Sản phẩm từ cây đậu tương được sử dụng rất đa dạng như dùng trực tiếp hạt thô hoặc chế biến thành đậu phụ, ép thànhdầu đậu nành,nước tương, làm bánh kẹo,sữa đậu nành,okara… đáp ứng nhu c
Trang 1Đậu tương va khoai va lac lua mi
Trang 2Mục lục
1.1 Phân loại 1
1.2 Khả năng cố định đạm 1
1.3 Diện tích trồng đậu tương 2
1.4 Đậu tương chuyển gen 2
1.5 ành phần hoá học trong hạt đậu 2
1.6 Xem thêm 2
1.7 Chú thích 2
1.8 am khảo 2
1.9 Liên kết ngoài 2
2 Khoai 4 2.1 am khảo 4
3 Lạc 5 3.1 Lịch sử 5
3.2 Sản xuất 5
3.3 Hình ảnh 5
3.4 am khảo 5
4 Lúa mì 6 4.1 Lịch sử 6
4.2 Di truyền 7
4.3 Giống cây trồng 7
4.4 Vỏ bao và tự do khi đập 7
4.5 Tên gọi 7
4.5.1 Các loài lúa mì chính được gieo trồng 8
4.6 Kinh tế 8
4.7 Sản xuất và tiêu thụ 8
4.8 Nông học 9
4.8.1 Dịch bệnh 9
4.8.2 Động vật gây hại 9
4.9 Lương thực-thực phẩm 9
i
Trang 3ii MỤC LỤC
4.9.1 Dinh dưỡng 10
4.9.2 Sức khỏe 10
4.10 Xem thêm 10
4.11 Ghi chú 10
4.12 am khảo 11
4.13 Liên kết ngoài 12
5 Dâu tây vườn 13 5.1 Sử dụng 13
5.2 Xu hướng sản xuất 13
5.3 Dinh dưỡng 13
5.4 Hóa học 14
5.5 Hình ảnh 14
5.6 Chú thích 14
5.7 am khảo 15
5.8 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 16
5.8.1 Văn bản 16
5.8.2 Hình ảnh 16
5.8.3 Giấy phép nội dung 19
Trang 4Chương 1
Đậu tương
Đậu tương hay đỗ tương, đậu nành (tên khoa học
Glycine max) là loại câyhọ Đậu(Fabaceae), là loài bản
địa của Đông Á Loài này giàu hàm lượngchất đạm
protein, được trồng để làm thức ăn cho ngườivà gia
súc
Cây đậu tương là cây thực phẩm có hiệu quả kinh tế lại
dễ trồng Sản phẩm từ cây đậu tương được sử dụng rất
đa dạng như dùng trực tiếp hạt thô hoặc chế biến thành
đậu phụ, ép thànhdầu đậu nành,nước tương, làm bánh
kẹo,sữa đậu nành,okara… đáp ứng nhu cầu đạm trong
khẩu phần ăn hàng ngày của người cũng như gia súc.[3]
Ngoài ra, trong cây đậu tương còn có tác dụng cải
tạo đất, tăng năng suất các cây trồng khác Điều này
có được là hoạt động cố định N2 của loài vi khuẩn
Rhizobiumcộng sinh trên rễ cây họ Đậu
1.1 Phân loại
ChiGlycinetừng đượcCarl Linnaeusđưa ra năm 1737
trong ấn bản đầu tiên của quyểnGenera Plantarum.Từ
glycine có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp - glykys (ngọt) và
có thể đề cập đến chất ngọt của củ ăn được sản xuất ở
Bắc Mỹ có dạng cây đậu thân leo, Glycine apios, nay là
Apios americana Đậu tương được trồng được xuất hiện
đầu tiên trong quyểnSpecies Plantarumcủa Linnaeus,
với tên gọiPhaseolus max L Việc kết hợp Glycine max
(L.) Merr., theo đề nghị của Merrill năm 1917, đã trở
thành tên gọi chính thức được công nhận của loài này
Chi Glycine Willd được chia thành 2 phân chi Glycine
và Soja Phân chi Soja (Moench) F.J Herm bao gồm cây
đậu tương được trồng trọt Glycine max (L.) Merr., và
cây đậu dạiGlycine sojaSieb & Zucc Cả hai loài đều là
các loài cây hàng năm Glycine soja là tổ tiên hoang dại
của Glycine max, và chúng mọc hoang ở Trung ốc,
Nhật Bản, Hàn ốc, Đài Loan, và Nga.[4] Phân chi
Glycine bao gồm ít nhất 25 loài cây dại lâu năm, ví
dụ nhưGlycine canescens F.J Herm vàG tomentella
Hayata, cả hai được tìm thấy ở Úc và Papua New
Guinea.[5][6]
Cũng giống như các loài cây trồng khác có thời gian
thuần hóa lâu dài, mối quan hệ giữa các loài đậu tương
hiện đại và các loài mọc hoang có thể không còn dấu
Hạt của rất nhiều giống đậu tương phục vụ cho các mục đích khác nhau.
