trường quốc

tế

2.2 Tình hình phân phối hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trên thị trường quốc tế

2.3 Vai trò của hệ thống thương mại và phân phối trên thị trường quốc tế

Chương 2: Đề xuất chính sách phát triển phù hợp hệ thống thương mại

và phân phối mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trên thị trường quốc tế

3.1 Nhóm giải pháp của Nhà nước và Bộ Công thương

3.2 Nhóm giải pháp của Doanh nghiệp

Trang 3

CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG THƯƠNG MẠI VÀ PHÂN PHỐI TRÊN THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM VỚI KINH DOANH NGÀNH THỦ CÔNG MỸ NGHỆ

2.1 Thực trạng cung ứng hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ cho thị trường quốc tế.

2.1.1 Các mặt hàng thủ công mỹ nghẹ xuất khẩu của Việt Nam

Sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam là một trong những mặt hàng truyền thống, được xuất khẩu từ khá sớm so với các mặt hàng khác, đóng góp tích cực vào kim ngạch xuất khẩu cả nước, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho lao động nông thôn Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ có mức độ tăng trưởng khá cao trong những năm qua, bình quân khoảng 20%/năm, với kim ngạch xuất khẩu

300 triệu USD trong năm 2004 và đạt hơn 750 triệu USD vào năm 2007, năm 2008 mặc dù bị tác động ít nhiều của suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng kim ngạch xuất khẩu cũng đã đạt gần 1 tỷ USD Dự kiến năm 2010 kim ngạch xuất khẩu 1,5 tỷ USD Sản xuất trên 300 chủng loại hàng với bốn nhóm chính là: mây, tre, cói, lá, thảm; gốm sứ; thêu, ren, dệt; sản phẩm đá và kim loại quý Các mặt thủ công mỹ nghệ xuất khẩu bao gồm:

1) Các sản phẩm từ chất liệu đồng được làm từ các nghệ nhân như:

- Các loại tranh chữ Phúc, Lộc, Thọ khảm đồng, khảm vàng, khảm tam khí (vàng, bạc, đồng)

-Các loại tranh tứ quý, tứ linh, tứ bình, tranh vinh quy bái tổ, được khảm độc đáo trên các chất liệu: vàng, bạc, đồng

- Các loại tranh phong cảnh: tranh phố cổ, tranh đồng quê…

2) Các sản phẩm tranh thêu tay: tranh phong cảnh, tranh tứ quý, tranh ngựa

Mã đáo thành công

Trang 4

3) Các sản phẩm gốm sứ bát Tràng, gốm sứ Phù Lãng, gốm Thổ Hà.

4) Tranh Đông Hồ

5) Các loại tranh gốm treo tường, tranh gốm ốp tường

6) Các sản phẩm từ mây tre đan, cói, guột…

7) Các sản phẩm từ chất liệu thổ cẩm Chăm Pa - Ninh Thuận

8) Các sản phẩm tượng gỗ lũa…

Thủ công mỹ nghệ là mặt hàng được liệt vào danh sách 10 mặt hàng có mức tăng trưởng cao nhất Riêng nhóm hàng công nghiệp và thủ công mỹ nghệ tăng khá mạnh từ 45,9% năm 2006 lên 54,1% năm 2010 So với một số mặt hàng xuất khẩu khác như may mặc, gỗ và giày da thì hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam có lợi thế hơn về mặt nguyên liệu có thể khai thác nhiều từ nguồn trong nước Nên giá trị gia tăng của các ngành này có giá trị gia tăng lớn hơn, mang về cho đất nước lượng ngoại tệ lớn trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu

Tuy nhiên, khả năng ứng dụng và tính thương mại chưa được chú ý vẫn là hạn chế của Việt Nam Thực tế hiện nay, khoảng 90% các sản phẩm thủ công mỹ nghệ xuất khẩu được sản xuất theo mẫu thiết kế của các đối tác nước ngoài đặt hàng chưa có các mẫu thiết kế riêng Vấn đề bản quyền các mẫu sản phẩm chưa được quan tâm nhiều Do đó, có hiện tượng sao chép, ăn cắp mẫu mã giữa các doanh nghiệp Bởi vậy mà tại một triển lãm ở Đức có tới ba doanh nghiệp tham gia cùng trưng bày ba sản phẩm giồng hệt nhau về kiểu dáng và nguyên liệu, tạo cái nhìn không tốt đối với doanh nghiệp Việt Nam Mẫu mã sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam so với các nước khác như Trung Quốc còn chậm cải tiến, thiếu mặt hàng mới, kiểu dáng sản phẩm không theo kịp tập quán và thói quen tiêu dùng của thị trường xuất khẩu Sản phẩm không dự đoán được những biến đổi khí hậu của từng địa phương Các sản phẩm đưa ra xuất khẩu chỉ mang bản sắc văn hóa Việt Nam

mà quên rằng người tiêu dùng nước ngoài cũng muốn những hàng hóa mang bản sắc đất nước họ Sản phẩm thiếu đồng bộ, tính hoàn thiện sản phẩm còn thấp, công

Trang 5

dụng không rõ nét, độ an toàn chưa được chú ý, bao bì không hấp dẫn Đặc biệt là thiếu sản phẩm được thiết kế kiểu dáng sáng tạo từ đơn vị trực tiếp sản xuất, chi phí giá thành sản phẩm vẫn còn cao, làm giảm đi khả năng cạnh tranh của hàng hoá Vì thế, nhiều DN Việt Nam rơi vào tình trạng xuất khẩu các mặt hàng “lệch pha” với nhu cầu của thị trường và “chậm tiến” so với các đối thủ cạnh tranh

2.1.2 Hệ thống cung ứng hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu của Việt Nam

Hiện tại, Việt Nam đang có tới hơn 2.000 làng nghề khác nhau với hơn 1,35 triệu lao động trong ngành thủ công mỹ nghệ và có khoảng 1.120 doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Các cơ sở sản xuất phục vụ cho xuất khẩu cũng chủ yếu là làng nghề, sản xuất theo phương thức thủ công Những năm gần đây, trang thiết bị máy móc cũng đang được áp dụng vào sản xuất các mặt hàng thủ công

mỹ nghệ Như trong các làng nghề thêu ren đã sử dụng máy thêu cho sản xuất, các loại máy dệt thay cho dệt thủ công… Đồng thời, tính chuyên môn hóa trong sản xuất cũng được hình thành và ngày càng được nâng cao Để sản xuất 1 sản phẩm mây tre đan hoàn chỉnh có thể qua rất nhiều công đoạn từ khâu thu mua nguyên vật liệu, làm khung cho sản phẩm, đan, máy vải, nhuôm màu…mỗi khu vực hoặc hộ gia đình có thể chỉ chuyên môn hóa 1 công đoạn Điều này đã nâng cao năng suất lao động trong sản xuất, tiết kiệm chi phí làm tăng thu nhập của người dân

Theo Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, đa số vẫn là các đơn vị vừa và nhỏ, thậm chí rất nhỏ, vốn đầu tư ít, chủ doanh nghiệp còn kém trong việc quản lý nên việc áp dụng khoa học kỹ thuật và quản lý còn nhiều hạn chế quy mô sản xuất manh mún, nhà xưởng sản xuất còn thiếu và máy móc thiết bị phụ trợ sản xuất còn đơn sơ, lạc hậu không đáp ứng được nhu cầu của những đơn hàng lớn, hoặc khi có đơn hàng lớn lại gặp phải thiếu nguyên liệu, thiếu lao động, phải huy động các cơ

sở gia công riêng lẻ, dẫn đến chất lượng hàng hoá không ổn định, hoặc thời gian giao hàng kéo dài không đảm bảo được thời gian hợp đồng IKEA là một hãng phân

Trang 6

phối đồ nội thất hàng đầu thế giới đang có mặt ở Việt Nam hơn một năm nay để thu mua đồ thủ công mỹ nghệ xuất khẩu, nhưng vẫn chưa tìm được các doanh nghiệp sản xuất lớn để làm đầu mối cung cấp lâu dài Đơn đặt hàng của các hãng phân phối quốc tế luôn yêu cầu một khối lượng lớn, trong một thời gian giao hàng nhất định trong khi đa số các sản xuất thủ công Việt Nam vẫn còn nhỏ chủ yếu sản xuất hộ gia đình trong các làng nghề

