TÁI CẤU TRÚC TỔ CHỨC KINH DOANH CHỨNG KHOÁN1.TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC KINH DOANH CHỨNG KHOÁN VÀ ĐỀ ÁN 1826 1.1 Khái Niệm Công ty chứng khoán là một tổ chức kinh doanh chứng khoán, có tư cách
Trang 1TÁI CẤU TRÚC TỔ CHỨC KINH DOANH CHỨNG KHOÁN
1.TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC KINH DOANH CHỨNG KHOÁN VÀ ĐỀ
ÁN 1826
1.1 Khái Niệm
Công ty chứng khoán là một tổ chức kinh doanh chứng khoán, có tư cách pháp nhân, có vốnriêng hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế, hoạt động theo giấy phép của Ủy Ban ChứngKhoán (UBCK) Nhà nước cấp
Công ty chứng khoán có các chức năng của người môi giới, người chuyên viên và người bảolãnh chứng khoán Để trở thành thành viên của Sở giao dịch, Công ty chứng khoán cũng phải hội
đủ những điều kiện do luật định và phải đăng ký kinh doanh chứng khoán trong Sở giao dịchchứng khoán
1.2 Điều Kiện Thành Lập Công Ty Chứng Khoán.
Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 210/2012/TT-BTC hướng dẫn thành lập và hoạt động công
ty chứng khoán Thông tư gồm 9 chương, 71 điều, có hiêu lực kể từ ngày 15/1/2013 trong đó quyđịnh khá chặt chẽ các điều kiện để được cấp phép thành lập và hoạt độngcông ty chứng khoán
Cụ thể:
- Công ty chứng khoán có trụ sở làm việc, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động kinh doanh chứngkhoán theo hướng dẫn của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sau khi được Bộ Tài chính chấpthuận
- Công ty chứng khoán phải có vốn điều lệ là vốn thực góp, tối thiểu bằng mức vốn pháp địnhtheo quy định của pháp luật
- Công ty chứng khoán phải có mức vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định Vốn pháp địnhđược quy định cụ thể cho từng loại hoạt động Một công ty càng tham gia vào nhiều loại hoạt
Trang 2động thì yêu cầu về vốn càng nhiều Mức vốn quy định cho hoạt động môi giới, tư vấnthường không nhiều, trong khi đó hoạt động tự doanh hay bảo lãnh phát hành đòi hỏi mứcvốn pháp định tương đối cao.
- Vốn pháp định theo Nghị định 14/2007/NĐ-CPcho các nghiệp vụ kinh doanh của công tychứng khoán, công ty chứng khoán có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh công ty chứngkhoán nước ngoài tại Việt Nam là:
Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam;
Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam;
Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng Việt Nam;
Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam
- Giám đốc (Tổng Giám đốc) công ty chứng khoán phải đáp ứng các quy định như phải cókinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán ít nhất ba năm và
có kinh nghiệm quản lý điều hành tối thiểu ba năm và phải có Chứng chỉ hành nghề phân tíchtài chính hoặc Chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ
- Có tối thiểu ba người hành nghề chứng khoán cho mỗi nghiệp vụ kinh doanh đề nghị cấpphép hoạt động
- Cơ cấu cổ đông, thành viên góp vốn sở hữu công ty chứng khoán:
Công ty chứng khoán thành lập theo hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệmhữu hạn từ hai thành viên trở lên phải có tối thiểu hai cổ đông sáng lập, thành viên sánglập là tổ chức Trong đó phải có ít nhất một tổ chức là ngân hàng thương mại, doanhnghiệp bảo hiểm hoặc tổ chức nước ngoài
Công ty chứng khoán thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thànhviên, chủ sở hữu phải là ngân hàng thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm
Tỷ lệ sở hữu cổ phần, phần vốn góp của các cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là tổchức tối thiểu là 65% vốn điều lệ, trong đó các tổ chức là ngân hàng thương mại, doanh
Trang 3nghiệp bảo hiểm hoặc tổ chức nước ngoài sở hữu tối thiểu 30% vốn điều lệ của công tychứng khoán.
