Với nhận thức đó, BIDV xác định “hoạt động ngân hàng bán lẻ nói chung và tín dụng bán lẻ nói riêng là cơ sở để tạo lập một nền khách hàng vững chắc và mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàn
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu, điều tra số liệu và hoàn thành luận văn, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể và cá nhân trong và ngoài trường
Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn TS.Đào Thị Minh Thanh đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi Thăng Long đã nhiệt tình tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc triển khai nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã quan tâm, động viên, đóng góp ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình hoàn thiện đề tài
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng cho bất cứ một học vị nào khác và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 18 tháng 3 năm 2014
Tác giả
Bạch Ngọc Toàn
Trang 2MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các từ viết tắt iv
Danh mục các bảng iv
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍN DỤNG BÁN LẺ TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Một số vấn đề cở bản về Ngân hàng thương mại 5
1.1.2 Tín dụng Ngân hàng 13
1.1.3 Nội dung nghiên cứu hoạt động bán lẻ 17
1.2 Cơ sở thực tiễn 33
1.2.1 Kinh nghiệm về phát triển dịch vụ tín dụng bán lẻ của một số ngân hàng trên thế giới 33
1.2.2 Bài học kinh nghiệm về phát triển dịch vụ tín dụng bán lẻ cho các NHTM ở Việt Nam 38
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH THĂNG LONG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1 Khái quát về ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Thăng Long 40
2.1.1 Ngân TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) 40
2.1.2 Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Thăng Long 42
Trang 32.2 Phương pháp nghiên cứu 47
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu, tài liệu 47
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 47
2.3 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 47
2.3.1 Chỉ tiêu đánh giá quy mô tín dụng bán lẻ 47
2.3.2 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng bán lẻ 47
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
3.1 Thực trạng hoạt động tín dụng bán lẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long 49
3.1.1 Nội dung hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thăng Long 49
3.1.2 Kết quả hoạt động tín dụng bán lẻ của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Thăng Long 54
3.1.3 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong hoạt động tín dụng bán lẻ của chi nhánh Thăng Long 62
3.2 Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Thăng Long 70
3.2.1 Định hướng phát triển tín du ̣ng bán lẻ của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 70
3.2.2 Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Thăng Long 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Kiến nghị……… TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và
Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thăng Long giai đoạn 2010 – 2013 44
Bảng 3.1 Quy mô tín dụng bán lẻ toàn Chi nhánh Thăng Long 56
Bảng 3.2 Tỷ lệ nợ quá hạn tín dụng bán lẻ 58
Bảng 3.3 Tỷ lệ nợ xấu tín dụng bán lẻ 59
Bảng 3.4 Tỷ lệ dư nợ có tài sản đảm bảo (TSĐB) 60
Bảng 3.5 Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro 61
Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu phát triển chính 72
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cho các doanh nghiệp Việt Nam rất nhiều cơ hội phát triển Tuy nhiên, nó cũng đặt ra những thách thức, đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng cải cách để đảm bảo tăng trưởng nhanh và bền vững Trong lĩnh vực ngân hàng, việc Việt Nam cam kết
mở cửa thị trường tài chính trong nước sẽ tạo sức ép ngày càng cao đối với các ngân hàng trong nước Làm thế nào để có đủ sức đứng vững trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt luôn là một câu hỏi lớn đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam Trong bối cảnh hiện nay ngân hàng nào nắm bắt đươ ̣c cơ hô ̣i mở rô ̣ng viê ̣c cung cấp di ̣ch vu ̣ ngân hàng nói chung, trong đó có dịch vụ tín dụng bán lẻ cho mô ̣t số dân hơn 90 triệu người đang “đói” các
di ̣ch vu ̣ tài chính sẽ trở thành những ngân hàng có vị thế và hoạt động với hiệu quả cao Thực tế cho thấy, ngân hàng thương mại nào xây dựng được chiến lược phát triển dịch vụ tín dụng bán lẻ đều mang lại thành công bằng việc chiếm lĩnh được thị trường và nguồn thu cho ngân hàng
Mặc dù tỷ trọng nguồn thu bước đầu không cao nhưng lại là nguồn thu bền vững và có khả năng mang lại sự phát triển lâu dài cho ngân hàng Như vậy, phát triển dịch vụ tín dụng bán lẻ là xu thế tất yếu của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam nói chung, Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói riêng
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (tên viết tắt BIDV) là một trong những ngân hàng thương mại nhà nước hàng đầu tại Việt Nam, có
bề dày hơn 50 năm kinh nghiệm trong việc cho vay phục vụ đầu tư phát triển kinh tế, xã hội đất nước nói chung và từng ngành, từng địa phương và từng tổ chức kinh tế, xã hội và người dân trong phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống
Trang 7Tuy nhiên, hoạt động tín dụng bán lẻ của BIDV còn khá khiêm tốn và chỉ bắt đầu được quan tâm phát triển từ năm 2007, 2008 Với chủ trương phục
vụ đa dạng hoá các khách hàng với mọi loại thành phần kinh tế, mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề, trọng tâm phát triển là phần kinh tế ngoài quốc doanh và cá nhân Với nhận thức đó, BIDV xác định “hoạt động ngân hàng bán lẻ nói chung và tín dụng bán lẻ nói riêng là cơ sở để tạo lập một nền khách hàng vững chắc và mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng và phù hợp với xu hướng phát triển chung của các ngân hàng hiện đại trên thế giới với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế”,
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi Thăng Long (viết tắt BIDV – Chi nhánh Thăng Long) là một trong 108 Chi nhánh trực thuộc BIDV, được thành lập từ rất sớm và có quy mô lớn Hiện tại Chi nhánh cũng đang nỗ lực tập trung tìm mọi giải pháp để mở rộng hoạt động ngân hàng bán lẻ nói chung và hoạt động tín dụng bán lẻ nói riêng nhằm chiếm lĩnh thị trường và nâng cao hiệu quả hoạt động, góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược của BIDV là trở thành NHTMCP hiện đại, có hoạt động ngân hàng bán
lẻ hàng đầu trong nước, ngang tầm với các NHTMCP tiên tiến khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, trong quá trình phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ của Chi nhánh cũng đã bộc lộ ra một số mặt hạn chế Vì vậy, việc nghiên cứu đề