vết ở bất kỳ mức độ chắc chắn nào
1.2 Khả năng cố định đạm
Nhiều loài trong họ đậu (alfalfa, đậu côve,pea, bean,lentil, đậu tương, đậu phộng và các loài khác) chứacác vi khuẩncộng sinhcó tên làRhizobia, chúng nằm
trong các nốt sần của bộ rễ Các vi khuẩn này có mộtkhả năng đặc biệt làcố định nitơtừ khí quyển thànhammoniac(NH3).[7]Phản ứng hóa học là:
N2+ 8 H++ 8 e−→ 2 NH3+ H21
Trang 52 CHƯƠNG 1 ĐẬU TƯƠNG
Ammoniac sau đó được chuyển hóa thành một dạng
khác,ammonium(NH4+), có thể được một số thực vật
hấp thụ theo phản ứng sau:
NH3+ H+→ NH4+
1.3 Diện tích trồng đậu tương
ê hương của đậu tương là Đông Namchâu Á, nhưng
45% diện tích trồng đậu tương và 55% sản lượng đậu
tương của thế giới nằm ởMỹ Nước Mỹ sản xuất 75
triệu tấn đậu tương năm 2000, trong đó hơn một phần
ba được xuất khẩu Các nước sản xuất đậu tương lớn
khác làBrasil,Argentina,Trung ốcvàẤn Độ Phần
lớn sản lượng đậu tương của Mỹ hoặc để nuôi gia súc,
hoặc để xuất khẩu, mặc dù tiêu thụ đậu tương ở người
trên đất nước này đang tăng lên Dầu đậu tương chiếm
tới 80% lượngdầu ănđược tiêu thụ ở Mỹ
1.4 Đậu tương chuyển gen
Đậu tương là một trong số các cây lương thực đã có
nhiều giống được cải biến di truyền (GMO) nhằm tăng
năng suất Hiện nay, khoảng 80% lượng đậu tương
được trồng phục vụ thương mại đều là GMO Công
ty Monsanto là công ty hàng đầu thế giới hiện nay
trong sản xuất cây chuyển gen nói chung và đậu tương
chuyển gen nói riêng
1.5 Thành phần hoá học trong hạt
đậu
Trong hạt đậu tương có các thành phần hoá học sau
Protein (40%), lipid (12-25%), glucid (10-15%); có các
muối khoángCa, Fe, Mg, P,K,Na,S; các vitaminA,
B1, B2, D, E, F; các enzyme, sáp, nhựa,cellulose
Trong đậu tương có đủ các acid amin cơ bảnisoleucin,
leucin, lysin, metionin, phenylalanin, tryptophan,
valin Ngoài ra, đậu tương được coi là một nguồn cung
cấp protein hoàn chỉnh vì chứa một lượng đáng kể các
amino acid không thay thếcần thiết cho cơ thể
Các thực phẩm làm từ đậu tương được xem là một loại
“thịt không xương” vì chứa tỷ lệ đạm thực vật dồi dào,
có thể thay thế cho nguồn đạm từ thịt động vật ậm
chí, lượng đạm (protein) trong 100 gr đậu tương có thể
tương đương với lượng đạm trong 800 gr thịt bò
Tại các quốc gia như Nhật Bản, Trung ốc, 60% lượng
đạm tiêu thụ hằng ngày là do đậu tương cung cấp Hàm
lượng chất đạm chứa trong đậu tương cao hơn nhiều so
với lượng chất đạm chứa trong các loại đậu khác
[3] Riaz, Mian N (2006) Soy Applications in Food Boca
