1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Câu đối và những giai thoại đối đáp của các vị vua chúa triều nguyễn

11 549 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 115,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngài không chỉ sáng tác thơ văn viết về phong cảnh cùng chùa chiền ở kinh đô uận Hóa và quanh miền, mà còn sáng tác nhiều câu đối nữa, tất cả đều được ghi lại trong sách Hải ngoại ký sự

Trang 1

Câu đối và những giai thoại đối đáp của các

vị vua chúa triều Nguyễn

Minh Vương Nguyễn Phúc Chu

(1675 - 1725)

iên Túng Đạo Nhân Nguyễn Phúc Chu là một vị chúa

rất sùng bái Phật giáo, khi kế nghiệp Chúa, Ngài mới

có 16 tuổi nhưng đã biết chiêu hiền đãi sĩ, biết nghe lời

can gián, được dân chúng yêu quý, thường gọi Ngài là

ốc Chúa hay Chúa Minh Ngài không chỉ sáng tác

thơ văn viết về phong cảnh cùng chùa chiền ở kinh đô

uận Hóa và quanh miền, mà còn sáng tác nhiều câu

đối nữa, tất cả đều được ghi lại trong sách Hải ngoại

ký sự, một tập bút ký có nhiều giá trị về văn học và sử

liệu, dưới đây là một số câu đối của ngài:

• Câu đối viết dán trước Đại Giới Đàn chùa iền

Lâm:

í thị trì luật, nho giả lý trung, tổng yếu

tu thân thành ý, tự nhiên kính trực hồ nội,

nghĩa phương hồ ngoại (Cửa Phật giới luật,

nhà Nho trung dung, chỉ cốt thành ý chính

tâm, tự nhiên ngoài có nghĩa phương trong

có chính trực)

ân tử sắc cơ, thiền nhân tập định, đồng

qui kiến tánh minh tâm, đoan do giới thận

bất đổ, khủng cụ bất văn (ân tử cơ vi,

iền sư nhập định, đều để minh tâm kiến

tánh, bởi vì răn chỗ chẳng thấy, sợ chỗ chẳng

nghe)

• Câu đối ban tặng chùa ốc Ân - uận Hóa:

lương, hiển nhật lâm quang, tiện hữu nhân

hữu cảnh (Bát bảo rực rường vàng, vầng nhật

chiếu thiền môn, mến được có người có cảnh)

đống, xuân quang triển tọa, hỷ bất tức bất

ly (Năm mây ngời cột ngọc, ánh xuân soi bảo

tọa, vui thay không mất không xa)

và:

Bối diệp phiêu vân, lục thời thiền tụng kỳ

phong mẫn

Ca sa thấp vũ nhất trị thanh cơ kiến đạo xương

Dịch nghĩa:

Mây phất phơ trên kinh lá bối, sáu thời tiếng thiền niệm cầu hoa lợi phong đăng

Mưa thấm khắp nếp áo Cà sa, mùi đạo thanh

tu có cơ duyên phát đạt

• Câu đối ở Chánh điện chùa ập áp - Bình Định:

dung, trạm nhược hư không, mạc năng trắc

kỳ biên tế (Phật tính tròn đầy, trong trẻo tựa

hư không, khó lường được giới mốc)

tướng, cảo như hao nhật, thục cảm nghĩ kỳ cao minh (Pháp thân vô tướng, sáng như mặt

trời hiện, đâu dám chuyện nghĩ bàn)

2 Câu đối của Quốc Chúa Ninh Vương Nguyễn Phúc Chú (1697

- 1738)

Nguyễn Phúc Chú còn có tên là Trú hay ụ Chánh quán của ông ở Gia Miêu (huyện Tống Sơn, anh Hóa), ông là con trai trưởng của chúa Nguyễn Phúc Chu Khi trưởng thành, Nguyễn Phúc Trú được cử giữ chức cai cơ tước Đỉnh thịnh hầu, đến năm 1715 được thăng làm chưởng cơ, làm phủ đệ tại dinh cơ Tả Sùng Sau khi nối ngôi được tôn là ái phó tước Đỉnh ốc công, hiệu là Văn Truyền đạo nhân (vì mộ đạo Phật) Câu đối ban cho chùa Linh Phong vào năm 1733 được sách Đại Nam dư địa chí ước biên của Cao Xuân Dục (triều Nguyễn) chép kèm theo câu thơ sau: “Mây lành khắp chốn, chùa Linh Phong bao bọc hoa tươi”:

nhân, pháp vũ phổ thiên tư phật thổ (Bờ biển

gặp duyên may, mưa pháp cùng trời thấm nhuần đất Phật)

thoại khí, tường vân biến địa ấm nhân gian

(Núi linh đọng khí tốt, mây lành khắp chốn che chở cõi người)

1

Trang 2

2 5 VUA THIỆU TRỊ VÀ HỒNG BẢO

tặng Ngô Thị Vinh Hoa

Ngô ị Vinh Hoa là con thứ mười của Ngô Khải, tuy

vua ang Trung hết lòng yêu thương chiều chuộng,

song Vinh Hoa vẫn một mực không cho nhà vua thành

thân Nhà vua rất lấy làm buồn, tuy hàng ngày gặp

nhau nhưng nhà vua vẫn không sao gần gụi được Khi

chiếm Phú Xuân, tướng của Gia Long là Vũ Văn Toàn

vào trước, kéo quân thẳng vào hậu cung, cướp được

Ngô ị Vinh Hoa Vinh Hoa ở trong cung được nhà

vua hết sức vêu chiều Dần dần nàng hồi tâm lại, đẹp

mơn mởn y như lộc mùa xuân Biết Vinh Hoa có tài

múa hát, nhà vua thích lắm, muốn lấy làm vợ Nhà vua

bảo nàng: “Ta muốn sở hữu nàng như nuôi con gà, con

vịt trong nhà.“ Vinh Hoa tâu: “Bệ hạ muốn làm vua gà,

vua vịt hay sao?“ Nói rồi nàng ôm đàn hát, nhà vua

nghe tiếng đàn, mơ màng, gục đầu xuống bàn ngủ thiếp

đi Khi tỉnh dậy, nhà vua không thấy Vinh Hoa đâu

nữa, chỉ thấy trên bàn có ghi mấy chữ: “ời lai phong

tống tạ Đà giang” (ời vận đến, gió đưa lại phía sông

Đà) Nhà vua sai tìm Vinh Hoa khắp nơi nhưng không

thấy ít lâu sau, ở vùng huyện lỵ Đà Bắc (thuộc phủ

Hưng Hóa), người ta vớt được một xác phụ nữ quý tộc

trôi trên sông, trên tay có bế một đứa bé con còn sống

an sở tại báo việc này về triều đình Vua Gia Long

cho người lên xem xét, nhận ra người chết giống hệt

Ngô ị Vinh Hoa Nhà vua cho làm ma nàng rất hậu,

bắt lập miếu thờ Đứa bé con được những người dân

Mường ở đây đón về nuôi Trong miếu thờ có đôi câu

đối của nhà vua ban, ghi rằng:

Sự nhị quân, vĩnh thủ trinh tâm

Lưu vạn cổ, bảo tồn phẩm tiết

Dịch nghĩa:

ờ hai vua, vẫn giữ lòng trinh

Lưu muôn thuở, còn nguyên phẩm tiết

Đăng Quế

Vua Minh Mạng, cũng gọi là Minh Mệnh, tức Nguyễn

ánh Tổ là vị Hoàng đế thứ hai của nhà Nguyễn Ông

tên thật là Nguyễn Phúc Đảm, còn có tên Nguyễn Phúc

Kiểu, sinh tại làng Tân Lộc, gần Sài Gòn, giữa cuộc

Chiến tranh Tây Sơn–Chúa Nguyễn (1787-1802) Minh

Mạng chủ trương mở mang thế lực ra nước ngoài, ông

đổi tên Việt Nam thành Đại Nam, và muốn cho đất nước

trở thành một đế quốc hùng mạnh Nhà vua lập các phủ

Trấn Ninh, Lạc Biên, Trấn Định, Trấn Man nhằm khống

chế Ai Lao; và thực sự kiểm soát Chân Lạp, đổi Nam

Vang (Phnôm Pênh ngày nay) thành Trấn Tây thành;

kết quả là Đại Nam có lãnh thổ rộng hơn cả Một lần vua Minh Mạng đến thăm chùa Non Nước (Ngũ Hành Sơn – Đà Nẵng) Trong đoàn tùy tùng có Trương Đăng

ế là một đình thần hay chữ ấy cảnh ở đây rất đẹp, vua ra vế đối:

Chùa Non Nước trên non dưới nước, nước non về một đấng quân vương

Trương Đăng ế đối lại: Cửa uận An

trong thuận ngoài an, an thuận khắp bốn phương thiên hạ

Trương Đăng ế tự là Diên Phương, hiệu là Đoan Trai, biệt hiệu ảng Khê, người làng Mỹ Khê Tây, huyện Bình Sơn, nay thuộc xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh Ông thi đỗ hương tiến (tương đương cử nhân sau này) khoa Kỷ Mão (1819) được bổ làm Hành tẩu

bộ Lễ dưới triều Gia Long, đến năm Minh Mạng thứ nhất (1820) được thăng Biên tu rồi sung làm Hoàng

tử trực học, trở thành 1 trong 3 thầy dạy của các hoàng tử dưới triều Minh Mạng Năm 1863, sau nhiều lần xin từ quan, ông được vua Tự Đức cho về trí sĩ.

5 Vua Thiệu Trị và Hồng Bảo

iệu Trị tên húy là Nguyễn Phúc Miên Tông, ngoài ra còn có tên là Nguyễn Phúc Tuyền và Dung Ông là con trưởng của vua Minh Mạng và Tá iên Nhân Hoàng hậu Hồ ị Hoa, sinh ngày 11 tháng 5 năm Đinh Mão, tức 16 tháng 6 năm 1807, tại Huế iệu Trị cũng nổi tiếng là một vị vua thi sĩ, có để lại rất nhiều bài thơ, nổi tiếng nhất là 2 bài thơ chữ Hán có tên là Vũ Trung Sơn

ủy (Cảnh trong mưa) và Phước Viên Văn hội lương

dạ mạn ngâm (Đêm thơ ở Phước Viên) Cả 2 bài không trình bày theo lối thường mà viết thành 5 vòng tròn đồng tâm, mỗi vòng tròn có 1 số chữ, đếm mỗi bài có

56 chữ, ứng với một bài thơ thất ngôn bát cú, nhìn vào như một “trận đồ bát quái”, vua có chỉ cách đọc và đố là kiếm ra 64 bài thơ trong đó nhưng tới nay chưa ai tìm

ra được Trong những lúc rảnh rỗi công việc y triều chính, thường hợp các hoàng tử nhỏ tuổi để thử thách tài năng đối đáp Một hôm nhà vua ra câu đối:

Bắc sứ lai triều

Hoàng Tử Hồng Bảo nhanh nhẩu đối: Tây

Sơn phục quốc

Vua iệu Trị phì cười, mắng khéo con: “Tây Sơn mà phục quốc thì cả

bà con mi không có đất mà chôn.

Lần sau có đối thì cũng phải giữ

Trang 3

6.1 Cao Bá Quát 3

gìn ý tứ nghe con!" Hồng Bảo giật

mình, biết mình lỡ miệng, từ đó trở

nên e dè, thận trọng hơn trong lời

nói Nguyễn Phúc Hồng Bảo là con

trưởng vua iệu Trị, mẹ là Đinh

ị Hạnh người Gò Công huyện

Tân Hòa, tỉnh Gia Định Khi vua

iệu Trị mất, các hoàng thân và

các quan văn võ họp tại điện Cần

Chánh để tuyên đọc di chiếu, theo

đó hoàng thứ hai là Phúc Tuy công

Nguyễn Phúc Hồng Nhậm được lập

lên ngôi (tức vua Tự Đức) Di chiếu

đọc chưa dứt, An Phong công (Hồng

Bảo) phẫn uất thổ huyết hơn một

đấu, nằm vật ngã giữa điện đình.

• Cao Bá át là một danh sĩ sống vào thời vua

Tự Đức, tự Chu ần, hiệu Cúc Đường, biệt hiệu

Mẫn Hiên Người làng Phú ị, huyện Gia Lâm,

tỉnh Bắc Ninh, nay là xã yết Chiến, huyện Gia

Lâm ngoại thành Hà Nội Ông là anh em sinh đôi

với Cao Bá Đạt, thân phụ của họ là cụ Cao Huy

Giảng Mặc dù là anh em sinh đôi, nhưng giữa họ

có nhiều điều khác biệt nhau về tư duy và cảm

nhận thơ văn Lúc còn nhỏ, Cao Bá át ra tắm

ở Hồ Tây Đúng vào lúc vua Minh Mệnh đi kinh

lý ở ngoài bắc để nhận sắc phong của Hoàng Đế

nhà anh, nhà vua cũng đến Hồ Tây xem phong

cảnh Đạo ngự đi qua, tàn lọng rợp trời, gươm đao

sáng quắc, ai cũng phải tránh xa, riêng cậu át

cứ tự do vùng vẫy Lính đến bắt lôi lên bờ, cậu cứ

trần truồng đến trước mặt vua, tự khai là học trò,

vì trời nực ra tắm mát Vua nhìn xuống hồ thấy

có con cá lớn đang đuổi đàn cá con, liền đọc một

câu đối, bảo nếu đúng át là học trò thì phải đối

được, sẽ tha không đánh đòn

nhà vua đọc: Nước trong leo lẻo, cá đớp cá

Cậu át ứng khẩu đối ngay: Trời nắng

ang ang, người trói ngườị

nhà vua tuy bực vì át cũng coi

mình như người thường nhưng vì

câu đối quá chuẩn nên không thể

bắt bẻ đành thả cậu át cho đi.