tài “Giải pháp đẩy mạnh hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng thương
mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long” vẫn
là vấn đề có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu tổng quát:
Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thăng Long
* Mục tiêu cụ thể:
Trang 8- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về tín dụng bán lẻ tại ngân hàng thương mại
- Phân tích đánh giá được thực trạng tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Thăng Long để chỉ rõ những tồn tại trong hoạt động tín dụng bán lẻ của Ngân hàng TMCP Đầu tư
và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Thăng Long và nguyên nhân của những tồn tại đó
- Đề xuất được các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tín dụng bán lẻ cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Thăng Long
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương mại
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Phạm vi về nội dung:
+ Hoạt động tín dụng trong ngân hàng bao gồm tín dụng bán buôn và tín
dụng bán lẻ Luận văn chỉ giới ha ̣n nghiên cứu hoạt động tín dụng bán lẻ trong các ngân hàng thương mại
- Phạm vi về mặt không gian : Nghiên cứu tại Ngân hàng TMCP Đầu tư
và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long
- Phạm vi về thời gian : Từ 2010 đến 2013
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về tín dụng bán lẻ trong các NHTM
- Đặc điểm của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long và phương pháp nghiên cứu
- Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng bán lẻ
Trang 9- Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu
tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long
5 Kết cấu của luận văn
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍN DỤNG BÁN LẺ TRONG
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số vấn đề cở bản về Ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Trong lịch sử kinh tế thế giới, những hình thức ngân hàng sơ khai đầu
tiên được cho là đã hình thành từ rất lâu đời Thậm chí từ trước khi con người phát minh ra tiền Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, hoạt động ngân hàng cũng ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp và không ngừng hoàn thiện
Tại Việt Nam, sự xuất hiện, phát triển của hệ thống ngân hàng diễn ra tương đối muộn Năm 1951, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã được thành lập, sau đó đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, vừa thực hiện chức năng ngân hàng trung ương (quản lý nhà nước) vừa thực hiện chức năng ngân hàng thương mại (kinh doanh tiền tệ) Cuối những năm 80 của thế kỷ 20, hệ thống ngân hàng Việt Nam đánh dấu bước phát triển mới với việc ra đời của hàng loạt ngân hàng chuyên doanh thuộc các loại hình sở hữu khác nhau Đặc biệt kể từ khi quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua Luật NHNN, Luật các TCTD thì Ngân hàng nhà nước Việt Nam chỉ còn giữ vai trò là ngân hàng trung ương, quản lý tiền tệ và hoạt động ngân hàng của đất nước
Trong Luật các TCTD do Quốc hội khoá X thông qua ngày 12/12/1997 thì định nghĩa về NHTM được nêu rất rõ Trong đó NHTM là loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan
Theo quy định tại Luật các TCTD 1997, Luật NHNN Việt Nam năm
1997, được sửa đổi, bổ sung năm 2003 quy định: Hoạt động ngân hàng là hoạt
Trang 11động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán
Hiện nay, theo hình thức sở hữu, hệ thống NHTM Việt Nam bao gồm
05 loại:
- NHTM nhà nước: là NHTM do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức hoạt động kinh doanh Thuộc loại hình này gồm các ngân hàng: Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam, Ngân hàng phát triển nhà ĐBSCL, Ngân hàng CSXH Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam
- NHTM Cổ phần: là NHTM được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, gồm các ngân hàng như: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Á Châu, Ngân hàng TMCP Kỹ thương.v.v.…
- Ngân hàng liên doanh: là những ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của bên Việt Nam và bên nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh Gồm các ngân hàng: Indovina Bank Limited, Vietnam – Ruissia Joint Venture Bank, Shinhanvina Bank, Vidpublic Bank, Vinasiam Bank
- Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: Là những ngân hàng được thành lập bởi nước ngoài, gồm Ngân hàng TNHH 1 TV ANZ, Ngân hàng TNHH 1
TV Hongleong Việt Nam, Ngân hàng TNHH 1 TV Standard Charted, Ngân hàng TNHH 1 TV HSBC, Ngân hàng TNHH 1 TV Shinhan
- Các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam: là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước ngoài, được ngân hàng nước ngoài đảm bảo chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh tại Việt Nam
Trang 121.1.1.2 Vai trò của ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, Ngân hàng thương mại có một số vai trò cơ bản sau:
Thứ nhất: NHTM là nơi tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để cung cấp cho các nhu cầu của nền kinh tế
Trong xã hội luôn luôn tồn tại tình trạng thừa và thiếu vốn một cách tạm thời Những cá nhân, tổ chức có tiền nhàn rỗi tạm thời thì muốn bảo quản số tiền một cách an toàn nhất và có hiệu quả nhất Trong khi đó những cá nhân,
tổ chức có nhu cầu về vốn thì muốn vay được những khoản vốn nhằm phục
vụ cho hoạt động kinh doanh của mình Chính vì vậy NHTM là một trung gian tài chính tốt nhất để thực hiện chức năng là cầu nối giữa cung và cầu về vốn Ngân hàng là một địa chỉ tốt nhất mà những người dư thừa về vốn có thể gửi tiền một cách an toan và hiệu quả nhất và ngược lại cũng là một nơi sẵn sang đáp ứng những nhu cầu về vốn của cá nhân và doanh nghiệp
Thứ hai: Hoạt động của các NHTM góp phần tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
NHTM với địa vị là một trung gian tài chính thực hiện chức năng là chiếc cầu nối giữa cung và cầu về vốn trên thi trường tiền tệ đã góp phần thúc đẩy nhanh hoạt động của nền kinh, đem lại thuận lợi cho hoạt động của các cá nhân và tổ chức Những cá nhân và tổ chức đã giảm được khoản chi phí trong việc tìm kiếm các nguồn vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh, và ngoài ra có thể vận dụng các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng để đẩy nhanh hoạt động của mình Việc vay vốn từ ngân hàng của các doanh nghiệp
đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải có phương án sản xuất tối ưu và phải qua
sự kiểm tra, thẩm định kỹ lưỡng của ngân hàng nên hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra
Trang 13Ngược lại những cá nhân và tổ chức dư thừa về vốn có thể yên tâm đem gửi tiền của mình vào ngân hàng vì ngân hàng là một địa chỉ có thế bảo quản tiền vốn một cách an toàn và hiệu quả tốt nhất Khách hàng có thể yên tâm