Raton, FL:CRC Press.ISBN 0-8493-2981-7.[4] Singh, Ram J.; Nelson, Randall L.; Chung, Gyuhwa(ngày 2 tháng 11 năm 2006) Genetic Resources, Chromosome Engineering, and Crop Improvement: Oilseed Crops, Volume 4 London: Taylor & Francis tr
15.ISBN 978-0-8493-3639-3.[5] Hymowitz, eodore (ngày 9 tháng 8 năm 1995)
“Evaluation of Wild Perennial Glycine Species andCrosses For Resistance to Phakopsora” Trong Sinclair,
J.B.; Hartman, G.L Proceedings of the Soybean Rust
Workshop Urbana, IL: National Soybean Research
Laboratory tr 33–37
[6] Newell, C A.; Hymowitz, T (tháng 3 năm 1983)
“Hybridization in the Genus Glycine Subgenus Glycine
Willd (Leguminosae, Papilionoideae)” American
Journal of Botany (Botanical Society of America) 70 (3):
334–348.JSTOR 2443241.doi:10.2307/2443241.[7] Jim Deacon.“e Nitrogen cycle and Nitrogen fixation”.Institute of Cell and Molecular Biology, e University
• Dữ liệu liên quan tớiGlycine maxtạiWikispecies
• Phương tiện liên quan tới Glycine max tạiWikimedia Commons
• “Glycine max (L.) Merr.” Germplasm Resources Information Network (GRIN) online database.
14/1/2006
• Đậu tươngtại trangTrung tâm ông tin Côngnghệ sinh học quốc gia Hoa Kỳ(NCBI)
Trang 7Chương 2
Khoai
Dioscorea sp
Yam output in 2005
Khoai là tên gọi để chỉ những loài thực vật trong chi
Dioscorea(họDioscoreaceae) mà củ của chúng có thể
ăn được Chúng là các loài cây thân thảo, lâu năm,dây leo được trồng trọt để lấy củ ởchâu Phi,châu Á,
Mỹ Latinh, Caribe vàchâu Đại Dương Có rất nhiềuloại khoai được trồng trọt Mặc dùkhoai lang(Ipomoea batatas) cũng là một loại khoai nhưng nó không thuộc
họ Dioscoreaceae mà thuộchọ Bìm bìm
2.1 Tham khảo
[1] FAOSTAT Countries by Commodity
4
Trang 8Chương 3
Lạc
Lạc (tên khác: Đậu phộng, đậu phụng;danh pháp khoa
học: Arais hypogaea), là một loài cây thực phẩm
thuộchọ Đậucó nguồn gốc tạiTrungvàNam Mỹ Nó
là loài cây thân thảo hàng năm tăng có thể cao từ 30–
50 cm Lá mọc đối, kép hình lông chim với bốnlá chét,
kích thước lá chét dài 1–7 cm và rộng 1–3 cm Hoa dạng
hoa đậu điển hình màu vàng có điểm gân đỏ, cuống hoa
dài 2–4 cm Sau khi thụ phấn, quả phát triển thành một
dạng quả đậu dài 3–7 cm, chứa 1-4 hạt (ánh), và quả (củ)
thường giấu xuống đất để phát triển Trong danh pháp
khoa học của loài cây này thì phần tên chỉ tính chất
loài có hypogaea nghĩa là “dưới đất” để chỉ đặc điểm
quả được giấu dưới đất Trong cách gọi tên tiếng Việt,
từ “lạc” có nguồn từchữ Hán“lạc hoa sinh” ( ) mà
có người cho rằngngười Hánđã phiên âm từ “Arachis”
Ruộng Đậu phộng ở Phú Hữu, An Phú, An Giang.
