1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VIỆC DỰ PHÒNG NGUỒN LỰC ĐỘNG DOANH NGHIỆP VÀ VIỆC TẠO RA TÀI SẢN CHO TỔ CHỨC

68 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 877,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu của đề tài là gì? ▪ Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là xác định các yếu tố của nguồn lực động doanh nghiệp (Coporate entrepreneuship) và ảnh hưởng của nó đến sự tạo ra tài sản cho tổ chức (Organization wealth Creation). Câu hỏi nghiên cứu của đề tài này là: “Bằng cách nào các nguồn lực động doanh nghiệp góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng, hiệu quả kinh doanh và việc tạo ra tài sản cho tổ chức?” (in what way does corporate entrepreneurship contribute to organizational growth, profitability and wealth creation) ▪ Mối quan hệ giữa nguồn lực động doanh nghiệp và việc tạo ra tài sản của doanh nghiệp đã được đưa ra trong các nghiên cứu trước đây, tuy nhiên chỉ tập trung nghiên cứu các ảnh hưởng trực tiếp của nguồn lực động doanh nghiệp đến sự tăng trưởng và hiệu quả kinh doanh. Tuy nhiên việc nghiên cứu trên góc độ gián tiếp và sự ảnh hưởng qua lại (interaction effect) giữa các yếu tố của nguồn lực động (liên quan tới tính môi trường và tính cổ chức) và sự cá biệt của tài sản của tổ chức thì bị giới hạn trong quá trình nghiên cứu

Trang 1

PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐỀ TÀI

“ VIỆC DỰ PHÒNG NGUỒN LỰC ĐỘNG DOANH NGHIỆP VÀ VIỆC TẠO RA TÀI SẢN

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM 11

TT SBD HỌ VÀ TÊN ĐÓNG GÓP MỨC ĐỘ KÝ TÊN

1 007100

VŨ BẢO VÂN (NHÓM TRƯỞNG) 100%

2 006749 Nguyễn Văn Tuấn 100%

3 007091 Hoàng Thị Hải Vân 100%

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA THẦY NGUYỄN HÙNG PHONG

- - -

Trang 4

1 METHODOLOGY OF SCIENTIFIC RESEARCH ANSWER

Coparate entrepreneurship contingencies and organization wealth creation

Trang 5

PHẦN TRẢ LỜI CÂU HỎI ĐỀ TÀI

“ VIỆC DỰ PHÒNG NGUỒN LỰC ĐỘNG DOANH NGHIỆP

VÀ VIỆC TẠO RA TÀI SẢN CHO TỔ CHỨC ”

(Coparate entrepreneurship contingencies and organization wealth creation)

- - -

Câu 1: Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu của đề tài là gì?

▪ Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là xác định các yếu tố của nguồn lực động

doanh nghiệp (Coporate entrepreneuship) và ảnh hưởng của nó đến sự tạo ra tài sản cho tổ chức (Organization wealth Creation) Câu hỏi nghiên cứu của đề tài

này là: “Bằng cách nào các nguồn lực động doanh nghiệp góp phần thúc đẩy sự

tăng trưởng, hiệu quả kinh doanh và việc tạo ra tài sản cho tổ chức?” (in what way does corporate entrepreneurship contribute to organizational growth, profitability and wealth creation)

▪ Mối quan hệ giữa nguồn lực động doanh nghiệp và việc tạo ra tài sản của doanh nghiệp đã được đưa ra trong các nghiên cứu trước đây, tuy nhiên chỉ tập trung

nghiên cứu các ảnh hưởng trực tiếp của nguồn lực động doanh nghiệp đến sự tăng trưởng và hiệu quả kinh doanh Tuy nhiên việc nghiên cứu trên góc độ gián

tiếp và sự ảnh hưởng qua lại (interaction effect) giữa các yếu tố của nguồn

lực động (liên quan tới tính môi trường và tính cổ chức) và sự cá biệt của tài sản của tổ chức thì bị giới hạn trong quá trình nghiên cứu

▪ Trong khi những nghiên cứu trước đây có đặc trưng là đi theo phương pháp

nguyên nhân thời gian (Temporal Causal path) (từ những tiền đề đến các kết

quả) đây là phương pháp đơn giản, dễ hiểu nhưng đã che kín những ảnh

hưởng gián tiếp quan trọng vì vậy yếu tố môi trường, tổ chức và các yếu tố

hiệu suất không được đưa ra một cách đầy đủ Đề tài này sẽ tiếp cận vấn đề ở

những góc độ khác, bắt đầu từ những kết quả kinh doanh (như sự tăng trưởng,

Trang 6

hiệu quả hoạt động, việc tạo ra tài sản) sau đó nhận dạng các nguồn lực động liên quan dẫn dắt đến kết quả đó Thông qua hướng tiếp cận này, chúng ta sẽ đạt được một sự thông hiểu rộng hơn trong việc sử dụng các nguồn lực động của doanh nghiệp

▪ Các yếu tố của nguồn lực động doanh nghiệp được đề cập trong đề tài này bao

gồm : Yếu tố điều kiện môi trường kinh doanh (Environmental Conditions) và các yếu tố của tổ chức (Organizational Factors) Trong phạm vi nghiên cứu của

đề tài thì các yếu tố điều kiện môi trường kinh doanh (Environmental Conditions) bao gồm : Cơ hội công nghệ (Technological opportunities); Sự tăng

trưởng của nền công nghiệp (Industry growth) và nhu cầu sản phẩm mới

(Demand for new products) Các yếu tố của tổ chức – (Organizational

Factors) bao gồm : Hỗ trợ của tổ chức (Organizational support); kiểm soát

chính thức (Formal controls) và số lượng liên minh kinh doanh (Number of alliance)

▪ Thuật ngữ “tài sản (Wealth)” ở đây là đề cập đến tài sản ròng (Net Asset) của cổ

phiếu hoặc rộng hơn là toàn bộ nguồn vốn được định giá bởi tiền hoặc hoặc các phương tiện thanh toán khác Việc tạo ra tài sản doanh nghiệp bao gồm những tài sản mới hữu hình, như những quỹ tiền tệ khả dụng, đến những tài sản mới

“phi hữu hình” như là kiến thức Đề tài này tập trung vào những tài sản tài chính

hữu hình (new tangible financial assets) với việc tạo ra những tài sản doanh

nghiệp được định nghĩa là việc tạo ra những quỹ khả dụng

Trang 7

Câu 2: Hãy nhận dạng mô hình lý thuyết của đề tài?

Mô hình lý thuyết được xây dựng từ mối quan hệ giữa hai khái niệm trừu tượng : nguồn lực động và tạo ra tài sản cho tổ chức được nhìn nhận qua mô hình nghiên cứu sau:

Điều kiện môi trường:

• Tính năng động (Dynamism)

• Cơ hội công nghệ (Technological)

• Tăng trưởng ngành (Industry Growth)

• Nhu cầu về sản phẩm mới (Demand for

New Products)

Nguồn lực động Coporate Entrepreneurship

Yếu tố Tổ chức

• Sự hỗ trợ từ tổ chức (Organizational

Support)

• Kiểm soát chính thức (Formal Control)

• Số liên kết (Number of Alliances)

Performance:

• Tăng trưởng (Growth)

• Lợi nhuận (Profitability)

• Tạo giá trị mới (New Wealth)

▪ Môi trường bên ngoài: Môi trường bên ngoài được xem như một yếu tố có ảnh hưởng quyết định tới hoạt động kinh doanh của cá nhân lẫn doanh nghiệp đã xây dựng nên những mô hình dự phòng hoặc bằng cách sử dụng những khuôn mẫu

để giải thích và dự đoán sự mâu thuẩn giữa hoạt động kinh doanh và kết quả của doanh nghiệp dưới tác động của các yếu tố bên ngoài và bên trong Các nhà nghiên cứu như cho rằng yếu tố môi trường bên ngoài đóng vai trò quan trọng Một số đặc điểm về môi trường, chẳng hạn như tính năng động, cơ hội công nghệ, tăng trưởng công nghiệp, và nhu cầu về sản phẩm mới có thể khiến các công ty lao vào những hành vi phi kinh doanh