về sự an toàn và khả năng sinh lời của đồng vốn và cũng có thể rút tiền của mình bất cứ lúc nào muốn Có thể lãi suất mà ngân hàng trả cho khách hàng thấp hơn do với việc đầu tu vốn vào những lĩnh vực như: mua cổ phiếu, đầu
tư vào kinh doanh… nhưng việc gửi tiền vào ngân hàng là có hệ số an toàn cao nhất Thêm vào đó những dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng như: chuyển tiền, thanh toán hộ, các dịch vụ tư vấn… sẽ tạo thêm thuận lợi cho khách hàng trong hoạt động kinh doanh của mình
Tất cả các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp giúp tăng cường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung
Thư ba: NHTM thông qua những hoạt động của mình góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu chính sách tiền tệ của quốc gia như: Ổn định giá cả,
kiềm chế lạm phát, tạo công ăn việc làm cao; Ổn định lãi suất, ổn định thị trường tài chính, thị trường ngoại hối; Ổn định và tăng trưởng kinh tế Các NHTM có thể thay đổi lượng tiền trong lưu thông bằng việc thay đổi lãi suất tín dụng hoặc bằng các nghiệp vụ trên thi trường mở qua đó góp phần chống lạm phát và ổn định sức mua của đồng nội tệ
Thứ tư: NHTM bằng hoạt động của mình đã thực hiện việc phân bổ vốn giữa các vùng qua đó tạo điều kiện cho việc phát triển kinh kế đồng điều giữa các vùng khác nhau trong một quốc gia
Thực tế cho thấy, các vùng kinh tế khác nhau thì có sự phát triển khác nhau Hiện tượng thừa vốn hoặc thiếu vốn một cách tạm thới giữa các vùng diễn ra thường xuyên Do đó vấn đề đặt ra là làm sao thực hiện tốt nhất hiệu quả huy động của vốn và chính hoạt động chuyển vốn trong nội bộ ngân hàng
đã thực hiện tốt vấn đề này
Trang 14Thứ năm: NHTM là cầu nối giữa nền kinh tế các nước và thế giới, tạo điều kiện cho việc hòa nhập của nền kinh tế trong nước với nền kinh tế trong khu vực và nền kinh tế thế giới
Với xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế trong khu vực và nền kinh tế thế giới cúng với chính sách mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới thì hoạt động của các NHTM được mở rộng và thúc đẩy cho việc mở rộng hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp trong nước Với hoạt động rộng khắp của mình, các ngân hàng có khả năng được nguồn vốn từ các cá nhân và các tổ chức nước ngoài góp phần đảm bảo được nguồn vốn cho nền kinh tế trong nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước có thể mở rộng hoạt động của họ ra nước ngoài một cách dễ dàng hơn, hiệu quả hơn nhờ hoạt động thanh toán, bảo lãnh Chính từ sự mở rộng các quan hệ quốc tế mà nền kinh tế trong nước có sự thâm nhập vào thi trường quốc tế và tăng trưởng khả năng cạnh tranh với các nước khác trên thế giới
1.1.1.3 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
* Hoạt động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của NHTM, nó cung cấp nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác như đầu tư, cho vay và các dịch vụ ngân hàng,…
Việc huy động vốn của NHTM được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu như:
- Nhận tiền gửi: Ngân hàng được nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân
và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác
Trang 15- Phát hành giấy tờ có giá: NHTM được phát hành chứng chỉ tiền gửi,
trái phiếu, và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài
- Vay vốn các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ
chức tín dụng nước ngoài
- Vay vốn của Ngân hàng nhà nước: NHTM được vay vốn ngắn hạn của NHNN Việt Nam dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định tại Điều 30 của Luật NHNN Việt Nam
- Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của pháp luật Như vay vốn của nước ngoài, các định chế tài chính lớn trên thế giới, huy động thông qua việc làm trung gian giải ngân cho các dự án trong nước của Ngân hàng nước ngoài…
* Hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng là việc NHTM sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cho khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác
Cho vay: cho vay là việc NHTM giao cho khách hàng một khoản tiền
để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc
có hoàn trả cả gốc và lãi Hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng và thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động cấp tín dụng của một NHTM
Bảo lãnh: bảo lãnh là cam kết bằng văn bản của NHTM với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã được trả thay Các loại bảo lãnh như: Bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh hoàn trả tiền tạm ứng, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh vay vốn,…
Trang 16Cầm cố giấy tờ có giá (GTCG): Là việc NHTM cho chủ sở hữu GTCG vay một khoản tiền nhất định dựa trên bảo đảm bằng GTCG đó Trong trường hợp chủ sở hữu các giấy tờ đó không thực hiện đầy đủ những cam kết trong hợp đồng tín dụng, NHTM được thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp phát sinh đối với GTCG đó
Chiết khấu: là việc ngân hàng trả cho người chủ sở hữu GTCG một khoản tiền nhất định và người chủ sở hữu GTCG phải chuyển giao ngay mọi quyền, lợi ích hợp pháp phát sinh từ các giấy tờ đó cho ngân hàng
Cho thuê tài chính: Là hoạt động tín dụng trung, dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên
cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê là các Công ty cho thuê tài chính
và bên cho thuê là khách hàng Để thực hiện hoạt động này, NHTM phải thành lập công ty cho thuê tài chính
* Hoạt động thanh toán và dịch vụ ngân quỹ
Để thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, NHTM được mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của NHTM bao gồm các hoạt động sau:
- Cung cấp các phương tiện thanh toán
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước
- Thực hiện dịch vụ thu hộ, chi hộ
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định
- Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế
- Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt
- Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước
- Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế
Trang 17* Các hoạt động khác
- Góp vốn và mua cổ phần: NHTM được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác trong nước theo quy định của pháp luật Ngoài ra, NHTM còn được góp vốn, mua cổ phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài để thành lập ngân hàng liên doanh
- Kinh doanh ngoại hối: NHTM được phép trực tiếp kinh doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế
- Uỷ thác và nhận uỷ thác: NHTM được uỷ thác, nhận uỷ thác, làm đại
lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng uỷ thác, đại lý
- Cung ứng dịch vụ bảo hiểm: NHTM được cung ứng dịch vụ bảo hiểm, được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật
- Tư vấn tài chính: NHTM được cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty
tư vấn trực thuộc ngân hàng