Cổ đông, thành viên sở hữu từ 10% trở lên vốn cổ phần hoặc phần vốn góp của một công
ty chứng khoán và người có liên quan của cổ đông, thành viên góp vốn đó không đượcgóp vốn trên 5% số cổ phần hoặc phần vốn góp của một công ty chứng khoán khác
Công ty chứng khoán thành lập và hoạt động tại Việt Nam không được góp vốn thành lậpcông ty chứng khoán khác tại Việt Nam
1.3 Mô Hình Hoạt Động Của Công Ty Chứng Khoán
Trên thế giới hiện nay có 2 loại mô hình hoạt động của công ty chứng khoán:
Công ty chuyên doanh chứng khoán:
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyênmôn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận; các ngân hàng không được trực tiếp tham giakinh doanh chứng khoán.Ưu điểm của mô hình này:Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạođiều kiện cho TTCK phát triển do tính chuyên môn hóa cao hơn.Mô hình này được áp dụng ởnhiều nước như Mỹ, Nhật, Canada…
Công ty đa năng kinh doanh tiền tệ và chứng khoán
Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinhdoanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ.Mô hình này có ưu điểm là ngân hàng có thể
đa dạng hóa, kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinhdoanh chung, khả năng chịu đựng các biến động của TTCK là cao Mặt khác, ngân hàng tậndụng được thế mạnh về vốn để kinh doanh chứng khoán; khách hàng có thể sử dụng được nhiềudịch vụ đa dạng và lâu năm của ngân hàng
Tuy nhiên, mô hinh này bộc lộ một số hạn chế như không phát triển được thị trường cổphiếu do các ngân hàng có xu hướng bảo thủ, thích hoạt động tín dụng truyền thống hơn là bảolãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu Mặt khác, theo mô hình này, nếu có biến động trên TTCK sẽ
Trang 4ảnh hưởng mạnh đến hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, dễ dẫn đến các cuộc khủnghoảng tài chính.
Tại Việt Nam, do quy mô các ngân hàng thương mại nói chung là nhỏ bé, và đặc biệt vốn dàihạn rất thấp, hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam chủ yếu trong lĩnh vực tínhdụng thương mại ngắn hạn, trong hoạt động của TTCK thuộc lĩnh vực vốn dài hạn Khả năngkhắc phục những điểm yếu này của ngân hàng Việt Nam còn rất lâu dài Do đó, để bảo vệ antoàn cho các ngân hàng, Nghị định 144/CP về chứng khoán và TTCK quy định các Ngân hàngthương mại muốn kinh doanh chứng khoán phải tách ra một phần vốn tự có của mình thành lậpmột Công ty chứng khoán chuyên doanh trực thuộc, hạch toán độc lập với ngân hàng
1.4 Nguyên Tắc Hoạt Động Của Công Ty Chứng Khoán
Công ty chứng khoán hoạt động theo 2 nhóm nguyên tắc cơ bản đó là nhóm nguyên tắc mangtính đạo đức và nhóm nguyên tắc mang tính tài chính
1.4.1Nhóm Nguyên Tắc Đạo Đức:
Công ty chứng khoán phải đảm bảo giao dịch trung thực và công bằng vì lợi ích của khách hàng:
- Kinh doanh có kỹ năng, tận tuỵ, có tinh thần trách nhiệm
- Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của công ty
- Có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng, không được tiết lộ các thông tin về tài khoản kháchhàng khi chưa được khách hàng đồng ý bằng văn bản trừ khi có yêu cầu của các cơ quanquản lý nhà nước
- Công ty chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn phải cung cấp thông tin đầy đủ chokhách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng có thể phải gánh chịu, đồngthời họ không được khẳng định về lợi nhuận các khoản đầu tư mà họ tư vấn
- Công ty chứng khoán không được phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoản thùlao thông thường cho dịch vụ tư vấn của mình
Trang 5- Ở nhiều nước, các công ty chứng khoán phải đóng góp tiền vào quỹ bảo vệ nhà đầu tư chứngkhoán để bảo vệ lợi ích khách hàng trong trường công ty chứng khoán mất khả năng thanhtoán.