Các đơn vị sản xuất nhỏ thường thiếu thông tin, sản xuất không tập trung dễ gây lãng phí nguyên vật liệu Sự liên kết giữa các nhà sản xuất và kinh doanh còn hạn chế, thiếu chiến lược cộng tác lâu dài Hợp tác giữa các nhà sản xuất, nhà sản xuất với nhà phân phối chưa được quan tâm, thiếu tin cậy lẫn nhau: tranh mua tranh bán, làm giảm hiệu quả kinh doanh, chưa phát huy được thế mạnh của cộng đồng

Các làng nghề Việt Nam với những công nhân có tính cần cù, bàn tay khéo léo Trong sản xuất phần lớn sử dụng lao động chân tay Qua khảo sát nhóm chúng tôi thấy được nhân công được sử dụng trong sản xuất là rất nhiều từ nông dân trong thời gian rảnh rỗi, trẻ em cho đến các cụ già Người già nhất hiện đã ngót nghét trăm tuổi, còn trẻ nhất là những em bé mới lên 6, lên 7 Thu nhập từ nghề đan cỏ tế bình quân hiện nay là từ 20.000 - 100.000 đồng/người/ngày

Lực lượng lao động thiếu ổn định do thu nhập của ngành thủ công mỹ nghệ còn thấp so với các ngành khác Lao động sau đào tạo nghỉ việc tự lập cơ sở sản xuất hoặc chuyển qua các ngành có thu nhập cao, làm cho đơn vị sản xuất TCMN thường gặp khó khăn về lao động có tay nghề

Lực lượng lao động phần lớn được đào tạo theo phương pháp truyền nghề, chưa có trường lớp đào tạo chính quy

2.1.3Cung cấp nguyên liệu cho sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu:

Sản xuất thủ công mỹ nghệ của Việt Nam có nhiều mặt hàng tận dụng được nguồn nguyên vật liệu rẻ trong nước tạo lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm Đối với

Trang 7

hàng thủ công mỹ nghệ do sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước như tre, nứa, giang… Đặc biệt là các nguồn nguyên vật liệu, được thu lượm từ phế liệu và thứ liệu của nông lâm sản, chẳng những mang lại hiệu quả từ thực thu giá trị ngoại tệ rất cao, có những mặt hàng TCMN hầu như đạt 100% giá trị xuất khẩu, còn lại cũng đạt trên 80% giá trị kim ngạch xuất khẩu Đồng thời xuất khẩu hàng TCMN

đã giúp xã hội thu hồi một bộ phận chất thải nôngnghiệp sau chế biến và thu hoạch,

đã biến phế liệu trở thành những sản phẩm xuất khẩu, góp phần tích cực cho việc bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế đất nước Ví dụ các nguyên vật liệu như rơm, lục bình, cây chuối khô, cọng lá dừa, vỏ dừa khô…

Hiện đã và đang có nhiều dự án trồng và khai thác nguyên liệu được các tổ chức tài trợ triển khai ở cấp tỉnh, nếu như có một sự điều phối lại các dự án này thì việc hình thành các vùng nguyên liệu phục vụ cho ngành thủ công mỹ nghệ rất khả quan

Trước đây, hàng thủ công mỹ nghệ được sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu sẵn có trong nước, tạo lợi thế cạnh tranh lớn cho sản phẩm Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, nguyên liệu nhập khẩu đã lên tới khoảng 60%, làm giảm đáng kể khả năng cạnh tranh của hàng thủ công mỹ nghệ Trên cả nước hiện vẫn chưa có một vùng nguyên liệu ổn định cung cấp cho các nhà sản xuất Nguồn nguyên liệu khai thác ở nhiều nơi chỉ chiếm khoảng 20%, vì thế nhập khẩu nguyên liệu vẫn chiếm tỷ trọng lớn Song việc nhập khẩu ngày càng khó khăn do giá nguyên liệu nhóm trên có xu hướng ngày càng tăng Đơn cử, đối với mặt hàng tre, chỉ trong vòng 2 năm trở lại đây, giá đã tăng từ 10.000 đồng/cây lên trên 20.000 đồng/cây…