- Bảo quản vật quý giá: NHTM được thực hiện các dịch vụ bảo quản vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm cố và các dịch vụ khác có liên quan theo quy định của pháp luật
- Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật
Trang 181.1.2 Tín dụng Ngân hàng
1.1.2.1 Khái niệm tín dụng Ngân hàng
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ La tinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm) Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau
Theo quan điểm của Mác: Tín dụng là sự vay mượn một lượng giá trị
giữa nguòi sở hữu và người sử dụng để sau một thời gian người sở hữu (ngưòi cho vay) sẽ thu về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu
Trên cơ sở thừa kế những kết quả nghiên cứu trước đó, các nhà kinh
tế học sau Mác đã đi sâu luận giải và đưa ra khái niệm tín dụng hoàn
chỉnh hơn Khái niệm tín dụng được nhiều người thừa nhận là: Tín dụng
là giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (Ngân hàng
và các tổ chức tài chính khác) và bên vay Trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận Bên đi vay phải có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
Từ các khái niệm trên, ta có thể rút ra khái niệm tín dụng ngân hàng
như sau: Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản giữa ngân hàng
và khách hàng (bên đi vay) trong đó ngân hàng chuyển giao một số tiền nhất định cho khách hàng sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, khách hàng có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn
Theo quan điểm này, phạm trù tín dụng có 3 nội dung chủ yếu là: tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả Như vậy, tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay thông qua sự vận động của giá trị, vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hàng hóa Quá trình đó được thể hiện qua 3 giai đoạn sau:
Trang 19Thứ nhất, phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay Ở giai đoạn này,
giá trị vốn tín dụng được chuyển sang người đi vay, ở đây chỉ có một bên nhận được giá trị và cũng chỉ một bên nhượng đi giá trị
Thứ hai, sử dụng vốn trong quá trình tái sản xuất Người đi vay sau khi
nhận được giá trị vốn tín dụng, họ được quyền sử dụng giá trị đó để thỏa mãn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của mình Tuy nhiên, người đi vay chỉ được quyền sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định mà không được quyền
sở hữu về giá trị đó
Thứ ba, đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng Sau
khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kì sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả lại cho người cho vay
Bản chất tín dụng
Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hoá, là hình thức vận động của vốn cho vay Tín dụng phản ánh quan hệ kinh tế giữa chủ thể sở hữu và các chủ thể sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế theo nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn cả vốn gốc lẫn lãi Bản chất tín dụng biểu hiện ở quá trình vận động của tín dụng trong nền kinh tế thị trường thể hiện thông qua các giai
đoạn sau:
Giai đoạn cho vay: vốn tiền tệ được chuyển từ người cho vay sang người đi vay Khi đó giá trị sử dụng vốn tín dụng được chuyển sang người đi vay
Giai đoạn sử dụng vốn tín dụng trong quá trình sản xuất, người đi vay được quyền sử dụng giá trị của vốn tín dụng vốn vay được sử dụng trực tiếp
để mua hàng hoá (nếu vay bằng tiền) hoặc được sử dụng trực tiếp (nếu vay bằng hàng hoá) để thoả mãn nhu cầu sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của người đi vay Song người đi vay không có quyền sở hữu giá trị của vốn vay
mà chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định theo thoả thuận giữa người cho vay và người đi vay
Trang 20 Giai đoạn: hoàn trả tín dụng - kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng Vốn tín dụng sau khi đưa vào sản xuất trở về hình thái tiền tệ - vốn, được người đi vay trả lại cho người vay gồm phân gốc và lãi Như vậy vốn đưa vào hoạt động tín dụng đã sinh lợi cho người sở hữu nó Quá trình này về thực chất theo C Mác khi phân tích nền kinh tế TBCN đã chỉ rõ: "Tiền chẳng qua chỉ rời khỏi tay người sở hữu trong một thời gian và chẳng qua chỉ tạm thời chuyển từ tay người sở hữu sang tay nhà tư bản hoạt động, cho nên tiền không phải bỏ ra để thanh toán hay không phải tự ta bán đi để cho vay Tiền chỉ đem nhượng lại với một điều kiện là nó sẽ quay về điểm xuất phát sau một
kỳ hạn nhất định" Rõ ràng rằng ở đây sự hoàn trả tín dụng là sự quay trở về của giá trị Đó là sự vận động của một lượng giá trị Sự hoàn trả theo đúng nghĩa của nó luôn được bảo toàn về mặt giá trị và cộng với phần tăng thêm Như vậy "Đem tiền cho vay với tư cách là một vật có đặc điểm là sẽ quay trở
về điểm xuất phát của nó mà vẫn giữ nguyên vẹn giá trị của nó, đồng thời lớn thêm trong quá trình vận động"
+ Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng
+ Tín dụng dài hạn: có thời hạn trên 60 tháng
- Căn cứ vào mục đích của tín dụng, có thể phân chia thành:
+ Cho vay phục vụ SXKD
+ Cho vay tiêu dùng
- Căn cứ vào khách hàng và quy mô tín dụng, có thể phân chia thành:
Trang 21+ Tín dụng bán buôn: là những khoản tín dụng có giá trị lớn của các khách hàng doanh nghiệp, tổ chức
+ Tín dụng bán lẻ: là những khoản tín dụng có giá trị nhỏ của các khách hàng cá nhân
1.1.2.3 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của các Ngân hàng Thương
mại, đó là hoạt động kinh doanh tiền tệ với mục đích sinh lời Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh tiền tệ qua tín dụng ngân hàng có đặc điểm khác với các hoạt động kinh doanh khác Đó là:
- Tín dụng là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin
Ở đây người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay có hiệu quả sau một thời gian nhất định và do đó có khả năng trả được nợ
- Sản phẩm trao đổi trong quan hệ tín dụng ngân hàng là quyền sử dụng tiền
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy ngân hàng khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả nợi đầy đủ và đúng hạn Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng, là lý do mà ngân hàng phải thực hiện phân tích kỹ lưỡng trước khi quyết định cho vay
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, thực chất là lệnh phiếu, trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán
Trang 221.1.3 Nội dung nghiên cứu hoạt động bán lẻ
1.1.3.1 Khái niệm tín dụng bán lẻ
Tín dụng bán lẻ là hình thức tín dụng được NHTM sử dụng để cho vay
với các khách hàng là cá nhân (cá nhân người Việt Nam và cá nhân người nước ngoài), hộ gia đình nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình và các nhu cầu tiêu dùng khác
Sự phát triển của xã hội khiến cho nhu cầu nâng cao cuộc sống của dân
cư tăng, thúc đẩy sự gia tăng nhu cầu cho loại sản phẩm tín dụng bán lẻ Dịch