- Nghiêm cấm thực hiện các giao dịch nội gián, các công ty chứng khoán không được phép sửdụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình, gây thiệt hại đến lợi íchcủa khách hàng
- Các công ty chứng khoán không được tiến hành các hoạt động có thể làm cho khách hàng vàcông chúng hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của chứng khoán hoặc các hoạt động khácgây thiệt hại cho khách hàng
1.4.2 Nhóm Nguyên Tắc Tài Chính:
- Đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán, báo cáo theo quy định củaUBCK nhà nước Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết kinh doanh chứng khoán với kháchhàng
- Công ty chứng khoán không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinhdoanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng phục vụ cho giao dịch của khách hàng
- Công ty chứng khoán phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản củamình Công ty chứng khoán không được dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thế chấp
để vay vốn trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản
1.5 Vai Trò Và Chức Năng Của Công Ty Chứng Khoán
Hoạt động của thị trường chứng khoán trước hết cần những người môi giới trung gian, đó làcác công ty chứng khoán - một định chế tài chính trên thị trường chứng khoán, có nghiệp vụchuyên môn, đội ngũ nhân viên lành nghề và bộ máy tổ chức phù hợp để thực hiện vai trò trunggian môi giới mua - bán chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một số dịch vụ khác cho cảngười đầu tư lẫn tổ chức phát hành
Trang 6Công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung
và của thị trường chứng khoán nói riêng Nhờ các công ty chứng khoán mà chứng khoán đượclưu thông từ nhà phát hành tới người đầu tư và có tính thanh khoản, qua đó huy động nguồn vốn
từ nơi nhàn rỗi để phân bổ vào những nơi sử dụng có hiệu quả
Chức năng cơ bản của công ty chứng khoán:
- Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi đến người sử dụng vốn(thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành)
- Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch (thông qua hệ thống khớp giá hoặc khớp lệnh)
- Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán (hoán chuyển từ chứng khoán ra tiền mặt, vàngược lại từ tiền mặt ra chứng khoán một cách dễ dàng)
- Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tự doanh hoặc vai trò nhà tạolập thị trường)
Với những đặc điểm trên, công ty chứng khoán có vai trò quan trọng đối với những chủ thể khácnhau trên thị trường chứng khoán
Đối với các tổ chức phát hành
Mục tiêu khi tham gia vào thị trường chứng khoán của các tổ chức phát hành là huy độngvốn thông qua việc phát hành các chứng khoán Vì vậy, thông qua hoạt động đại lý phát hành,bảo lãnh phát hành, các công ty chứng khoán có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ cácnhà phát hành
Một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán là nguyên tắc trunggian Nguyên tắc này yêu cầu những nhà đầu tư và những nhà phát hành không được mua bántrực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung gian mua bán Các công ty chứng khoán sẽthực hiện vai trò trung gian cho cả người đầu tư và nhà phát hành Và khi thực hiện công việcnày, công ty chứng khoán đã tạo ra cơ chế huy động vốn cho nền kinh tế thông qua thị trườngchứng khoán
Đối với các nhà đầu tư
Trang 7Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, công tychứng khoán có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả cáckhoản đầu tư.