• Bữa nọ, Cao Bá át đến nghe bình văn ở một

trường Đốc Nghe đọc những câu văn tầm thường,

ông cứ lắc đầu và còn bịt mũi tỏ ra khó chịu, quân

lính thấy vậy bắt vào nộp quan đốc học át xưng

là học trò, hỏi học với ai, ông trả lời: “Tôi học với

ông Trình ông Chu” (Trình, Chu là hai vị học giả

vào hàng tôn sư trong đạo Nho Trả lời như vậy là tỏ

ra mình học với các bậc thánh hiền, học từ gốc chứ không thèm học ngọn!) an đốc giận, ra câu đối

bắt đối ngay: Nghĩ tiểu sinh hà xứ đắc lai, cảm

thuyết Trình Chu sự nghiệp (Chú bé này ở đâu

đến đây, dám nói đến sự nghiệp ông Trình, ông Chu to lớn?)

Cậu át đối lại: Ngã quân tử kiến cơ nhi

tác, dục vi Nghiêu uấn quân dân (Người

quân tử gặp thời làm việc, muốn quân dân đều được như đời uấn, đời Nghiêu)

an đốc phục tài, nhất là cảm thấy chí hướng lớn lao của người trẻ tuổi, ông đã không giận mà còn thưởng cho Cao Bá át.

• Câu đối vịnh điều cày:

Ra tay cầm cán sôi trong nước Ngậm khói phun mây sạ bụi trần

• Có một lần Cao Bá át đi thăm bạn ở xa Bạn đi

vắng, ông phải trở về, bụng đói mà tiền thì đã hết nhẵn Ðang đi lang thang thất thểu, chợt nghe gần đấy có kèn trống đám ma át theo chừng lần tới nơi Hỏi ra biết là đám tang một ông cụ già nhà khá giả át liền bước vào nhà thấy quan viên ngồi chật ních trong rạp; ở chính giữa rạp thấy có dăm bảy ông râu dài, ngồi chễm chệ trên ghế cạp điều, đang ngất ngưởng nói chuyện chữ nghĩa; lại thấy hiếu chủ chắp tay bẩm báo chầu chực, nên

át đoán là văn thân hào mục, hay cử tú gì đó

át liền tới gần hiếu chủ nói: “Tôi là khách qua đường, nghe nói cụ nhà phúc đức lắm, nay chẳng may cụ hai năm mươi về chầu Phật, bụng tôi lấy làm cảm động vô cùng Nên xin được vào phúng

cụ vài câu rồi đi” Mấy vị ngồi chiếu cạp điều nghe

át nói thế thì muốn lên mặt đàn anh, vừa rung đùi vuốt râu vừa hất hàm hỏi: “ế nhà thầy ở đâu qua đây? Làm nghề gì?" át thưa: “Bẩm các quan, tôi ở làng bên đi dạy học về qua đây!" Các ông lại tranh nhau hỏi: “Dạy học à? ế đã thi cử khoa nào chưa?" át đáp: “Bẩm cũng có theo đòi vài

ba khoa, nhưng đều hỏng cả, về nhà văn dốt vũ dát nên đành phải đi gõ đầu trẻ!" Các quan viên lại hỏi luôn: “ế nhà thầy định phúng câu đối Nôm hay chữ đấy?" át trả lời: “Bẩm có mấy chữ đã dạy trẻ hết mất rồi, giờ xin làm Nôm thôi ạ!" Các ông đàn anh được thể lại lên giọng: "Ừ, thế thì cứ làm đi rồi các cụ sẽ phủ chính cho!" át bèn hắng dặng rồi ngâm nga rằng:

ấy xe thiên cổ xị đưa ra, không thân thiết nhẽ đâu mà khóc mướn?

Tưởng sự bá niên đùng nghĩ đến, động can tràng nên nỗi phải thương vay!

Trang 4

4 6 VUA TỰ ĐỨC VÀ CAO BÁ QUÁT

Các quan viên nghe xong đều thè

lưỡi thán phục, kéo ngay át lên

chiếu cạp điều mời cùng đánh chén.

Ðến sau rượu đã ngà, mấy ông cứ

gạn hỏi mãi, át đành phải xưng

tên thật ế là ông nào ông nấy

giật mình thon thót, đứng vội dậy

chắp tay xin lỗi át rối rít Có

thuyết khác lại nói đôi câu đối này

do Lê ý Đôn viết

• Tương truyền khi chưa quen nhau, ông át nghe

tiếng ông Nguyễn Văn Siêu dạy học, tìm đến thăm

dò Ông Siêu còn nghèo lắm, chỉ ngồi trên ghế

chõng tre cũ kỹ, học trò trải chiếu ngồi quanh nền

nhà Cao Bá át xin vào học, ông Siêu ra câu đối,

bảo có đối được mới nhận:

Tiên sinh tọa tị thượng, cót i két, két i

cót, cót cót két két

Cao Bá át đối ngay: Tiểu tử nhập đình

trung, thẩn i thơ, thơ i thẩn, thẩn thẩn

thơ thơ

Nguyễn Văn Siêu rất phục, dắt tay

mời vào Từ đó hai người kết bạn

vong niên, dân gian vẫn gọi là

“ần Siêu ánh át” rất đúng

với đôi câu đối của vua Tự Đức

“văn như Siêu át vô Tiền Hán”

• Ở sau điện Cần Chánh mới đắp một quả núi non

bộ trong bể cạn, vua Tự Đức sai Nguyễn Văn Siêu

đề câu đối Siêu nghĩ mà chưa biết đề như thế nào

cho hay, nhân gặp Cao Bá át đến chơi, mới ngõ

ý ấy Cao Bá át lấy bút chép ngay:

Sơn nhược hữu thần hô Hán tuế (Núi nếu có

thần thì hô chúc tuổi vua Hán eo tích: Hán

Vũ Đế đi chơi núi Tung Sơn, thị thần đứng

dàn hàng hai bên, lúc xe vua đi qua đều hô

vạn tuế , tiếng hô âm vào núi, vang ra ba lần

Người ta nói đấy là sơn thần hô vạn tuế chúc

vua)

Hải như sinh thánh thiếp Chu Ba (Biển như

sinh thánh nhân thì im lặng sóng gió nhà

Chu eo tích: Chu Công Đán hỏi: Nước

Việt ường cách đây vạn dặm, vì cớ gì sang

cống?" Sứ giả nói: " Hạ quốc thấy gần đây

mưa thuận gió hoà, ba năm nay biển không

gợn sóng” Biết rằng Trung ốc có thánh

nhân cho nên sang cống”)

• Trong một dịp đón xuân ở Hà ành, Cao Bá át

được rất nhiều người đến xin câu đối về dán, có

một anh chàng làm nghề đóng áo quan, và một

chị nọ đang bụng mang dạ chửa cùng đến ánh

át bèn viết cho anh thợ đóng áo quan một đôi câu đối như sau:

iên tăng tuế nguyệt nhân tăng

ọ (Trời thêm năm tháng người thêm ọ)

Xuân mãn càn khôn phúc mãn Đường (Xuân khắp non sông Phúc chật nhà)

Câu đối trên có thuyết khác nói rằng của Nguyễn Công Trứ

Còn chị có bầu được ánh át tặng câu sau:

Xuân mãn càn khôn, phúc mãn

(Xuân đầy trời đất, phúc đẫy)

iên tăng tuế nguyệt, nhân tăng

(Trời thêm năm tháng, người thêm)

Sự tài tình mà cũng là cái sự hóm hỉnh của Cao Bá át ở chỗ lợi dụng được hai chữ thọ đường.

Chữ ọ đứng riêng là sống lâu, chữ Đường đứng riêng là cái nhà;

nhưng thọ đường ghép liền thì lại

có nghĩa là cỗ áo quan/cỗ quan tài.

Câu đối vừa mừng Xuân vừa chỉ đích danh vào cái nghề đặc biệt của anh thợ mộc thì quả là sâu sắc và hay tuyệt Còn với chị đàn

bà bụng chửa, ánh át vẫn sử dụng đôi câu đối ấy, song bớt đi mỗi vế một chữ cuối, vế trên nói đến ý “phúc đẫy” rõ ràng là nói

về cái bụng chửa; bởi chữ phúc là hạnh phúc cũng đồng âm với chữ phúc là cái bụng, mà “phúc mãn”

có nghĩa là cái bụng đẫy/bụng to, tức là bụng có chửa Còn vế dưới nói đến ý “người thêm”, rõ ràng

là chỉ vào việc người phụ nữ sắp

đẻ, sắp thêm người thêm của như lời chúc của dân gian Bụng to rồi

đẻ thêm người, như thế là “mẹ tròn con vuông” Phỏng có lời chúc nào đúng và hay hơn ý tứ của đôi câu đối đó…! Có thuyết khác lại kể rằng câu đối này được viết cho 1 góa phụ vào tết năm 1903 (ý Mão), bấy giờ có một Ông

Đồ quê mang Nghiên Bút ra ngồi Chợ Hưng Yên bán chữ Goá phụ thuộc hàng giàu có nhưng không rành chữ Nho mang câu đối vui mừng đem về dán trước cửa Nhà,

có một tên Ba xạo đi ngang chơi

ác cắt nghĩa rằng :"Trời tăng năm tháng Người thêm, Xuân khắp Non Sông bụng phổng!" ý nói là Cô bị

Trang 5

6.1 Cao Bá Quát 5

chữa hoang đó! (thay vì chữ Phúc là

phúc lộc, Hắn lại xuyên tạc thành

chữ Phúc là cái bụng-mang bầu).

Goá phụ nổi tam bành vác đơn đi

kiện ầy Đồ liền ngay ngày 28

Tết, an Án Sát Hưng Yên lúc ấy

là Ông Nghè Chu Mạnh Trinh rất

mực công bình nên đã quở trách

Goá Phụ về tội nghe xằng bậy và

buột bồi thường danh dự cho ầy

Đồ một an tiền kẻm!

• Cao Bá át có dịp vào ảng Nam, đến thăm

nhà một cụ đồ (sau này là thân sinh ông Nguyễn

Hiển Dĩnh) Nhiều người nghe tiếng ông giỏi thơ

văn đã đến xin chữ Một người làm đôi đèn lồng

để thờ mẹ, xin ông cho một đôi câu đối Nôm Ông

át viết luôn vào đôi đèn lồng hai câu:

Trước mẹ dạy con, gió iều nào e iều

ấy, con dạ

Giờ con thờ mẹ, đèn nhà ai rạng nhà nấy,

mẹ ơi!

Trong Nam truyền tụng là câu đối

rất hay, dùng toàn tục ngữ mà sát

với đôi đèn.

• Ông Chiêu Phu (không rõ tiểu sử) viết cho một bà

goá lấy chồng người Trung ốc:

Bí phát kết ngô duyên di hi kim iêu hồng

bắc khứ (Kết tóc đuôi sam, (theo kiểu người

Trung ốc) lấy chồng nước khác, con chim

hồng đã bay về phương bắc)

Bình đầu lưu khá địa ta tai hà nhật nhạn

nam quy (ay đầu về đất khách, thương ôi

đến ngày nào con chim nhạn về nam)

Bà goá này đi giữa đường gặp một

người chê “Dở lắm, đem trả lại, lấy

tiền về đây” Ông Chiêu Phu biết

người chê mình là Cao Bá át liền

mời họ Cao đến chơi và hỏi câu đối

nọ của mình dở thế nào Cao Bá

át thủng thỉnh đáp: “Dở ở chỗ

ý hai vế giống nhau” Ông Chiêu

Phu mời Cao Bá át làm lại câu

đối ấy Sau khi nghĩ ngợi một lát,

Cao Bá át đọc:

Xoắn đuôi uột, trở về với mẹ

Khép mu sò, dừng lại nuôi con

Câu đối rất hợp với tình cảnh người

đàn bà goá nọ nhưng cái chất bỡn

cợt, tinh nghịch rất Cao Bá át

vẫn hiện lên rất rõ rệt…

• Câu đối về đề tài giáo dục:

Mô phạm dăm ba thằng mặt trắng, Đỉnh ung iếc rưỡi cái lương vàng.

