1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề cương pháp luật kinh tế

26 146 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 269 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng nhà nước, giai cấp thống trị về kinh tế trở thành giai cấp thống trị về chính trị, ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện một cách tập trung và biến thành ý chí nhà nước, bắt bu

Trang 1

Trong đó, quá trình hình thành nhà nước bao gồm các giai đoạn:

1 Công xã nguyên thủy và tổ chức thị tộc – bộ lạc

- Cơ sở kinh tế: Chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động

- Tổ chức xã hội: Thị tộc là cơ sở cấu thành xã hội Trong thị tộc, các thành viên có quan hệ huyết thống với nhau và được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng Lúc đầu huyết thống được xác lập theo dòng họ mẹ gọi là mẫu hệ, về sau được xác lập theo dòng họ cha gọi là phụ hệ

- Phân công lao động: đã xuất hiện sự phân công lao động, thường mang tính tự nhiên giữa các thành viên thị tộc

2 Quyền lực xã hội và quy phạm xã hội trong công xã nguyên thủy

- Bản chất: là quyền lực xã hội, chưa mang tính giai cấp và hệ thống quản lý còn rất đơn giản

- Các hình thức tổ chức trong công xã nguyên thủy:

+ Thị tộc

+ Bào tộc: bao gồm nhiều thị tộc hợp thành

+ Bộ lạc: bao gồm nhiều bào tập hợp thành

+ Liên minh bộ lạc: bao gồm một số bộ lạc có quan hệ thân thuộc với nhau

Trang 2

• Tóm lại: Trong xã hội công xã nguyên thủy đã có quyền lực, nhưng đó là thứ quyền lực xã hội, được tổ chức và thực hiện dựa trên cơ sở của những nguyên tắc dân chủ thực sự Quyền lực đó xuất phát từ xã hội và phục vụ cho lợi ích của cả cộng đồng.

3 Phân hóa giai cấp và sự xuất hiện nhà nước

Do năng suất lao động ngày một tăng lên, vào thời kì cuối của chế độ công xã nguyên thủy lần lượt diễn

ra ba lần phân công lao động xã hội, kéo theo sự phân hóa giai cấp làm tiền đề cho sự xuất hiện nhà nước.+ Lần thứ nhất: Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt

Trong lao động và cùng với lao động, con người phát triển, hoạt động của con người ngày càng phong phú, chủ động và tự giác hơn Việc con người thuần dưỡng động vật đã mở ra một kỉ nguyên mới trong sự phát triển của xã hội loài người Chính những đàn gia súc được thuần dưỡng đã trở thành nguồn tích lũy tài sản quan trọng, là mầm mống sinh ra chế độ tư hữu Nghề chăn nuôi phát triển mạnh, dần dần trở thành một ngành kinh tế độc lập tách ra khỏi trồng trọt

Sau lần phân công lao động lần thứ nhất, xã hội đã có những biến đổi sâu sắc Năng suất lao động tăng nhanh, sản phẩm lao động làm ra ngày càng nhiều, và xuất hiện sản phẩm dư thừa, làm phát sinh khả năng chiếm đoạt của cải dư thừa ấy

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi và trồng trọt, nảy sinh nhu cầu mới – nhu cầu về sức lao động Tù binh bị bắt trong chiến tranh giờ đây được giữ lại làm nô lệ để bóc lột sức lao động

 Như vậy, sau lần phân công lần thứ nhất, mầm mống của chế độ tư hữu đã xuất hiện, xã hội dần phân chia thành người giàu, kẻ nghèo Chế độ tư hữu xuất hiện làm thay đổi quan hệ hôn nhân gia đình: chế độ hôn nhân một vợ một chồng thay thế chế độ quần hôn Gia đình cá thể trở thành một lực lượng đe dọa thị tộc

+ Lần phần công lao động lần thứ hai: Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp thành một ngành độc lậpViệc con người tìm ra kim loại, đã tạo ra khả năng có thể trồng trọt trên những diện tích lớn hơn, khai phá các miền đất bỏ hoang Nghề dệt, nghề chế tạo đồ kim loại và những nghề thủ công khác ngày được chuyên môn hóa làm cho sản phẩm làm ra ngày càng nhiều loại và hoàn hảo hơn Chính hoạt động nhiều mặt này đã dẫn đến lần phân công lao động lần thứ hai