Đối với hàng hoá thông thường, mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho ngườimua và người bán Tuy nhiên, đối với thị trường chứng khoán, sự biến động thường xuyên củagiá cả chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí,công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư Nhưng thông qua các công
ty chứng khoán, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tư thựchiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả
Đối với thị trường chứng khoán
Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường Giá cả chứng khoán là do thị trường quyếtđịnh Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua và người bán phải thông qua các công
ty chứng khoán vì họ không được tham gia trực tiếp vào quá trình mua bán Các công ty chứngkhoán là những thành viên của thị trường, do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trườngthông qua đấu giá Trên thị trường sơ cấp, các công ty chứng khoán cùng với các nhà phát hànhđưa ra mức giá đầu tiên Chính vì vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự thamgia định giá của các công ty chứng khoán
Các công ty chứng khoán còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiết thị trường
Để bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích của chính mình, nhiều công tychứng khoán đã giành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường
Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính Thị trường chứng khoán cóvai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính Nhưng các công tychứng khoán mới là người thực hiện tốt vai trò đó vì công ty chứng khoán tạo ra cơ chế giao dịchtrên thị trường Trên thị trường cấp 1, do thực hiện các hoạt động như bảo lãnh phát hành, chứngkhoán hoá, các công ty chứng khoán không những huy động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuấtkinh doanh cho nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính đượcđầu tư vì các chứng khoán qua đợt phát hành sẽ dược mua bán giao dịch trên thị trường cấp 2.Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho người đầu tư Trên thị trường cấp 2, do thựchiện các giao dịch mua và bán các công ty chứng khoán giúp người đầu tư chuyển đổi chứng
Trang 8khoán thành tiền mặt và ngược lại Những hoạt động đó có thể làm tăng tính thanh khoản củanhững tài sản tài chính.
Đối với các cơ quan quản lý thị trường
Công ty chứng khoán có vai trò cung cấp thông tin về thị trường chứng khoán cho các cơquan quản lý thị trường để thực hiện mục tiêu đó Các công ty chứng khoán thực hiện được vaitrò này bởi vì họ vừa là người bảo lãnh phát hành cho các chứng khoán mới, vừa là trung gianmua bán chứng khoán và thực hiện các giao dịch trên thị trường Một trong những yêu cầu củathị trường chứng khoán là các thông tin cần phải được công khai hoá dưới sự giám sát của các cơquan quản lý thị trường Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa lànguyên tắc nghề nghiệp của các công ty chứng khoán vì công ty chứng khoán cần phải minhbạch và công khai trong hoạt động Các thông tin công ty chứng khoán có thể cung cấp bao gồmthông tin về các giao dịch mua, bán trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu Trái phiếu và tổchức phát hành, thông tin về các nhà đầu tư v.v .nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thịtrường có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường
Tóm lại, công ty chứng khoán là một tổ chức chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán, có vaitrò cần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà phát hành đối với các cơ quan quản lýthị trường và đối với thị trường chứng khoán nói chung Những vai trò này được thể hiện thôngqua các nghiệp vụ hoạt động của công ty chứng khoán
1.6 ĐỀ ÁN 1826
Sau hơn 12 năm đi vào hoạt động, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã đạt đượcnhững thành tựu quan trọng, góp phần giải quyết nhu cầu về vốn của nền kinh tế, thúc đẩy quátrình cổ phần hóa (CPH) các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), thu hút đầu tư nước ngoài và từngbước xã hội hóa hoạt động đầu tư của công chúng Tuy nhiên, là một thị trường mới hình thành,lại chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu từ năm 2008 vànhững khó khăn của nền kinh tế trong nước, TTCK Việt Nam đã và đang bộc lộ nhiều khiếmkhuyết
Từ đầu năm 2012, Chính phủ đã có những động thái tích cực trong việc điều hành chính sáchkinh tế vĩ mô và từng bước tái cấu trúc TTCK Ngày 06/12/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký
Trang 9Quyết định số 1826/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tái cấu trúc thị trường chứng khoán và doanhnghiệp bảo hiểm”.