Hạt lạc (ánh lạc) là loại thực phẩm rất giàu năng lượng
vì có chứa nhiều lipit
3.1 Lịch sử
Loài cây này được khai hoang đầu tiên bởi cư dân vùng
sông Paraguay và Parama ở vùng Chaco của Paraguay
và Bolivia
3.2 Sản xuất 3.3 Hình ảnh
Trang 9Chương 4
Lúa mì
Lúa mì
Lúa mì
Lúa mì hay lúa miến, tiểu mạ, tên khoa học:
Triticum spp.[1]là cây lương thực, thuộc một nhóm các
loàicỏđã thuần dưỡng từ khu vựcLevantvà được gieo
trồng rộng khắp thế giới Về tổng thể, lúa mì là thực
phẩm quan trọng cho loài người, sản lượng của nó chỉ
đứng saungôvà lúa gạotrong số các loài câylương
thực[2].Hạtlúa mì là một loại lương thực chung được
sử dụng để làmbột mìtrong sản xuất các loạibánh mì;
mì sợi, bánh, kẹo v.v[3]cũng như được lên men để sản
xuấtbia[4] rượu[5] haynhiên liệu sinh học[6] Lúa mì
cũng được gieo trồng ở quy mô hạn hẹp làm cỏ khô
chogia súcvàrơmcũng có thể dùng làm cỏ khô cho
gia súc hay vật liệu xây dựng để lợp mái[7][8]
4.1 Lịch sử
Lúa mì có nguồn gốc từTây Nam Átrong khu vực đượcbiết dưới tên gọiLưỡi liềm Màu mỡ(khu vực TrungĐôngngày nay) Các mối quan hệ di truyền giữalúa
mì einkornvàlúa mì emmerchỉ ra rằng khu vực thuầndưỡng lúa mì rất có thể là nằm gầnDiyarbakırởổNhĩ Kỳ[9] Các loại lúa mì hoang dại này đã được thuầndưỡng như là một phần củanguồn gốc nông nghiệptại khu vực Lưỡi liềm Màu mỡ này Việc trồng trọt vàthu hoạch cũng như gieo hạt lặp đi lặp lại các loại cỏhoang dại này đã dẫn tới sựthuần dưỡnglúa mì thôngqua chọn lọc và các dạng đột biến với tai thóc dai, cònnguyên vẹn khi thu hoạch, hạt lớn, và xu hướng cácbông con còn nằm lại trên thân cây cho đến khi thuhoạch[10] Do mất đi cơ chế phát tán hạt nên lúa mì đãthuần dưỡng chỉ còn khả năng hạn chế trong việc nhângiống một cách hoang dã.[11]
Việc trồng trọt lúa mì đã bắt đầu lan rộng ra ngoài khuvực Lưỡi liềm Màu mỡ trongthời đại đồ đá mới Vàokhoảng năm 3000 TCN, lúa mì đã xuất hiện tạiEthiopia,
Ấn Độ,IrelandvàTây Ban Nha Khoảng 1 thiên niên
kỷ sau nó tớiTrung ốc[11] Khoảng năm 1000 TCNviệc trồng trọt nông nghiệp với sử dụng sức ngựa, trâu,
bò cày bừa đã làm gia tăng sản lượng lúa mì, giống nhưviệc sử dụng cácmáy gieo hạtthay thế cho việc gieohạt bằng cách rải hạt trong thế kỷ 18 Sản lượng lúa
mì tiếp tục tăng lên, do các vùng đất mới được đưa vàokhai thác, cũng như do kỹ thuật canh tác của nghề nôngtiếp tục được cải tiến với việc sử dụng các loạiphân bón,máy gặt, máy đập lúa (máy gặt đập), các loạimáy càyđất,máy xới đất,máy trồng câydùng sức kéo củamáykéo, công tác thủy lợi và phòng trừ sâu bệnh dịch hạihoàn thiện hơn cũng như việc tạo ra các giống mới tốthơn (xem thêmCách mạng xanhvàLúa mì Norin 