Trang 8

▪ Sự năng động đề cập đến việc nhận thức được sự không ổn định và những thay đổi liên tục trên thị trường Tăng sự năng động có thể tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh do tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh hơn trên thị trường Tổ chức thường phản ứng lại những điều kiện thách thức trong môi trường công nghệ cao

và năng động bằng cách mô phỏng một cách thức kinh doanh mới phù hợp hơn Những thay đổi trong cấu trúc ngành và công nghệ cơ bản được cho là ảnh hưởng đến khả năng kinh doanh của doanh nghiệp Nghiên cứu cho rằng việc nhận thức được sự suy giảm sẽ khiến các công ty trong ngành công nghiệp đó gia tăng các hoạt động đổi mới Những thị trường phát triển, mặt khác, tạo cơ hội dẫn đến tăng hoạt động của tổ chức Theo đó, sáng tạo ra những sản phẩm mới giúp thị trường tăng trưởng cao và đã được đề xuất có liên quan đến sự thành công của công ty mới thành lập Nhu cầu về các sản phẩm mới cũng tạo ra một lực cầu quan trọng nhằm khuyến khích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, người ta cho rằng tính năng động, cơ hội công nghệ, phát triển công nghiệp, và nhu cầu về sản phẩm mới sẽ có tác động tích cực đến khả năng kinh doanh của công ty

▪ Yếu tố bên trong của tổ chức: Hỗ trợ quản lý và hỗ trợ tổ chức có thể có lợi cho khả năng kinh doanh Tầm quan trọng của sự tham gia quản lý, cũng như khuyến khích quản lý cao nhất, và khen thưởng cho các hoạt động liên doanh được cảm thấy quan trọng đối với khả năng kinh doanh của công ty Hỗ trợ tổ chức liên quan đến đào tạo và tin tưởng cá nhân nhằm tìm kiếm các cơ hội được cho là ảnh hưởng tích cực đến khả năng kinh doanh của công ty Hỗ trợ tổ chức liên quan đến sự sẵn sàng của các nguồn lực được xem như một định hướng quan trọng của hoạt động kinh doanh của công ty Thêm vào đó, nên chú trọng đến một môi trường bên trong tổ chức hỗ trợ, sẵn sàng về các nguồn lực tài chính cho hoạt động kinh doanh Tầm quan trọng của hỗ trợ tổ chức đối với khả năng kinh doanh được tìm thấy trong một nghiên cứu, trong đó bao gồm các hoạt động hỗ trợ tổ chức (chẳng hạn như đào tạo và khen thưởng nhân viên, thiết lập các quy trình tiếp thu những ý tưởng mới) để thúc đẩy sự sáng tạo và đổi mới như một phần phương hướng tạo khả năng kinh doanh (đổi mới chiến lược) hơn là xem xét chúng như là tiền thân của khả năng kinh doanh của công ty Những đặc điểm của hỗ trợ tổ chức như hỗ trợ quản lý, định hướng công việc,

Trang 9

khen thưởng, thời gian, và xóa dần ranh giới trong nội bộ tổ chức là những yếu

tố quan trọng tác động đến khả năng kinh doanh của doanh nghiệp Dựa trên nghiên cứu này, hỗ trợ tổ chức được mong đợi sẽ có mối quan hệ tích cực đối với khả năng kinh doanh của doanh nghiệp

▪ Kiểm soát chính thức liên quan đến việc sử dụng các quy tắc hệ thống hoá, mục tiêu, thủ tục, và quy định rõ mô hình mong muốn của hành vi Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của kiểm soát và đánh giá đối với hoạt động kinh doanh Nghiên cứu cũng coi kiểm soát chính thức là cần thiết đối với lựa chọn hoạt động kinh doanh Trong khi hai nghiên cứu chỉ ra một mối quan hệ tích cực, nhấn mạnh tác dụng ức chế của việc sử dụng quá nhiều các điều khiển chính thức đối với hoạt động kinh doanh của công ty Những phát hiện này gợi ý tại một mối quan hệ phi tuyến giữa kiểm soát chính thức và khả năng kinh doanh của công ty Vì vậy, kiểm soát chính thức đối với các hoạt động không kinh doanh sẽ liên kết tích cực với khả năng kinh doanh của công ty, nhưng có thể, khi quá quá nhiều, sẽ hạn chế hoạt động kinh doanh

▪ Liên minh chiến lược là một yếu tố gắn kết các tổ chức với nhau nhằm hỗ trợ hoạt động kinh doanh Nghiên cứu về hoạt động kinh doanh trước đây không đề cập tới đặc điểm của một tổ chức phản ánh mối quan hệ của nó với các công ty khác trong việc đánh giá khả năng kinh doanh của công ty Nghiên cứu này củng

cố thêm quan điểm cho rằng sự đổi mới không bị cô lập trong một tổ chức, nhưng chịu ảnh hưởng của cụm của các công ty Các nhà nghiên cứu tập trung vào việc đổi mới nhấn mạnh tầm quan trọng của hệ thống mạng thông tin và hợp tác cho sự thành công của đổi mới bên trong lẫn bên ngoài, cũng như các công

ty và tương tác của nó với các công ty trong môi trường của nó Vì vậy, hiện tại việc tập trung nghiên cứu hoạt động kinh doanh cần được mở rộng đến các đặc tính công ty như các mối quan hệ của nó đối với các công ty khác trong liên minh chiến lược hay mạng hoạt động của chính nó

▪ Các liên minh chiến lược có xu hướng là một dạng hẹp của những quan hệ mạng Theo một định nghĩa được sử dụng rộng rãi của Parkhe (1991, trang 581), liên minh chiến lược là "những liên minh lâu dài giữa các công ty, các dòng chảy và

Trang 10

các mối gắn kết liên quan để chia sẽ nguồn lực, cấu trúc quản lý lẫn nhau, hướng đến thực hiện mục tiêu cá nhân gắn kết với sứ mạng tổ chức của mỗi thành viên" "Liên minh về cơ bản mang tính chia sẽ, đôi khi chấp nhận thiệt thòi cá nhân vì lợi ích chung Những liên minh và các mạng quan hệ có thể được xem như là sự phát triển cách mạng, một cơ chế hợp tác nhiều mặt

▪ Các yếu tố môi trường bên ngoài và bên trong tạo ra sự tăng trưởng, lợi nhuận, tạo ra của cải cho tổ chức

Trang 11

Câu 3: Việc đo lường các biến tiềm ẩn bằng các yếu tố thành phần có đủ độ tin cậy

thống kê hay không?

▪ Đề tài nghiên cứu này tập trung vào phân tích sự ảnh hưởng của Nguồn lực động (Coporate Entrepreneurship –CE) đến việc tạo ra tài sản doanh nghiệp.Tài sản của doanh nghiệp được biểu hiện ở các yếu tố sau:

- Tăng trưởng (Growth)

- Lợi nhuận (Profitability)

- Tạo giá trị mới (New Wealth)

▪ CE thì bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc về Môi trường (Environmental Conditions) và Tổ chức (Organizational Factors) Mối quan hệ đó được mô phỏng như sau:

Điều kiện môi trường:

• Tính năng động (Dynamism)

• Cơ hội công nghệ (Technological)

• Tăng trưởng ngành (Industry Growth)

• Nhu cầu về sản phẩm mới (Demand for

New Products)

Nguồn lực động Coporate Entrepreneurship

Yếu tố Tổ chức

• Sự hỗ trợ từ tổ chức (Organizational Support)

• Kiểm soát chính thức (Formal Control)

• Số liên kết (Number of Alliances)

Performance:

• Tăng trưởng (Growth)

• Lợi nhuận (Profitability)

• Tạo giá trị mới (New Wealth)

Trang 12

Phụ thuộc

Tăng trưởng Lợi nhuận Giá trị mới

ĐK môi trường

Số lượng liên kết (bình phương) -0.01* -0.03* -0.03* -0.02*

Sự tương tác

Ghi chú : Hiệu quả gián tiếp được in nghiêng, * p<0.05 (một phía | t | > 1.64) a Hiệu quả trực tiếp =0.18 *,

b Hiệu quả trực tiếp=0.11*, c Hiệu quả trực tiếp=0.18*, d Hiệu quả trực tiếp=0.15* : biểu thị sự tương tác

Bảng 2 : Phương trình cấu trúc với tổng cộng các hiệu quả chính (trực tiếp và gián tiếp) và hiệu quả tương

tác (hệ số tiêu chuẩn hoá)

▪ Phân tích, ta có thể thấy:

- Biến độc lập là: Nguồn lực động (Coporate Entrepreneurship –CE)

- Biến phụ thuộc là: việc tạo ra tài sản doanh nghiệp mà biểu hiện ở: Tăng

trưởng (Growth);Lợi nhuận (Profitability);Tạo giá trị mới (New Wealth)

- Các yếu tố thành phần:

+ Điều kiện môi trường:

• Tính năng động (Dynamism)

• Cơ hội công nghệ (Technological)

• Tăng trưởng ngành (Industry Growth)

• Nhu cầu về sản phẩm mới (Demand for New Products)