Theo đề án 1826 về việc tái cấu trúc thị trường chứng khoán thì việc tái cấu trúc lại các tổchức kinh doanh chứng khoán là một trong những trọng tâm rất quan trọng trong đề án này.Mộttrong những mục tiêu của đề án là cơ cấu lại hệ thống các tổ chức kinh doanh chứng khoán phùhợp với nhu cầu, đặc điểm và quy mô phát triển của thị trường; củng cố hoạt động, nâng caonăng lực tài chính, quản trị công ty, quản trị rủi ro tại các tổ chức này theo thông lệ quốc tế Việctái cấu trúc sẽ dựa trên một số quan điểm sau:
- Tái cấu trúc tổ chức, công ty kinh doanh chứng khoán theo quy định của pháp luật và trên
cơ sở tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế, phù hợp với kế hoạch tái cơ cấu hệ thống tài chínhngân hàng, nền kinh tế và điều kiện thực tế ở nước ta
- Tái cấu trúc tổ chức, công ty kinh doanh chứng khoán một cách đồng bộ, toàn diện
- Tái cấu trúc tổ chức công ty kinh doanh chứng khoán theo lộ trình cụ thể, thận trọng,chắc chắn, không làm xáo trộn hoạt động của thị trường, bảo đảm quyền và lợi ích hợppháp của nhà đầu tư, khách hàng và sự an toàn của cả hệ thống; tiết giảm chi phí xã hội
- Tái cấu trúc tổ chức, công ty kinh doanh chứng khoán chu theo nguyên tắc thị trường trên
cơ sở doanh nghiệp tự nguyện, tự chịu trách nhiệm, cơ quan quản lý nhà nước chỉ thựchiện vai trò quản lý, giám sát, không làm thay doanh nghiệp
2 THỰC TRẠNG CỦA CÁC CÔNG TY KINH DOANH CHỨNG KHOÁN
2.1 Số Lượng Và Quy Mô Hoạt Động Của Các Công Ty Chứng Khoán Việt Nam.
Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 07/2000,
để đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường, nhiều CTCK đã được thành lập Trong thời gianđầu, số lượng và quy mô của cácCTCK còn hết sức khiêm tốn (3 công ty),nhưng đến các năm2005-2006 và cho đến đầu năm 2007, khi thị trường chứng khoán ViệtNam phát triển mạnh, tốc
độ cổ phần hóa được đẩy nhanh, chính sách tiền tệ nới lỏng, hoạt động cho vay đầu tư chứngkhoán của các NHTM không bị kiểm soát chặt chẽ… thì CTCK cũng phát triển, số lượng công
ty tăng nhanh đạt 105 công ty, nghiệp vụ đa dạng, quy mô vốn và nguồn nhân lực phát triển,kinh doanh có lãi lớn Song kể từ đầu năm 2009 đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam điều
Trang 10chỉnh mạnh, hầu như không có CTCK nào được thành lập mới Con số 105 CTCK hiện nayđược xem là quá nhiều so với quy mô, nhu cầu của TTCK Việt Nam Điều này có thể nhận thấy
rõ ràng nếu so sánh với một số TTCK khác trong khu vực Tổng số tài khoản cá nhân trênTTCK VN chỉ ở mức khoảng 0,7% dân số hiện tại trong khi Trung Quốc có khoảng trên 100triệu tài khoản, tương đương với khoảng 8% dân số, nhưng số lượng CTCK cũng chỉ bằng ViệtNam; thị trường chứng khoán Thái Lan với quy mô khoảng 100 tỷ USD, giá trị giao dịch bìnhquân/phiên khoảng 400 triệu USD nhưng chỉ có gần 40 CTCK; Singapore chỉ có 26 CTCK,Malaysia có 33 CTCK…
Số lượng lớn CTCK Việt Nam đang hoạt động nhỏ lẻ cho thấy sự phát triển thiếu chuyênnghiệp và chưa có định hướng dài hạn Theo thống kê, hiện có hơn 105 CTCK đang hoạt độngnhưng nắm thị phần chi phối thị trường chỉ khoảng 20 CTCK, các CTCK còn lại chỉ hoạt độngkhông hơn một quỹ đầu tư Thị trường chứng khoán có tổng vốn hóa khá lớn (khoảng hơn 40 tỷUSD tính tới cuối quý II/2013) nhưng giao dịch cổ phiếu hàng ngày trên mỗi sàn lại rất thấp chỉvài trăm tỷ đồng, tương đương vài chục triệu USD Do đó, 105 CTCK là quá nhiều Trong đó,chỉ 10 công ty dẫn đầu đã nắm 60-70% thị phần Phần còn lại là quá ít, không đủ giúp cácCTCK ở tốp dưới duy trì hoạt động