vụ tín dụng bán lẻ được chia thành 02 loại hình dịch vụ: cho vay có tài sản
đảm bảo và cho vay không có tài sản đảm bảo
- Cho vay có tài sản đảm bảo: bao gồm cho vay tiêu dùng và cho vay
kinh doanh
Cho vay tiêu dùng: Được hiểu là hình thức cho vay phục vụ mục đích
chi tiêu của cá nhân và hộ gia đình Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch,
y tế… trước khi họ có đủ khả năng về tài chính để hưởng thụ Do đó, cho vay tiêu dùng có những đặc điểm mang tính khác biệt sau:
(1) Mục đích vay nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình, không phải xuất phát từ mục đích kinh doanh, do đó phụ thuộc vào nhu cầu, tính cách của từng đối tượng khách hàng và chu kỳ kinh tế của người đi vay
(2) Khách hàng tiêu dùng thường ít quan tâm đến lãi suất mà thường quan tâm đến khoản tiền họ phải thanh toán Do quy mô khoản vay thường nhỏ (trừ trường hợp vay để mua bất động sản), dẫn đến chi phí để cho vay cao, do vậy lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất cho vay thương mại
Trang 23(3) Nguồn trả nợ của khách hàng thường trích chủ yếu từ thu nhập của
họ mà không nhất thiết phải là từ kết quả của việc sử dụng khoản vay
(4) Việc làm, mức thu nhập ổn định và có trình độ học vấn của khách hàng là những tiêu chí quan trọng để ngân hàng thương mại quyết định có cho vay không và hạn mức tín dụng
Để cho các khoản cho vay tiêu dùng đảm bảo an toàn và hiệu quả, các ngân hàng khi quyết định cho vay cần phải quan tâm đến nhiều vấn đề khác nhau, như tài sản đảm bảo, khả năng trả nợ của khách hàng, các điều kiện khác của khách hàng có phù hợp với cơ chế, chính sách và luật pháp của tín dụng ngân hàng hay không
+ Cho vay kinh doanh: Đây là hình thức ngân hàng cho các hộ sản
xuất, cá nhân có nhu cầu vay vốn để kinh doanh nhỏ kiếm sống khi họ có nhu cầu về vốn đầu tư Các gói cho vay này thường có giá trị không cao
- Cho vay không có tài sản đảm bảo: Trong hoạt động này ngân hàng
cho vay mà không cần có tài sản đảm bảo hoặc bên thứ ba bảo lãnh Cơ sở để ngân hàng cho vay được dựa trên uy tín của người đi vay Ngoài ra, số tiền cho vay thường căn cứ trên thu nhập của khách hàng các hình thức cho vay không có tài sản đảm bảo thường là: cho vay tiêu dùng, thấu chi, thẻ tín dụng…
Tuỳ theo mục đích sử dụng vốn khác nhau có thể phân chia các sản phẩm tín dụng bán lẻ thành các sản phẩm cụ thể Trong hoạt động của các NHTM ở Việt Nam có một số sản phẩm tín dụng bán lẻ phổ biến sau:
- Sản phẩm tín dụng bán lẻ cho vay hỗ trợ nhu cầu nhà ở
- Sản phẩm tín dụng bán lẻ cho vay mua ô tô
- Sản phẩm tín dụng bán lẻ cho vay đảm bảo bằng tiền lương
- Sản phầm tín dụng bán lẻ cho vay thấu chi tài khoản tiền gửi
- Sản phẩm tín dụng bán lẻ cầm cố, chiết khấu GTCG
Trang 24- Sản phẩm tín dụng bán lẻ cho vay đáp ứng nhu cầu vốn cho SXKD
- Sản phẩm tín dụng bán lẻ thông qua nghiệp vụ phát hành thẻ tín dụng
1.1.3.2 Vai trò của tín dụng bán lẻ
Đối với các NHTM, hoạt động tín dụng là một trong các hoạt động quan trọng nhất, thường chiếm tỷ trọng lớn và đem lại nguồn thu chính cho ngân hàng Trong hoạt động tín dụng của NHTM, hoạt động tín dụng bán lẻ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn và trở thành một trong những mảng kinh doanh quan trọng của ngân hàng Theo tạp chí Stephen Timewell(2008) nhận định:
“Xu hướng ngày nay, ngân hàng nào nắm bắt được cơ hội mở rộng việc cung cấp dịch vụ ngân hàng bán lẻ cho một số lượng khổng lồ dân cư đang “đói” các dịch vụ tài chính tại các nước có nền kinh tế mới nổi, sẽ trở thành những
gã khổng lồ toàn cầu trong tương lai”
Vai trò của tín dụng bán lẻ được thể hiện cụ thể trên các mặt:
- Đối với khách hàng: Thông qua tín dụng bán lẻ có thể đáp ứng đầy
đủ, kịp thời nhu cầu vốn của khách hàng, thoả mãn nhu cầu tiêu dùng, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, đem lại nguồn lợi cho cá nhân và hộ gia đình từ đó góp phần nâng cao thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống
- Đối với ngân hàng: tín dụng bán lẻ là một trong những sản phẩm quan trọng của NHTM, đa dạng hoá danh mục sản phẩm của ngân hàng Đồng thời đây cũng là hoạt động đem lại nguồn lợi nhuận đáng kể cho ngân hàng bởi tín dụng bán lẻ thường có lãi suất cao hơn tín dụng bán buôn, góp phần giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng
- Đối với nền kinh tế: tín dụng bán lẻ góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển thông qua thúc đẩy kinh tế tư nhân, cá thể, bên cạnh đó, tín dụng bán lẻ còn góp phần quan trọng vào kích thích tiêu dùng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ và kích thích tăng trưởng kinh tế
Trang 251.1.3.2 Đặc điểm của tín dụng bán lẻ:
Tín dụng bán lẻ là một trong những hoạt động của tín dụng ngân hàng nói chung và ngân hàng bán lẻ nói riêng So với các hình thức tín dụng khác, tín dụng bán lẻ có đặc điểm chủ yếu sau:
- Số lượng khách hàng lớn, nhu cầu đa dạng
Do đối tượng phục vụ của tín dụng bán lẻ là các cá nhân, hộ gia đình, nên số lượng rất lớn, bao gồm nhiều thành phần trong xã hội với nhu cầu tương đối phong phú, đa dạng Ngân hàng cũng phải tìm hiểu khách hàng là
ai, họ sống ở đâu (thành thị hay nông thôn, vùng kinh tế - xã hội phát triển hay chưa phát triển) để đưa ra những sản phẩm và chính sách chăm sóc khách hàng phù hợp nhất Đối với các khách hàng là cá nhân, do độ tuổi, trình độ và hành vi tiêu dùng đa dạng nên nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cũng khác nhau Các khách hàng có trình độ, am hiểu về lĩnh vực tiền tệ ngân hàng thường có nhu cầu cao về những dịch vụ ngân hàng hiện đại, tiện ích Đồng thời họ cũng quan tâm tới chính sách chăm sóc khách hàng của ngân hàng và luôn nhạy cảm với lãi suất và các dịch vụ đi kèm của ngân hàng Do vậy, trong hoạt động tín dụng bán lẻ, việc phân đoạn thị trường khách hàng là vấn đề hết sức quan tâm của các ngân hàng trong quá trình thiết kế sản phẩm, tiếp thị và phát triển sản phẩm của mình
- Số lượng giao dịch lớn nhưng giá trị từng khoản giao dịch nhỏ
Vì tín dụng bán lẻ cung cấp dịch vụ trực tiếp tới từng cá nhân, hộ gia đình, nên giá trị những khoản giao dịch nhỏ hơn bán buôn, đồng thời, phạm vi khách hàng rộng, đa dạng nên số lượng các giao dịch lớn Đối với tín dụng bán lẻ, do quy mô khoản vay nhỏ dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao Tương ứng với việc lãi suất cho vay sẽ ở mức cao hơn nhiều so với lãi suất của các loại vay trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh
Trang 26- Nhu cầu khách hàng mang tính thời điểm
Nhu cầu của con người là vô hạn, tuy nhiên không phải lúc nào nhu cầu
về một mặt hàng cũng xuất hiện với tần suất cao và liên tục Ở mỗi giai đoạn nhất định con người lại có những mong muốn, nhu cầu khác nhau và mức độ thỏa mãn cũng khác nhau, đòi hỏi phải có các sản phẩm phong phú đa dạng, phù hợp với từng giai đoạn, từng điều kiện nhất định Yếu tố thời điểm đóng vai trò quan trọng trong việc làm xuất hiện nhu cầu của khách hàng Do vậy, muốn mở rộng quy mô của giao dịch thì ngoài việc đa dạng về chủng loại sản phẩm, ngân hàng cũng cần đưa ra nhiều hình thức khuyến mãi cũng như nhiều tiện ích đi kèm để thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng của khách hàng