+ Yếu tố Tổ chức

• Sự hỗ trợ từ tổ chức (Organizational Support)

• Kiểm soát chính thức (Formal Control)

• Số liên kết (Number of Alliances)

Trang 13

▪ Bộ ba giả thuyết đã được thử nghiệm – những tác động trực tiếp của CE về hiệu suất & hiệu quả của cả 2 điều kiện Môi trường và các yếu tố Tổ chức trong mô hình Mô hình thử nghiệm các giả thuyết này được ước tính đi và ước tính lại như là một mô hình phương trình cấu trúc bằng cách sử dụng EQS – phương pháp thích hợp nhất vì cho phép ước lượng đồng thời các mối quan hệ phụ thuộc

và tương tác lẫn nhau, có khả năng đại diện cho các khái niệm không quan sát

được (ẩn) và các tính toán cho các lỗi đo lường trong quá trình lập dự toán

Phương pháp dự toán ERLS được sủ dụng vì nó điều chỉnh được độ lệch và tìm thấy đọ nhọn trong dữ liệu

▪ Để tăng sự cẩn thận trong mô hình tính toán, mỗi phần tử đai diện trong các mô hình là 1 biến được tính toán như là một trung bình của các phần tử mà nó đại diện Các biến bậc hai và tương tác được thu bằng cách sử dụng các sản phẩm của tổng indicants của một thuật ngữ bậc hai hoặc tương tác cơ bản (Cohen và Cohen, 1983) Mối quan hệ không tuyến tính của các điều khiển chính thức và

số lượng liên minh đã được mô hình hóa như các chức năng bậc hai của mục tương ứng

▪ Mục Composite bậc hai được tính toán theo đề nghị của Ping (1995, 1996, 1998) biến toàn phương tiềm ẩn được xác định bằng một mục composite (sản phẩm trung bình của mặt hàng tương ứng); tải trọng của nó và phương sai lỗi đã được tính toán dựa trên kích thước trội mục cơ bản, phương sai lỗi và sai số

▪ Sự ổn định của các mối quan hệ giữa các cấu trúc (hệ số của mô hình) được đánh giá bằng cách so sánh hệ số giữa hai mẫu bằng cách sử dụng phân tích đường nhiều nhóm, theo đề nghị của Singh (1995) và Janssens et al (1995) Cuối cùng, tác động của biến điều khiển đã được kiểm tra bằng cách chia tách các mẫu chung dọc theo mỗi biến điều khiển và kiểm tra sự khác biệt giữa hai mẫu xuất phát Trong nghiên cứu này một mẫu đại diện khá lớn được sử dụng mà không dựa vào lấy mẫu ngẫu nhiên, thay vào đó lấy mẫu tổng hợp từ các doanh nghiệp

ở Slovenia (30 nhân viên trở lên)

▪ Khi mô hình được kiểm tra thực nghiệm, thay vì phân tích hồi quy đa biến, nhiều phương pháp phân tích ước lượng thích hợp được sử dụng đồng thời, mô hình

Trang 14

tuyến tính với phương trình cấu trúc Phương pháp quy nạp làm sáng tỏ mối quan hệ mật thiết của các cơ sở tạo nên năng lực động trong sự gắn kết với các yếu tố môi trường và tổ chức

▪ So sánh các hệ số tiêu chuẩn ở mỗi cột của bảng II cho thấy thêm các cách hiểu

về tầm quan trọng tương hỗ của những thành tố mẫu Các yếu tố môi trường và

tổ chức giải thích 56% số biến số ở các doanh nghiệp Hiệu quả trực tiếp của việc sử dụng các công cụ dự báo trong mô hình đã giải thích đựơc 24% biến số trong việc tạo ra giá trị mới của tổ chức, 0.23 % biến số trong tăng trưởng và 16% trong lợi nhuận

▪ Loại trừ những giới hạn trong quá trình nghiên cứu (tính toàn diện, thiết kế nghiên cứu và đo lường, dữ liệu thu thập, những sai lệch…) ta có thể kết luận

rằng : Việc đo lường các biến tiềm ẩn bằng các yếu tố thành phần là đủ độ tin cậy thống kê

Trang 15

Câu 4: Nêu lên những cơ sở lý thuyết để thiết lập mô hình lý thuyết của đề tài?

Sự phát triển những giả thuyết được thảo luận trên mối quan hệ doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh cũng như sự ảnh hưởng của điều kiện môi trường và những nhân tố thuộc tổ chức đến hoạt động kinh doanh, kết quả kinh doanh và việc tạo ra tài sản của cải cho doanh nghiệp

Nguồn Lực động và sự tạo lập tài sản

▪ Sự tăng trưởng hay lợi nhuận của tổ chức thường là kết quả của những hoạt động

kinh doanh được thiết lập tốt trong tổ chức (Covin andSlevin, 1991) Hoạt động kinh doanh được cảm nhận là một phần của các tổ chức thành công (Peters và Waterman, 1982; Kanter, 1984; Pinchot, 1985) và có liên hệ tới tăng trưởng, lợi nhuận (Covin và Slevin, 1986; Zahra, 1991, 1993a; Zahra và Covin, 1995) của các công ty lớn

▪ Kết quả hoạt động kinh doanh được coi là kim chỉ nam của tăng trưởng tại các

công ty nhỏ (Covin, 1991), của thực hiện trong môi trường đối thủ cạnh tranh (Covin và Slevin, 1989), và của sự tăng trưởng của các công ty chăm sóc sức khỏe Hoa Kỳ (Stetz et al., 1998 ) Hoạt động kinh doanh đã và được xem là có mối liên quan tới tăng trưởng của các công ty Slovenia và Mỹ có quy mô, ngành công nghiệp khác nhau, đồng thời có mối liên hệ tới khả năng sinh lời của chỉ các công ty Slovenia (Antoncic và Hisrich, 2001) Morris và Sexton (1996) tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa các cường độ kinh doanh và sự gia tăng tăng trưởng, nhưng không tăng lợi nhuận của các công ty Mỹ Các nghiên cứu khác (Zahra andCovin năm 1995; Wiklund, 1999) phát hiện ra rằng định hướng kinh doanh của các công ty có xu hướng bền vững (dài hạn) ảnh hưởng tới tăng trưởng và hiệu quả tài chính, ngoài những tác động ngắn hạn

▪ Kinh doanh thường cũng là kết quả từ việc sáng tạo ra những giá trị mới (Hisrich

and Peters, 1998) Trong khi đó mức độ về khả năng sinh lợi có thể được xem như một điều kiện cần thiết quan trọng cho việc hình thành tài sản tổ chức mới Khả năng sinh lợi cũng có thể có liên quan đến hoạt động kinh doanh nhưng không giống như yếu tố tài sản mới Tài sản, của cải mới cũng là một công thức

Trang 16

của tỷ lệ tăng trưởng tổ chức, từ khi các công ty sinh lời với tăng trưởng cao hơn, ceteris Paribus, sẽ hình thành nên những cổ phiếu lớn hơn của các quỹ mới hơn là các công ty với mức độ tăng trưởng thấp hơn Việc tạo ra của cải tổ chức

đã và được xem là một yếu tố quan trọng, tiềm tang, và là kết quả của kinh doanh của công ty nói chung (Kanter, 1984; Peters and Waterman, 1982;Pinchot, 1985) cũng như hoạt động kinh doanh nói liên bao gồm đo lường thực hiện (Naman and Slevin, 1993) Tổ chức với sự chuẩn bị của cấp quản lý cấp cao cam kết với các hoạt động kinh doanh được mong đợi đạt được những mức độ cao hơn về tăng trưởng, khả năng sinh lợi và sáng tạo của cải mới, so sánh với các tổ chức có sự cam kết thấp hơn đối với các hoạt động kinh doanh Nghiên cứu này tạo nền tảng cơ bản cho giả thuyết sau:

Giả thuyết H1 Việc mở rộng hoạt động kinh doanh sẽ tác động tích cực tới kết

quả hoạt động kinh doanh của tổ chức liên quan đến (a) tăng trưởng (b) khả năng sinh lợi và (c) sáng tạo ra của cải mới

Những tiền đề kinh doanh – điều kiện môi trường và khả năng kinh doanh của doanh nghiệp

Môi trường bên ngoài được xem như một yếu tố có ảnh hưởng quyết định tới hoạt động kinh doanh của cá nhân lẫn doanh nghiệp (Covin và Slevin, 1991) Các nhà nghiên cứu như Zahra, năm 1991; Russell và Russell, năm 1992; Naman và Slevin, năm 1993; Zahra và Covin năm 1995; Antoncic và Hisrich,

