PHÁP LUẬT KINH DOANH 2.1 Hành vi thương mại 2.1.1 Khái niệm Hành vi thương mại là hành vi của thương nhân trong hoạt động thương mại làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các bên có liên quan. Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (Khoản 1, Điều 3 của Luật Thương mại 2005). 2.1.2 Đặc điểm Hành vi thương mại là hành vi dân sự đặc thù: Tính chất chung của hai loại hành vi này được thể hiện ở chỗ cả hai đều là hành vi của con người, phát sinh và tồn tại trong quá trình sản xuất, trao đổi sản phẩm, hang hóa, đều là những nội dung quan hệ hàng hóa tiền tệ và ở những mức độ nhất định đều chịu sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan. Hành vi thương mại xuất hiện muộn hơn và có tính ổn định thấp hơn so với hành vi dân sự: Xét về mặt lịch sử, hành vi dân sự ra đời từ rất sớm, khi con người tạo ra những sản phẩm dư thừa và có nhu cầu trao đổi lấy những sản phẩm khác nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Còn hành vi thương mại xuất hiện muộn hơn, mãi đến khi sự phân công lao động trong xã hội đạt đến trình độ nhất định, trong xã hội xuất hiện tầng lớp chuyên mua đi bán lại các sản phẩm hàng hóa với mục đích kiếm lời thì thương mại mới ra đời. Các quan hệ dân sự mang tính ổn định và bền vững cao hơn các quan hệ thương mại bởi các quan hệ này ít chịu tác động của các biến động bên ngoài về chính trị, xã hội hơn so với các quan hệ thương mại. Hành vi thương mại được thực hiện trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi: Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Thương mại và thị trường không thể tách rời nhau. Sở dĩ thương mại phải diễn ra trên thị trường, bởi vì mua bán là khâu quan trọng nhất, là thành tố của hành vi thương mại. Nói đến thương mại không thể không nói đến hai thành tố này. Còn các yếu tố khác (sản xuất và dịch vụ) phải kết hợp với khâu mua bán mới có thể coi là hực hiện xong một hành vi thương mại. Hành vi thương mại diễn ra trên thị trường nên nó phải tuân theo quy luật chung của quy luật thị trường như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh... Ngoài ra, hành vi thương mại còn là hành vi vì mục đích sinh lợi, đây là điểm khác biệt căn bản giữa hành vi thương mại và hành dân sự. Nếu như hành vi dân sự chỉ với mục đích tiêu dùng, sinh hoạt thì hành vi thương mại phải chứa đựng mục đích sinh lợi trong đó. Hành vi thương mại là hành vi mang tính chất nghề nghiệp và chủ yếu do thương nhân thực hiện:
Trang 1PHÁP LUẬT KINH DOANH 2.1 Hành vi thương mại
2.1.1 Khái niệm
- Hành vi thương mại là hành vi của thương nhân trong hoạt động thương mại làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các bên có liên quan
- Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (Khoản 1, Điều 3 của Luật Thương mại 2005)
2.1.2 Đặc điểm
- Hành vi thương mại là hành vi dân sự đặc thù:
Tính chất chung của hai loại hành vi này được thể hiện ở chỗ cả hai đều là hành
vi của con người, phát sinh và tồn tại trong quá trình sản xuất, trao đổi sản phẩm, hang hóa, đều là những nội dung quan hệ hàng hóa tiền tệ và ở những mức độ nhất định đều chịu sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan
- Hành vi thương mại xuất hiện muộn hơn và có tính ổn định thấp hơn so với hành vi dân sự:
Xét về mặt lịch sử, hành vi dân sự ra đời từ rất sớm, khi con người tạo ra những sản phẩm dư thừa và có nhu cầu trao đổi lấy những sản phẩm khác nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình Còn hành vi thương mại xuất hiện muộn hơn, mãi đến khi sự phân công lao động trong xã hội đạt đến trình độ nhất định, trong xã hội xuất hiện tầng lớp chuyên mua đi bán lại các sản phẩm hàng hóa với mục đích kiếm lời thì thương mại mới ra đời
Các quan hệ dân sự mang tính ổn định và bền vững cao hơn các quan hệ thương mại bởi các quan hệ này ít chịu tác động của các biến động bên ngoài về chính trị, xã hội hơn so với các quan hệ thương mại
- Hành vi thương mại được thực hiện trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi: Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”
Thương mại và thị trường không thể tách rời nhau Sở dĩ thương mại phải diễn ra trên thị trường, bởi vì mua bán là khâu quan trọng nhất, là thành tố của hành vi thương mại Nói đến thương mại không thể không nói đến hai thành tố này Còn các yếu tố khác (sản xuất và dịch vụ) phải kết hợp với khâu mua bán mới có thể coi là hực hiện xong một hành vi thương mại
Hành vi thương mại diễn ra trên thị trường nên nó phải tuân theo quy luật chung của quy luật thị trường như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh
Ngoài ra, hành vi thương mại còn là hành vi vì mục đích sinh lợi, đây là điểm khác biệt căn bản giữa hành vi thương mại và hành dân sự Nếu như hành vi dân sự chi với mục đích tiêu dùng, sinh hoạt thì hành vi thương mại phải chứa đựng mục đích sinh lợi trong đó
- Hành vi thương mại là hành vi mang tính chất nghề nghiệp và chủ yếu do thương nhân thực hiện:
Trang 2Các hành vi này được chủ thể tiến hành thường xuyên, liên tục, thể hiện tính chuyên nghiệp cao và mang lại thu nhập chính cho họ
- Sự can thiệp của Nhà nước vào hành vi thương mại cứng rắn hơn, khắt khe hơn nhiều so với hành vi dân sự: Thể hiện qua hệ thống quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh
tế, hệ thống pháp luật Ngoài ra, sự tác động còn được thể hiện ở chỗ khi thực hiện các hành vi thương mại, Nhà nước buộc các chủ thể phải thực hiện một số nghĩa vụ nhất định
2.2 Thương nhân
2.2.1 Khái niệm
Khái niệm, thương nhân được xác định tại khoản 1 Điều 6 Luật thương mại năm
2005 xác định: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”
* Đặc điểm của thương nhân:
- Thương nhân phải thực hiện hành vi thương mại;
- Thương nhân phải thực hiện hành vi thương mại độc lập, mang danh nghĩa chính mình và vì lợi ích của chính mình;
- Thương nhân phải thực hiện các hành vi thương mại mang tính nghề nghiệp thường xuyên (được hiểu là những hoạt động thường xuyên liên tục được thương nhân thực hiện nhằm mang lại thu nhập chính cho thương nhân);
- Thương nhân phải có năng lực hành vi thương mại: năng lực hành vi thương mại là khả năng của cá nhân, pháp nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền
và nghĩa vụ pháp lý thương mại
- Thương nhân phải có đăng kí kinh doanh (yêu cầu bắt buộc với cá nhân, tổ chức
muốn trở thành thương nhân).