- Mức độ cạnh tranh cao
Bán lẻ là thị trường cạnh tranh khốc liệt với đa dạng nhóm khách hàng,
đa dạng sản phẩm và kênh phân phối Sản phẩm mới xuất hiện liên tục, công nghệ không ngừng được cải tiến đòi hỏi ngân hàng phải thường xuyên đổi mới, áp dụng những thành tựu công nghệ mới nhất Mỗi ngân hàng đều phải thành lập bộ phận chuyên trách riêng để nghiên cứu chiến lược, cập nhật thông tin cũng như nghiên cứu và phát triển các sản phẩm ứng dụng công nghệ ngân hàng
1.1.3.3 Quy định chung của NHNN về tín dụng bán lẻ
- Nguyên tắc cho vay
Việc vay vốn là nhu cầu tự nguyện của khách hàng đồng thời là cơ hội
để ngân hàng cấp tín dụng và thu lợi từ hoạt động của mình Tuy nhiên, việc cấp tín dụng liên quan đến việc sử dụng nguồn vốn huy động của khách hàng
Do đó, việc vay vốn phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
Thứ nhất: Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng:
Trang 27Trước khi quyết định cho vay, ngân hàng phải thẩm định kỹ mục đích vay của khách hàng vay, đảm bảo không trái với quy định của pháp luật Đồng thời ngân hàng cần kiểm tra việc sử dụng vốn vay có đúng mục đích hay không Điều này là rất quan trọng vì nó liên quan tới khả năng thu hồi vốn vay sau này
Thứ hai: Hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng:
Nguyên tắc này xuất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của nguồn vốn
mà NHTM sử dụng để cho vay Đa số nguồn vốn mà NHTM sử dụng để cho vay là vốn huy động từ khách hàng gửi tiền, sau một thời gian nhất định, ngân hàng có trách nhiệm hoàn trả lại cả gốc và lãi cho khách hàng Do đó, việc cấp tín dụng phải đảm bảo thu được nợ gốc và lãi đúng hạn để ngân hàng thực hiện hoàn trả cho người gửi tiền
- Điều kiện cho vay
NHTM chỉ xem xét và quyết định cho khách hàng vay khi thoả mãn những điều kiện sau:
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật
- Có mục đích vay vốn hợp pháp
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết
- Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả
- Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của chính phủ và hướng dẫn của NHNN Việt Nam
- Thời hạn cho vay
Căn cứ vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn, tình hình tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho
Trang 28vay của NHTM, ngân hàng xác định thời hạn cho vay phù hợp, có thể là cho vay ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn
- Lãi suất cho vay
Lãi suất cho vay là lãi suất được áp dụng để tính lãi tiền vay mà người
đi vay phải trả cho NHTM
Mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với quy định của NHNN
- Mức cho vay
Ngân hàng căn cứ vào nhu cầu vay vốn và khả năng hoàn trả nợ của khách hàng, khả năng nguồn vốn của ngân hàng để quyết định mức cho vay phù hợp Tuy nhiên giới hạn dư nợ cho vay đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng
- Những trường hợp không cho vay
Nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay, nhà nước quy định ngân hàng không được cho vay trong những trường hợp sau:
(1) Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc) của ngân hàng
(2) Cán bộ, nhân viên của chính ngân hàng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định, quyết định cho vay
(3) Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc) của ngân hàng
- Quy trình tín dụng bán lẻ
Quy trình tín dụng bán lẻ về cơ bản cũng giống như quy trình tín dụng thông thường Tuy nhiên, do đặc trưng của tín dụng bán lẻ là đáp ứng nhu cầu của đối tượng khách hàng cá nhân, hộ gia đình, khoản vay thường có giá trị nhỏ,
Trang 29tính chất đơn giản, nên quy trình áp dụng đối với tín dụng bán lẻ thường tương đối đơn giản, gọn nhẹ Các bước trong quy trình tín dụng bán lẻ bao gồm:
a, Tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hang:
b, Thẩm định khoản vay và quyết định cho vay:
c, Ký kết hợp đồng tín dụng, thực hiện các thủ tục liên quan và giải ngân:
d, Kiểm tra, theo dõi sử dụng vốn vay:
e, Thu hồi nợ, thanh lý hợp đồng tín dụng:
1.1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường tín dụng bán lẻ
1 Các nhân tố khách quan
a, Các yếu tố về kinh tế:
Khi nền kinh tế tăng trưởng và phát triển bền vững, thu nhập bình quân đầu người cao, chất lượng cuộc sống được cải thiện sẽ tạo cơ hội cho hoạt động tín dụng bán lẻ phát triển cả về quy mô và chất lượng của tín dụng bán lẻ
Khi nền kinh tế tăng trưởng, phát triển bền vững sẽ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của các cá nhân, hộ gia đình phát triển, từ đó phát sinh nhu cầu vốn để mở rộng quy mô sản xuất Khi hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển sẽ tạo điều kiện cho các họ gia đình và dân cư tăng thu nhập
Thu nhập dân cư là nhân tố quan trọng quyết định nhu cầu về sản phẩm dịch vụ Ngân hàng Khi thu nhập bình quân đầu người tăng người dân có sẽ nhiều nhu cầu tiêu dùng hơn Nhu cầu cuộc sống con người ttrong điều kiện kinh tế - xã hội phát triển họ không chỉ cần được ăn no, mặc ấm mà còn phải được ăn ngon, mặc đẹp và cần có nhiều nhu cầu tiêu dùng khác, như mua nhà, sửa chữa nhà cửa và mua sắm các tiện nghi sinh hoạt cao cấp và hiện đại, đi
du lịch nghỉ dưỡng để chăm sóc sức khỏe bản thân
Trang 30Ngược lại, khi nền kinh tế đang trong giai đoạn suy thoái, nhiều doanh nghiệp phá sản làm thất nghiệp gia tăng, thu nhập của người dân giảm sút sẽ hạn chế việc vay tiền cho mục đích tiêu dùng
Bên cạnh đó, sự phát triển của nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế và mở cửa sẽ xoá bỏ dần các rào cản xâm nhập vào thị trường cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng Các ngân hàng nước ngoài, các công ty bảo hiểm trong và ngoài nước, các công ty tài chính bưu điện.v.v sẽ thu hút nhiều khách hàng cung cấp các sản phẩm ngân hàng bán lẻ nói chung và tín dụng bán lẻ nói riêng Điều đó sẽ làm cho việc mở rộng hoạt động tín dụng bán lẻ của các ngân hàng trong nước trở nên khó khăn hơn
b Các yếu tố nhân chủng học
Khách hàng của hoạt động tín dụng bán lẻ là các cá nhân, do đó các yếu
tố về dân số như: Trình độ dân trí, Nhận thức của khách hàng về các dịch vụ Ngân hàng, cơ cấu dân số, thói quen tiêu dùng và cơ cấu chi tiêu của dân cư, thói quen thanh toán.v.v đều có tác động đến hoạt động tín dụng bán lẻ
- Trình độ dân trí mà đặc biệt là khả năng tiếp cận với các thành tựu công nghệ mới, nhận thức về lĩnh vực Ngân hàng tài chính có ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng Các sản phẩm Ngân hàng ngày nay đều hàm chứa khối lượng công nghệ cao, đòi hỏi khách hàng
cá nhân phải hiểu biết nhất định thì mới sử dụng được như hệ thống máy rút tiền tự động (ATM), các dịch vụ Ngân hàng trực tuyến, home banking,…