• Câu đối viết tặng Đền Gióng:

Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn (Ba

tuổi phá giặc vẫn còn ngại là muộn)

Đằng vân do hận cửu thiên đê

(Cưỡi mây còn hận chin tầng trời là thấp)

• Câu đối Tết viết tặng Phan Nhạ:

Trong thi xã “Mạc vân” có Tiến Sĩ Nguyễn Nhạ là người hay châm chọc Cao Bá át và tưởng át sợ, y đã gây cho Cao Bá át không ít rắc rối Nhân dịp Tết, Bá át viết tặng Nguyễn Nhạ một câu đối:

Nhữ cấu vô nha hà tốc ngã (Nếu

anh không có nanh, chưa dễ hăm he được ta)

Ngô do hữu thiệt khởi thâu thuỳ

(Ta còn cái lưỡi lẽ nào ta chịu thua anh) ::Nội

dung chữ đấu trong câu này là: Trong chữ Nhạ

� (Nguyễn Nhạ) có chữ nha � (nanh); trong chữ át � (Cao Bá át) có chữ thiệt � (lưỡi) Nanh tuy cứng hơn lưỡi nhưng lại mọc sau

và rụng trước, còn lưỡi thì mềm nhưng lại có trước và chết sau Ý là: Ngươi thử hỏng răng xem, liệu có cắn được ta Ta còn có lưỡi há chịu thua ai Chữ Nhạ có quai xước ngoài, và chữ Nha là răng ở trong Chữ át cũng có quai xước ngoài, nhưng bên trong lại có chữ thiệt

là lưỡi Phương ngôn: “Lưỡi mềm thì còn, răng cứng thì mất”.

• Trước khi khởi nghĩa, Cao Bá át được triều đình

nhà Nguyễn đưa đi làm giáo thụ ở ốc Oai, vùng đất thuộc Sơn Tây, xa chốn kinh đô, thành thị Học trò ít, cảnh sinh hoạt tiêu điều Ông đã viết đôi câu đối dán ngoài nhà học:

Nhà trống năm ba gian, một thầy, một cô, một ó cái

Học trò dăm bảy đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi

có thuyết khác nói rằng đôi câu đối này là của Ông Ích Khiêm

• Câu đối bày tỏ ý chí trước khi nổi dậy:

Trượng phu lập thế thủ ý khí (Người trượng

phu đứng ở trên đời phải giữ vững chí khí)

Oải ốc đê đầu ngô sở sỉ (Cúi đầu dư ới mái

nhà thấp là điều tôi lấy làm xấu hổ)

Trang 6

6 6 VUA TỰ ĐỨC VÀ CAO BÁ QUÁT

• Câu đối khắc trên lá cờ làm tôn chỉ cho cuộc khởi

nghĩa:

Hai năm 1853 – 1854, hai tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh bị hạn

hán, châu chấu hoành hành cắn phá lúa, nhân dân đói

khổ đặc biệt là vùng Lương Sơn, Chương Mĩ (Hà Tây)

Lòng bất mãn với triều đình phong kiến, nên nhân cơ

hội này ông đã tổ chức một cuộc khời nghĩa trên đất

Mĩ Lương, tôn Lê Duy Cự làm minh chủ, tự xưng làm

ốc sư Trên lá cờ có ghi hàng chữ sau:

Bình Dương, Đồ Bản vô Nghiêu uấn (Ở

Bình Dương và Đồ Bản không có những ông

vua tốt như vua Nghiêu, vua uấn)

Mục Dã, Minh điều hữu Võ ang (ì ở

Mục Dã, Minh Điều phải có những người như

Võ Vương, ành ang nổi dậy)

• Cao Bá át khởi nghĩa không thành, bị bắt, bị

giam, bị cùm chân, chờ đem ra xử tội Ngồi trong

ngục tối, ông vẫn ngâm nga đôi câu đối:

Một iếc cùm lim ân có đế

Ba vòng xí sắt bước thì vương

Tiền bạc của giời ung trống

trải thế mới vòng khuyên sáo

Công danh đường đất rộng kèn

cựa i o thẹn í tang bồng

• Trước khi thọ hình, Cao Bá át còn bình tĩnh

ứng khẩu:

Ba hồi trống giục mồ a kiếp

Một nhát gươm đưa đéo mẹ thời (thời chính

là tên của vua Tự Đức)

ực ra trong chính sử Cao Bá át

bị Đội Xuất Đinh ế ang bắn

chết ngoài sa trường tại vùng Yên

Sơn chứ không hề bị bắt, mấy câu

đối trên do hậu thế bịa ra ghi lại mà

thôi

• Chỉ vì tội tày trời của Cao Bá át, mà đại họa

xảy đến cho cả gia đình, bị tru di cả ba đời (tru di

tam đại) Cao Bá Ðạt (1809 - 1854) khi hay được

tin trên, đã ngất xỉu một hồi lâu, khi tỉnh dậy, liền

khóc rống lên mà đọc câu đối như kêu trời, kêu

đất rằng:

Khấp cùng vũ trụ thiên vô bác (Khóc cùng

vũ trụ trời không tựa)

Nộ đảo sơn hà địa dục đông (Giận đổ sơn hà

đất muốn xoay)

6.2 Vua Tự Đức

Tự Đức là niên hiệu của vị Hoàng đế thứ tư của nhà Nguyễn, ông tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm Khi còn nhỏ Hồng Nhậm còn có tên khác là Nguyễn Phúc

ì Tự Đức được đánh giá là một vị vua tốt, được các quan nể phục Năm 1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha

nổ súng tấn công Đà Nẵng Các quan là Phan anh Giản, Phạm Phú ứ, Nguyễn Trường Tộ, Đinh Văn Điền, Nguyễn Hiệp, Lê Định liên tiếp dâng sớ xin nhà vua cho cải cách toàn diện đất nước Mãi đến năm 1878, triều đình mới bắt đầu cử người thực hiện các bước đầu tiên trong quá trình cải cách là cho học tiếng nước ngoài Năm 1883, sau cái chết của vua Tự Đức, Pháp tấn công vào cửa biển uận An, một hiệp ước được ký kết Hiệp ước ý Mùi 1883 với nội dung là xác nhận quyền bảo hộ dài của người Pháp lên Trung Kỳ và Bắc

Kỳ chấm dứt mối ràng buộc phên dậu cả ngàn năm giữa

An Nam và thiên triều Trung Hoa, mở đầu thời kỳ Đông Dương thuộc Pháp

• Câu đối của vua Tự Đức đầy tự hào về văn học

Việt Nam thời Nguyễn:

Văn như Siêu, át vô Tiền Hán (Văn như

Siêu, át hơn Tiền Hán)

i đáo Tùng, Tuy thất ịnh Đường (ơ

cỡ Tùng, Tuy vượt ịnh Đường)

Ở đây nhà vua ca ngợi Cao Bá

át, Nguyễn văn Siêu (thần Siêu, thánh át), Tuy Lý vương và Tùng iện vương nói riêng (2 ông Tùng, Tuy là con vua Minh Mạng, vua Tự Đức phải gọi bằng chú)

• Câu đối vịnh Kiều:

Mộng lý căn duyên, tri nhất ẩm nhất trác giai vi tiền định (Nghiệm căn duyên trong

mộng kia, biết rõ ràng miếng uống, miếng ăn, đều do số trời định trước)

Cầm ung phận mệnh, quái đa tình đa sự độc iếm tiên thanh (Xem mệnh khúc đàn

nọ, những quái lạ đa tình, đa sự, riêng chiếm tiếng đầu tiên)

• Câu đối nói lái:

Kia mấy cây Mía

Có vài cái Vò

• Câu đối viếng Uy Viễn tướng quân Nguyễn Công

Trứ:

Tả hữu nghi văn nghi võ

Tử sinh danh tướng danh thần

Trang 7

6.3 Vua Tự Đức và Cao Bá Quát 7

• Bấy giờ, thực dân Pháp càng ngày càng tham, hết

đòi quyền lợi này, đến muốn chiếm đất khác Triều

đình nhu nhược, thiếu người tài, vua Tự Đức phải

than rằng:

Võ tướng tiêu sầu duy hữu tửu (an võ chỉ

biết mượn rượu để quên sầu)

Văn thần thoái lổ cánh vô thi (an văn làm

thơ đuổi giặc, cũng không làm được)

• Câu đối của vua Tự Đức điếu Nguyễn Bá Nhạ:

Nguyễn Bá Nhạ tên hiệu là Long Châu, sinh năm Nhâm

Ngọ (1822), con của tri huyện An Lạc Nguyễn ận

Tuyển Lúc 22 tuổi, ông đã đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất

thân thứ nhất (tức Hoàng Giáp) tại khoa thi năm ý

Mão, iệu Trị (1843) Khoảng năm iệu Trị thứ 4

(1844), ông được bổ nhiệm làm Tri phủ Hàm uận

Năm Mậu ân, Tự Đức 2 (1848), ông mất đột ngột vì

trọng bệnh khi vừa 27 tuổi Vua Tự Đức thương tiếc

người tuổi trẻ tài cao, đã gửi viếng ông đôi câu đối:

“Nhân sinh bá tuế vi kỳ, bán i bán lân

quân mệnh bạc

Nhữ thiếu tam nguyên cập đệ, kỳ cá kỳ sử

ngã tâm bi”

Nghĩa là:

Người sinh trăm tuổi định kỳ, nửa trong nửa

thương người mệnh bạc

Người trẻ ba lần đậu nhất, tài trên tài khiến

trẫm thương tâm

• Cao Bá át có người anh song sinh là Cao Bá

Đạt, khi vua Tự Đức mới lên ngôi thì Cao Bá át

vẫn còn làm một chức quan nhỏ (Hành tẩu) ở bộ

Lễ Tự Đức nghe tiếng hai anh em họ Cao đã lâu,

một hôm bèn cho triệu Cao vào để xem mặt và hỏi

thử tài học, nhà vua ra đùa một vế đối rằng:

Nhất bào song sinh, nan vi huynh, nan vi đệ (Nghĩa là: một bọc sinh đôi,

khó làm anh, khó làm em)

Ý nhà vua ám chỉ hai ông Đạt và

át sinh đôi, khó biết ai là anh, ai

là em.

Cao Bá át liền đối lại một câu rất khéo

léo: iên tải nhất ngộ, hữu thị

quân, hữu thị thần (Nghĩa là : Nghìn năm gặp

một, có vua ấy, có tôi ấy)

Ý Cao Bá át muốn nói có ông vua tài giỏi (như vua Tự Đức) thì mới

có người bề tôi tài giỏi (như Cao Bát át) Tự Đức rất hài lòng về câu đối này, tuy nhiên nhà vua đã không lường hết được những chỗ thâm thúy của vế đối, vì câu này còn có thể hiểu theo nghĩa khác:

“Có ông vua Tự Đức thì cũng có người bề tôi như Cao Bá át để đối chọi lại (theo ý “vỏ quít dày, móng tay nhọn”) và đó cũng chính

là cái ý lắt léo của họ Cao”.

• Một hôm vua Tự Đức nghĩ hai câu đối treo ở điện

Cần Chánh như sau:

Tử năng thừa phụ nghiệp (con thừa

được nghiệp cha)

ần khả báo quân ân (tôi trả tròn ơn

chúa)

Khi đem treo trong điện, các quan trông thấy, đều chịu là hay Riêng Cao Bá át thì tỏ vẻ không phục, mai mỉa nói: “Hảo hề! Hảo hề! Phụ

tử quân thần điên đảo!" Nhà vua nghe các quan tâu lại, gọi vào hỏi nguyên do Cao Bá át liền tâu:

“Muôn tâu bệ hạ, câu trên chữ tử đứng trên chữ phụ, vậy là con trên cha, câu dưới chữ thần đứng trên chữ quân, vậy là tôi trên vua Rõ ràng phụ tử quân thần điên đảo”.

Vua bảo chữa, Cao Bá át liền đọc:

ân ân, thần khả báo (nghiệp cha

con thừa hưởng)

Phụ nghiệp, tử năng thừa (ơn chúa tôi

trả tròn)

Nhà vua tuy tức giận, nhưng suy nghĩ lại cũng phải nhận rằng chữa như vậy, cương thường thuận lẽ

mà ý đặt cũng già hơn.

• Một đêm, vua Tự Đức mất ngủ, ngài nghĩ ra câu

đối sau:

Viên trung oanh uyển Khề Khà ngữ

(Trong vườn tiếng oanh thỏ thẻ khề khà)

Dã ngoại đào hoa Lấm Tấm khai (Ngoài

đồng hoa đào nở lấm tấm)

Nhà Vua rất hài lòng vì 2 câu thơ chữ Hán này đều có 2 từ nôm thuần Việt mà vẫn rất ý nhị và là đôi

Trang 8

8 8 NHỮNG GIA THOẠI ĐỐI ĐÁP CỦA VUA DUY TÂN (1900 - 1945)

câu đối rất chuẩn Sáng hôm sau

trong buổi chầu, Nhà Vua nói với

bá quan: “Đêm qua Trẫm nằm mơ

làm được 2 câu thơ rất kỳ lạ” và

đọc 2 câu thơ trên ần thần đều

thán phục và ca ngợi tài thơ của

nhà vua, Cao Bá át vốn ghét

bọn nịnh thần nên đã tâu rằng: ”

Tâu Bệ Hạ, từ nhỏ ần đã thuộc

cả bài thơ, trong đó có 2 câu này”.