* Nêu các ví dụ:
+ Công ty A mua 5 tấn bột cá nguyên liệu của công ty B để sản xuất
+ Cửa hàng thời trang NEM mở đợt khuyến mãi tri ân khách hàng nhân dịp 20/11
4.1 Phá sản doanh nghiệp
4.1.1 Khái niệm về phá sản doanh nghiệp:
K2 Điều 4 Luật Phá sản 2014 quy định : Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp,
hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản
Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã
không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán (K1 Đ 4 L.PSản 2014)
4.1.3 Ý nghĩa của phá sản doanh nghiệp
Trang 3- Pháp luật phá sản là công cụ bảo vệ một cách có hiệu quả nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ:
Bảo vệ quyền lợi cho chủ nợ trước tiên là bảo vệ các quyền về tài sản của các chủ
nợ Khi doanh nghiệp mắc nợ không trả được nợ cho các chủ nợ thì chủ nợ có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp để bán toàn bộ tài sản còn lại của doanh nghiệp để trả cho các chủ nợ
Luật Phá sản còn bảo đảm sự bình đẳng của các chủ nợ trong việc đòi nợ Không một con nợ nào được quyền đòi nợ một cách riêng lẻ Không một chủ nợ nào được con
nợ trả nợ cho mình trong khi các chủ nợ khác chưa được trả nợ Tất cả các chủ nợ đều phải đợi đến khi Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp và cùng nhau chia số tài sản còn lại của doanh nghiệp theo những tỷ lệ (trừ những chủ nợ có một sự đảm bảo đặc biệt cho món nợ của mình như có tài sản cầm cố, thế chấp)
- Pháp luật phá sản bảo vệ lợi ích của con nợ:
Pháp luật tạo điều kiện để cho con nợ khắc phục khó khăn để khôi phục sản xuất kinh
doanh Chi khi nào không thể cứu vãn nổi mới tuyên bố phá sản Đồng thời, khi bị tuyên bố phá sản, người kinh doanh được giải thoát khỏi các khoản nợ khi đã giao lại toàn bộ tài sản còn lại để chi trả cho các chủ nợ Sau đó một thời gian họ có thể trở lại môi trường kinh doanh khi có cơ hội
- Pháp luật phá sản góp phần vào bảo vệ lợi ích của người lao động:
Khi doanh nghiệp bị phá sản thì những người lao động trong doanh nghiệp sẽ phải chịu hậu quả trực tiếp, họ sẽ bị mất việc làm, mất nguồn thu nhập để đảm bảo đời sống
Sự bảo vệ của Luật Phá sản đối với người làm công thể hiện ở chỗ pháp luật cho phép người lao động được quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp hoặc phản đối yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, quyền được tham gia quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, quyền được ưu tiên thanh toán nợ lương trước các khoản
nợ khác của doanh nghiệp, …
- Pháp luật phá sản phần bảo vệ trật tự ki cương trong xã hội:
Khi doanh nghiệp bị phá sản thì chủ nợ nào cũng muốn lấy được càng nhiều càng tốt tài sản còn lại của doanh nghiệp bị phá sản Như vậy nếu không có Luật để đưa vấn đề phân chia tài sản của con nợ theo một trật tự nhất định, nhằm bảo đảm sự công bằng và khách quan mà cứ để mạnh ai người nấy lấy một cách vô tổ chức thì sẽ gây ra tình trạng lộn xộn, mất trật tự, gây ra mâu thuẫn giữa chủ nợ với con nợ, giữa chủ nợ với nhau Bằng việc giải quyết công bằng, thỏa đáng mối quan hệ về lợi ích giữa chủ nợ và con nợ
Trang 4và giữa các chủ nợ với nhau, pháp luật về phá sản góp phần giải quyết mâu thuẫn, hạn chế những căng thẳng có thể có giữa họ với nhau, nhờ đó đảm bảo được trật tự kỷ cương của xã hội
- Pháp luật phá sản góp phần cơ cấu lại nền kinh tế, tái tạo tổ chức lại doanh nghiệp:
Phá sản bao giờ cũng kéo theo những hậu quả về kinh tế xã hội nhất định nhưng phá sản không phải là hiện tượng hoàn toàn tiêu cực Phá sản là một giải pháp hữu hiệu trong việc cơ cấu lại nền kinh tế, là sự đào thải tự nhiên đối với doanh nghiệp làm ăn yếu kém, góp phần duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả Vì vậy, Luật Phá sản là công cụ răn đe buộc các nhà kinh doanh luôn luôn phải năng động sáng tạo nhưng không được mạo hiểm và liều lĩnh, đồng thời, Luật Phá sản doanh nghiệp là cơ sở pháp lý
để xóa bỏ doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho các nhà đầu tư
4.1.4 Thủ tục phá sản doanh nghiệp