Nguyên liệu cho sản xuất thủ công mỹ nghệ ta nhập nhiều từ nước ngoài, khối lượng lớn nhập từ Trung Quốc Lào là thị trường cung cấp gỗ nguyên liệu lớn nhất cho Việt Nam với kim ngạch đạt trên 2 triệu USD trong tuần cuối tháng 3/2009 Kim ngạch nhập khẩu gỗ nguyên liệu tăng mạnh do có một lô gỗ Gỗ xẻ

Trang 8

mạy Dou khối lượng 1/764 m3, giá nhập 800 USD/m3 về cửa khẩu Tây Trang -Điện Biên

Bên cạnh đó, việc xử lý nguyên liệu còn rất thủ công do chưa hình thành được các cơ sở, nhà máy chế biến và xử lý nguyên liệu cung cấp cho ngành thủ công mỹ nghệ gây khó khăn cho việc cung ứng kịp thời và dự trữ nguyên liệu

2.2 Tình hình phân phối hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trên thị trường quốc tế.

2.2.1 Các thị trường trọng điểm:

Thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ngày càng được mở rộng, hiện

có mặt tại 163 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Trong đó, một số thị trường lớn là Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU Tuy nhiên, tỷ trọng của hàng Việt Nam tại các thị trường này còn nhỏ bé, chỉ chiếm khoảng 1,5% kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của Hoa Kỳ, 1,7% của Nhật Bản và 5,4% của EU Bên cạnh đó có thể khai thác thị trường Canađa, Hồng Kông, Trung Đông, Nga và các thành viên mới của EU

Cụ thể:

Những năm gần đây, Hoa Kỳ có nhu cầu nhập khẩu khoảng 13 tỷ USD/năm hàng TCMN.Năm 2006, Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ khoảng 77 triệu USD hàng TCMN, trong đó 36,8% là hàng gốm sứ, tăng 27,6% so với năm

2005 và gấp 7 lần so với năm 2002 Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2010

sẽ nâng tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN vào Hoa Kỳ lên 3% (đạt kim ngạch 0,4 tỷ USD) Trong khi đó, thị trường EU cũng có nhu cầu rất lớn về mặt hàng này.Thị trường EU trong những năm qua đã nhập khẩu khoảng 7 tỷ USD và Việt Nam cũng đã chiếm được 5,4% kim ngạch nhập khẩu trong số đó Bộ Công Thương nhận định, trong tương lai, EU sẽ là thị trường hứa hẹn của hàng TCMN Việt Nam Vì vậy, mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 sẽ nâng tỷ lệ này lên trên 6,4% (đạt kim ngạch trên 600 triệu USD) Theo Bộ Công Thương, ngoài việc phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Tài Chính và các địa phương để

Trang 9

giải quyết về vấn đề nguyên liệu, tài chính, mặt bằng sản xuất kinh doanh thì vấn đề đẩy mạnh xúc tiến XK vào một số thị trường trọng điểm sẽ là khâu đột phá để tăng kim ngạch XK trong thời gian tới Cụ thể như, Hoa Kỳ, mỗi năm NK tới 13 tỉ USD, Việt Nam không chỉ chiếm ở con số 1,5% kim ngạch NK của nước này mà phải là

400 triệu USD vào năm 2010; Thị trường EU, mỗi năm NK khoảng 7 tỉ USD, Việt Nam cũng chỉ chiếm 5,4% trong số kim ngạch đó, đến năm 2010 chúng ta phải XK vào đây 600 triệu USD; Nhật Bản: mỗi năm NK khoảng 2,9 tỉ USD, nhưng Việt Nam chỉ khiêm tốn chiếm 1,7% kim ngạch NK đó, mục tiêu năm 2010 sẽ phải đưa lên trên 4% với kim ngạch khoảng 150 triệu USD