2001 - đã xây dựng nên những mô hình dự phòng hoặc bằng cách sử dụng những khuôn mẫu (Badguerahanian và Abetti, 1995) để giải thích và dự đoán sự mâu thuẩn giữa hoạt động kinh doanh và kết quả của doanh nghiệp dưới tác động của các yếu tố bên ngoài và bên trong Các nhà nghiên cứu như (Miller, 1983; Khandwalla, 1987; Covin và Slevin, năm 1991; Zahra, 1993a; Zahra và Covin năm 1995; Dess et al, 1997.) cho rằng yếu tố môi trường bên ngoài đóng vai trò quan trọng Một số đặc điểm về môi trường, chẳng hạn như tính năng động, cơ hội công nghệ, tăng trưởng công nghiệp, và nhu cầu về sản phẩm mới

có thể khiến các công ty lao vào những hành vi phi kinh doanh

Trang 17

▪ Sự năng động đề cập đến việc nhận thức được sự không ổn định và những thay

đổi liên tục trên thị trường Tăng sự năng động có thể tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh do tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh hơn trên thị trường (Zahra, 1991) Tổ chức thường phản ứng lại những điều kiện thách thức trong môi trường công nghệ cao và năng động bằng cách mô phỏng một cách thức kinh doanh mới phù hợp hơn (Khandwalla, 1987) Những thay đổi trong cấu trúc ngành và công nghệ cơ bản được cho là ảnh hưởng đến khả năng kinh doanh của doanh nghiệp (Guth và Ginsberg, 1990) Zahra (1993a) cho rằng việc nhận thức được sự suy giảm sẽ khiến các công ty trong ngành công nghiệp đó gia tăng các hoạt động đổi mới Những thị trường phát triển, mặt khác, tạo cơ hội dẫn đến tăng hoạt động intrapreneurial Theo đó, sáng tạo ra những sản phẩm mới giúp thị trường tăng trưởng cao (Zahra, 1993b) và đã được đề xuất có liên quan đến

sự thành công của công ty mới thành lập (Hobson và Morrison, 1983) Nhu cầu

về các sản phẩm mới cũng tạo ra một lực cầu quan trọng (Zahra, 1993a) nhằm khuyến khích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, người ta cho rằng tính năng động, cơ hội công nghệ, phát triển công nghiệp, và nhu cầu về sản phẩm mới sẽ có tác động tích cực đến khả năng kinh doanh của công ty:

Giả thuyết H2 Khả năng kinh doanh chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi (a) mức độ

năng động của môi trường; (b) tăng trưởng công nghiệp; (c) các cơ hội công nghệ; và (d) nhu cầu cho các sản phẩm mới

▪ Vì khả năng kinh doanh được dự đoán ảnh hưởng tới hoạt động của tổ chức về

mặt tăng trưởng, lợi nhuận, và tạo ra của cải mới (xem H1), các điều kiện môi trường cũng có thể có một ảnh hưởng quan trọng gián tiếp vào hoạt động của tổ chức Một nghiên cứu gần đây (Antoncic và Hisrich, 2001) đã chứng minh rằng môi trường có xu hướng tác động mạnh gián tiếp đến khả năng kinh doanh của công ty, về hiệu suất công ty Nghiên cứu này tạo cơ sở cho các giả thuyết sau đây:

Giả thuyết H3 Năng suất tổ chức (tăng trưởng, lợi nhuận, và tạo ra của cải mới)

sẽ bị ảnh hưởng gián tiếp (với sự điều chỉnh trung gian của khả năng kinh

Trang 18

doanh) bởi: (a) mức độ năng động của môi trường; (b) tăng trưởng công nghiệp; (c) các cơ hội công nghệ; và ( d) nhu cầu về sản phẩm mới

▪ Đặc điểm môi trường cũng tác động tới khuynh hướng kinh doanh của doanh

nghiệp trong bối cảnh tác động của nó đến thực hiện Một số nghiên cứu (Miller

và Friesen, 1983; Covin và Slevin, năm 1989; Dess et al, 1997) đã đề xuất rằng mối quan hệ giữa khả năng kinh doanh và thực hiện nên được đặt trong bối cảnh tác động của các yếu tố chiến lược và môi trường Nghiên cứu này cho thấy qua tầm quan trọng của những ảnh hưởng trung gian tới hiệu suất của tổ chức Trên

cơ sở một nghiên cứu của Covin và Covin (1990) về các công ty sản xuất nhỏ hơn, rằng khả năng kinh doanh liên quan tới thể hiện một định hướng kinh doanh tích cực, nơi mà những công ty hiệu suất thấp thể hiện sự thụ động khi đối mặt với mối đe dọa từ môi trường Kết quả tương tự cũng được đưa ra trong báo cáo của Covin và Slevin (1989) Ngược lại nghiên cứu của Becherer và Maurer (1997) lại không cho thấy bằng chứng về ảnh hưởng trung gian của yếu

tố môi trường lên mối quan hệ lợi ích – định hướng kinh doanh của doanh nghiệp Nghiên cứu của chúng tôi về sự tác động của mối tương tác giữa môi trường và khả năng kinh doanh của doanh nghiệp ảnh hưởng tới năng suất là một sự pha trộn các kết quả của các nghiên cứu trước về mối quan hệ, dẫn đến giả thuyết sau:

Giả thuyết H4 Năng suất tổ chức (tăng trưởng, lợi nhuận, và tạo ra của cải mới)

sẽ bị ảnh hưởng tích cực bởi mức độ tương tác giữa khả năng kinh doanh và điều kiện môi trường, chẳng hạn như: (a) mức độ năng động của môi trường; (b) ngành công nghiệp tăng trưởng; (c) cơ hội công nghiệp và (d) nhu cầu cho các sản phẩm mới

Yếu tố tổ chức và khả năng kinh doanh của doanh nghiệp

▪ Các tổ chức hiện tại thể hiện một cấu trúc cơ hội cho việc kinh doanh

(Burgelman, 1983) Nghiên cứu trước tập trung vào các trở ngại về môi trường giữa các tổ chức cũng như những lợi ích của việc phát triển kinh doanh trong các doanh nghiệp (Souder, 1981; Schollhammer, 1982; Kanter, năm 1984, Pinchot, 1985; Luchsinger và agby, 1987; Hornsby et al , 1993) Hỗ trợ và điều khiển

Trang 19

chính thức là hai yếu tố tổ chức giúp tăng khả năng kinh doanh của doanh nghiệp (Antoncic và Hisrich, 2001)

▪ Hỗ trợ quản lý và hỗ trợ tổ chức có thể có lợi cho khả năng kinh doanh Tầm

quan trọng của sự tham gia quản lý (Merrifield, 1993), cũng như khuyến khích quản lý cao nhất (Hisrich và Peters, 1984), và khen thưởng cho các hoạt động liên doanh (MacMillan, 1986) được cảm thấy quan trọng đối với khả năng kinh doanh của công ty Hỗ trợ tổ chức liên quan đến đào tạo và tin tưởng cá nhân nhằm tìm kiếm các cơ hội (Stevenson và Jarillo, 1990) được cho là ảnh hưởng tích cực đến khả năng kinh doanh của công ty Hỗ trợ tổ chức liên quan đến sự sắn sàng của các nguồn lực được xem như một định hướng quan trọng của hoạt động kinh doanh của công ty (Kanter, 1984; Pinchot, 1985) Starr và MacMillan (1990) đề xuất kỹ thuật xã hội có thể giúp thu inresource doanh nhân Thêm vào

đó, nên chú trọng đến một môi trường bên trong tổ chức hỗ trợ, sẵn sàng về các nguồn lực tài chính cho hoạt động kinh doanh Ví dụ, Pinchot (1985) lập luận rằng sự sẵn sàng của nguồn lực tài chính dưới hình thức "intracapital" - một

"ngân sách không ràng buộc về thời gian" - nên là một cơ chế tổ chức quan trọng bồi dưỡng tinh thần kinh doanh trong công ty Tầm quan trọng của hỗ trợ

tổ chức đối với khả năng kinh doanh được tìm thấy trong một nghiên cứu của Zahra (1993a), trong đó bao gồm các hoạt động hỗ trợ tổ chức (chẳng hạn như đào tạo và khen thưởng nhân viên, thiết lập các quy trình tiếp thu những ý tưởng mới) để thúc đẩy sự sáng tạo và đổi mới như một phần phương hướng tạo khả năng kinh doanh (đổi mới chiến lược) hơn là xem xét chúng như là tiền thân của khả năng kinh doanh của công ty Những đặc điểm của hỗ trợ tổ chức như hỗ trợ quản lý, định hướng công việc, khen thưởng, thời gian, và xóa dần ranh giới trong nội bộ tổ chức (Hornsby et al., 1990, 1993) là những yếu tố quan trọng tác động đến khả năng kinh doanh của doanh nghiệp (Antoncic và Hisrich, 2001) Dựa trên nghiên cứu này, hỗ trợ tổ chức được mong đợi sẽ có mối quan hệ tích cực đối với khả năng kinh doanh của doanh nghiệp