Luật Phá sản 2014 quy định thủ tục phá sản áp dụng cho các Doanh nghiệp, HTX lâm vào tình trạng phá sản bao gồm:
- Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản
- Phục hồi hoạt động kinh doanh
- Thanh lý tài sản, các khoản nợ
- Tuyên bố doanh nghiệp, HTX bị phá sản
4.1.3 Ý nghĩa của phá sản doanh nghiệp
- Pháp luật phá sản là công cụ bảo vệ một cách có hiệu quả nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ:
Bảo vệ quyền lợi cho chủ nợ trước tiên là bảo vệ các quyền về tài sản của các chủ
nợ Khi doanh nghiệp mắc nợ không trả được nợ cho các chủ nợ thì chủ nợ có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp để bán toàn bộ tài sản còn lại của doanh nghiệp để trả cho các chủ nợ
Luật Phá sản còn bảo đảm sự bình đẳng của các chủ nợ trong việc đòi nợ Không một con nợ nào được quyền đòi nợ một cách riêng lẻ Không một chủ nợ nào được con
nợ trả nợ cho mình trong khi các chủ nợ khác chưa được trả nợ Tất cả các chủ nợ đều phải đợi đến khi Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp và cùng nhau chia số tài sản còn lại của doanh nghiệp theo những tỷ lệ (trừ những chủ nợ có một sự đảm bảo đặc biệt cho món nợ của mình như có tài sản cầm cố, thế chấp)
- Pháp luật phá sản bảo vệ lợi ích của con nợ:
Trang 5Pháp luật tạo điều kiện để cho con nợ khắc phục khó khăn để khôi phục sản xuất kinh
doanh Chi khi nào không thể cứu vãn nổi mới tuyên bố phá sản Đồng thời, khi bị tuyên bố phá sản, người kinh doanh được giải thoát khỏi các khoản nợ khi đã giao lại toàn bộ tài sản còn lại để chi trả cho các chủ nợ Sau đó một thời gian họ có thể trở lại môi trường kinh doanh khi có cơ hội
- Pháp luật phá sản góp phần vào bảo vệ lợi ích của người lao động:
Khi doanh nghiệp bị phá sản thì những người lao động trong doanh nghiệp sẽ phải chịu hậu quả trực tiếp, họ sẽ bị mất việc làm, mất nguồn thu nhập để đảm bảo đời sống
Sự bảo vệ của Luật Phá sản đối với người làm công thể hiện ở chỗ pháp luật cho phép người lao động được quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp hoặc phản đối yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, quyền được tham gia quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, quyền được ưu tiên thanh toán nợ lương trước các khoản
nợ khác của doanh nghiệp, …
- Pháp luật phá sản phần bảo vệ trật tự ki cương trong xã hội:
Khi doanh nghiệp bị phá sản thì chủ nợ nào cũng muốn lấy được càng nhiều càng tốt tài sản còn lại của doanh nghiệp bị phá sản Như vậy nếu không có Luật để đưa vấn đề phân chia tài sản của con nợ theo một trật tự nhất định, nhằm bảo đảm sự công bằng và khách quan mà cứ để mạnh ai người nấy lấy một cách vô tổ chức thì sẽ gây ra tình trạng lộn xộn, mất trật tự, gây ra mâu thuẫn giữa chủ nợ với con nợ, giữa chủ nợ với nhau Bằng việc giải quyết công bằng, thỏa đáng mối quan hệ về lợi ích giữa chủ nợ và con nợ
và giữa các chủ nợ với nhau, pháp luật về phá sản góp phần giải quyết mâu thuẫn, hạn chế những căng thẳng có thể có giữa họ với nhau, nhờ đó đảm bảo được trật tự kỷ cương của xã hội
- Pháp luật phá sản góp phần cơ cấu lại nền kinh tế, tái tạo tổ chức lại doanh nghiệp:
Phá sản bao giờ cũng kéo theo những hậu quả về kinh tế xã hội nhất định nhưng phá sản không phải là hiện tượng hoàn toàn tiêu cực Phá sản là một giải pháp hữu hiệu trong việc cơ cấu lại nền kinh tế, là sự đào thải tự nhiên đối với doanh nghiệp làm ăn yếu kém, góp phần duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả Vì vậy, Luật Phá sản là công cụ răn đe buộc các nhà kinh doanh luôn luôn phải năng động sáng tạo nhưng không được mạo hiểm và liều lĩnh, đồng thời, Luật Phá sản doanh nghiệp là cơ sở pháp lý
để xóa bỏ doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho các nhà đầu tư
4.1.4 Thủ tục phá sản doanh nghiệp
Trang 6Luật Phá sản 2014 quy định thủ tục phá sản áp dụng cho các Doanh nghiệp, HTX lâm vào tình trạng phá sản bao gồm:
- Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản
- Phục hồi hoạt động kinh doanh
- Thanh lý tài sản, các khoản nợ
- Tuyên bố doanh nghiệp, HTX bị phá sản