Sự tăng trưởng không ngừng của sản phẩm lao động đã nâng cao sức lao động của con người Từ nay, nô

lệ đã trở thành một bộ phận cấu thành chủ yếu của hệ thống xã hội; nô lệ không còn là kẻ phụ giúp đơn thuần nữa mà đã trở thành một lực lượng xã hội với số lượng ngày càng tăng

Điều này đã đẩy nhanh quá trình phân hóa xã hội, làm cho sự phân biệt giữa kẻ giàu và người nghèo, giữa chủ nô và nô lệ ngày càng sâu sắc, mâu thuẫn giai cấp ngày càng gia tăng

+ Lần phân công lao động xã hội lần thứ ba: Sản xuất hàng hóa phát triển, tầng lớp thương nhân ra đời

Đây là lần phân công lao động xã hội giữ vai trò rất quan trọng và có ý nghĩa quyết định cho sự ra đời của nhà nước Nền sản xuất tách ra thành những ngành sản xuất riêng, làm xuất hiện nhu cầu trao đổi và sản

Trang 3

xuất hàng hóa ra đời Nền sản xuất hàng hóa xuất hiện thì đồng thời thương nghiệp cũng phát triển Sự phân công lao động xã hội này làm nảy sinh một giai cấp không còn tham gia vào quá tringh sản xuất nữa, mà chỉ làm công việc trao đổi sản phẩm, đó là giai cấp thương nhân Giai cấp này tuy không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, nhưng lại chiếm toàn bộ quyền lãnh đạo sản xuất và bắt những người sản xuất phụ thuộc vào mình về mặt kinh tế và bóc lột cả hai.

Điều này kéo theo sự xuất hiện của đồng tiền – hàng hóa của các loại hàng hóa Nạn cho vay nặng lãi, quyền tư hữu về ruộng đất và chế độ cầm cố… đã làm cho sự tích tụ và tập trung của cải vào trong tay một số ít người giàu có, đồng thời thúc đẩy sự bần cùng hóa của quần chúng và sự tăng nhanh của đám đông dân nghèo Số nô lệ tăng lên rất đông cùng với sự cưỡng bức và bóc lột ngày càng nặng nề của giai cấp chủ nô đối với họ

Những yếu tố mới làm đảo lộn đời sống thị tộc, chế độ thị tộc tỏ ra bất lực Những hoạt động thương nghiệp, sự thay đổi nghề nghiệp và sự nhượng quyền sở hữu đất đai đã đòi hỏi phải di động và thay đổi chỗ ở, phá vỡ cuộc sống định cư của thị tộc, làm mất đi điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của chế độ thị tộc – đó là các thành viên của một thị tộc, bộ lạc phải cùng chung sống trên cùng một lãnh thổ mà chỉ mình họ cư trú mà thôi Hơn thế nữa, những xung đột về lợi ích giữa kẻ giàu và người nghèo, giữa chủ nợ

và con nợ cũng diễn ra ngày càng gay gắt trong mỗi tổ chức thị tộc

 Như vậy, tổ chức thị tộc đã sinh ra từ một xã hội không biết đến mâu thuẫn nội tại và chỉ thích hợp với một xã hội kiểu đó thì nay, khi một xã hội mới ra đời, một xã hội mà toàn bộ những điều kiện kinh tế của sự tồn tại của nó đã phân chia xã hội thành các giai cấp đối lập nhau, luôn luôn mâu thuẫn với nhau và đấu tranh gay gắt với nhau để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình Tổ chức thị tộc tỏ ra bất lực, không thể phù hợp được nữa Xã hội đòi hỏi phải có một tổ chức mới đủ sức dập tắt cuộc xung đột công khai giữa các giai cấp ấy Tổ chức đó là nhà nước và nhà nước xã hội xuất hiện

Tóm lại, nhà nước xuất hiện là kết quả của sự vận động, phát triển nội tại của xã hội loài người, nó xuất hiện dựa trên hai tiền đề: tiền đề kinh tế là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, của cải và tiền đề

xã hội là sự phân hóa xã hội thành các giai cấp, các tầng lớp có lợi ích đối lập nhau và mâu thuẫn giữa các giai cấp, các tầng lớp ấy gay gắt đến mức không thể điều hòa được Nhà nước xuất hiện một cách khách quan, là sản phẩm của một xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định Nhà nước không phải là một *quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội* mà là *một lực lượng nảy sinh

từ xã hội*, một lực lượng tựa hồ đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho

Trang 4

về nội dung, thể hiện ở ba mặt: Kinh tế, chính trị và tư tưởng Bằng nhà nước, giai cấp thống trị về kinh tế trở thành giai cấp thống trị về chính trị, ý chí của giai cấp thống trị được thể hiện một cách tập trung và biến thành ý chí nhà nước, bắt buộc mọi thành viên trong xã hội phải tuân theo, các giai cấp, các tầng lớp dân cư phải hành động trong một giới hạn và trật tự phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị.

Trong các xã hội bóc lột, nhà nước có thuộc tính chung là bộ máy đặc biệt duy trì sự thống trị về kinh tế, chính trị và tư tưởng của thiểu số đối với đa số nhân dân lao động, thực hiện nền chuyên chính của giai cấp bóc lột Nhà nước XHCN là nhà nước kiểu mới, là công cụ thực hiện nền chuyên chính và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nhà nước XHCN là một bộ máy thống trị của đa số với thiểu số

b, Bản chất xã hội:

Nhà nước ra đời và tồn tại trong xã hội với cơ cấu gồm giai cấp thống trị và các giai cấp, các tầng lớp dân

cư khác nhau Bản thân giai cấp thống trị cũng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với các giai cấp, các tầng lớp dân cư khác Do vậy, nhà nước ngoài việc là công cụ duy trì thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, còn phải là một tổ chức quyền lực công bằng, đảm bảo lợi ích chung của các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội, khi những lợi ích đó không mâu thuẫn căn bản với lợi ích của giai cấp thống trị

Vai trò xã hội là một thuộc tính khách quan, phổ biến của nhà nước, nhưng biểu hiện cụ thể và mức độ thực hiện vai trò này không giống nhau ở những kiểu nhà nước khác nhau Trong một kiểu nhà nước, ở các giai đoạn phát triển khác nhau của nó, vai trò xã hội của nhà nước cũng có những nội dung cụ thể không giống nhau

2 Đặc điểm

Với tư cách là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, nhà nước có một số đặc điểm sau đây:

- Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị công cộng đặc biệt, có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và quản lý những công việc chung của xã hội

- Nhà nước thực hiện quản lý dân cư theo lãnh thổ

- Nhà nước có chủ quyền quốc gia: thể hiện ở quyền tự quyết của nhà nước về tất cả các vấn đề thuộc chính sách đối nội và đối ngoại, không phụ thuộc vào lực lượng bên ngoài

- Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện quản lý bắt buộc với công dân

- Nhà nước quy định các loại thuế và thực hiện thu thuế dưới hình thức bắt buộc

Câu 3:

1 Khái niệm bộ máy nhà nước

Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, thống nhất nhằm thực hiện những nhiệm vụ và chức năng của nhà nước, vì lợi ích của giai cấp thống trị

(Bổ sung: Cần phân biệt bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị Bộ máy nhà nước là một khái niệm hẹp hơn, chỉ

bao gồm các cơ quan nhà nước như: quân đội, cảnh sát, các cơ quan hành chính, ngoại giao, tư pháp… còn hệ

Trang 5

thống chính trị không chỉ có nhà nước mà còn có các tổ chức chính trị - xã hội khác cùng thực hiện nền chuyên chính của giai cấp cầm quyền).

2 Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam

- Quốc hội: Cơ quan có quyền lực cao nhất trong bộ máy nhà nước, là cơ quan có quyền lập hiến

và lập pháp Quốc hội có quyền giám sát tối cao về các hoạt động của nhà nước

Được tổ chức theo nguyên tắc bỏ phiếu, và quyết định những vấn đề trọng đại nhất của đất nước

- Chính phủ: là cơ quan chấp hành của Quốc hội, nắm quyền hành pháp

Đây là cơ quan liên quan trực tiếp đến đời sống xã hội, chính trị, kinh tế

Thủ tướng Chính phủ được lập nên dựa trên sự tín nhiệm của Chủ tịch nước và phiếu bầu Quốc hội

Giúp việc cho Thủ tướng có các Phó thủ tướng

Mỗi Bộ phụ trách những mảng khác nhau trong các lĩnh vực đời sống

- Chủ tịch nước: là người đứng đầu nhà nước, đại diện cho nhà nước về vai trò đối nội, đối ngoại

- Tòa án nhân dân tối cao: là cơ quan tư pháp lãnh việc xét xử, bảo vệ pháp luật

Đứng đầu là Chánh án tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu ra, chịu trách nhiệm báo cáo công tác

- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát đối với các

bộ máy nhà nước, có quyền công tố

- Kiểm toán nhà nước (trực thuộc Quốc hội) Đứng đầu là Tổng kiểm toán nhà nước

Câu 4: Nguồn gốc của pháp luật

Theo học thuyết Mác-Lênin, nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng lịch sử cơ bản nhất của đời sống chính trị - xã hội cùng xuất hiện, cùng tồn tại và phát triển và cùng tiêu vong khi nhân loại tiến tới chủ nghĩa cộng sản

Nguyên nhân xuất hiện nhà nước cũng là nguyên nhân làm xuất hiện pháp luật: Một là tiền đề kinh tế, đó

là sự xuất hiện chế độ tư hữu, hai là tiền đề xã hội, đó là sự phân hóa xã hội thành những giai cấp, tầng lớp có lợi ích đối kháng nhau và mâu thuẫn, đấu tranh giai cấp phát triển tới mức không thể điều hòa được

Nguồn gốc của pháp luật từ 3 con đường:

Trang 6

- Tập quán pháp:

Khi nhà nước ra đời, giai cấp thống trị chỉ thừa nhận những quy phạm xã hội nào phù hợp với lợi ích của mình, các quy phạm xã hội được thừa nhận ấy gọi là tập quán pháp Đây là con đường thứ nhất, sớm nhất hình thành nên pháp luật trong lịch sử Sự thừa nhận nói trên được thực hiện bằng hai cách: Một là, các quy phạm đó được chỉ ra dưới dạng chung, được nhắc tới tên loại quy tắc đó trong văn bản của cơ quan lập pháp; hai là, các quy phạm xã hội được cơ quan hành pháp và xét xử dựa vào để giải quyết vụ việc cụ thể Những quy phạm pháp luật này trở thành pháp luật và được gọi là tập quán pháp

- Tiền lệ pháp:

Cùng với sự xuất hiện của nhà nước, các quan hệ xã hội tăng đột biến cả về nội dung và số lượng, trong

đó đáng chú ý là sự xã hội những quan hệ mới, đặc thù cho xã hội có giai cấp mà chưa có tập quán điều chỉnh và nhiều quan hệ trong số đó chưa có quy định của nhà nước do khả năng ban hành pháp luật còn hạn chế Trong trường hợp đó, cơ quan hành pháp và xét xử phải tự mình phán xét những vụ việc cụ thể phát sinh trên cơ sở lợi ích giai cấp và năng lực cá nhân Những cách phán xét đó nếu tốt, phù hợp, có thể trở thành khuôn mẫu cho chính cơ quan đó hoặc các cơ quan khác để giải quyết những vụ việc tương tự sau đó Cách phán xét, giải quyết đó gọi là tiền lệ pháp Đây là con đường thứ hai hình thành nên pháp luật

- Văn bản pháp luật:

Trong quá trình tồn tại và phát triển, nhà nước ngày càng chú trọng xây dựng và ban hành những quy tắc

xử sự mới để điều chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng mới phát sinh Cũng có những loại quy định điều chỉnh bằng tập quán nay không còn phù hợp với lợi ích giai cấp thống trị, cần thiết phải quy định lại cho chặt chẽ hơn Đây là con đường thứ ba hình thành bằng con đường này có thể tồn tại dưới dạng bất thành văn, sau đó cùng với sự hoàn thiện của chữ viết và văn bản, chúng được thể hiện văn bản pháp luật

Câu 5:

1 Khái niệm pháp luật:

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo

2 Bản chất của pháp luật

- Bản chất giai cấp:

+ Bản chất giai cấp của pháp luật thể hiện trước hết ở chỗ, pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị Giai cấp thống trị thông qua nhà nước, thể hiện ý chí của mình bằng việc ban hành pháp luật, là những quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung đối với mọi người Những quy tắc xử sự ấy khi đã trở thành pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện

+ Mức độ thể hiện tính giai cấp là đậm hay nhạt phụ thuộc vào kiểu pháp luật, tương quan so sánh, đối sánh lực lượng, giai cấp, tính khốc liệt hay không khốc liệt của mâu thuẫn giai cấp

- Bản chất xã hội:

Trang 7

Pháp luật là công cụ điều chỉnh hành vi của con người có hiệu lực nhất Vì vậy pháp luật, ngoài những thuộc tính thể hiện bản chất giai cấp, nó còn là phương tiện ghi nhận những quy luật khách quan của những xử sự hợp lý Trong chừng mực nhất định, nó là chân lý khách quan, mang tính chuẩn mực và ổn định.

Ngoài ra, pháp luật còn là thước đo hành vi con người, là công cụ kiểm nghiệm các quá trình, các hiện tượng xã hội

Pháp luật còn truyền tải những giá trị nhân đạo to lớn đến với từng cá nhân, là công cụ nhận thức và giáo dục, cải biến bản thân con người

Ở mỗi kiểu pháp luật khác nhau, bản chất xã hội là không giống nhau

Câu 6:

Nhìn một cách tổng quát, pháp luật có những đặc trưng cơ bản sau:

1 Tính quyền lực (tính nhà nước, tính cưỡng chế)

Pháp luật do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện mà không phải hình thành bằng bất cứ con đường nào khác Pháp luật được đảm bảo có hiệu lực bao trùm toàn xã hội, tác động đến tất cả mọi người

2 Tính quy phạm

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự, đó là những khuôn mẫu, những mực thước được xác định cụ thể, không trừu tượng, chung chung Tính quy phạm của pháp luật nói lên giới hạn cần thiết mà nhà nước quy định để mọi người có thể xử sự một cách tự do trong khuôn khổ cho phép, vượt quá khuôn khổ đó là trái luật

3 Tính ý chí

Pháp luật bao giờ cũng là hiện tượng ý chí, không phải là kết quả của sự tự phát hay cảm tính Ý chí trong pháp luật về bản chất là ý chí của giai cấp cầm quyền Chỉ có lực lượng nào nắm được nhà nước mới có khả năng thể hiện ý chí và lợi ích của mình một cách tối đa trong pháp luật Khi ý chí đó được hợp pháp hóa thành pháp luật thì sẽ được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước

Tính ý chí được thể hiện rõ ở mục đích xây dựng pháp luật, nội dung pháp luật và dự kiến hiệu ứng của pháp luật khi triển khai vào thực tế đời sống xã hội Vì vậy mọi quá trình xây dựng tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật đều được diễn ra dưới những hình thức cụ thể, theo những nguyên tắc và thủ tục chặt chẽ Đó là kết quả của sự tư duy chủ động, tự giác của các nhà làm luật

4 Tính xã hội

Pháp luật muốn thực hiện được trong thực tế đời sống thì nó phải phù hợp với những điều kiện cụ thể của

xã hội ở thời điểm tồn tại của nó, nghĩa là pháp luật phản ánh đúng những nhu cầu khách quan của xã hội Tuy nhiên, do tính chất phức tạp của các mối quan hệ xã hội, pháp luật chỉ có khả năng mô hình hóa

Trang 8

những nhu cầu xã hội khách quan mang tính điển hình, phổ biến và thông qua đó để tác động tới các quan

hệ xã hội khác, hướng các quan hệ đó phát triển theo hướng đã được nhà nước xác định

Câu 7: Chức năng của pháp luật

Chức năng của pháp luật là những phương diện, những mặt tác động chủ yếu của pháp luật Về cơ bản, pháp luật có ba chức năng cơ bản sau đây:

1 Chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội:

Là sự tác động trực tiếp của pháp luật tới các quan hệ xã hội bằng cách ghi nhận, củng cố những quan hệ

xã hội cơ bản, quan trọng và tạo lập hành lang pháp lý để hướng các quan hệ xã hội phát triển trong trật tự

ổn định theo mục tiêu mong muốn Đây là hướng tích cực, là chức năng cơ bản của pháp luật Chức năng này thể hiện ở hai khía cạnh sau đây:

- Chức năng tĩnh: Quy định các chủ thể pháp luật những nghĩa vụ phải kiềm chế những hành động nhất định

- Chức năng động: Buộc các chủ thể phải tiến hành những hành động tích cực nhất định

2 Chức năng bảo vệ:

Thể hiện ở việc quy định những phương tiện nhằm mục đích bảo vệ những quan hệ xã hội là cơ sở, nền tảng của xã hội trước các vi phạm và loại trừ những quan hệ xã hội lạc hậu không còn phù hợp với bản chất của chế độ (chủ yếu là những quy định về xử phạt)

3 Chức năng giáo dục:

Thể hiện ở tác động gián tiếp của pháp luật tới các quan hệ xã hội thông qua ý thức con người, hướng dẫn con người những cách xử sự hợp lý, phù hợp với các xử sự ghi trong quy phạm pháp luật, phù hợp với lợi ích của xã hội và của bản thân

Câu 8: Văn bản pháp luật

1 Khái niệm

Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình

tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và được áp dụng nhiều lần trong thực tế đời sống

2 Các loại văn bản quy phạm pháp luật:

Theo quy định của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, hiện nay nước ta có các loại văn bản quy phạm pháp luật sau đây:

i) Văn bản luật: Là văn bản do quốc hội, cơ quan có quyền lực cao nhất của nước CHXHCN

Việt Nam ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức do hiến pháp quy định Văn bản luật có giá trị pháp lý cao nhất, tất cả các văn bản dưới luật phải có nội dung phù hợp với nội dung của văn bản luật Văn bản luật gồm:

Trang 9

- Hiến pháp: Là đạo luật gốc, đạo luật cơ bản nhất, có giá trị pháp lý cao nhất, quy định những vấn

đề cơ bản nhất của đất nước

- Luật (đạo luật): Là văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hóa hiến pháp, trong đó quy định các vấn

đề cơ bản thuộc lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

- Nghị quyết của Quốc hội: Được ban hành để quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc

hội

ii) Văn bản dưới luật: Là văn bản do các cơ quan có thẩm quyền khác trong bộ máy nhà nước

ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức và tên gọi nhất định, bao gồm các loại sau:

- Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Quy định những vấn đề được Quốc hội giao

- Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Được ban hành để giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh và quyết định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội

- Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

- Nghị định của Chính phủ

- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

- Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

- Nghị quyết của Hồi đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

- Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

- Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

- Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước

- Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội

- Thông tư liên tịch giữa Chán án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

- Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân gồm có: Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp; Quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân các cấp

3 Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật:

a, Hiệu lực về thời gian

- Thời điểm phát sinh hiệu lực:

Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được quy định trong văn bản nhưng không sớm hơn bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày công bố hoặc lý ban hành

Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật quy định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp, văn bản được ban hành để kịp thời đáp ứng yêu cầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh thì có thể có hiệu lực kể

từ ngày công bố hoặc ký ban hành

Văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo; văn bản quy phạm pháp luật không đăng Công báo thì không có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước và các trường hợp quy định nêu trên

Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực Trong trường hợp văn bản có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó

Trang 10

- Thời điểm chấm dứt hiệu lực:

Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:

+ Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản

+ Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó

+ Bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

+ Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn

b, Hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng

Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trung ương có hiệu lực trong phạm vi cả nước và được áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân, trừ trường hợp văn bản có quy định khác hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác Văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương thông thường có hiệu lực đối với các tổ chức cá nhân tại địa phương đó

c, Hiệu lực của văn bản pháp luật trong một số trường hợp đặc biệt

Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn

Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định này của văn bản được ban hành sau

Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới

d, Ngưng hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật bị đình chỉ việc thi hành thì ngưng hiệu lực cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ thì văn bản hết hiệu lực, nếu không hủy bỏ thì văn bản tiếp tục có hiệu lực

Câu 9: Quan hệ pháp luật

Trang 11

Là những quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh, được cấu thành bởi chủ thể, nội dung

+ Năng lực pháp luật là khả năng thừa hưởng các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà nhà nước quy đinh cho

cá nhân hoặc tổ chức Đây không phải là một thuộc tính tự nhiên mặc dù là thuộc tính không tách rời của mỗi công dân và nó xã hội khi mỗi con người được sinh ra

+ Năng lực hành vi là khả năng của công dân được nhà nước thừa nhận mà với nó, người đó có thể bằng

chính hành vi của bản thân tạo ra cho mình các quyền và nghĩa vụ pháp lý hoặc tự thực hiện chúng một cách độc lập, đồng thời phải gánh chịu những trách nhiệm pháp lý do những hành vi đó mang lại

Năng lực pháp luật và năng lực hành vi tạo thành năng lực chủ thể pháp luật vì thế chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Đối với cá nhân, năng lực pháp luật và năng lực hành vi xuất hiện không đồng thời, đối với pháp nhân thì chúng xuất hiện cùng một lúc từ khi pháp nhân ra đời

(Bổ sung: Các loại chủ thể quan hệ pháp luật:

Cá nhân (trong đó công dân là phổ biến nhất) là các chủ thể của quan hệ pháp luật khi theo quy định pháp luật họ

có năng lực chủ thể Chỉ có cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong những điều kiện, trình tự nghiêm ngặt do pháp luật quy định mới có thể hạn chế năng lực chủ thể của công dân.

Pháp nhân là những tổ chức do nhà nước thành lập hoặc thừa nhận, có cơ cấu thống nhất và hoàn chỉnh, có tài sản

riêng và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó, phải nhân danh mình tiến hành các hoạt động và phải chịu trách nhiệm về hậu quả phát sinh từ những hành động đó.

Nhà nước là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật Đặc điểm cơ bản trong năng lực chủ thể pháp luật của nhà

nước XHCN thể hiện ở chỗ nhà nước là chủ thể quyền lực chính trị của toàn xã hội, là chủ sở hữu lớn nhất.)

2 Nội dung

Bao gồm quyền và nghĩa vụ của chủ thể

- Quyền chủ thể: là khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất định được pháp luật cho phép.

Quyền chủ thể có những đặc tính sau:

+ Khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất định mà pháp luật cho phép

+ Khả năng yêu cầu các chủ thể khác chấm dứt các hành động cản trở họ thực hiện quyền và nghĩa vụ hoặc yêu cầu các chủ thể khác tôn trọng các nghĩa vụ phát sinh từ quyền và nghĩa vụ này

+ Khả năng của chủ thể yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ lợi ích của mình

Trang 12

- Nghĩa vụ chủ thể: là cách xử sự mà chủ thể bắt buộc phải tiến hành nhằm đáp ứng việc thực hiện

quyền của các chủ thể khác

Nghĩa vụ pháp lí gồm hai yếu tố:

+ Phải tiến hành các xử sự bắt buộc (phải tiến hành một hành động nhất định hoặc kiềm chế không để xảy ra các hành động nhất định)

+ Phải chịu trách nhiệm pháp lý khi không thực hiện các xử sự bắt buộc

3 Khách thể quan hệ pháp luật

Là những gì mà các bên chủ thể mong muốn đạt được khi tham gia vào quan hệ pháp luật

Câu 10:

1 Khái niệm doanh nghiệp

Tại điều 3 Luật doanh nghiệp 2005 quy định “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”

2 Điều kiện để được cấp giấy chứng nhận kinh doanh

Theo điều 24 chương II Luật doanh nghiệp 2005, doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận kinh doanh khi

có đủ các điều kiện sau đây:

- Ngành, nghề đăng kí kinh doanh không thuộc lĩnh vực cấm kinh doanh

- Tên của doanh nghiệp được đặt theo đúng quy định

- Có trụ sở chính theo quy định của pháp luật

- Có hồ sơ đăng kí kinh doanh hợp lệ theo quy định của pháp luật

- Nộp đủ lệ phí kinh doanh theo quy định của pháp luật

Câu 11: Khái niệm và đặc điểm của công ty cổ phần

1 Khái niệm

Công ty cổ phần là loại hình đặc trưng cho công ty đối vốn, vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu

2 Đặc điểm

- Về thành viên công ty: Trong suốt quá trình hoạt động ít nhất phải có 3 thành viên tham gia công

ty cổ phần Ở hầu hết các nước trên thế giới đều có quy định số thành viên tối thiểu của công ty

cổ phần

- Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Giá trị mỗi cổ

phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phần Một cổ phiếu có thể phản ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần Việc góp vốn vào công ty được thực hiện bằng cách mua

cổ phần, mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phần Luật không hạn chế mỗi thành viên

Trang 13

được mua tối đa bao nhiêu phần trăm vốn điều lệ nhưng các thành viên có thể thỏa thuận trong điều lệ giới hạn tối đa số cổ phần mà một thành viên có thể mua nhằm chống lại việc một thành viên nào đó có thể nắm quyền kiểm soát công ty.

- Vốn góp (cổ phần) của cách thành viên được tự do chuyển nhượng trên thị trường chứng khoán,

nó thể hiện dưới hình thức cổ phiếu Các cổ phiếu do công ty phát hành là một loại hàng hóa, người có cổ phần có thể tự do chuyển nhượng theo quy định của pháp luật

- Về chế độ trách nhiệm: công ty cổ phần chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài

sản của công ty Các cổ đông chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty (tức là đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu)

- Trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán (cổ phần, trái phiếu)

ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán để huy động vốn Điều này thể hiện khả năng huy động vốn lớn của công ty cổ phần

- Công ty cổ phần là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận

đăng kí kinh doanh

Câu 12:

Công ty TNHH có 2 thành viên trở lên là loại hình công ty gồm không quá 50 thành viên góp vốn thành lập và công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của mình

Theo điều 38 Luật doanh nghiệp thì công ty TNHH có 2 thành viên có những đặc điểm cơ bản sau:

- Là doanh nghiệp có không quá 50 thành viên trong suốt quá trình hoạt động Thành viên của công

ty không nhiều và thường là những người quen biết nhau Chính sự tin cậy, tín nhiệm giữa các thành viên là cơ sở hình thành và tồn tại công ty (ưu điểm của công ty đối nhân)

- Có tư cách pháp nhân độc lập, địa vị pháp lý này quyết định chế độ trách nhiệm của công ty

- Chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng tài sản của mình (trách nhiệm hữu hạn) Thành viên công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty Như vậy, trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên có sự tách bạch về tài sản của công ty với tài sản của các thành viên Nguyên tắc phân tách tài sản được áp dụng trong mọi quan hệ tài sản, nợ nần và trách nhiệm của công ty (ưu điểm của công ty đối vốn)

- Vốn điều lệ chia thành từng phần, mỗi thành viên có thể góp nhiều, ít khác nhau và bắt buộc phải góp đủ khi công ty thành lập, công ty phải bảo toàn số vốn ban đầu

- Phần góp vốn không thể hiện dưới hình thức cổ phiếu và rất khó chuyển nhượng ra bên ngoài, phải tuân theo quy định của pháp luật

- Trong quá trình hoạt động, không được phép công khai huy động vốn trong công chúng (không được phát hành cổ phiếu)

- Về tổ chức, điều hành ở công ty TNHH đơn giản hơn so với công ty cổ phần Về mặt pháp lý, công ty TNHH thường chịu sự điều chỉnh bắt buộc ít hơn so với công ty cổ phần

Có thể nói công ty TNHH 2 thành viên là mô hình lý tưởng để kinh doanh ở quy mô vừa và nhỏ

Câu 13: Công ty hợp danh

1 Khái niệm

Ngày đăng: 09/06/2016, 22:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w