Nhà vua hết sức tức giận vì rõ ràng

2 câu thơ này mình vừa nghĩ ra,

nhưng vẫn cố kiềm chế, ngài phán:

“Khanh phải đọc lại toàn bài thơ

đó, nếu không sẽ bị trị tội nặng”.

Cao Bá át suy nghĩ giây lát như

để nhớ lại rồi cao giọng đọc bài

thơ sau đây: Bảo mã tây phong

Huế Hoác lai, Huênh Hoang

nhân sự thác đề hồi, viên trung

oanh uyển Khề Khà ngữ, dã

ngoại đào hoa Lấm Tấm khai,

xuân nhật bất văn sương Lộp

Bộp, thu thiên ỉ kiến vũ Bài

Nhài, Khù Khờ thi tứ đa nhân

thức, Khuệnh Khoạng tương lai

vấn tú tài (Phạm Văn Dương đã

dịch bài thơ của họ Cao ra Tiếng

Việt như sau: Huyế hoác ngựa

về với gió Tây, người Huênh

Hoang cũng tự về đây, Khề Khà

oanh hót trong vườn nhỏ, Lấm

Tấm đào khai giữa gió mây, Lộp

Bộp sương rơi nghe ẳng rõ, Bài

Nhài mưa trút thấy như bày, Khù

Khờ thơ ấy bao người biết, còn

hỏi tú tài Khuệnh Khuạng thay!)

Vua Tự Đức kinh ngạc biết át

xỏ mình nhưng vẫn phải phục tài

xuất khẩu thành thơ, nhà vua sai

lấy chè và quế ban cho át và bắt

át phải thú nhận đã bịa thêm 6

câu trong bài thơ trên.

Lam Hồng cũng dịch ra Tiếng Việt với hai bài

gieo hai vần khác nhau:

1 - Bài thứ nhất: Ngựa tốt gió tây Huế Hoác âu,

Huênh Hoang nhiễu sự bỡi vì đâu, oanh vàng vườn

tịt Khề Khà hót, đào thắm trời mù Lấm Tấm âu,

Lộp Bộp xuân văn hời cõi tục, Bài Nhài thu lũ hợt trời

ngâu, Khù Khờ nỏ biết bài thơ ấy, Khuệnh Khoạng tú

tài hỏi khó nhau

2 - Bài thứ hai: Huế hoác gió tây ngựa tốt i, vuốt

mèo khen ủ Huênh Hoang đi, Khề Khà oanh vọng

ca ênh phá, Lấm Tấm đào tơ nở lệ thì, Lộp

Bộp câu văn xuân ắc rụng, Bài Nhài ngữ nghĩa thu

mong gì, thơ xưa ưa biết Khù Khờ thế, hỏi tú bài

này Khuệnh Khoạng nguy

7 Câu đối vua Tự Đức viết tặng Tuy Lý Vương Nguyễn Miên Trinh (1820 - 1897)

Nguyễn Miên Trinh có tên là Khôn Chương và ý Trọng, hiệu Trình Phổ và Vĩ Dạ, là con thứ 11 của Nguyễn ánh Tổ Ông rất hiếu học nên được vua cha rất thương yêu Có lúc Ông bị bệnh, Vua bãi triều ở Văn Minh Ðiện, tự thân đến thăm hỏi Ðó là chuyện rất hiếm thấy, việc nầy có ghi trong ương Sơn cung

từ: Bất thị Miên Trinh kim đới bệnh, thử gian hà xứ

đắc thiên hương (Miên Trinh chẳng bệnh hôm nay,

hương trời lan đến chốn nào trong cung?) Năm Mậu Ngọ (1958), nhân sinh nhật thứ 40 của Ông, Vua Dực Tông có tặng câu đối:

Văn ất kiêm ưu, công kham đương thử Hiếu từ đại lạc , ngã diệc tự i

Dịch nghĩa:

Rực rỡ văn đức, Ông nên nhận lấy Mừng vui từ hiếu, ta cũng giống thay

8 Những gia thoại đối đáp của vua Duy Tân (1900 - 1945)

Vua Duy Tân tên húy là Nguyễn Phúc Vĩnh San, còn có tên là Nguyễn Phúc Hoảng, sinh tại Huế Khi vua cha

bị thực dân Pháp lưu đày, ông được người Pháp đưa lên ngôi Năm 1916, lúc ở Âu châu có cuộc Đại chiến, ông liên lạc với các lãnh tụ Việt Nam ang Phục Hội định khởi nghĩa Dự định thất bại, Duy Tân bị bắt đem an trí trên đảo Réunion ở Ấn Độ Dương Trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945) ông gia nhập quân Đồng Minh chống phát xít Đức Ngày 26 tháng

12 năm 1945, ông mất vì tai nạn máy bay ở Cộng hoà Trung Phi

• Đối đáp với viên cố đạo người Pháp:

Năm 12 tuổi, vua Duy Tân được mời dự tiệc ở toà Khâm

Sứ Trung Kỳ, có một cố đạo Pháp thạo tiếng Việt, hiểu chữ Hán, hiểu phong tục tập quán lịch sử, địa lý của Việt Nam Sau một hồi làm việc căng thẳng, để giảm sức căng, Y khéo léo lái cuộc ’’hội đàm’’ sang lĩnh vực văn chương, cùng nhà vua bàn chuyện thi phú… sau một hồi rào đón…rốt cuộc đề nghị hai bên chơi chữ – đọc câu đối Nhà vua trẻ đồng ý, viên khâm sứ đọc vế ra: hắn ra một vế đối để thăm dò, trình lên nhà vua một

tờ giấy ghi hai chữ:

Trang 9

Vương Tam (Rút ruột vua tam phân thiên

hạ)(vế ra rất hay, khúc chiết, lại nói lên được

vấn đề mà Y đang quan tâm Đây là loại câu

đối dùng chiết tự trong chữ Hán: Chữ Vương

là Vua Nếu (rút) bỏ đi nét sổ, nằm ở giữa

(ruột) – chữ Vương thành chữ TAM là Ba –

con số 3 đang nhức nhối trong lòng nhà vua

(tam phân thiên hạ) Cân đối ngụ ý: Ông Vua

hãy cởi lòng, bỏ đi những trăn trở, mặc cảm

đưa việc phân chia địa lí (3 Kì) vào ổn định,

để Pháp – Việt chung sống trong hòa bình,

thịnh vượng – đề huề)