* Tài sản phá sản và thứ tự thanh toán:
- Đối với các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố được xác lập trước khi tòa án thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được ưu tiên thanh toán bằng tài sản đó :
+ Nếu giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố nhỏ hơn số nợ thì sẽ được thanh toán phần nợ còn lại trong quá trình thanh lí tài sản của DN
+ Nếu giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản còn lại của DN, HTX
Sau khi thanh toán các khoản nợ có bảo đảm bằng tài sản bảo đảm, việc phân chia tài sản còn lại của DN, HTX được thực hiện theo thứ tự sau :
- Phí phá sản
- Các khoản lương, nợ, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác của người lao động
-Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ có tên trong DS chủ nợ Nếu tài sản đủ thì thanh toán đủ, nếu không đủ thì thanh toán cho các chủ nợ theo tỷ lệ
% tương ứng
Trường hợp giá trị tài sản của DN, HTX sau khi thanh toán đủ các khoản nợ mà vẫn còn thì phần còn lại này sẽ thuộc về xã viên HTX, chủ Doanh nghiệp Tư nhân hoặc thành viên của các Công ty cổ phần, công ty TNHH hoặc Chủ sở hữu DNNN
4.2 Giải thể doanh nghiệp
4.2.1 Khái niệm giải thể doanh nghiệp
Giải thể Doanh Nghiệp là việc Doanh Nghiệp chấm dứt hoạt động kinh doanh do
đã đạt được những mục tiêu mà các thương nhân khi kinh doanh đã đặt ra hoặc bị giải thể theo quy định của pháp Luật
4.2.2 Các căn cứ giải thể doanh nghiệp
Theo quy định Điều 201 Luật Doanh nghiệp năm 2014: doanh nghiệp bị giải thể trong các trường hợp sau đây:
- Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn;
- Theo quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, của tất cả thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty
cổ phần;
Trang 7- Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật này trong thời hạn 06 tháng liên tục mà không làm thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp;
- Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
- Doanh nghiệp chi được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác và doanh nghiệp không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài
4.2.3 Thủ tục giải thể doanh nghiệp (Đ 202 LDN 2014)
- Thông qua quyết định giải thể doanh nghiệp Quyết định giải thể doanh nghiệp phải có các nội dung chủ yếu sau đây: Tên, địa chi trụ sở chính của doanh nghiệp; Lý do giải thể; Thời hạn, thủ tục thanh lý hợp đồng và thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp; thời hạn thanh toán nợ, thanh lý hợp đồng không được vượt quá 06 tháng, kể từ ngày thông qua quyết định giải thể; Phương án xử lý các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lao động; Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
- Chủ doanh nghiệp tư nhân, Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty, Hội đồng quản trị trực tiếp tổ chức thanh lý tài sản doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công
ty quy định thành lập tổ chức thanh lý riêng
- Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày thông qua, quyết định giải thể và biên bản họp phải được gửi đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp, đăng quyết định giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng
ký doanh nghiệp và phải được niêm yết công khai tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp
Trường hợp doanh nghiệp còn nghĩa vụ tài chính chưa thanh toán thì phải gửi kèm theo quyết định giải thể phương án giải quyết nợ đến các chủ nợ, người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan Thông báo phải có tên, địa chi của chủ nợ; số nợ, thời hạn, địa điểm và phương thức thanh toán số nợ đó; cách thức và thời hạn giải quyết khiếu nại của chủ nợ
- Cơ quan đăng ký kinh doanh phải thông báo tình trạng doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp ngay sau khi nhận được quyết định giải thể của doanh nghiệp Kèm theo thông báo phải đăng tải quyết định giải thể và phương án giải quyết nợ (nếu có)
- Phân biệt phá sản với giải thể doanh nghiệp.