H5a Mức độ hỗ trợ tổ chức liên quan tích cực trực tiếp đến mực độ kinh doanh

của doanh nghiệp Kiểm soát chính thức cũng mang lại lợi ích cho hoạt động kinh doanh

Trang 20

▪ Kiểm soát chính thức liên quan đến việc sử dụng các quy tắc hệ thống hoá, mục

tiêu, thủ tục, và quy định rõ mô hình mong muốn của hành vi (Das và Teng, 1998) Kuratko et al (1993) nhấn mạnh tầm quan trọng của kiểm soát và đánh giá đối với hoạt động kinh doanh Kanter (1989) cũng coi kiểm soát chính thức

là cần thiết đối với lựa chọn hoạt động kinh doanh Trong khi hai nghiên cứu chỉ

ra một mối quan hệ tích cực, MacMillan et al (1984) và Zahra (1991) nhấn mạnh tác dụng ức chế của việc sử dụng quá nhiều các điều khiển chính thức đối với hoạt động kinh doanh của công ty Những phát hiện này gợi ý tại một mối quan hệ phi tuyến giữa kiểm soát chính thức và khả năng kinh doanh của công

ty Vì vậy, kiểm soát chính thức đối với các hoạt động không kinh doanh sẽ liên kết tích cực với khả năng kinh doanh của công ty, nhưng có thể, khi quá quá nhiều, sẽ hạn chế hoạt động kinh doanh:

H5b Mức độ sử dụng kiểm soát chính thống trong nội bộ công ty sẽ liên quan

tích cực tới hoạt động kinh doanh, nhưng sẽ có một hình thức của một hình dạng đảo ngược-U

▪ Liên minh chiến lược là một yếu tố gắn kết các tổ chức với nhau nhằm hỗ trợ

hoạt động kinh doanh Nghiên cứu về hoạt động kinh doanh trước đây không đề cập tới đặc điểm của một tổ chức phản ánh mối quan hệ của nó với các công ty khác trong việc đánh giá khả năng kinh doanh của công ty Nghiên cứu này củng

cố thêm quan điểm của Schumpeter (1939) cho rằng sự đổi mới không bị cô lập trong một tổ chức, nhưng chịu ảnh hưởng của cụm của các công ty Các nhà nghiên cứu tập trung vào việc đổi mới nhấn mạnh tầm quan trọng của hệ thống mạng thông tin và hợp tác cho sự thành công của đổi mới bên trong lẫn bên ngoài (Freeman, 1991), cũng như các công ty và tương tác của nó với các công

ty trong môi trường của nó (DeBresson và Amesse, 1991) Vì vậy, hiện tại việc tập trung nghiên cứu hoạt động kinh doanh cần được mở rộng đến các đặc tính công ty như các mối quan hệ của nó đối với các công ty khác trong liên minh chiến lược hay mạng hoạt động của chính nó

▪ Các liên minh chiến lược có xu hướng là một dạng hẹp của những quan hệ mạng

Theo một định nghĩa được sử dụng rộng rãi của Parkhe (1991, trang 581), liên

Trang 21

minh chiến lược là "những liên minh lâu dài giữa các công ty, các dòng chảy và các mối gắn kết liên quan để chia sẽ nguồn lực, cấu trúc quản lý lẫn nhau, hướng đến thực hiện mục tiêu cá nhân gắn kết với sứ mạng tổ chức của mỗi thành viên" "Liên minh về cơ bản mang tính chia sẽ, đôi khi chấp nhận thiệt thòi cá nhân vì lợi ích chung (Parkhe, 1993, trang 796) Những liên minh và các mạng quan hệ có thể được xem như là sự phát triển cách mạng, một cơ chế hợp tác nhiều mặt (Osborn và Hagedoorn, 1997)

▪ Công ty liên kết hợp tác cho sự đổi mới là một chiến lược phổ biến thông qua

các công ty, đặc biệt là phát triển các sản phẩm mới và/ hoặc các quy trình (Smith et al., 1991) Liên minh của một tổ chức với các công ty khác thì rất quan trọng cho tinh thần kinh doanh của các công ty ) Trong các ngành công nghiệp

kỹ thuật cao như: công nghệ sinh học,đổi mới có thể dựa vào việc nghiên cứu tổ chức thông qua tổ chức hợp tác liên doanh( Powell et al.,1996) Sự thực là, như Saxenian (1991) đã chỉ ra cho các hãng trong Silicon Valley, mạng lưới sản phẩm của mối quan hệ hợp tác thúc đẩy việc nâng cao kỹ thuật và phát triển sản phẩm mới Deeps và Hill (1996) đã tìm ra mối quan hệ tích cực giữa việc sử dụng các khối liên minh và phát triển sản phẩm mới ; mối quan hệ giữa số các liên minh chiến lược và chỉ số của việc phát triển các sản phẩm mới hướng đến không tuyến tính (hình chữ U đảo ngược) Trong khi các nhà nghiên cứu này đã tìm ra mối quan hệ ở mức độ thấp là tuyệt đối ( khả năng), ở mức độ cao những chi phí của một liên minh thêm vào lớn hơn những lợi ích làm cho tỷ lệ phát triển của những sản phẩm mới bị suy giảm thêm vào số lượng các mối quan hệ của một công ty với các công ty khác (mức độ) một số đặc điểm khác của mạng lưới có thể có liên quan đến các doanh nghiệp liên doanh Đó là mạng lưới tài sản có thể được đánh giá từ cấu trúc mạng như mạng trung tâm (Powell et al., 1996; Tsai and Ghoshal, 1998) và mật độ mạng (Abrahamson và Rosenkopf, 1997) Trọng tâm của nghiên cứu này là nhằm vào các đặc tính tổ chức, chỉ có các khía cạnh quan hệ (mối quan hệ liên kết các công ty của một tổ chức), được coi như là số lượng các liên minh chiến lược của một tổ chức với các công ty khác Đây là điều căn bản của các giả thuyết sau:

Trang 22

H5c sự kết hợp trực tiếp giữa số lượng các hãng liên minh và sự mở rộng của

văn hóa doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hơn., nhưng còn hình thức của hình chữ U đảo ngược

▪ Khi văn hóa kinh doanh thiết kế như là một tiển đề trực tiếp của tổ chức thể hiện

về mặt tăng trưởng, lợi nhuận và việc tạo nên sự thịnh vượng mới (nhìn ở H1) các nhân tố tổ chức trước đây đã được bàn bạc là có thể có những ảnh hưởng gián tiếp quan trọng lên tổ chức thể hiện Như một nghiên cứu (Antoncic và Hisrich, 2001) đã chứng minh,hỗ trợ tổ chức và kiểm soát chính thức có khuynh hướng tác động gián tiếp mạnh mẽ là trung gian bở văn hóa kinh doanh lên các hãng thể hiện.Đó là nghiên cứu cơ bản theo giả thuyết:

H6 Tổ chức thể hiện ( phát triển, lợi nhuận và việc tạo nên sự thịnh vượng

mới)sẽ được tích cực gián tiếp( với sự điều đình của văn hóa kinh doanh ) chịu ảnh hưởng bởi :a) sự mở rộng của hỗ trợ tổ chức,b) kiểm soát chính thức và c)

số lượng các liên minh chiến lược của 1 tổ chức

▪ Hơn nữa, sự tác động giữa tổ chức các nhân tố và văn hóa kinh doanh có thể tác động lên hiệu suất cũng như Peter và Waterman (1982), Kanter (1984) và Pinchot (1985) đã đề nghị, các hãng mà tổ chức có tiềm năng phát triển môi trường thuận lợi cho văn hóa kinh doanh và thực sự tham gia vào các khả năng kinh doanh của công ty trong định hướng kinh doanh và hành vi có thể có mức phát triển cao, lợi nhuận cao, và khả năng tạo ra sự thịnh vượng mới nhiều hơn

là các hãng ko thực hiện Hai nghiên cứu dựa trên khái niệm trong văn hóa kinh doanh ( Covin và Slevin, 1991; Lumpkin và Dess, 1996) đã đề xuất rằng hiệu quả của văn hóa kinh doanh ( việc thực hiện)có thể được tiết chế bởi các thành phần tổ chức Naman và Slevin (1993) đã chứng minh rằng sự điều chỉnh giữa các yếu tố tổ chức và văn hóa kinh doanh có thể là 1 nhân tố quan trọng trong việc gia tăng hiệu quả của các hãng.Nó đã cơ bản định hình cho những giả thuyết cuối cùng:

H7 Tổ chức thực hiện( phát triển, lợi nhuận, tạo nên sự giàu có mới) sẽ ảnh

hưởng tích cực bởi sự mở rộng các sự tương tác giữa văn hóa kinh doanh và các

Trang 23

nhân tố tổ chức như: a) hỗ trợ tổ chức,b) kiểm soát chính thức, c) số lượng các liên minh chiến lược của 1 tổ chức

▪ Một vài các thay đổi bổ sung như tuổi tổ chức, qui mô, toàn chiến lược và công nghiệp có thể ảnh hưởng mối quan hệ trong kiểu mẫu và cần được kiểm soát 1 cách tốt nhất có thể Nhu cầu cho việc thay đổi quan điểm trong văn hóa doanh nghiệp hay sự rót vào kinh doanh được nghĩ tới là đã được công nhận bởi cái đã

có trước, các tổ chức lớn hơn (Kanter, 1984; Pinchot,1985) Các tổ chức này có thể phân cấp đặc tính trong bộ máy tự nhiên và bộ máy quan liêu bởi vì qui mô

và lịch sử Những tổ chức trẻ tuổi và nhỏ hơn có thể Kinh doanh nhiều hơn những tổ chức lớn hơn hay các đối tác lớn hơn (Mintzberg,1973) Kể từ đó qui

mô và tuổi của tổ chức có thể có nối quan hệ tiêu cực với văn hóa kinh doanh Ngược lại, Miles và Arnold(1991) đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa tuổi của tồ chức và định hướng kinh doanh; các tác giả đã đề nghị rằng cá mối quan

hệ này cần khảo sát tỉ mỉ hơn nữa thêm vào đó, các chiến lược tổ chức, các chiến lược mở rộng đặc biệt như phản đối các chiến lược ổn định(hitt et al.,1982) có thể ảnh huu73ng văn hóa kinh doanh và mặt thể hiện (Zahra,1991) Cuối cùng là môi trường của các tổ chức khác nhau vì nghành công nghiệp của Hãng (Shepherd,1990)

Trang 24

Câu 5: Giải thích những kết quả xử lý thống kê trong việc kiểm định các giả thiết

nghiên cứu hoặc trong việc giải thích các câu hỏi nghiên cứu

Số lượng liên kết (bình phương) -0.01* -0.03* -0.03* -0.02*

Tạo lập doanh nghiệp 0.32* 0.27* 0.22*

Sự tương tác

Cơ hội công nghệ (CE) 0.04 0.03 0.07

Tăng trưởng công nghiệp (CE) 0.12* 0.06 0.14*

Nhu cầu SP mới (CE) 0.05 0.12* 0.11*

Hỗ trợ tổ chức (CE) 0.12* 0.03 0.01

Kiểm soát chính thức (CE) -0.05 -0.07 -0.04

Số lượng liên kết (CE) -0.01 0.01 0.05

Sai sót (trực tiếp) 0.66 0.88 0.92 0.87

R2 (trực tiếp) 0.56 0.23 0.16 0.24

Ghi chú : Hiệu quả gián tiếp được in nghiêng, * p<0.05 (một phía | t | > 1.64) a Hiệu quả

trực tiếp =0.18 *, b Hiệu quả trực tiếp=0.11*, c Hiệu quả trực tiếp=0.18*, d Hiệu quả trực

tiếp=0.15* : biểu thị sự tương tác

Bảng 2 : Phương trình cấu trúc với tổng cộng các hiệu quả chính (trực tiếp và gián tiếp) và

hiệu quả tương tác (hệ số tiêu chuẩn hoá)

▪ H1: Việc mở rộng hoạt động kinh doanh sẽ tác động tích cực tới hoạt động của tổ

chức liên quan đến: (a) tăng trưởng , (b) khả năng sinh lợi và (c) sáng tạo ra của

cải mới Sự tác động gián tiếp của cơ hội công nghệ đến sự tăng trưởng (0.06), lợi

nhuận (0.05), giá trị mới (0.09) rất thấp Trong khi đó, sự tăng trưởng công

nghiệp hầu như không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng (0.00), lợi nhuận (0.00), giá

trị mới (0.00) Nhu cầu sản phẩm mới có tác động gián tiếp đến sự tăng trưởng,

lợi nhuận, giá trị mới nhưng ở mức độ thấp và không đáng kể Các chỉ số lần lượt

là (0.06, 0.05, 0.04) Tinh thần kinh doanh của công ty tạo ra một xu hướng làm

tăng của cải, lợi nhuận và khả năng tăng trưởng

Trang 25

▪ H2: Khả năng kinh doanh chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi:

H2a Mức độ năng động của môi trường, nguồn lực động của doanh nghiệp

chịu tác động trực tiếp bởi cơ hội công nghệ (hệ số 0.17) khá cao

H2b Tăng trưởng công nghiệp, nguồn lực động của doanh nghiệp ít chịu tác

động trực tiếp bởi sự tăng trưởng công nghiệp (hệ số 0.01)

H2c Cơ hội công nghệ, cơ hội công nghệ được mặt nhiên công nhận là điều kiện

quan trọng trực tiếp của các doanh nghiệp Sự phát triển của khoa học kỹ thuật có thể là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự thành của doanh nghiệp mới trong kho đó, những diều kiện về môi trường bên ngoài bên ngoài này có một số ảnh hưởng gián tiếp đến sự hoạt động của tổ chức và sự điều chỉnh tần suất ra đời của các doanh nghiệp phù hợp với mức độ của những điều kiện này có thể không có lợi đối với cả tăng trưởng và lợi nhuận của doanh nghiệp cũng như sự hình thành của cải vật chất mới

H2d Nhu cầu cho các sản phẩm mới, nhu cầu về những sản phẩm mới tác động

trực tiếp và gián tiếp đến tăng trưởng, lợi nhuận và tạo ra vật chất mới ( các chỉ số nghiên cứu lần lược là 0.06, 0.05 và 0.04 tương ứng với tăng trưởng, lợi nhuận và

sự tạo ra tài sản mới) ngoài ra nghiên cứu còn cho thấy nhu cầu về sản phẩm mới

có mối liên kết chặt chẽ và trực tiếp với lợi nhuận (hệ số chất lượng là 0.18) và với sự hình thành tài sản mới (hệ số 0.15)

▪ H3: Năng suất tổ chức (tăng trưởng, lợi nhuận, tạo ra của cải mới) sẽ bị ảnh

hưởng giáng tiếp (với sự điều chỉnh trung gian của khả năng kinh doanh)

H3a Mức độ năng động của môi trường, cơ hội công nghệ ít tác động gián

tiếp đến tăng trưởng, khả năng sinh lợi, và tạo ra giá trị mới các hệ số lần lượt là (0.06, 0.05, 0.09)

H3b Tăng trưởng công nghiệp, cơ hội công nghệ không tác động gián tiếp đến

tăng trưởng, khả năng sinh lợi, và tạo ra giá trị mới các hệ số lần lượt là (0.00, 0.00, 0.00)

H3c Các cơ hội công nghệ, cơ hội công nghệ ít tác động gián tiếp đến tăng

trưởng, khả năng sinh lợi, và tạo ra giá trị mới Các hệ số lần lượt là (0.06, 0.05, 0.04)

Trang 26

Tuy nhiên cơ hội công nghệ, tăng trưởng công nghiệp và nhu cầu sản phẩm mới tác động qua lại với nguồn lực động của doanh nghiệp sẽ tác động trực tiếp đến tăng trưởng, lợi nhuận và giá trị tài sản mới Cụ thể:

Tăng trưởng công nghiệp tác động qua lại với nguồn lực động của doanh nghiệp (H4b) sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng (hệ số 0.12)và tài sản mới (hệ

số 0.14) tuy nhiên chúng ít tác động trực tiếp đến lợi nhuận (hệ số 0.06)H3d Nhu cầu về sản phẩm mới

▪ H4: Năng suất tổ chức (tăng trưởng, lợi nhuận, tạo ra của cải mới) sẽ bị ảnh

hưởng tích cực bởi mức độ tương tác giữa khả năng kinh doanh và điều kiện mội trường

H4a Mức độ năng động của môi trường

H4b Nghành công nghiệp tăng trưởng , những ảnh hưởng của sự phát triển

nghành công nghiệp được tạo ra từ hiệu suất khả năng kinh doanh của Công ty Một tổ chức phát triển tạo ra sự giàu có bằng tài sản mới nhưng không tăng lợi nhuận, có thể bị ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng của nghành công nghiệp