Mặc dù số lượng CTCK nhiều nhưng mạng lưới các chi nhánh, phòng giao dịch chưarộng khắp, chủ yếu vẫn chỉ tập trung ở những tỉnh, thành phố có kinh tế phát triển Đặc biệt,theo thống kê từ đầu năm 2010 đến nay, có tới 54 chi nhánh, phòng giao dịch (PGD) của hơn 30CTCK đã đóng cửa, trong khi chỉ có 28 chi nhánh, PGD của 20 CTCK được mở mới Dẫn đầu
là CTCK ThăngLong (TLS) khi đóng cửa tới 6PGD và chuyển trụ sở chính, tiếp theo là WSSvới việc đóng cửa 5 chi nhánh, PGD
2.2 Năng Lực Tài Chính
Theo quy định hiện hành,CTCK phải có vốn điều lệ tối thiểu 300 tỷ đồng nếu muốn có
đủ 4 nghiệp vụ kinh doanh là môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành và tư vấn đầu tư chứngkhoán Tuy nhiên, số lượng CTCK có quy mô nguồn vốn chủ sở hữu dưới 300 tỷ đồng (tươngđương khoảng 15 triệu USD) chiếm khoảng 65% số lượng CTCK trên thị trường Đặc biệt, sốlượng CTCK có vốn điều lệ dưới 50 tỷ đồng ( tương đương dưới 2,5 triệu USD) có xu hướnggia tăng qua các năm Thậm chí, một số CTCK đã xin rút giấy phép hoạt động một số nghiệpvụnhằm giảm áp lực vốn điều lệ theo quy định
Trang 11Theo báo cáo vốn khả dụng cuối quý 2 năm 2013 của các CTCK cho thấy: Nhiều CTCKđạt tỷ lệ an toàn vốn khả dụng trên 250%, thậm chí, có công ty đạt hơn 300% điều này cho thấycác công ty chứng khoán đã có những cải thiện đáng kể về năng lực tài chính của mình.
NHÓM CTCK CÓ TỶ LỆ VỐN KHẢ DỤNG CAO TẠI THỜI ĐIỂM 30/6/2013
Tên công ty Vốn khả dụng (tỷ đồng)
Giá trị rủi ro(tỷ đồng) Tỷ lệ an toàn (%)
(Nguồn: Báo cáo của các công ty chứng khoán)
Theo UBCKNN, tính đến hết tháng 6/2013, tổng vốn điều lệ của các CTCK trên thịtrường là 36.577 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu khoảng 37.000 tỷ đồng, khoảng 40% số CTCK cólãi.Dù có những CTCK mất vốn, hay âm vốn chủ sở hữu, nhưng nhìn tổng thể, sức khỏe cácCTCK lớn vẫn khá tốt, đảm bảo hoạt động giao dịch, thanh toán, đồng thời nâng cao chất lượngdịch vụ chứng khoán, góp phần tăng sức cầu cho thị trường Bên cạnh đó, trên thị trường đang có
xu hướng phân loại rõ ràng hơn giữa các nhóm CTCK… Điều này cho thấy hoạt động giám sátcác CTCK đã có những kết quả nhất định về chất lượng, dự báo trong thời gian tới sẽ có sự giảmmạnh về số lượng các CTCK
Gần đây, Ủy ban Chứng khoán đã công bố danh sách 6 công ty chứng khoán bị đặt vào
Trang 12tình trạng kiểm soát đặc biệt từ ngày 23/4/2012 Sáu công ty này bao gồm: Công ty Cổ phầnChứng khoán Cao Su, Công ty Cổ phần Chứng khoán Vina, Công ty Cổ phần Chứng khoán HàNội, Công ty Cổ phần Chứng khoán Trường Sơn, Công ty Cổ phần Chứng khoán Đà Nẵng vàCông ty Cổ phần Chứng khoán Mê Kông Nguyên do, các công ty này có tỷ lệ vốn khảdụng/tổng rủi ro nhỏ hơn 120%, bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt theo quy định tạiThông tư số 226/2010/TT-BTC ngày 31/12/2010 của Bộ Tài chínhquy định về điều kiện hoạtđộng của CTCK Nếu các CTCK có tỷ lệ vốn khả dụng thấp hơn 150% sẽ bị đưa vào diện kiểmsoát đặc biệt và sau 6 tháng nếu không thay đổi được sẽ bị thu hồi giấy phép.