- Nhận thức của khách hàng về các dịch vụ Ngân hàng sẽ phần nào quyết định việc tiêu dùng sản phẩm dịch vụ Ngân hàng của họ Nếu một cá nhân thiếu kiến thức về dịch vụ Ngân hàng thì họ sẽ cảm thấy thiếu tự tin khi lựa chọn, hạn chế việc sử dụng các dịch vụ của Ngân hàng Nếu khách hàng
Trang 31có hiểu biết, có trình độ thì họ sẽ tự tin sử dụng và đòi hỏi sử dụng các sản phẩm dịch vụ ngày càng hiện đại và tiện ích hơn
- Độ tuổi của người dân cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến việc tiêu dùng và sử dụng các sản phẩm tín dụng tiêu dùng Nếu dân số trong độ tuổi lao động càng cao thì nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng càng lớn, đó là
cơ hội để các ngân hàng mở rộng hoạt động cung cấp tín dụng bán lẻ
Ngoài ra các yếu tố như thói quen, giới tính…của khách hàng cũng là nhân tố ảnh hưởng hoạt động tín dụng bán lẻ của Ngân hàng
c Yếu tố về chính trị, pháp luật
Bao gồm hệ thống luật pháp và các văn bản quy phạm pháp luật sẽ tạo khung pháp lý và môi trường hoạt động SXKD lành mạnh, thuận tiện cho cả ngân hàng và khách hàng Đặc biệt là đối với lĩnh vực tín dụng là là lĩnh vực tương đối nhạy cảm, có liên quan đến nhiều lĩnh vưc đòi hỏi phải có hệ thống luật pháp đồng bộ có liên quan đến hoạt động ngân hàng nói chung và tín dụng nói riêng Nếu không có hệ thống luật pháp đồng bộ thì hoạt động tín dụng sẽ gặp rất nhiều rủi ro, nhất là khi khách hàng vay tiền không muốn hoặc không có khả năng trả nợ cho ngân hàng Hiện nay, nhiều ngân hàng tỷ
lệ nợ xấu cao và có xu hướng gia tăng có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ phía luật pháp thiếu đồng bộ và có nhiều kẻ hở để cả cán bộ ngân hàng và khách hàng lợi dụng dẫn đến ruỉ ro tín dụng
Tại các nước phát triển, do họ có hệ thống luật pháp đồng bộ và đủ mạnh nên có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho các Ngân hàng trong việc quản lý khách hàng Mỗi khách hàng cá nhân được quản lý bằng một số hiệu theo dõi riêng Số hiệu này sẽ được theo dõi để sử dụng suốt cả cuộc đời Nếu một khách hàng không trả nợ cho Ngân hàng, thông tin này sẽ được lưu lại ghi nhận theo số hiệu của người đó Người này sẽ không được lĩnh trợ cấp xã hội, không thể vay tiền từ một Ngân hàng nào khác…
Trang 32d, Mức độ cạnh tranh trong hoạt động tín dụng bán lẻ
Cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính Ngân hàng ngày càng gay gắt, đặc biệt
là trong hoạt động tín dụng bán lẻ Hiện nay trên thị trường bán lẻ không chỉ
có các ngân hàng của Việt Nam tham gia mà còn xuất hiện các ngân hàng liên doanh và ngân hàng nước ngoài với số lượng ngày một gia tăng Điều này gây áp lực lớn cho các Ngân hàng muốn mở rộng bán lẻ Trong điều kiện cạnh tranh như vậy nếu ngân hàng nào có uy tín tốt, có sản phẩm đa dạng, có chất lượng phục vụ tốt…sẽ là lựa chọn của số đông khách hàng cá nhân
e, Các nhân tố khách quan khác:
Các nhân tố khách quan khác như sự ổn định chính trị, thiên tai, dịch bệnh,…cũng có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến khả năng tài chính, khả năng trả nợ, nhu cầu của khách hàng,… Đồng thời tác động đến khả năng mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng ngân hàng ngân hàng nói chung và tín dụng bán lẻ nói riêng
2 Các nhân tố chủ quan
a, Chính sách tín dụng, quy trình tín dụng:
Ngân hàng có quy trình tín dụng chặt chẽ và các chính sách tín dụng hợp lý sẽ sàng lọc được các khách hàng tốt, kiểm soát được chất lượng khoản vay, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng bán lẻ Bên cạnh đó với quy trình xử lý hồ sơ khách hàng thuận tiện, đơn giản sẽ tạo được uy tín và lòng tin của khách hàng, giúp ngân hàng có thể mở rộng quy mô và kiểm soát được chất lượng tín dụng bán lẻ
b, Thông tin tín dụng:
Là tất cả các thông tin liên quan đến khách hàng và khoản vay của khách hàng như tình hình tài chính, các tài sản đảm bảo, tình trạng nhân thân,… của khách hàng là vô cùng cần thiết đối với ngân hàng để có thể phân
Trang 33tích, dự báo chính xác về khách hàng, về khoản vay để có thể đưa ra những quyết định kịp thời và đúng đắn
c, Công tác tổ chức ngân hàng, kiểm tra, kiểm soát nội bộ:
Bộ máy ngân hàng được tổ chức hợp lý sẽ là cơ sở cho việc thực hiện quy trình tín dụng được thuận tiện và dễ dàng Bên cạnh đó, hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ được thực hiện tốt sẽ góp phần kiểm soát tốt chất lượng tín dụng
d, Chất lượng nhân sự:
Các quyết định được đưa ra đều dựa trên sự phân tích, phán đoán của các cán bộ ngân hàng Do đó, nếu chất lượng nhân sự không tốt sẽ dẫn tới chất lượng của hoạt động tín dụng không tốt Đặc biệt vấn đề đạo đức của cán
bộ ngân hàng hiện nay đang là vấn đề nóng, được các ngân hàng đặc biệt quan tâm Bên cạnh đó, trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, các ngân hàng muốn chiếm lĩnh thị trường, phát triển hoạt động của mình phải có đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, không chỉ về mặt chuyên môn mà cả
về khả năng giao tiếp, kỹ năng bán hàng, tạo lập và phát triển các mối quan hệ
xã hội
1.1.3.6 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động tín dụng bán lẻ
* Các chỉ tiêu đánh giá quy mô tín dụng bán lẻ
Trang 34Thể hiện cơ cấu tín dụng bán lẻ trong tổng số dư nợ tín dụng của ngân hàng Đối với các ngân hàng, hoạt động tín dụng bán lẻ là hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận, rủi ro thấp so với các hoạt động tín dụng khác Do đó, tỷ lệ này càng cao thể hiện dư nợ tín dụng bán lẻ chiếm tỷ trọng càng lớn trong hoạt động ngân hàng
- Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng bán lẻ:
Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín
(Dư nợ tín dụng bán lẻ kỳ này – Dư
nợ tín dụng bán lẻ kỳ trước) x 100%
Dư nợ tín dụng bán lẻ kỳ trước
- Doanh số cho vay tín dụng bán lẻ trong năm
= (Dư nợ tín dụng bán lẻ cuối kỳ + Doanh số thu nợ trong kỳ)-
hoạt động tín dụng bán lẻ càng phát triển
2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng tín dụng bán lẻ
Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng phù hợp với
sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của ngân hàng
Trang 35- Đối với sự phát triển kinh tế, xã hội: thông qua tín dụng để thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hoá, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
Như vậy có thể thấy chất lượng tín dụng là phạm trù tương đối rộng, và
để đánh giá chất lượng tín dụng phải xác định thông qua rất nhiều yếu tố cũng như căn cứ vào từng góc độ mà người ta có các chỉ tiêu, các cách đánh giá khác nhau Để đánh giá chất lượng tín dụng bán lẻ có thể sử dụng một số chỉ tiêu chủ yếu sau:
Tỷ lệ NQH càng nhỏ thể hiện chất lượng tín dụng bán lẻ càng cao và ngược lại
- Tỷ lệ nợ xấu (NPL):
Tỷ lệ nợ xấu = Tổng dư nợ xấu tín dụng bán lẻ
Tổng dư nợ tín dụng bán lẻ Căn cứ vào khoản vay và khách hàng vay, ngân hàng phân chia nhóm
