1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

bài tập lịch sử nhà nước pháp luật chis

3 141 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 18,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà nước tư sản thời kỳ cận đại đều áp dụng triệt để học thuyết phân chia quyền lực.. Khẳng định “Nhà nước La Mã thời kỳ cổ đại là nhà nước quý tộc chủ nô” là đúng vì nô lệ chiếm một

Trang 1

Họ và tên: Trần Thu Trang

Lớp: L2K1

Bài tập cá nhân

Đề bài: Những khẳng định sau đúng hay sai? Vì sao?

1 Nhà nước La mã thời kỳ cổ đại là nhà nước quý tộc chủ nô

2 Nhà nước Văn Lang Âu Lạc ra đời dựa trên chế độ tư hữu triệt để và phân hóa

xã hội sâu sắc

3 Các nhà nước tư sản thời kỳ cận đại đều áp dụng triệt để học thuyết phân chia quyền lực

Bài làm

1 Khẳng định “Nhà nước La Mã thời kỳ cổ đại là nhà nước quý tộc chủ nô” là đúng vì nô lệ chiếm một số lượng rất lớn, là lực lượng lao động chủ yếu Trong xã hội La mã cổ đại, nô lệ đóng vai trò rất quan trọng, là lực lượng tạo

ra của cải vật chất cho xã hội, đem lại nguồn lợi khổng lồ cho giai cấp chủ

nô, tạo ra cuộc sống đế vương cho các ông chủ, làm cho La mã ngày càng phồn thịnh về kinh tế Xã hội phân chia thành các đẳng cấp căn cứ vào mức

độ tài sản để phân chia Nhà nước La Mã cổ đại được xem là nhà nước chiếm hữu nô lệ điển hình

Điều này được chứng minh rõ hơn qua tổ chức bộ máy nhà nước cộng hòa quý tộc chủ nô La Mã

Chính thể CH quý tộc ở La Mã có những đặc điểm là ở TƯ các cơ quan chuyên chính gồm : Nghị viện (viện nguyên lão), Đại hội nhân dân và các cơ quan chấp chính Nó thể hiện sâu sắc tính chất quý tộc của nhà nước

La Mã Đó là chính thể CH quý tộc Nghị viện (viện nguyên lão) gồm 300 người và chỉ những người giàu có mới được bầu vào nghị viện Nghị viện là chính phủ, là cơ quan hành chính cấp cao nhất Mặc dù không có quyền lập pháp nhưng nghị viện có quyền soạn thảo tất cả các

dự thảo luật và nếu như nghị viện không đông ý thì đại hội nhân dân không thể thông qua được luật hoặc bầu ra những quan chấp chính Đại hội công

Trang 2

dân gồm có đại hội xăng-tu-ri và đại hội nhân dân Đại hội xăng-tu-ri là đại hội theo đơn vị quân đội của các đẳng cấp, có quyền hạn lớn, giải quyết các vấn đề về chiến tranh, hoà bình, bầu ra các quan chức cao cấp của NN Đại hội nhân dân là cơ quan lập pháp, mọi công dân đều có quyền tham gia đại hội để giải quyết các vấn đề như những vấn đề liên quan đến lãnh thổ, các vấn đề liên quan tới hôn nhân, gia đình, thừa kế và việc thực hiện các nghi lễ tôn giáo Đại hội nhân dân là đại hội chỉ mang tính hình thức, các chức vụ đều không có lương và phải bỏ nhiều tiền để chiêu đãi, vì vậy, người nghèo khồn có điều kiện vào những chức vụ trong bộ máy nhà nước

Cơ quan chấp hành và điều hành những công việc hằng ngày là các cơ quan chấp chính do đại hội nhân dân bầu ra Cùng với những thay đổi trong xã hội chiếm hữu nô lệ, các nhà nước chiếm hữu nô lệ có chính thể cộng hoà từng bước chuyển dần sang chính thể quân chủ Quyền lực nhà nước chủ yếu tập trung vào tay các vua (hoàng đế), được truyền từ đời này sang đời khác theo nguyên tắc cha truyền con nối để bảo vệ lợi ích cho một số những chủ nô giàu có trong xã hội Nền cộng hoà quý tộc chủ nô bị xoá bỏ vĩnh viễn khi Oc-ta-vit lên nắm quyền, là viên tướng nắm quyền chỉ huy tối cao quân đội với danh hiệu hoàng đế, có toàn quyền quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước, hầu hết những cơ quan nhà nước của chính thể cộng hoà bị giải tán Chính thể quân chủ chuyên chế vừa là sản phẩm của thời kỳ suy vong và sụp đổ của chế độ chiếm hữu nô lệ, vừa là công cụ thống trị của giai cấp chủ nô của đế quốc La Mã Đến TK 5, đế quốc La Mã bị phong kiến hoá La Mã xây dựng bộ máy nhà nước theo chính thể cộng hoà quý tộc đã bắt đầu có sựu phân chia và giám sát quyền lực Thiết chế chính trị của La

Mã đã đặt nền móng cho chiều hướng phát triển của nền văn minh cận hiện đại của châu Âu

2 Khẳng định “Nhà nước Văn Lang ra đời dựa trên chế độ tư hữu triệt để và phân hóa xã hội sâu sắc” là một khẳng định sai vì Nhà nước Văn Lang Âu Lạc ra đời trên cơ sở sự cần thiết đòi hỏi của công việc trị thủy và chống ngoại xâm, trong xã hội mới chỉ manh nha xuất hiện mâu thuẫn thúc đẩy tiến trình tan rã công xã thị tộc chứ chưa phân hóa đến mức độ sâu sắc

3 Khẳng định “Các nhà tư sản thời kỳ cận đại đều áp dụng triệt để học thuyết phân chia quyền lực” là đúng

Vào thời kỳ cận đại (TK XVI – XIX), ngay từ đầu thế kỷ XVI, chế độ phong kiến và hệ tư tưởng chính trị bị các trào lưu tư tưởng nảy sinh ở Tây

Trang 3

Âu tấn công mạnh mẽ, chế độ phong kiến bắt đầu tan rã, các quan hệ tư bản chủ nghĩa dần hình thành Các nhà tư tưởng thời kỳ này mạnh mẽ chống lại giáo hội Thiên chúa giáo, tòa án thiên chúa Thời kỳ này còn được gọi là thời Phục hưng – vì đã áp dụng, phục hưng lại những giá trị, lý tưởng tốt đẹp

từ thời cổ đại vào việc xây dựng hệ tư tưởng mới, trong đó có tư tưởng về phân quyền

Đánh dấu sự trở lại của tư tưởng tam quyền phân lập thời cận đại phải nói đến tư tưởng chính trị của J.Looker Tư tưởng chính trị của ông được thể

hiện trong tác phẩm Hai luận thuyết về chính quyền Ông được coi là người

khởi thảo học thuyết về “sự phân chia quyền lực”, làm rõ tư tưởng này và luận giải cụ thể sự vận hành của “tam quyền” trong nhà nước Học thuyết này của ông được Montesquieu và các nhà lý luận sau ông tiếp tục phát triển

và hoàn thiện cho đến ngày nay Việc thực hiện triệt để tư tưởng tam quyền phân lập đã góp phần chống lại chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến ở Anh, Pháp thời bấy giờ, mở đường cho cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến, mang lại quyền tự do cho con người

Ngày đăng: 15/06/2017, 23:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w