10).Với tỷ lệ gia tăng dân số trong khu vực sử dụng lúa mìnhư là loại lương thực chính đang suy giảm, trong khinăng suất vẫn tiếp tục tăng, nên diện tích gieo trồnglúa mì hiện tại đã bắt đầu xu hướng giảm và nó là lầnđầu tiên diễn ra xu hướng này tronglịch sử loài ngườihiện đại[12] Vào năm 2007, sản lượng lúa mì đã giảmtới mức thấp nhất kể từ năm 1981, và năm 2006 là lầnđầu tiên lượng tiêu thụ lúa mì trên toàn thế giới nhiềuhơn là sản lượng – một khoảng trống sẽ được tiếp tục6
Trang 104.4 VỎ BAO VÀ TỰ DO KHI ĐẬP 7
dãn rộng do nhu cầu tiêu dùng lúa mì hiện nay đã tăng
nhanh hơn mức tăng của sản xuất
4.2 Di truyền
Di truyền của lúa mì là phức tạp hơn so với phần lớn
các loài thực vật đã thuần dưỡng khác Một số loài lúa
mì là dạnglưỡng bội, với 2 bộ nhiễm sắc thể, nhưng
nhiều loài là các dạngđa bộiổn định, với 4 hay 6 bộ
nhiễm sắc thể (tứ bộihaylục bội).[13]
• Lúa mì Einkorn (Triticum monococcum) là dạng
lưỡng bội.[1]
• Phần lớn các loài lúa mì tứ bội (nhưlúa mì Emmer
(Triticum dicoccon) và lúa mì cứng (T durum))
có nguồn gốc từ lúa mì Emmer hoang (Triticum
dicoccoides) Triticum dicoccoides là kết quả lai
ghép giữa 2 loài cỏ lưỡng bội hoang dại làTriticum
urartuvà các loài cỏ dê hoang dại như Aegilops
searsiihayA speltoides á trình lai ghép để tạo
ra lúa mì Emmer hoang dại diễn ra trong tự nhiên,
từ rất lâu trước khi có quá trình thuần dưỡng.[13]
• Các loài lúa mì lục bội đã tiến hóa trên các cánh
đồng của người nông dân Lúa mì Emmer thuần
dưỡng hoặc là lúa mì cứng thuần dưỡng lại lai
ghép tiếp với một loài cỏ hoang dã lưỡng bội
(Aegilops tauschii) để sinh ra các loài lúa mì lục
bội, nhưlúa mì spentavàlúa mì thông thường.[13]
4.3 Giống cây trồng
Trong các hệ thống nông nghiệp truyền thống thì các
quần thể lúa mì thông thường bao gồm các giống tạp
chủng, các quần thể được những người nông dân duy
trì một cách tùy tiện và thông thường có sự đa dạng
về hình thái và đặc tính rất cao Mặc dù các giống lúa
mì này đã không còn được gieo trồng tại châu Âu và
Bắc Mỹ, nhưng chúng có thể vẫn còn tầm quan trọng ở
những nơi khác Nguồn gốc của các giống lúa mì thuần
chủng chính thức có từ thế kỷ 19, khi người ta tạo ra
một dòng giống mới thông qua phương pháp chọn lọc
các hạt từ cây có các đặc tính mong muốn Các giống
lúa mì hiện đại đã được phát triển trong những năm
đầu của thế kỷ 20 và có mối liên hệ chặt chẽ với sự
phát triển củadi truyền học Mendel Phương pháp tiêu
chuẩn trong gây giống cùng dòng các giống cây trồng
của lúa mì là lai ghép chéo giữa 2 dòng bằng cách sử
dụng cách ngắt bỏ hoa đực để tránh hiện tượng tự thụ
phấn, sau đó cho chúng tự lai ghép hay lai cùng dòng