nợ của khách hàng thành 5 loại:
+ Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): là các khoản nợ được ngân hàng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn
Trang 36+ Nhóm 2 (Nợ cần chú ý): là các khoản nợ được ngân hàng đánh giá là
có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ
+ Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): là các khoản nợ được ngân hàng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được ngân hàng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi
+ Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): là các khoản nợ được ngân hàng đánh giá là khả năng tổn thất cao
+ Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): là các khoản nợ được tổ ngân hàng ánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước Việt nam thì nợ xấu bao gồm các khoản nợ được xếp loại từ nhóm 3 trở xuống Có thể thấy các khoản nợ từ nhóm 3 trở xuống thường là các khoản nợ được đánh giá có nhiều rủi ro và khả năng tổn thất, mất vốn Vì vậy, đây là những khoản nợ cần được ngân hàng đặc biệt quan tâm, đôn đốc,
xử lý, tích cực thu hồi nợ, tránh thiệt hại cho ngân hàng
Tỷ lệ nợ xấu càng thấp thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng càng cao và ngược lại
Trang 37nợ xấu cao hay thấp Tỷ lệ nợ xấu càng thấp thì chất lượng tín dụng càng tốt
và ngược lại
- Chỉ tiêu quay vòng vốn tín dụng:
Chỉ tiêu quay vòng vốn tín dụng = Doanh số thu nợ tín dụng bán lẻ
Dư nợ bình quân tín dụng bán lẻ Chỉ tiêu này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng ngắn hạn (thường là 1 năm) Hệ số này cao phản ánh tình hình tổ chức quản lý vốn tín dụng tốt, chất lượng tín dụng cao
- Tỷ lệ dư nợ tín dụng bán lẻ có tài sản đảm bảo (TSĐB):
Tỷ lệ dư nợ tín dụng bán lẻ có TSĐB =
Tổng dư nợ tín dụng bán lẻ
có TSĐB Tổng dư nợ tín dụng bán lẻ Chỉ tiêu này thể hiện tỷ lệ các khoản vay có TSĐB Khi cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng thường có điều kiện về tài sản đảm bảo, tức là khoản vay phải được đảm bảo bằng giá trị của một số tài sản nhất định Tỷ lệ này càng cao càng thể hiện an toàn trong hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng càng cao
- Cơ cấu dư nợ các khoản vay ngắn – dài hạn trong tương quan cơ cấu nguồn vốn của TCTD, dư nợ cho vay các lĩnh vực rủi ro tại thời điểm đó (Cổ phiếu, bất động sản,…)
+ Tỷ lệ dư nợ tín dụng bán lẻ ngắn hạn = Tổng dư nợ tín dụng bán lẻ ngắn hạn/Tổng dư nợ tín dụng bán lẻ
+ Tỷ lệ dư nợ tín dụng bán lẻ trung - dài hạn = Tổng dư nợ tín dụng bán
lẻ trung - dài hạn/Tổng dư nợ tín dụng bán lẻ
+ Tỷ lệ dư nợ tín dụng bán lẻ cho vay bất động sản
+ Tỷ lệ dư nợ tín dụng bán lẻ cho vay kinh doanh chứng khoán
Trang 38- Mức độ hài lòng, thoả mãn của khách hàng: điều này thường được các ngân hàng tổ chức đánh giá thông qua việc phỏng vấn, khảo sát ý kiến đánh giá của khách hàng,…
- Ngân hàng Standard Chartered - Singapore
Các ngân hàng ở Singapore từng bước xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ nói chung và tín dụng bán lẻ nói riêng Một trong những ngân hàng thành công về kinh doanh dịch vụ tín dụng bán lẻ tại Singapore là ngân hàng Standard Chartered Các ngân hàng ở Singapore đã khai thác sự phát triển của công nghệ trong việc triển khai dịch vụ bán lẻ tại các ngân hàng Theo thống kê đến nay có hơn 60% giao dịch của ngân hàng
Trang 39được thực hiện qua các kênh tự động Những bài học kinh nghiệm trong việc kinh doanh dịch vụ bán lẻ tại các ngân hàng, đó là:
- Hệ thống CN rộng lớn đã tạo điều kiện cho việc quản lý vốn hiệu quả, giúp cho các ngân hàng thành lập nên những quỹ tiền tệ cung cấp cho khách hàng, điều này làm tăng thị phần của các ngân hàng ở Singapore
- Những sáng kiến quản lý tiền tệ đã cung cấp các dịch vụ giúp khách hàng quản lý tốt tài chính của họ
- Thành lập mạng lưới kênh phân phối dịch vụ tự động như: máy nhận tiền gửi, Internet Banking, Phone Banking, Home Banking, để phục vụ cho khách hàng Việc sử dụng các kênh tự động đã mang lại hiệu quả và tiện ích cho khách hàng
- Ngân hàng Citibank với kinh nghiệm hoạt động tại Australia
Citibank N.A là công ty trực thuộc Citicorp được thành lập vào năm
1812 tại United States, với 3.400 CN, có trụ sở trên 100 nước, và hơn 160.000 nhân viên trên toàn thế giới Năm 1977, Citibank bắt đầu hoạt động tại Australia, trở thành một trong những ngân hàng quốc tế dẫn đầu tại Australia Citibank thành công do khả năng tận dụng mạng lưới rộng khắp toàn cầu và những kinh nghiệm chuyên môn quốc tế
Các sản phẩm được thiết kế trên nguyên tắc hướng đến khách hàng, sáng tạo, và khác biệt so các sản phẩm cùng loại Citibank’s Mortgage Power đã áp dụng hình thức vay tín dụng tuần hoàn đầu tiên của Australia giúp cho khách hàng có thể tăng lợi nhuận, hay Business Power cung cấp khả năng linh hoạt cho phép kết nối tài chính cá nhân và tài chính kinh doanh cho những nhà quản lý kinh doanh nhỏ và tư nhân Citibank’s Global Consumer Bank cung cấp cho khách hàng một hệ thống các dịch vụ ngân hàng cá nhân hoàn thiện, gồm có thế chấp tài chính cá nhân, khoản vay cá nhân, thẻ tín dụng, tài khoản gửi và đầu tư
Trang 40Hệ thống kênh phân phối đa dạng, rộng khắp, dễ tiếp cận với 7 chi nhánh, 4.700 điểm ATM và 2.700 điểm thanh toán bưu điện, dịch vụ ngân hàng qua telephone được thực hiện 24/7 Phần lớn khách hàng của Citibank
sử dụng hình thức giao dịch từ xa
Bên cạnh đó, nhân viên được tuyển dụng và đào tạo bài bản, am hiểu về sản phẩm và kỹ năng bán hàng, đảm bảo rằng cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất
Citibank rất quan tâm công tác quảng cáo và hậu mãi Các khách hàng có thể thực hiện các cuộc giao dịch ngân hàng trực tuyến, là một trong những trang web phong phú và thân thiện với người sử dụng Các chương trình tiếp thị trực tiếp với rất nhiều sản phẩm sáng tạo, cung cấp cho các khách hàng những chuyến du lịch, trò giải trí đặc biệt, và hàng loạt các sản phẩm và dịch
vụ độc đáo khác
Các ngân hàng ở Trung Quốc
Trung Quốc có một môi trường kinh doanh khá thuận lợi Tốc độ tăng trưởng bình quân cao nhất thế giới, đang giữ kỷ lục thế giới về số năm tăng trưởng liên tục (28 năm) Số dân Trung Quốc đã lên đến hơn 1,3 tỷ người, thu nhập bình quân đầu người là 6.193 USD (2012), đời sống người dân ngày càng khá hơn tạo điều kiện thuận lợi cho dịch vụ ngân hàng bán lẻ nói chung
và tín dụng bán lẻ nói riêng phát triển
Đối tượng chính mà các ngân hàng Trung Quốc nhắm tới là khách hàng
cá nhân, đặc biệt là những người trong độ tuổi từ 18 - 45 với thu nhập một năm là 2.000 USD Trong những năm gần đây, việc cho vay cầm cố thế chấp
đã trở thành hình thức phổ biến nhất trong cho vay tiêu dùng, chiếm 75% trong tổng doanh số cho vay tiêu dùng
Về công nghệ thì hiện nay Trung Quốc sử dụng công nghệ kết nối mạng theo kiểu ngôi sao, bộ chuyển mạch nằm ở mọi điểm Nếu một điểm bị trục