đó cũng như sự phù hợp giữa đặc điểm của ngành công nghiệp này và khả năng kinh doanh của công ty

H4c Cơ hội công nghệ, Ảnh hưởng của tác động qua lại giữa tiến bộ khoa học kỹ

thuật và sự ra đờ của doanh nghiệp mới, nói cách khác H4c không được hổ trợ (hệ số thấp và không đáng kể)

H4d Nhu cầu cho các sản phẩm mới , nhu cầu sản phẩm mới tác động qua lại

với nguồn lực động của doanh nghiệp ít ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng (hệ số 0.05), tuy nhiên chúng tác động mạnh đến tài sản mới (hệ số 0.11) và lợi nhuận (hệ số 0.12)

▪ H5a Mức độ hổ trợ tổ chức liên quan tích cực trực tiếp đến mức độ kinh doanh

của doanh nghiệp kiểm soát chính thức cũng mang lại lợi ích cho hoạt động kinh doanh

H5b Mức độ sử dụng kiểm soát chính thống trong nội bộ công ty sẽ liên quan

tích cực tới hoạt động kinh doanh, nhưng sẽ có một mô thức của hình dạng đảo ngược – U

Trang 27

H5c Sự kết hợp trực tiếp giữa số lược các hãng liên minh và sự mở rộng của

văn hóa doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hơn

Sự ra đời của một doanh nghiệp mới bị ràng buộc chặt chẽ vào một liên minh đã

và đang tồn tại Việc nghiên cứu các nhân tố: lợi nhuận, tăng trưởng và sự hình thành tài sản mới là động lực để một doanh nghiệp mới quyết định tham gia vào liên minh đó Có sự khác biệt rõ rệt giữa các doanh nghiệp có tuổi đời khác nhau bằng việc so sánh các công ty trẻ với các công ty lâu năm

- Thứ nhất: mối quan hệ giữa nhu cầu của môi trường về các sản phẩm mới và tài sản mới được đánh giá nhiều hơn và đáng kể hơn đối với những công ty trẻ hơn

- Thứ hai: tác động qua lại từ sự tăng trưởng của nghành công nghiệp môi trường

và sự ra đời của doanh nghiệp mới với sự tạo ra tài sản mới được thấy là một con số đáng kể đối với những doanh nghiệp trẻ, nhưng thấp đối với những công

ty lâu năm

▪ H6 Tổ chức thực hiện (phát triển, lợi nhuận và tạo ra sự thịnh vượng) sẽ được

tích cực gián tiếp (với sự điều đình của văn hóa kinh doanh) chịu ảnh hưởng bởi:

H6a Sự mở rộng của hổ trợ tổ chức, những ảnh hưởng gián tiếp của sự hổ trợ

của doanh nghiệp trong hoạt động của tổ chức đã cung cấp sự hổ trợ rất hạn chế (lần lượt là 0.05, 0.04 và 0.04 cho tăng trưởng, lợi nhuận và sự hình thành tài

sản mới)

H6b Kiểm soát chính thức, kết quả nghiên cứu cho thấy kiểm soát chính thức

có thể rất quan trọng trong việc khuyến khích cổ vũ sự ra đời của doanh nghiệp

mới, nhưng tác động ít đến hoạt động của tổ chức thấp

H6c Số lượng các liên minh chiến lược của 1 tổ chức, số lượng liên kết ít tác

động gián tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp (các hệ số lần lượt là 0.07, 0.06,

0.05)

▪ H7 Tổ chức thực hiện (phát triển, lợi nhuận và tạo ra sự thịnh vượng) sẽ ảnh

hưởng tích cực bởi sự mở rộng các sự tương tác giữa văn hóa kinh doanh và các nhân tố:

H7b Kiểm soát chính thức, liên kết giữa sự tác động qua lại của số lượng các

công ty và sự ra đời doanh nghiệp mới và hoạt động của tổ chức

Trang 28

H7c Số lượng các liên minh chiến lược của 1 tổ chức, số lượng của các liên

minh chiến lược có thể liên quan tích cực tới sự ra đời doanh nghiệp mới, với một số lượng lớn hơn của những sự ràng buộc, mối quan hệ này có thể trở thành tiêu cực Tuy nhiên, tác động của số lượng liên minh trong việc thực hiện là khá

hạn chế

- Nhìn chung cơ hội công nghệ, nhu cầu sản phẩm mới tác động trực tiếp đến nguồn lực động của doanh nghiệp Tuy nhiên cơ hội công nghệ không tác động rõ nét đến tăng trưởng, lợi nhuận và tạo ra giá trị mới thông qua sự tác động qua lại giữa cơ hội công nghệ và nguồn lực động của doanh nghiệp Nhu cầu sản phẩm mới tác động mạnh đến lợi nhuận và tạo ra giá trị mới nhưng không tác động trực tiếp đến tăng trưởng thông qua sự tác động qua lại giữa

cơ hội công nghệ và nguồn lực động của doanh nghiệp Tuy sự tăng trưởng công nghiệp ít tác động đến nguồn lực động của doanh nghiệp nhưng một khi

sự tương tác này xảy ra sẽ tác động trực tiếp đến lôi nhuận và tạo ra giá trị mới

- Tương tự, kiểm soát chính thức, số lượng liên kết tác động mạnh trực tiếp đến nguồn lực động của doanh nghiệp nhưng một khi sự tương tác này xảy ra sẽ làm giảm sự tăng trưởng, lợi nhuận, và giá trị mới của doanh nghiệp (các hệ

số H7b, H7c âm hoặc gần bằng không) Sự hỗ trợ của tổ chức tương tác với nguồn lực động của doanh nghiệp làm gia tăng sự tăng trưởng nhưng không làm tăng lợi nhuận và tạo ra tài sản mới

Trang 29

Câu 6: Hãy nêu ra những phát hiện mới của đề tài cũng như những hạn chế của đề

tài này, từ đó đề xuất những đề tài nghiên cứu mới để giải quyết những hạn chế này

▪ Khác với các đề tài nghiên cứu trước đây, trong đề tài này quan hệ giữa nguồn lực động doanh nghiệp và việc tạo ra tài sản của doanh nghiệp đã được xem xét một cách rõ ràng Phần lớn các nghiên cứu về nguồn lực động doanh nghiệp trước đây tập trung nghiên cứu trực tiếp vào việc ảnh hưởng của các hoạt động nguồn lực động doanh nghiệp đối với sự tăng trưởng và hiệu quả kinh doanh Tuy nhiên việc nghiên cứu trên góc độ gián tiếp và sự ảnh hưởng qua lại của nguồn lực doanh nghiệp với các yếu tố môi trường, tính tổ chức của sự ngẫu nhiên và những sự ảnh hưởng đến vấn đề tăng trưởng, hiệu quả hoạt động và sự

cá biệt trên tài sản của tổ chức, còn bị giới hạn

▪ Trong khi những nghiên cứu trước đây có đặc trưng là đi theo phương pháp nguyên nhân thời gian (từ những tiền đề đến các kết quả) dựa trên sự phát triển các lý lẻ của nó Đề tài này sẽ tiếp cận vấn đề ở những góc độ khác Trong đề tài này, những ảnh hưởng gián tiếp của nguồn lực động doanh nghiệp, những yếu tố môi trường, tổ chức và các yếu tố hiệu suất đã được đưa ra một cách đầy đủ

▪ Chuyên đề này bắt đầu từ những kết quả kinh doanh như sự tăng trưởng của tổ chức, hiệu quả hoạt động, việc tạo ra tài sản và sau đó nhận dạng các nguồn lực động liên quan đến sự ngẫu nhiên và tiền đề mà những yếu tố này dẫn dắt đến kết quả đó Thông qua hướng tiếp cận này, chúng ta sẽ đạt được một sự thông hiểu tốt hơn của việc xây dựng hiệu suất Nội dung này sẽ cho phép cung cấp cho các nghiên cứu chiến lược nguồn lực thông qua việc trả lời các câu hỏi sau: bằng cách nào các nguồn lực động doanh nghiệp góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh và việc tạo ra tài sản? Việc trả lời các câu hỏi này sẽ cung cấp tốt hơn cho doanh nghiệp trong quá trình lựa chọn giữa việc bổi dưỡng các nguồn lực động thông qua việc cầu trúc bộ máy mà không đề cập đến yếu tố môi trường hoặc cố đạt được các nguồn lực động doanh nghiệp trong sự liên hệ với môi trường và điều kiện của tổ chức