các thế hệ sau Các lựa chọn được đồng nhất (để có các
gen chịu trách nhiệm cho các khác biệt về giống) trong
10 hay nhiều hơn các thế hệ trước khi đưa ra như là các
giống hay giống cây trồng.[14]
Các giống lai F1 của lúa mì không nên nhầm lẫn vớicác giống lúa mì thu được từ gây giống thực vật tiêuchuẩn.Ưu thế giống lai(như trong các cây lai F1 quenthuộc của ngô) diễn ra trong lúa mì thông thường (lụcbội), nhưng rất khó để sản xuất hạt của các giống câylai ghép ở quy mô thương mại như đã được thực hiệnvớingô do hoa lúa mì là hoàn hảo và thông thường
nótự thụ phấn.[14]Hạt giống lúa mì lai ghép ở quy môthương mại được sản xuất bằng cách dùng các tác nhânlai ghép hóa học, các thuốc điều chỉnh tăng trưởng lúa
mì có tác động chọn lọc với sự phát triển của phấn hoa,hay các hệ thống triệt tiêu khả năng sinh sản hoa đựcmột cách tự nhiên diễn ra tế bào chất Lúa mì lai ghépchỉ có thành công thương mại hạn chế, ở châu Âu (cụthể làPháp), Hoa Kỳ và Nam Phi.[15]
Mục đích chính trong gây gióng lúa mì là năng suấtcao, chất lượng tốt, khả năng kháng bệnh tật và sâu bọcũng như khả năng chịu các ứng suất vô sinh như chịu
ẩm, chịu nóng hay chịu các chất vô cơ v.v Các bệnh tậtchính trong môi trường ôn đới là tàn rụi đầu Fusarium,bệnh gỉ sắtở lá và thân cây, trong khi ở khu vực nhiệtđới là tàn rụi lá Helminthosporium
ở các dạng trần (tự do khi đập) như lúa mì cứng haylúa mì thông thường, các mày dễ vỡ còn cuống thì dai.Khi đập, lớp trấu tách ra, giải phóng hạt Lúa mì có vỏbao thường được lưu giữ dưới dạng các bông con do lớpmày dai là sự bảo vệ tốt chống lại các loại sau bọ khilưu trữ hạt.[16]
Trang 118 CHƯƠNG 4 LÚA MÌ
4.5.1 Các loài lúa mì chính được gieo trồng
• Lúa mì thông thường— (Triticum aestivum): Loài
lục bội được gieo trồng nhiều nhất trên thế giới
• Lúa mì cứng— (Triticum durum): Dạng tứ bội duy
nhất được sử dụng rộng rãi ngày nay và là loài lúa
mì được gieo trồng nhiều thứ hai
• Lúa mì Einkorn— (Triticum monococcum): Loài
lưỡng bội với các thứ hoang dại và gieo trồng
Dạng gieo trồng được thuần dưỡng cùng thời với
lúa mì Emmer, nhưng chưa bao giờ có được tầm
quan trọng ngang loài kia
• Lúa mì Emmer— (Triticum dicoccon): Dạng tứ bội,
được gieo trồng trong thời kỳ cổ đại nhưng ngày
nay không còn được sử dụng rộng rãi
• Lúa mì spenta— (Triticum spelta): Một loài lục bội
được gieo trồng với số lượng hạn chế
4.6 Kinh tế
Bao lúa mì
Hạt lúa mì vỡ
Lúa mì trong thương mại được phân loại dựa theo các
tính chất của hạt đối với những nhu cầu của các thị
trường hàng hóa Các nhà kinh doanh lúa mì sử dụng
sự phân loại này để xác định họ cần mua bán loại lúa
