Câu 1 :Trình bày cơ sở phân định các vùng biển ở Việt Nam Trả lời : Muốn xác định được giới hạn, phạm vi của vùng biển, trước hết phải xác định được đường cơ sở. Đường cơ sở là đường dùng để tính chiều rộng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Điều 8, Luật biển Việt Nam nêu rõ : “ Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam là đường cơ sở thẳng đã được Chính phủ công bố, Chính phủ xác định và công bố đường cơ sở như những khu vực chưa có đường cơ sở khi được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn”. Điểm 1 Tuyên bố của Chính phủ VN ngày 1251977 thì đường cơ sở của Việt Nam là đường nối liền các điểm nhô ra nhất của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của VN tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất trở ra. Tuyên bố ngày 12111982 của Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam xác định: Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam từ điểm tiếp giáp 0 của hai đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Campuchia nằm giữa biển, trên đường thẳng nối liền quần đảo Thổ Chu và đảo Poulo Wai, đến đảo Cồn Cỏ theo các tọa độ ghi trong phụ lục, được vạch trên các bản đồ tỷ lệ 1100.000 của Hải quân nhân dân Việt Nam xuất bản năm 1979. Đường cơ sở từ đảo Cồn Cỏ đến cửa Vịnh Bắc Bộ; đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ được quy định cụ thể sau.
Trang 1Câu 1 :Trình bày cơ sở phân định các vùng biển ở Việt Nam
Trả lời :
- Muốn xác định được giới hạn, phạm vi của vùng biển, trước hết phải xác định được đường cơ sở Đường cơ sở là đường dùng để tính chiều rộng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
- Điều 8, Luật biển Việt Nam nêu rõ : “ Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam là đường cơ sở thẳng đã được Chính phủ công bố, Chính phủ xác định và công bố đường cơ sở như những khu vực chưa có đường cơ sở khi được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn”
- Điểm 1 Tuyên bố của Chính phủ VN ngày 12/5/1977 thì đường cơ
sở của Việt Nam là đường nối liền các điểm nhô ra nhất của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của VN tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất trở ra
- Tuyên bố ngày 12/11/1982 của Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam xác định: Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam từ điểm tiếp giáp 0 của hai đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia nằm giữa biển, trên đường thẳng nối liền quần đảo Thổ Chu và đảo Poulo Wai, đến đảo Cồn Cỏ theo các tọa độ ghi trong phụ lục, được vạch trên các bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Hải quân nhân dân Việt Nam xuất bản năm 1979 Đường cơ sở từ đảo Cồn Cỏ đến cửa Vịnh Bắc Bộ; đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa sẽ được quy định cụ thể sau
Câu 2 :Trình bày quy chế pháp lý đối với vùng lãnh hải của Việt Nam theo Công ước Luật biển quốc tế 1982 & Luật biển Việt Nam 2012
• Theo Công ước Luật biển quốc tế 1982
Trang 2Quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ trong vùng lãnh hải, song không tuyệt đối như nội thủy Nghĩa là quyền của quốc gia ven biển được công nhận như lãnh thổ của mình, trên các lĩnh vực phòng thủ quốc gia, cảnh sát, thuế quan….Tuy nhiên các tàu thuyền nước ngoài có “ quyền đi lại không gây hại”, cụ thể là nước khác có quyền đi qua vùng lãnh hải của nước ven biển mà không phải xin phép trước nếu họ không tiến hàng bất kì hoạt động gây hại nào như sau :
- Đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia ven biển
- Luyện tập, diễn tập bất kì loại vũ khí nào
- Thu thập tin tình báo gây thiệt hại cho nước ven biển
- Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay, phương tiện quân sự
- Xếp dỡ hàng hóa, tiền bạc, đưa người lên xuống tàu trái quy định của nước ven biển
- Cố ý gậy ô nhiễm nghiêm trọng
- Đánh bắt hải sản
- Nghiên cứu, đo đạc
- Làm rối loạn hoạt động giao thông liên lạc
- Mọi hoạt động khác không trực tiếp liên quan đến việc đi qua ( Điều 19 Công ước về Luật biển 1982)
• Theo Luật biển Việt Nam 2012
- Nhà nước thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải và vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982
- Tàu thuyền của tất cả các quốc gia được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam Đối với tàu quân sự nước ngoài khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, thông báo trước cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam
- Việc đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng hòa bình, độc lập, chủ quyền, pháp luật Việt
Trang 3Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên
- Các phương tiện bay nước ngoài không được vào vùng trời ở trên lãnh hải Việt Nam, trừ trường hợp được sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam hoặc thực hiện theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
- Nhà nước có chủ quyền đối với mọi loại hiện vật khảo cổ, lịch sử trong lãnh hải Việt Nam
Câu 3: Trình bày quy chế pháp lý đối với vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo Công ước Luật biển quốc tế 1982 & Luật biển VN 2012
• Theo Công ước về Luật biển quốc tế 1982
Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển 1982 quy định: “Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải ”
Chiều rộng của vùng đặc quyền kinh tế “không được mở rộng ra quá
200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải” (điều 57)
Vùng đặc quyền kinh tế là một chế định pháp lý mới, lần đầu tiên được ghi nhận trong Công ước Đây là một vùng biển đặc thù, trong đó quốc gia ven biển có những thẩm quyền riêng biệt nhằm mục đích kinh tế, tuân theo những quy định của Công ước
Trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có những quyền sau:
- Các quyền chủ quyền về việc thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên sinh vật và không sinh vật, của vùng nước trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế từ nước, hải lưu và gió
Trang 4- Quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợp của Công ước về việc: Lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình; Nghiên cứu khoa học về biển; Bảo vệ và gìn giữ môi trường biển; và các quyền và nghĩa vụ khác do Công ước quy định
Trong vùng đặc quyền kinh tế, các quốc gia khác (dù có biển hay không
có biển) đều được hưởng quyền tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, cũng như quyền tự do sử dụng biển vào những mục đích khác hợp pháp (khoản 1 điều 58)
• Theo Luật biển VN 2012
Phù hợp với quy định của Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm
1982, Luật Biển Việt Nam 2012 quy định cụ thể:
Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở
Luật Biển Việt Nam quy định chế độ pháp lý vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam như sau:
1 Trong vùng đặc quyền kinh tế, Nhà nước thực hiện:
a) Quyền chủ quyền về việc thăm dò, khai thác, quản lý và bảo tồn tài nguyên thuộc vùng nước bên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển; về các hoạt động khác nhằm thăm dò, khai thác vùng này vì mục đích kinh tế;
b) Quyền tài phán quốc gia về lắp đặt và sử dụng đảo nhân tạo, thiết bị
và công trình trên biển; nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển;
c) Các quyền và nghĩa vụ khác phù hợp với pháp luật quốc tế
2 Nhà nước tôn trọng quyền tự do hàng hải, hàng không; quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp của các quốc
Trang 5gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo quy định của Luật này và điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam
Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam
3 Tổ chức, cá nhân nước ngoài được tham gia thăm dò, sử dụng, khai thác tài nguyên, nghiên cứu khoa học, lắp đặt các thiết bị và công trình trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên cơ sở các điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên, hợp đồng được ký kết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc được phép của Chính phủ Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế có liên quan
4 Các quyền có liên quan đến đáy biển và lòng đất dưới đáy biển quy định tại Điều này được thực hiện theo quy định tại Điều 17 và Điều 18 của Luật này
Câu 4 :Trình bày mục đích của công ước Basel 1989 và nghĩa vụ của Việt Nam khi tham gia công ước này.
• Mục đích :Nhằm mục đích giảm khối lượng, độ độc hại của các chất thải được sản sinh, khuyến khích hủy bỏ chất thải càng gần nơi sản sinh càng tốt, đảm bảo cho chất thải được quản lý một cách tốt nhất
để bảo vệ môi trường
• Nghĩa vụ của Việt Nam khi tham gia :
• Kể từ khi tham gia Công ước Basel, Việt Nam đã nỗ lực thực hiện các nghĩa vụ của mình Những thành công lớn nhất trong việc thực thi Công ước Basel được thể hiện trong các hoạt động sau:
• Thứ nhất: Xây dựng những quy định thích hợp để quản lý chất thải,
đặc biệt là chất thải nguy hiểm Đây là một trong những nghĩa vụ quan trọng nhất của các quốc gia thành viên của Công ước Basel
Trang 6• Thứ hai: Việc xác định trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình
sự trong pháp luật Việt Nam đối với hành vi xuất khẩu, nhập khẩu chất thải bất hợp pháp là phù hợp với quy định của Công ước
• Thứ ba: Để thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Công ước
Basel, ngoài việc ban hành các văn bản pháp luật về quản lý chất thải, Việt Nam đã bước đầu triển khai đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho hoạt động quản lý chất thải, xây dựng các cơ sở xử lý chất thải, đào tạo cán bộ chuyên môn nghiệp vụ, nghiên cứu khoa học phục vụ cho công tác quản lý chất thải
• Thứ tư: Một trong những nghĩa vụ khác mà thành viên của Công ước
Basel phải thực hiện là hình thành cơ quan có thẩm quyền để tạo điều kiện cho việc thực hiện Công ước; Hợp tác với các quốc gia thành viên trong hoạt động trao đổi thông tin với Uỷ ban của Công ước và với các quốc gia thành viên khác Theo đó, Việt Nam đã xác định Cục Môi trường thuộc Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường trước đây nay là Cục Bảo vệ môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đảm nhiệm chức năng Cơ quan có thẩm quyền Việt Nam của Công ước Basel và là đầu mối thực hiện Công ước Basel ở Việt Nam
• Thứ năm: Việc đóng niên liễm Công ước, tham gia các cuộc họp
hàng năm của Công ước, tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn kỹ thuật, trao đổi chia sẻ thông tin, kinh nghiệm thực hiện Công ước Việt Nam, thông qua hoạt động của Cơ quan có thẩm quyền Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc chế độ thông báo tin tức theo quy định của Công ước
Câu 5 :Trình bày mục đích của công ước CITES và nghĩa vụ của Việt Nam khi tham gia công ước này.
• Mục đích : Đảm bảo rằng các loài động, thực vật hoang dã được
buôn bán quốc tế không bị khai thác quá mức
• Nghĩa vụ của Việt Nam khi tham gia :
Công ước thiết lập một khung pháp luật quốc tế và cơ chế thủ tục chung cho việc ngăn chặn việc buôn bán quốc tế vì mục đích thương mại các loài nguy cấp, kiểm soát hiệu quả buôn bán quốc tế các loài
Trang 7khác Các nước thành viên tiến hành những biện pháp thích hợp để thi hành có hiệu lực các điều khoản của công ước là:
- Phạt việc buôn bán hoặc lưu trữ các mẫu vật trái pháp luật
- Tịch thu hoặc trả lại nước xuất khẩu các mẫu vật bị thu trữ
- Bảo đảm hoàn tất các thủ tục xuất – nhập khẩu một cách nhanh chóng cho các loài động thực vật hoang dã được phép xuất khẩu
- Bảo đảm cho mọi mẫu vật sống phải được chăm sóc thích hợp hạn chế tối đa các tổn thương về sức khỏa hay cách đối xử thô bạo trong quá trình vận chuyển
Thực thi Công ước CITES tại Việt Nam
Về tổ chức
Thành lập văn phòng CITES thường trực Bộ NN&PTNT là bộ phận thường trực cơ quan có thẩm quyền Việt Nam trong việc thực thi công ước
Nhiệm vụ của cơ quan quản lí CITES ở VN :
- Đại diện cho Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện các quyền và nghĩa vụ của nước thành viên Công ước CITES
- Chủ trì, phối hợp với các Cơ quan khoa học CITES và các cơ
quan, tổ chức liên quan trong việc thực thi Công ước CITES tại Việt Nam
- Tổ chức hoạt động thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức về Công ước CITES
- Đề xuất sửa đổi, bổ sung danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định tại các Phụ lục của Công ước CITES
- Công bố danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định tại các Phụ lục của Công ước CITES, được thay đổi sau Hội nghị các nước thành viên
- Cấp, thu hồi chứng chỉ CITES, giấy phép CITES, giấy phép xuất, nhập khẩu mẫu vật động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm theo quy định tại Điều 15 Nghị định này
Xây dựng chính sách PL :
Trang 8Nghị định 32/2006/NĐ- CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về việc quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm
Để thực hiện Công ước, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
82/2006/ NĐ- CP , ngày 14/8/2006 về quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, tái xuất nhập khẩu và quá cảnh động thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm
Các hoạt động khác
- Xây dựng kế hoạch hành động quốc gia về tăng cường kiểm soát buôn bán động vật, thực vật hoang dã ( QĐ 1021/ QĐ- TTg ngày 27/9/2004 )
- Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng về trách nhiệm bảo vệ các loài động thực vật hoang dã
- Tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ thực thi nhiệm vụ bảo vệ động vật hoang dã
- Đẩy mạnh công tác kiểm tra kiểm soát các hoạt động săn bắn, buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ động thực vật hoang dã
Câu 6 :Trình bày mục đích của công ước RAMSAR - 1971 và nghĩa
vụ của Việt Nam khi tham gia công ước này.
• Mục đích : Công ước Ramsar là một công ước quốc tế về bảo tồn và
sử dụng một cách hợp lí và thích đáng các vùng đất ngập nước, với mục đích ngăn chặn quá trình xâm lấn ngày càng gia tăng vào các vùng đất ngập nước cũng như sự mất đi của chúng ở thời điểm hiện nay cũng như trong tương lai, công nhận các chức năng sinh thái học nền tảng của các vùng đất ngập nước và các giá trị giải trí, khoa học, văn hóa và kinh tế của chúng
• Nghĩa vụ của Việt Nam khi tham gia :
- Chỉ định những vùng đất ngập nước thích hợp trong phạm vi lãnh thổ của mình để đưa vào Danh mục các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế
Trang 9- Các bên tham gia phỉa xây dựng và thực hiện các kế hoạch để tăng cường bỏa tồn các vùng đất ngập nước thuộc danh mục và trong khả năng có thể sử dụng một cách khôn khéo vùng đất ngập nước trong lãnh thổ của mình
- Các bên tham gia thông qua việc quản lý sẽ cố gắng làm tăng
trưởng số lượng chim nước ở các vùng đất ngập nước thích hợp
- Các bên tham gia phải thông báo trong thời gian sớm nhất có thể nếu đặc tính sinh thái hoặc bất kỳ vùng đất ngập nước trong lãnh thổ của mình nằm trong danh mục có sự thay đổi hoặc có chiều hướng thay đổi do sự phát triển công nghệ, ô nhiễm hoặc tác động của con người
- Các bên tham gia sẽ nỗ lực phối hợp và ủng hộ các chính sách hiện tại và tương lai; các quy chế liên quan đến việc bảo tồn các vùng đất ngập nước và hệ động, thực vật cảu chúng
- Các bên cử những người có trách nhiệm bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên
- Các bên hợp tác và tư vấn lẫn nhau trong thực hiện các Công ước, đặc biệt với các vùng đất ngập nước chung, các hệ thống nước chung và các loài động vật chung