Liếc nhìn qua, vua Duy Tân đã hiểu thâm ý

chơi chữ của viên cố đạo này, bèn lấy bút lông

phê ngay bên cạnh hai chữ: Tây Tứ (Chặt

đầu Tây, Tứ hải giai huynh)(Vua Duy Tân là

ông vua có ý chí tự cường, thông minh bẩm

sinh (2) Ngay từ khi lên ngôi, tuổi còn ấu

thơ (8 tuổi) đã có tinh thần kiên cường , là

một trong 2 vị vua thời nhà Nguyễn có tinh

thần chống Pháp mạnh nhất (Duy Tân, Hàm

Nghi) Vế ra đề không thể làm khó được vị

vua thiếu niên anh hùng)

Viên cố đạo cầm xem tím mặt,

gượng cười đưa cả hai tay ra đỡ

lấy tờ giấy vua ta ban ì ra chữ

“Vương” là Vua, gồm ba nét ngang

và một nét sổ; chữ “Tam” chỉ có

ba nét ngang Vậy rút bỏ nét dọc

của chữ Vương (ý: rút ruột Vua)

thì thành chữ tam (ý: tam phân

thiên hạ, chia nước ta thành ba

khu vực Bắc, Trung, Nam để dễ bề

cai trị) Chữ “Tây” gồm chữ “Tứ”

và phần đầu có một nét ngang và

hai nét dọc Nếu cắt bỏ phần đầu

đó đi (ý: chặt đầu thằng Tây!) thì

thành chữ tứ (ý: tứ hải giai huynh,

bốn bể đều là anh em, nước Nam

quyết không cho kẻ thù chia cắt!).

Cứ tưởng hai Nho sĩ đang thù tạc

khi ’’trà dư tửu hậu’’, nhưng thực

chất là một cuộc đấu bằng ý chí

thông qua ngôn ngữ Đó là thông

điệp của ’’thiên tử’’ , thay mặt cho

’’thần dân’’ nước đại Việt, dõng

dạc tuyên bố: Nước Việt quyết tâm

đánh đuổi kẻ xâm lược, xây dựng

mối giao hảo an hem với bốn biển

năm châu….

• Đối đáp với Lại Bộ ượng ư Hữu Bài (1863

-1935):

Nguyễn Hữu Bài sinh tại làng Cao Xá, tổng Xuân Hòa,

phủ Vĩnh Linh, tỉnh ảng Trị Khi Khâm sứ Pháp

Mahé đề nghị đào vàng bạc chôn ở lăng vua Tự Đức,

Nguyễn Hữu Bài phản đối Dân chúng đương thời đặt ra câu tục ngạn: “Phế vua không Khả, đào mả không Bài” Năm 1933, vua Bảo Đại cải cách triều đình, Nguyễn Hữu Bài bị bãi chức Năm 1935, Nguyễn Hữu Bài từ trần Tương truyền ông có giai thoại đối đáp với vua Duy Tân như sau:

Vua Duy Tân ra: Đi i, đường đạo, sợ cụ Ông Nguyễn Hữu Bài đối: Không vô, trong

nội, nhớ hoài

Các cặp cùng nghĩa TV–HV: “Đi”–

”chi”; “đường”–”đạo”; “sợ”–”cụ”

(vế trên); “không” –”vô”; “trong”–

”nội”; “nhớ”–”hoài” (vế dưới) Các

từ HV được chuyển từ cùng âm

TV sang một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn đến mức khó nhận ra có

sự dụng công, mà chỉ như những câu nói đầu cửa miệng Có thuyết khác nói vế ra của vua Duy Tân

là: Mua mãi cửa quan sợ cụ.

9 Những câu đối liên quan đến vua Khải Định (1885 - 1925)

Khải Định tên húy là Nguyễn Phúc Bửu Đảo, còn có tên là Nguyễn Phúc Tuấn Dưới thời vua Khải Định, triều đình Huế không có xích mích với Pháp Khải Định hết thân với Khâm sứ Trung kỳ Jean François Eugène Charles và gửi gắm con mình là Vĩnh ụy (tức vua Bảo Đại) cho vợ chồng Khâm sứ Ông tự sáng chế ra những bộ y phục mới cho mình và cho cả quan hộ vệ Ông rất chuộng trang điểm, không tuân theo y phục hoàng bào truyền thống của các vua chúa và thường

bị đả kích trên báo chí đương thời Ở Huế nhân dân đã truyền tụng câu ca dao phổ biến về Khải Định: “Tiếng đồn Khải Định nịnh Tây, Nghề này thì lấy ông này tiên sư" Dân gian đến nay còn lưu truyền đôi câu đối sau:

Xuân xanh tuổi ngoài đôi ục, ơi đục trần ai, khi bài khi bạc, khi tài bàn vác, khi

tổ tôm quanh, khi năm canh ngồi nhà hát, khi gác cổ ả đào, khi ghẻ tàu con đĩ xác, khi nằm rạp thuốc phiện tiêm, hoanh ra dáng, dạng ra rồng, ngông ra phết, cóc biết i tồi, miệng én đưa qua mùi gió thoảng ;

ốc gia lị tứ thiên dư, do truyền nhân vật, như Tô như Duật, như Phật tử ân, như Trần ốc Tuấn, như Phạm công

ượng thướng quân, như Bạ Vân Phu tử, như Ngự sử Lê Cảnh Tuân, như công thần Nguyễn Công Trứ, tài i tuấn, thời i tế, thế i sừ, khỉ nhưng nhiên phủ, thân long đắc vũ tiện vân đằng.

Trang 10

10 10 LIÊN KẾT

Năm 1925, được tin vua bù nhìn Khải Ðịnh qua đời, từ

nơi bị đày (đảo Rê-uy-ni-ông), vua Duy Tân đã gửi về

triều đình Huế, phúng một bức trướng, có câu đối sau:

Ông vội bỏ đi đâu? Bỏ bạc, bỏ tiền, bỏ vợ, bỏ

con; bỏ hát bội, thày tu - bỏ hết trần duyên

trong một lúc

Tôi nay còn lại đó! Còn trời, còn đất, còn

non, còn nước; còn anh hùng, hào kiệt - còn

nhiều vận hội giữa năm âu

Ngày đăng: 22/07/2017, 13:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w