Trang 30

▪ Nghiên cứu này đả khắc phục yếu điểm của các nghiên cứu trước đây thông qua

sự nghiên cứu ảnh hưởng trực tiếp của nguồn lực động doanh nghiệp cũng như những ảnh hưởng gián tiếp và ảnh hưởng qua lại với sự ngẫu nhiên của nó (như điều kiện môi trường, những đặc điểm củ tổ chức và các liên minh quốc tế) trong việc dự đoán sự tăng trưởng, hiệu quả hoạt động, việc tạo ra tài sản của tổ chức theo các mô hình tăng trưởng

▪ Mục tiêu quan trọng của đề tài này là đạt được một sự thông hiểu toàn diện của vai trò nguồn lực động doanh nghiệp trong việc tạo ra tài sản cho doanh nghiệp

mà những vấn đế này không được đề cập trong các nghiên cứu trước đây

▪ Đề tài này có ích cho việc nghiên cứu, lý thuyết và thực tiễn Trong đó lợi ích quan trọng đối với nghiên cứu và lý thuyết là việc sử dụng phương pháp quy nạp Một sự tiếp cận quy nạp có thể làm sáng tỏ mối quan hệ mật thiết của các

cơ sở tạo nên năng lực động trong sự kết với các yếu tố môi trường và tổ chức Đối lập với phương pháp tiếp cận từng phần chỉ cần một vài mẫu, phương pháp tiếp cận tổng hợp cần có một số lượng lớn mẫu thích hợp Vì vậy phương pháp tiếp cận tổng hợp ít mắc lỗi kỹ thuật hơn và cho phép kiểm tra mối liên hệ giữa các điều kiện hỗ trợ và liên quan, điều không thể thực hiện được đối với phương pháp tiếp cận từng phần

▪ Bằng cách thực hiện nghiên cứu này bên ngoài khu vực Bắc Mỹ, Nghiên cứu này cũng cho thấy các mô hình, lý thuyết trước đây tại Bắc Mỹ có thể áp dụng tại các quốc gia khác Đạt được sự hiểu biết về mô hình năng lực động trong các nền kinh tế đang chuyển đổi như Trung và Đông Âu có giá trị trong việc mở rộng và phát triển học thuyết, thực tiễn của năng lực động trong các nước này

Những hạn chế của đề tài

Mô hình nghiên cứu chưa toàn diện, mô hình nghiên cứu này còn sự giới hạn về

số lượng các yếu tố để để kiểm chứng thực nghiệm về các quan hệ ngẫu nhiên khác nhau trong số các yếu tố khả thi

Trang 31

▪ Đề tài còn một số hạn chế trong thiết kế nghiên cứu và đo lường cần Bởi vì việc

sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang vì vậy chưa thấy được những tác động của kết quả nghiên cứu theo thời gian.Việc kiểm tra tác động theo chiều dọc có thể cung cấp sự hỗ trợ mạnh hơn cho những phát hiện tiêu biểu của nghiên cứu này và có thể tốt hơn để làm rõ bản chất của mối quan hệ giữa nguồn lực động

và sự tạo ra sự giàu có

ác doanh n

▪ Một hạn chế nữa về mẫu nghiên cứu đó là c ghiệp rất nhỏ không có trong mẫu, dữ liệu được thu thập được từ các công ty với 30 nhân viên trở lên Một số ngành công nghiệp như các tổ chức tài chính, chăm sóc sức khỏe và tổ chức giáo dục không có trong cơ sở dữ liệu, so với dân số mẫu sai lệch về phía các công ty lớn và các ngành công nghiệp

Thông tin sai lệch cũng là một hạn chế cần đề cập đến, dữ liệu được thu thập từ chỉ một cá nhân trong một đối tượng công ty và không có thử nghiệm cho độ tin cậy của thông tin Lãnh đạo cấp cao của công ty được lựa chọn để cung cấp thông tin then chốt với giả định rằng họ có kiến thức nhất để có thể cung cấp những câu trả lời hợp lệ nhất cho câu trả lời ở cấp độ tổ chức

▪ Những thước đo được sử dụng trong nghiên cứu này có thể là nguồn gây sai lệch nữa Thước đo cảm tính thích hợp để sử dụng trong nghiên cứu này bởi vì nó được cụ thể hóa và tập trung vào tổ chức và không tác dụng lên cùng đối tượng hay từng cá nhân riêng biệt Mặc dù vậy, vẫn có sự sai lệch thông tin trong dữ liệu bởi vì những thước đo khác nhau như là dữ liệu báo cáo tài chính và hành vi không được thu thập để đánh giá độ tin cậy của dữ liệu cảm tính

▪ Nghiên cứu này tập trung vào các tổ chức độc lập mà đã bỏ qua rằng ngoài các yếu tố nội tại của tổ chức thì tổ chức còn bị ràng buộc và tác động bởi các liên minh tổ chức quốc tế Phải nhận ra rằng các tổ chức sẽ trở nên gần nhau hơn, cả

sự hợp tác trong nội bộ công ty và các công ty quốc tế là vấn đề cốt yếu trong việc đổi mới công ty Vấn đề nghiên cứu này đưa đến việc cân nhắc đến chiến lược liên minh là một yếu tố cộng thêm quan trọng đối với tổ chức trong việc tạo dựng các nguồn lực động và việc tạo lập tài sản

Trang 32

Những đề tài nghiên cứu mới để giải quyết những hạn chế:

▪ Những đề tài nghiên cứ mới có thể được thực hiện ở những nước khác như Châu

Á, châu Úc Các dữ liệu cần được thu thập từ các công ty khác nhau về hình thức, quy mô Những đánh giá khách quan, cảm tính cần đi kèm với các số liệu thực tế của báo cáo tài chính

▪ Các số liệu và đánh giá cần được kiểm chứng qua thời gian để đảm bảo nhưng ảnh hưởng qua lại của các yếu tố môi trường, năng lực động và việc ra tài sản doanh nghiệp là chính xác nhất

- - - The end - - -

Trang 33

2 METHODOLOGY OF SCIENTIFIC RESEARCH TRANSLATION

Coparate entrepreneurship contingencies and organization wealth creation

Trang 34

VIỆC DỰ PHÒNG NGUỒN LỰC ĐỘNG DOANH NGHIỆP

VÀ VIỆC TẠO RA TÀI SẢN CHO TỔ CHỨC

Bostjan Antoncic

Khoa kinh tế, đại học Ljubljana, Ljubljana, Slovennia, and

Robert D.Hisrich

Trường quản lý Weatherhead School, Đại học Case Western Reverse,

Cleveland, Ohio, USA

Từ khóa : Tổ chức, Nguồn lực động, Khảo sát, Mô hình hoá, Slovennia

Tóm tắt : Nhận ra tầm quan trọng của việc tạo ra các nguồn năng lực động và việc

tạo ra tài sản của tổ chức vì vậy nghiên cứu này sẽ tập trung sự quan tâm vào lĩnh vực này Đề tài này sẽ cung cấp một sự thông hiểu rộng hơn về mới quan hệ giữa nguồn lực động doanh nghiệp và sự tạo ra tài sản của doanh nghiệp dựa trên sự phát triển và thử nghiệm những mô hình chuẩn hóa Nghiên cứu này sẽ làm sáng rõ các đặc tính ảnh hưởng của nguồn lực động và môi trường, tiền đề tổ chức của nó đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Việc tìm ra các mô hình cân bằng cấu trúc được dựa trên dữ kiệu khảo sát bằng mail từ 477 doanh nghiệp tại Slovenia, để chứng minh rằng nguồn lực động và sự ngẫu nhiên của nó

đã làm nên sự khác nhau trong quá trình tạo nên giá trị doanh nghiệp,

sự tăng trưởng và lợi nhuận hoạt động

▪ Việc tạo ra giá trị doanh nghiệp là một mục tiêu rất quan trọng cho cả việc hoạch định chiến lược và nguồn lực doanh nghiệp Những quyết định trong quản lý chiến lược là cốt yếu của sự hỗn tạp trong sự thể hiện của doanh nghiệp và việc tạo ra giá trị của doanh nghiệp và nguồn lực động tiêu biểu cho yếu tố quan trọng trong việc tạo ra giá trị mới Nguồn lực động của doanh nghiệp (những hoạt động doanh nghiệp và định hướng trong việc xác lập tổ chức) là một khía cạnh quan trọng trong sự phát triển kinh

tế của tổ chức và việc tạo ra tài sản Những học giả và những nhà kinh tế đã bày tỏ sư quan tâm đến chủ đề này từ những năm 80 Sự hoàn thiện thiện các nguồn lực động

Ngày đăng: 18/02/2019, 08:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w