Dựa trên chỉ số an toàn tài chính và vi phạm của các CTCK, UBCKNN đã ban hànhquyết định chấm dứt mọi hoạt động kinh doanh để thực hiện thủ tục thu hồi giấy phép thành lập
và hoạt động với 3 CTCK, tạm dừng hoạt động 2 CTCK Ngoài ra, có 2 CTCK nộp hồ sơ xingiải thể Nếu theo đúng lịch trình đến tháng 10-2013 đến cuối năm sẽ có thêm ít nhất 4 CTCKnữa rơi vào hoàn cảnh tương tự Từ nay đến lúc đó sẽ có thêm hàng chục CTCK rơi vào diệnkiểm soát đặc biệt để vào danh sách dự khuyết thu hồi giấy phép sang năm
2.3 Kết Quả Hoạt Động:
Năm 2007,doanh thu và lợi nhuận sau thuế tính chung của khối công ty chứng khoántăng vọt Năm2008, con số này đột ngột chuyển sang lỗ 1.000 tỷ đồng Năm 2009, TTCK tăngtrưởng trở lại góp phần đưa mức lãi của các CTCK tăng lên 3.000 tỷ đồng Năm2010, chỉ còn1.800 tỷ đồng và năm2011 mức lỗ tính chung là khoảng 2.000 tỷ đồng Kết quả kinh doanh nóichung của các CTCK trong năm 2012 được cải thiện so với năm 2011 lãi khoảng 2.100 tỷ đồng
Kết quả kinh doanh nửa đầu năm 2013 tại các công ty chứng khoán tuy không bằng cùng
kỳ, nhưng thể hiện sự ổn định Hết quý 1, tổng lợi nhuận của các công ty chứng khoán là gần
520 tỉ đồng Sang quý 2, con số này là 452 tỉ đồng.Lợi nhuận công ty chứng khoán chủ yếu đến
từ hai nguồn là lãi tiền gửi và cho vay ký quỹ (margin) Tuy nhiên, năm nay lãi suất tiền gửi lạigiảm rất mạnh, chưa kể với sóng chứng khoán như thời gian qua, các nhà đầu tư vay margincũng không nhiều nên cũng khó kéo được lợi nhuận lên như quý I/2012 cho các công ty Ngay
cả công ty chứng khoán thuộc top 10 thị phần, doanh thu môi giới cũng chỉ có thể trang trảikhoảng 70% chi phí hoạt động doanh nghiệp Đối với các đơn vị cỡ vừa và nhỏ, khách hànghiện nay lại có xu thế rời bỏ để tìm đến các doanh nghệp lớn mạnh, có tên tuổi và thị phần ổnđịnh Trong 81 công ty chứng khoán đã công bố kết quả kinh doanh quý 2/2013 vừa rồi, 31 công