Thị trường Trung Đông là khu vực tiềm năng, mấy năm gần đây các DN cũng đã thực hiện nhiều hoạt động xúc tiến thương mại, nhưng chưa đẩy mạnh XK được Trong thời gian tới, đây vẫn là thị trường ngỏ để các DN tiếp tục thâm nhập

Những năm gần đây người Canada quan tâm nhiều hơn đến mặt hàng TCMN từ đồ trang sức mỹ nghệ thời trang, cho đến các sản phẩm lớn như những bức trướng treo tường, bức điêu khắc gỗ và kim loại, tác phẩm kiến trúc bằng kim loại, đồ gỗ nội thất và vật dụng trang trí dùng cho nhà ở hoặc văn phòng… đặc biệt

là hàng ngoại nhập Trong khi nhu cầu ở Canada ước khoảng từ 750 triệu đô-la tới

1 tỷ đô-la hàng năm Vì vậy đây cũng là một thị trường rất tiềm năng nhưng không

dễ xâm nhập

2.2.2 Cách thức phân phối:

 Các nhà kinh doanh mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam rất bị động trong việc tim kiếm bạn hàng, đối tác thương mại có tới 80% số hợp đồng mà các doanh nghiệp Việt Nam đã ký kết với nước ngoài là do đối tác tự tìm đến với chúng ta Hiện vẫn có hơn 90% hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu thông qua kênh trung gian của một, hai doanh nghiệp khác Do đó, nhiều doanh nghiệp tuy làm ra được hàng đẹp nhưng vẫn bán giá thấp hơn 10%- 15% cho người khác xuất khẩu vì không tìm được thị trường tiêu thụ Rất ít doanh nghiệp bán thẳng các sản phẩm của

Trang 10

mình cho người tiêu dùng ở nước ngoài như: Công ty gốm sứ Minh Long I, Cường Phát Xuất khẩu qua tầng nấc trung gian, doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ thiệt cả đôi đường: Giá bán thấp, khó có thể nắm bắt được nhu cầu của khách hàng, mất thương hiệu Chưa kể, một vòng luẩn quẩn đang đợi sẵn: giá bán thấp hạn chế khả năng của doanh nghiệp trong việc đầu tư mở rộng nhà xưởng, cải tiến máy móc thiết bị, cũng như phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm; chính điều này lại khiến xuất khẩu trực tiếp trở nên khó khăn gấp bội

 Các nhà xuất khẩu Việt Nam cũng sử dụng du lịch như một phương thức để bán lẻ hàng thủ công mỹ nghệ.Với lượng khách du lịch đến Việt Nam khoảng 4 triệu lượt một năm thì đây là một cách khá hiệu quả để giới thiệu các mặt hàng, các làng nghề truyền thống, tuy lượng bán được không nhiều vì chủ yếu khách du lịch chỉ mua số lượng nhỏ làm quà lưu niệm nhưng có thể giúp quảng bá sản phẩm đến rất nhiều nước

Các doanh nghiệp xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam cũng tạo sự kết nối với nhau bằng việc thành lập Hiệp hội hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu Việt Nam ( VietCraft) Hiệp hội thành lập với sự tham gia của trên 200 doanh nghiệp khắp cả nước nhằm bảo vệ, thúc đẩy hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu Việt Nam

Hầu như các nhà sản xuất phân phối hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam không tận dụng được mạng lưới bán lẻ rất phát triển của các thị trường nước ngoài như EU, Nhật Bản, Canada…Ví dụ : Tại Canada phân phối hàng bán lẻ được thông qua một loạt các dạng cửa hàng gồm cửa hàng thủ công độc lập, cửa hiệu bán đồ quà tặng, cửa hàng tổng hợp và cửa hàng chiết khấu, nhỏ hơn là cửa hàng “Một Đô-la”- nơi bán hàng thủ công mỹ nghệ được sản xuất với số lượng lớn.Hay Nhật Bản

có hệ thống bán lẻ rất lớn, đứng hàng đầu trên thế giới, phân làm nhiều loại gồm: hệ thống siêu thị cao cấp, cửa hàng dưới dạng siêu thị nhỏ, siêu thị tổng hợp, trung tâm

Ngày đăng: 21/11/2018, 20:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w