mì nào do mỗi loại đều có các công dụng riêng Còn cácnhà sản xuất cũng dùng hệ thống phân loại này để xácđịnh họ cần sản xuất loại lúa mì nào đem lại nhiều lợinhuận nhất
Lúa mì được gieo trồng rộng rãi như là một loạihoa lợi
do nó có sản lượng lớn trên mỗi đơn vị diện tích, pháttriển tốt trong khu vực có khí hậu ôn đới ngay cả khimùa vụ tương đối ngắn Bột mì có chất lượng cao và đadụng, được sử dụng rộng rãi trong sản xuấtbánh mì.Phần lớn các loại bánh mì được làm từ bột mì, bao gồm
cả nhiều loại bánh được gọi theo tên của các loại ngũcốc khác có trong các loại bánh đó, nhưhắc mạchvàyến mạch Sự phổ biến của thực phẩm làm từ bột mìtạo ra nhu cầu lớn về hạt, thậm chí ngay cả trong cácnền kinh tế vớithặng dưthực phẩm đáng kể
Năm 2007 lúa mì đã tăng giá đáng kể do thời tiết giálạnh và ngập lụt ở Bắc bán cầu, hạn hán ởAustralia.Giá giao lúa mì trong tháng 9 năm 2007 và từ tháng 12tới tháng 3 năm sau đã tăng khoảng 9 USD,00 mỗigiạ(khoảng 36 lít).[19]Tại Italia người ta cũng phàn nàn vềvấn đề giá mì ống tăng cao.[20]
4.7 Sản xuất và tiêu thụ
Lúa mì được trồng với diện tích hơn 216.000.000hécta(530.000.000mẫu Anh),[22]lớn hơn bất kỳ loại cây trồngnào khác ương mại lúa mì trên thế giới lớn hơn tất
cả các loại cây trồng khác gộp lại Cùng với gạo, lúa mì
là thực phẩm thiết yếu được ưa thích nhất trên thế giới
Nó là một thành phần trong chế độ ăn uống chính do sựthích nghi nông học của lúa mì có thể phát triển từ cácvùng gần Bắc cực đến xích đạo, từ các đồng bằng venbiển đến độ cao khoảng 4.000 m (13.000 ) trên mựcnước biểnl
Năm 2003, lượng tiêu thụ lúa mì trên đầu người toàncầu là 67 kg (148 lb), cao nhất là 239 kg (527 lb)
ở Kyrgyzstan.[23] Năm 1997, lượng tiêu thụ trên đầungười toàn cầu là 101 kg (223 lb), cao nhất làĐan Mạch
623 kg (1.373 lb)/người, nhưng khoảng 81% của lượngnày dùng làm thức ăn cho động vật.[24]Lúa mì là thựcphẩm thiết yếu ở Bắc Phi và Trung Đông, và được trồngphổ biến ở châu Á Không giống như lúa gạo, sản xuấtlúa mì trải rộng hơn trên toàn cầu mặc dù Trung ốcvẫn chiếm tới 1/6 sản lượng toàn thế giới
Trong thế kỷ 20, sản lượng lúa mì toàn cầu đã mở rộngkhoảng 5 lần so với trước đó, nhưng cho đến khoảngnăm 1995 hầu hết con số này phản ánh sự gia tăng vềdiện tích trồng trọt, với sự gia tăng ít hơn (khoảng 20%)
về sản lượng/một đơn vị diện tích Tuy nhiên sau năm
1995, có sự gia tăng ấn tượng gấp 10 lần về tỉ lệ cải thiệnnăng suất mỗi năm, và nó trở thành nhân tố chính chophép sản lượng lúa mì gia tăng Do đổi mới công nghệ
và quản lý cây trồng một cách khoa học cùng với phânbón tổng hợp, tưới tiêu và nuôi cấy lúa mì là những