Tiêu chí
1, Lý do Rộng hơn giải thể, có 4 lý do dẫn đến giải
thể doanh nghiệp: do kết thúc thời gian hoạt động mà không được gia hạn; đối với công
Do doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu
Trang 8ty không có đủ số lượng thành viên tối thiểu trong thời hạn 6 tháng liên tục; do bị thu hồi giấy phép kinh doanh; Theo quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân; của tất cả các thành viên hợp danh đối với cong ty hợp danh; của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn; của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần;
2, Thủ tục
giải quyết là thủ tục hành chính do chủ sở hữu doanhnghiệp tiến hành, thời hạn giải quyết một vụ
giải thể ngắn hơn
là một hoạt động tư pháp, do toà
án có thẩm quyền quyết định, thời hạn giải quyết một vụ phá sản dài hơn
3, Hậu quả bao giờ cũng chấm dứt sự tồn tại của một
doanh nghiệp (bị xoá tên trong sổ đăng ký kinh doanh)
doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản vẫn có thể tiếp tục hoạt động nếu như một nguời nào đó mua lại toàn bộ doanh nhgiệp
4, Thái độ
của NN đối
với chủ sở
hữu hay
người quản
lý
Người quản lý doanh nghiệp, điều hành doanh nghiệp không bị cấm làm công việc tương tự trong một thời gian nhất định
Người quản lý doanh nghiệp, điều hành doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản thường bị cấm làm công việc tương 0tự trong một thời gian nhất định
5.1 Những vấn đề chung về hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh
5.1.1 Khái niệm hợp đồng và hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh
Hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh là hợp đồng dân sự phát sinh trong quá trình chủ thể kinh doanh thực hiện các hoạt động nhằm tìm kiếm lợi nhuận
- Đặc điểm của hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh:
+ Chủ thể của hợp đồng:
Chủ thể của hợp đồng dân sự nói chung và hợp đồng kinh doanh nói riêng có thể
là cá nhân hoặc tổ chức với điều kiện các chủ thể này phải có năng lực hành vi dân sự Chủ thể hợp đồng có thể trực tiếp tham gia giao kết hợp đồng hoặc thông qua người đại diện Có hai trường hợp đại diện là đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền
Trong giao kết hợp đồng kinh doanh, chủ thể tham gia kí kết hợp đồng là các thương nhân
+ Về hình thức
Trang 9Hợp đồng kinh doanh có thể tồn tại dưới 3 dạng: lời nói, văn bản, hành vi Nhưng thông thường, hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thường được thể hiện dưới dạng văn bản
+ Về mục đích của các bên trong hợp đồng
Hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thì chủ thể tham gia kí kết phải có mục đích lợi nhuận Nếu cả hai bên không có mục đích lợi nhuận được gọi là giao dịch dân sự thông thường Nếu chi có một trong hai bên có mục đích lợi nhuận thì gọi đó là giao dịch hỗn hợp, việc áp dụng luật nào là do bên không phải thương nhân lựa chọn
5.2.1 Nguyên tắc kí kết hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh
Nguyên tắc ký kết hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh là những tư tưởng chi đạo
có tính chất bắt buộc đối với các chủ thể khi ký kết và thực hiện hợp đồng kinh doanh
- Nguyên tắc tự nguyện
Theo nguyên tắc này 1 hợp đồng kinh tếdoanh được hình thành phải hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện thoả thuận giữa các chủ thể ( tự do ý chí) không do sự áp đặt ý chí của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào Mọi sự tác động làm mất tính tự nguyện của các bên trong quá trình ký kết đều làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng
Quyền tự do hợp đồng bao gồm những nội dung chính sau:
+ Tự do lựa chọn bạn hàng
+ Tự do thoả thuận các điều khoản trong hợp đồng
+ Tự do lựa chọn thời điểm giao kết hợp đồng
Tuy nhiên quyền tự do ký kết hợp đồng bị giới hạn bởi các điều kiện sau:
+ Việc ký kết hợp đồng kinh doanh phải phục vụ cho hoạt động kinh doanh đã đăng ký
+ Các bên không được lợi dụng quyền tự do ký kết hợp đồng kinh doanh để hoạt động trái pháp luật
+ Việc ký kết hợp đồng kinh doanh theo chi tiêu kế hoạch pháp lệnh là bắt buộc, tức
là các đơn vị kinh tế được nhà nước giao cho chi tiêu kế hoạch pháp lệnh thì có nghĩa vụ
ký kết hợp đồng kinh doanh để thực hiện chi tiêu kế hoạch pháp lệnh đó
- Nguyên tắc cùng có lợi
Trang 10Trong nền kinh tế thị trường mỗi bên tham gia vào quan hệ hợp đồng kinh doanh đều xuất phát từ lợi ích riêng của mình Khi ký kết hợp đồng các bên cùng nhau thoả thuận những điều khoản hợp đồng có lợi nhất cho cả hai bên, không được lừa dối chèn
ép nhau
- Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
Các bên tham gia quan hệ hợp đồng hoàn toàn bình đẳng với nhau về quyền và nghía vụ Quyền và nghĩa vụ của mỗi chủ thể bao giờ cũng tương xứng với nhau, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Điều này thể hiện ở chỗ khi đàm phán
để ký kết hợp đồng các bên đều có quyền đưa ra những yêu cầu của mình và đêù có quyền chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của bên kia không bên nào có quyền ép buộc bên nào Quan hệ hợp đồng kinh tế chi hình thành khi các bên thống nhất ý chí với nhau về các điều khoản hợp đồng
Khi quan hệ hợp đồng kinh doanh đã hình thành, các bên đều có nghĩa vụ thực hiện đúng những điều đã cam kết trong hợp đồng Bên nào không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng đều phải chịu trách nhiệm trước bên kia
- Nguyên tắc không trái pháp luật
Trong quan hệ hợp đồng kinh doanh các bên tham gia ký kết hợp đồng kinh doanh
có quyền tự do thoả thuận các điều khoản của hợp đồng Pháp luật hợp đồng kinh doanh tôn trọng ý chí của các bên Tuy nhiên ý chí của các bên chi được tôn trọng nếu ý chí đó phù hợp với pháp luật Điều đó có nghĩa là các bên có quyền thoả thuận nhưng mọi thoả thuận trong hợp đồng không được vi phạm điều cấm của pháp luật mà phải phù hợp với các quy định của pháp luật
- Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản
Khi tham gia quan hệ hợp đồng kinh doanh các bên phải dùng chính tài sản của mình để đảm bảo việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh doanh Các bên có thể dùng tài sản của mình để cầm cố, thế chấp hoặc nhờ người khác bảo lãnh về tài sản để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng Nguyên tắc này có ý nghĩa trong việc đảm bảo lợi ích kinh
tế của các bên trong quan hệ hợp đồng
5.3 Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh
Để tạo sự tin tưởng khi giao kết hợp đồng các bên có thể thỏa thuận sử dụng một trong các biện pháp bảo đảm hợp đồng sau đây:
Cầm cố tài sản là việc một bên (gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở
hữu của mình cho bên kia (gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo