Tính cấp thiết của đề tài Theo quy định tại Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì chứng cứ là những gì có thậtđược đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp, xuất trình c
Trang 1BÀI THẢO LUẬN NHÓM 8
ĐỀ TÀI: KỸ NĂNG THU THẬP CHỨNG CỨ CỦA THẨM PHÁN
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN VĨNH HƯNG
Hà Nội, ngày 12 tháng 4 năm 2017
Trang 2BẢNG ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT
DANH MỤC VIẾT TẮT
BLLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự
TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
M C L C ỤC LỤC ỤC LỤCPHẦN MỞ ĐẦU 5
Trang 31 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Tình hình nghiên cứu 6
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Kết cấu 7
PHẦN NỘI DUNG 8
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về kỹ năng thu thập chứng cứ của Thẩm phán 8
1.1 Khái niệm, ý nghĩa 8
1.2 Các hoạt động thu thập chứng cứ của thẩm phán 8
1.2.1 Thông báo về việc thụ lý vụ án 9
1.2.2 Yêu cầu đương sự giao nộp chứng cứ 9
1.2.3 Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án 10
1.2.4 Thu thập chứng cứ của Thẩm phán tại phiên tòa 11
1.3 Kỹ năng chung về thu thập chứng cứ của Thẩm phán 11
1.3.1 Xác định điều kiện để Tòa án thu thập chứng cứ 11
1.3.2 Xác định hồ sơ còn thiếu chứng cứ 12
1.3.3 Yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ 13
1.3.4 Đương sự chứng minh không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ 14
1.3.5 Những trường hợp Tòa án tự mình thu thập chứng cứ 15
1.3.6 Kỹ năng tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ 15
Chương 2 Thực trạng về kỹ năng thu thập chứng cứ của thẩm phán 28
2.1 Những tồn tại, bất cập 28
2.2 Nguyên nhân 29
Chương 3 Một số kiến nghị hoàn thiện kỹ năng thu thập chứng cứ của thẩm phán 31
3.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự ….31 3.2 Kiến nghị về thực hiện pháp luật thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự 32
KẾT LUẬN 33
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo quy định tại Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì chứng cứ là những gì có thậtđược đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tốtụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự , thủ tục của Bộ luật này quy định và được Tòa án sửdụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay phảnđối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp Về nguyên tắc , các đương sự phải có nghĩa vụ cung cấpchứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, Tòa án có trách nhiệm xemxét các tình tiết của vụ án, căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết yêu cầu của đương sự Tuynhiên khi xét thấy các tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp không đầy đủ cơ sở để giải quyếthoặc các đương sự không thể cung cấp được các chứng cứ cần thiết thì trong các trường hợp quy địnhThẩm phán sẽ tiến hành một số biện pháp để thu thập chứng cứ
Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự đồng thờiđược hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2012 NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về “chứng minh và chứng cứ”của BLTTDS đã được bổ sung và sửa đổi một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự So với các quy định
về thu thập chứng cứ của các văn bản quy phạm pháp luật trước đây thì các văn bản quy phạm phápluật hiện hành đã quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục và cách thức Tòa án tiến hành thu thập chứng
cứ khá rõ ràng và đầy đủ đã tạo thuận lợi cho các Tòa án trong việc giải quyết vụ việc dân sự
Tuy nhiên qua nghiên cứu thì hoạt động thu thập chứng cứ của Thẩm phán cũng đang còn tồn tạimột số bất cập như chưa quy định hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án giới hạn ở giai đoạn nào,trường hợp thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi thì những chứng cứ do thẩmphán đó có được sử dụng tiếp để giải quyết vụ án không…Trong rất nhiều vụ án, mặc dù đương sự đãmất nhiều công sức, thời gian đi lại yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp các chứng cứ liên quan đến việcgiải quyết VADS để họ giao nộp cho Tòa án, nhưng đều bị từ chối với đủ mọi lý do; hoặc các cơ quan,
tổ chức cung cấp không đầy đủ, không chính xác, không đúng thời hạn Điều này đòi hỏi phải có sựcan thiệp của Nhà nước, cụ thể là Tòa án, với tính chất là cơ quan có chức năng giải quyết tranh chấp,
hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ đang lưu giữ tại các cơ quan, tổ chức mà đương sự không thể thuthập được
Trang 5Từ thực tế đó, việc tiếp tục nghiên cứu vấn đề thu thập chứng cứ của Thẩm phán hiện nay là rất
cần thiế Vì vậy nhóm đã chọn đề tài “Kỹ năng thu thập chứng cứ của Thẩm phán” để nghiên cứu
qua đó sẽ làm rõ được những vấn đề cũng như các hoạt động liên quan đến hoạt động thu thấp chứng
cứ của Thẩm phán nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án.
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, vấn đề hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án nói chung và của Thẩmphán nói riêng đã được nhiều chuyên gia pháp luật và những người làm thực tiễn quan tâm nghiên cứu.Nhiều công trình nghiên cứu có đề cập đến vấn đề này như:
- Luận văn thạc sĩ Luật học “ Chứng cứ và hoạt động chứng minh trong Tố tụng dân sựViệt Nam” của tác giả Vũ Trọng Hiếu bảo vệ tại trường Đại học Luật Hà Nội năm 1998;
- Luận văn thạc sĩ luật học” Hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ trong Tố tụng dân sựViệt Nam” của tác giả Nguyễn Minh Hằng bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2002;
- Nguyễn Minh Hằng, Hoạt động chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam,NXB Chính trị- Hành chính, 2009
- Sổ tay thẩm phán, Trường đào tạo các chức danh tư pháp, Nxb CAND, Hà Nội năm2001
- Nguyễn Công Bình, “Các quy định về chứng minh trong TTDS”, Tạp chí luật học năm
Những công trình nghiên cứu này đã một phần góp phần làm sáng tỏ được nhiều vấn đề lý luận
và thực tiễn liên quan đến việc thu thập chứng cứ của Thẩm phán
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật về thu thậpchứng cứ và các kỹ năng của Thẩm phán trong việc thu thập chứng cứ
Trang 6Hoạt động thu thập chứng cứ của Thẩm phán là hoạt động tố tụng dân sự cơ bản và có ý nghĩa rấtlớn Do vậy, đề tài “Kỹ năng thu thập chứng cứ của Thẩm phán” có rất nhiều nội dung khác nhau.Trong khuôn khổ và điều kiện thời gian thì đề tài chủ yếu nghiên cứu về một số vấn đề lý luận cơ bản
về kỹ năng thu thập chứng cứ của Thẩm phán cũng như các hoạt động chính của Thẩm phán trong quátrình thu thập chứng cứ
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài với mục đích là làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về kỹ năng thu thậpchứng cứ của thẩm phán, nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành vềthu thập chứng cứ đồng thời nhận diện những tồn tại, bất cập trong việc thực hiện các quy định củapháp luật vè thu thập chứng cứ của Tòa án nói chung và Thẩm phán nói riêng trên cơ sở đó tìm ra cácgiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động thu thập chứng cứ của Thẩm phán
Xuất phát từ mục đích của việc nghiên cứu đề tài nêu trên, việc nghiên cứu đề tài có nhiệm vụnghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về thu thập chứng cứ, phân tích làm rõ các quy địnhcủa pháp luật Việt Nam hiện hành về thu thập chứng cứ, đánh giá thực tiễn qua đó đưa ra các kiến nghịgiải pháp phù hợp
5 Kết cấu
Đề tài bao gồm 3 phần chính: Mở đầu, nội dung và kết luận Phần nội dung sẽ gồm 3 chươngchính:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kỹ năng thu thập chứng cứ của thẩm phán
Chương 2: Nội dung các quy định của Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về thu thậpchứng cứ của Thẩm phán
Chương 3: Kiến nghị và giải pháp
Trang 7PHẦN NỘI DUNG Chương 1 Một số vấn đề lý luận về kỹ năng thu thập chứng cứ của Thẩm phán
1.1 Khái niệm, ý nghĩa
1.1.1 Khái niệm
Trong nghiên cứu khoa học pháp lý nhiều tác giả đã đưa ra những khái niệm khác nhau về thuthập chứng cứ nói chung và của Tòa án nói riêng Qua nghiên cứu tổng hợp về những vấn đề về thuthập chứng cứ có thể kết luận về khái niệm thu thập chứng cứ như sau: Kỹ năng thu thập chứng cứ củaThẩm phán là hoạt động của thẩm phán trong việc tiến hành các biện pháp pháp lý theo quy định củapháp luật nhằm tập hợp các chứng cứ liên quan đến vụ việc dân sự đã được Tòa án thụ lý để xây dựng,hoàn thiện hồ sơ, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu, đánh giá chứng cứ nhằm xác định sự thật khách quancủa vụ việc dân sự
1.1.2 Ý nghĩa
Việc thu thập chứng cứ của Thẩm phán trong tố tụng dân sự có ý nghĩa quan trọng, quyết địnhviệc tìm ra sự thật khách quan của vụ án dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự,góp phần làm ổn định xã hội
1.2 Các hoạt động thu thập chứng cứ của thẩm phán
Hoạt động thu thập chứng cứ của Thẩm phán chỉ đặt ra khi VADS đã được thụ lý, xuyên suốt quátrình giải quyết VADS và bị giới hạn bởi yêu cầu của đương sự Khi thực hiện các hoạt động tố tụng đểthu thập chứng cứ, Thẩm phán phải nắm vững các thuộc tính của chứng cứ, đồng thời xác định chínhxác yêu cầu của đương sự (yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầuđộc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp trong vụ
án, những vấn đề cần phải chứng minh, các chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án và các chứng
cứ đang được lưu giữ ở đâu, nghĩa vụ chứng minh của đương sự, quy phạm pháp luật nội dung, từ đó
áp dụng các biện pháp phù hợp để thu thập chứng cứ Xây dựng hồ sơ VADS là nhiệm vụ hết sức quantrọng của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án Điều 198 BLTTDS 2015 quy định, khi lập hồ sơ
vụ án, Thẩm phán có nhiệm vụ: yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; tiến hành xácminh, thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 97 BLTTDS Theo đó, Thẩm phánđược tiến hành các hoạt động tố tụng sau đây để thu thập chứng cứ:
Trang 81.2.1 Thông báo về việc thụ lý vụ án
Sau khi được phân công giải quyết vụ án, Thẩm phán tiến hành nghiên cứu hồ sơ khởi kiện vàtiến hành hoạt động tố tụng đầu tiên là thông báo về việc thụ lý vụ án theo quy định tại Điều 196BLTTDS: “Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằngvăn bản cho nguyên đon, bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việcgiải quyết vụ án, Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án.”
BLTTDS không có quy định thông báo yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Song, để bảo đảm nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh, bìnhđẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS cũng như tính công khai, minh bạch trong việc giải quyếtVADS và để tiến hành thu thập chứng cứ thì Thẩm phán, sau khi đã chấp nhận xem xét yêu cầu phản tốcủa bị đơn; yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (thụ lý yêu cầu phản tố, yêu cầuđộc lập), phải thực hiện việc thông báo các yêu cầu đó cho nguyên đơn, bị đơn biết để các đương sựnày thực hiện việc cung cấp chứng cứ cho Tòa án (có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu phản tố của
bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan và nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứkèm theo) Thời hạn, mẫu thông báo yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập có thể áp dụng tương tự thời hạn,mẫu thông báo thụ lý vụ án (Mẫu số 05 ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày3/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định trongphần thứ hai “thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm”) Như vậy, thông qua việc thực hiệnhành vi thông báo thụ lý vụ án, thông báo yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập với việc yêu cầu các đương
sự cung cấp chứng cứ, Thẩm phán đã bước đầu thực hiện việc thu thập chứng cứ
1.2.2 Yêu cầu đương sự giao nộp chứng cứ
Trong trường hợp xét thấy chứng cứ chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ án thì Thẩm phán yêu cầuđương sự giao nộp bổ sung Việc yêu cầu giao nộp bổ sung chứng cứ được thực hiện trong suốt quátrình giải quyết vụ án và phải bằng văn bản (thông báo giao nộp chứng cứ) Trong thông báo giao nộpchứng cứ, Thẩm phán phải nêu cụ thể các chứng cứ đương sự cần giao nộp Giao nộp chứng cứ làquyền và nghĩa vụ của đương sự, nhưng đương sự chỉ có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ thuộc về nghĩa vụchứng minh của họ Để yêu cầu đương sự giao nộp được các chứng cứ theo đúng yêu cầu và mục đích,Thẩm phán phải giải thích cho đương sự biết quy định tại Điều 7 BLTTDS về trách nhiệm cung cấpchứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Căn cứ vào điều luật này, đương sự có quyềnyêu cầu các chủ thể đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp để giao nộp cho Tòa án Hoạt động thu
Trang 9thập chứng cứ này phải thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định Nghị quyết số04/2012/NQ-HĐTP ngày 3/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một sốquy định của BLTTDS về “Chứng minh và chứng cứ” đã nêu rõ thủ tục giao nộp chứng cứ trong từnggiai đoạn tố tụng, khi đương sự khởi kiện cũng như trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa
1.2.3 Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án
Khi thu thập chứng cứ, ngoài việc phải xác định các chứng cứ cần thu thập của vụ án thì Thẩmphán cần xác định các chứng cứ đương sự đã cung cấp cho Tòa án, chứng cứ đương sự đã tự mình thuthập nhưng không được và có yêu cầu Tòa án thu thập
Việc tiến hành các biện pháp để thu thập chứng cứ phải dựa vào các căn cứ như: theo yêu cầubằng văn bản của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (trừ những biện pháp Tòa
án được tự mình tiến hành thu thập); quy định của pháp luật nội dung và pháp luật TTDS Tùy từngloại tranh chấp cụ thể, tùy thuộc vào các chứng cứ cần phải thu thập mà Thẩm phán áp dụng các biệnpháp phù hợp để thu thập chứng cứ
Theo quy định của BLTTDS, Thẩm phán được tự mình tiến hành một hoặc một số biện pháp sau
để thu thập chứng cứ: lấy lời khai của đương sự (Điều 98 BLTTDS, Điều 6 Nghị quyết số04/2012/NQ-HĐTP); lấy lời khai người làm chứng (khoản 1 Điều 99 BLTTDS); đối chất khi xét thấy
có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng (khoản 1 Điều 100 BLTTDS); xemxét thẩm định tại chỗ (Điều 101 BLTTDS); định giá tài sản (khoản 3 Điều 104 BTTS); ủy thác thu thậpchứng cứ (Điều 105 BLTTDS) BLTTDS quy định điều kiện để Thẩm phán được tiến hành một hoặcmột số biện pháp thu thập chứng cứ khi đương sự không thể tự mình thu thập được và có yêu cầu như:lấy lời khai người làm chứng (Điều 99 BLTTDS, Điều 7 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP); đối chất(Điều 100 BLTTDS, Điều 8 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP); trưng cầu giám định (Điều 102, 103BLTTDS, Luật Giám định tư pháp, Nghị định số 85 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thihành Luật Giám định tư pháp, Điều 10 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP); định giá tài sản (Điều 104BLTTDS); yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ (Điều 106, Điều 12 Nghị quyết số04/2012/NQ-HĐTP)
1.2.4 Thu thập chứng cứ của Thẩm phán tại phiên tòa
Trong quá trình xây dựng hồ sơ vụ án, Thẩm phán không chỉ thu thập chứng cứ trước khi xét xử
mà còn tiếp tục thu thập chứng cứ, xem xét và kiểm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa BLTTDS
Trang 10cho phép các đương sự xuất trình chứng cứ mới ở bất kỳ thời điểm nào, kể cả ở phiên tòa sơ thẩm,phúc thẩm Khoản 5 Điều 95 BLTTDS quy định lời khai của đương sự, người làm chứng được coi làchứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, bằng băng ghi âm, băng ghi hình theo quy định tại khoản 2 Điều
95 BLTTDS hoặc khai bằng lời tại phiên tòa Tại phiên tòa, Thẩm phán nghe lời trình bày của cácđương sự và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình Hội đồng xét xử hỏi, quá trình phátbiểu quan điểm tranh luận, đối đáp của đương sự Đó cũng là quá trình Hội đồng xét xử kiểm tra chứng
cứ và tiếp tục thu thập chứng cứ Trong quá trình đó, có thể xuất hiện lời khai mới của đương sự vànhững người tham gia tố tụng khác
Thu thập chứng cứ từ việc nghe và hỏi các đương sự, những người tham gia tố tụng khác củaThẩm phán là sự tương tác giữa Thẩm phán và đương sự, những người tham gia tố tụng và được thựchiện bằng sự biểu hiện các hành vi: lắng nghe; đặt câu hỏi Như vậy, tại phiên tòa, nếu xuất hiện chứng
cứ mới thì Thẩm phán có thể phải hoãn phiên tòa để trong thời gian hoãn phiên tòa, Thẩm phán tiếp tụcthu thập chứng cứ xây dựng hồ sơ vụ án, đảm bảo đủ chứng cứ giải quyết vụ án
1.3 Kỹ năng chung về thu thập chứng cứ của Thẩm phán
1.3.1 Xác định điều kiện để Tòa án thu thập chứng cứ
Về nguyên tắc, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình Tòa án
có trách nhiệm xem xét mọi tình tiết của vụ án, căn cứ vào pháp luật để giải quyết yêu cầu của đương
sự Điều 96 BLTTDS quy định: Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ
sở để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ Trong trườnghợp đương sự không tự mình thu thập được chứng cứ có thể yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ.(điểm e, khoản 1, điều 97 BLTTDS)
Từ quy định này, Thẩm phán chỉ có thể tiến hành thu thập chứng cứ khi có đủ các điều kiện sauđây:
(1) Hồ sơ vụ án còn thiếu những chứng cứ cần thiết làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án
(2) Đã yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ
(3) Đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ
1.3.2 Xác định hồ sơ còn thiếu chứng cứ
Để có thể kết luận là hồ sơ còn thiếu chứng cứ làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án, Thẩm phánphải căn cứ vào những chứng cứ tài liệu mà đương sự, bao gồm cả chứng cứ của nguyên đơn, bị đơn,
Trang 11người có quyền lợi nghĩa vụ liín quan đê giao nộp Khi xem xĩt chứng cứ, để xâc định còn thiếu chứng
cứ phải tùy thuộc văo từng loại chứng cứ mă Thẩm phân đang xem xĩt
Đối với câc tăi liệu đọc được nội dung thì phải lă bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứngthực hợp phâp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xâc nhận Bản chính có thể lă bảngốc hoặc bản được dùng lăm cơ sở lập ra câc bản sao Ví dụ khi xem xĩt hợp đồng mua bân nhă, đương
sự chỉ nộp bản photo không được công chứng hoặc chứng thực thì Thẩm phân không đủ cơ sở để xemxĩt hợp đồng Đđy lă một trường hợp thiếu chứng cứ lăm cơ sở cho việc giải quyết vụ ân
Đối với câc tăi liệu nghe được, nhìn được phải có văn bản xâc nhận xuất xứ của tăi liệu đó hoặcvăn bản về việc liín quan đến việc thu đm, thu hình Câc tăi liệu năy có thể lă băng ghi đm, đĩa ghi
đm, băng ghi hình, đĩa ghi hănh, phim, ảnh Ví dụ trong vụ ân tai nạn giao thông, người bị hại hoặcngười đại diện hợp phâp của người bị hại được một người cung cấp băng ghi hình về hiện trường vụ tainạn giao thông Trong trường hợp năy cùng với việc giao nộp băng ghi hình, người bị hại hoặc ngườiđại diện hợp phâp của người bị hại phải xuất trình cho Tòa ân bản xâc nhận của người đê cung cấp chomình về xuất xứ của băng ghi hình đó Hoặc một trường hợp khâc: ông A cho ông B vay 5 triệu đồng,thời hạn vay lă 12 thâng Việc vay tăi sản không lập thănh văn bản, nhưng ông A đê ghi đm lại toăn bộnội dung thỏa thuận về việc vay tăi sản, việc giao nhận tiền vă thời điểm thanh toân nợ giữa ông A vẵng B để lăm bằng chứng cho việc vay tăi sản của ông B Đến hạn trả nợ ông B không trả số tiền đócho ông A Ông A khởi kiện ông B ra Tòa Cùng với việc giao nộp băng ghi đm, ông A phải gửi bảntrình băy về sự việc liín quan đến việc thu đm đó
Theo Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngăy 3/12/2012 của Hội đồng Thẩm phân Tòa ân nhđndđn tối cao hướng dẫn thi hănh một số quy định của BLTTDS về chứng minh vă chứng cứ thì nếuđương sự không xuất trình câc văn bản níu trín, thì tăi liệu nghe được, nhìn được mă đương sự giaonộp không được coi lă chứng cứ
Đối với vật chứng thì phải lă hiện vật gốc liín quan đến vụ ân dđn sự, nếu không phải hiện vậtgốc hoặc không liín quan đến vụ việc thì không phải lă chứng cứ trong vụ việc dđn sự đó
Đối với lời khai của đương sự, lời khai của người lăm chứng nếu ghi bằng văn bản, băng ghi đm,đĩa ghi đm, băng ghi hình, đĩa ghi hình vă được xuất trình theo đúng thủ tục hoặc được khai bằng lời tạiTòa ân
Kết luận giâm định được coi lă chứng cứ nếu việc giâm định được tiến hănh theo đúng thủ tục dophâp luật quy định Hiện nay thủ tục giâm định được quy định tại Luật giâm định tư phâp năm 2012 vă
Trang 12Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hànhLuật giám định tư pháp Như vậy, kết luận giám định trong trường hợp đương sự tự mình giám định, ví
dụ tự đi xét nghiệm ADN không có giá trị chứng minh
Biên bản thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo thủ tục
do pháp luật quy định và có chữ ký của các thành viên hội đồng thẩm định Trường hợp đương sự tự điyêu cầu thẩm định, không theo thủ tục do BLTTDS quy định cũng không được thừa nhận
Kết quả định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá được tiến hành theo thủ tục dopháp luật quy định hoặc văn bản pháp luật quy định hoặc văn bản do chuyên gia về giá cả cung cấp.Thiếu những thủ tục hoặc tài liệu này thì Tòa án không có cơ sở chấp nhận kết quả định giá tài sản
1.3.3 Yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ
Nếu chứng cứ mà đương sự giao nộp còn thiếu, Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp chứng cứ
bổ sung Hình thức yêu cầu là văn bản thông báo Trong trường hợp này, có thể sử dụng mẫu thông báoTòa án đã dùng khi thụ lý vụ án Về nội dung, thông báo phải ghi rõ chứng cứ mà đương sự cần giaonộp bổ sung là chứng cứ gì, hậu quả pháp lý nếu đương sự không giao nộp được chứng cứ đó
Ví dụ trong vụ án ly hôn, Tòa án phải giải quyết yêu cầu nuôi con chưa thành niên Nếu đương sựchưa nộp cho Tòa án giấy khai sinh (bảo sao) của con chưa thành niên, thì Thẩm phán yêu cầu đương
sự giao nộp bổ sung giấy khai sinh để làm căn cứ giải quyết yêu cầu giao con chưa thành niên chongười cha hoặc người mẹ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và quyết định mức cấp dưỡng.Hoặc trong vụ án tranh chấp về hợp đồng vận chuyển hàng hóa mà theo đơn khởi kiện thì ngoài hợpđồng còn có phụ lục hợp đồng, nhưng nguyên đơn mới nộp cho Tòa án án bản hợp đồng, thì Thẩmphán yêu cầu nguyên đơn nộp bổ sung bản phụ lục hợp đồng để có cơ sở giải quyết tranh chấp
Cũng có thể kết hợp khi ghi biên bản lấy lời khai của đương sự, Thẩm phán yêu cầu đương sựphải bổ sung chứng cứ còn thiếu Dù với cách thức nào thì yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng
cứ cũng phải được thể hiện bằng văn bản để lưu trong hồ sơ vụ án Các văn bản này là một trong nhữngcăn cứ pháp lý để Thẩm phán tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật tố tụng
1.3.4 Đương sự chứng minh không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ
Sau khi nhận được yêu cầu của Thẩm phán về việc bổ sung chứng cứ, nếu đương sự có yêu cầuTòa án thu thập chứng cứ thì Thẩm phán cũng chưa thể tiến hành thu thập chứng cứ Khoản 2 Điều 97BLTTDS quy định: trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì
Trang 13Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ Trước hết Thẩm phán phảiyêu cầu đương sự chứng minh người đó không thể tự mình thu thập được chứng cứ Ví dụ trong vụ ántranh chấp về nhà ở, do thất lạc giấy tờ sở hữu, đương sự đã có văn bản đề nghị Sở Địa chính nhà đất,một số địa phương là Sở Tài nguyên và Môi trường xác nhận tình trạng sở hữu về nhà ở Sở địa chínhnhà đất hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường có văn bản trả lời đương sự là Sở chỉ xác nhận khi có côngvăn của Tòa án, không xác nhận theo yêu cầu của cá nhân Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày3/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định củaBLTTDS về chứng minh và chứng cứ thì nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức không cung cấp được chứng cứcho đương sự, thì phải thông báo bằng văn bản có ghi rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứcho đương sự biết để họ chứng minh với Tòa án là họ đã thu thập chứng cứ nhưng không có kết quả vàyêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ Tất cả các giấy tờ trong trường hợp này phải được đương sự gửikèm với yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ Cần thiết, Thẩm phán phải hướng dẫn cho đương sự thựchiện đúng Nếu đương sự chưa tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ mà đã yêu cầu Tòa án thuthập thì Thẩm phán cần giải thích cho đương sự biết nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự.
Khi đương sự có yêu cầu Tòa án tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ, đương
sự phải thể hiện thành văn bản Theo Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 3/12/2012, tùy từngtrường hợp, Thẩm phán yêu cầu đương sự phải viết thành một đơn yêu cầu riêng, nhưng cũng có thểkết hợp ghi yêu cầu của đương sự trong bản khai, bản ghi lời khai, biên bản đối chất Nếu đương sựtrực tiếp đến Tòa án yêu cầu thì Thẩm phản phải lập biên bản ghi rõ yêu cầu của đương sự Riêng đốivới trường hợp đương sự yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ bằng biện pháp yêu cầu cá nhân,
cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ theo Điều 106 BLTTDS thì nhất thiết Thẩm phán phải yêu cầuđương sự làm đơn yêu cầu
Yêu cầu của đương sự về việc đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ cũng cần phảinói rõ biện pháp mà đương sự đề nghị Tòa án áp dụng là biện pháp thu thập nào, biện pháp đó có đượcquy định trong BLTTDS hay không Nếu yêu cầu của đương sự chưa thể hiện nội dung này thì Thẩmphán cần yêu cầu đương sự thể hiện rõ
Khi đã nhận thấy đủ những điều kiện để tiến hành thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự,Thẩm phán cần giải thích cho đương sự biết nghĩa vụ nộp tạm ứng chi phí tương ứng với biện pháp thuthập mà đương sự yêu cầu (ví dụ chi phí giám định, tiền tạm ứng chi phí giám định ) Thẩm phán chỉ
Trang 14tiến hành thu thập chứng cứ khi đương sự đã nộp tiền tạm ứng chi phí tương ứng, nếu thuộc trường hợp
họ phải nộp tiền tạm ứng chi phí tương ứng
1.3.5 Những trường hợp Tòa án tự mình thu thập chứng cứ
Ngoài việc thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, trong một số trường hợp, Thẩm pháncũng có thể tự mình thu thập chứng cứ Theo BLTTDS và Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày17/9/2005 thì đó là các trường hợp: (1) lấy lời khai của người làm chứng khi xét thấy cần thiết theo quyđịnh tại khoản 1 Điều 99 BLTTDS, (2) đối chất khi xét thấy có mâu thuẫn trong lời khai của các đương
sự, người làm chứng theo khoản 1 Điều 100 BLTTDS, (3) định giá tài sản theo khoản 3 Điều 104BLTTDS
Khi quyết định tự mình thu thập chứng cứ mà không có yêu cầu của đương sự, Thẩm phán phảihết sức thận trọng, xác định đủ những tài liệu làm cơ sở để tự mình thu thập chứng cứ Ví dụ, Thẩmphán phải xác định được những văn bản chứa đựng mâu thuẫn giữa lời khai của đương sự làm căn cứcho việc cần thiết phải đối chất Đồng thời khi đã có đủ cơ sở pháp lý, Thẩm phán phải tiến hành đúngbiện pháp trong phạm vi thẩm quyền của mình Ví dụ khi đối chất thì Thẩm phán phải triệu tập nhữngngười cần đối chất, có lời khai mâu thuẫn nhau yêu cầu họ giải thích và nêu quan điểm về những điểmmâu thuẫn, Thẩm phán không được lấy lời khai riêng của từng người hoặc yêu cầu mọi người viết tờkhai riêng
1.3.6 Kỹ năng tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ
Dù áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hoặc tự mình thấy cần thiết
áp dụng thì Thẩm phán cũng đều phải tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật
Đối với trường hợp thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, Thẩm phán chỉ chấp nhận yêucầu của đương sự về việc thu thập chứng cứ khi đã xác định đầy đủ các điều kiện pháp lý để áp dụng.Đồng thời Thẩm phán phải áp dụng đúng biện pháp thu thập mà đương sự yêu cầu
Đối với trường hợp thu thập chứng cứ do tự mình tiến hành, Thẩm phán chỉ áp dụng những biệnpháp mà pháp luật quy định, không tự mình áp dụng những biện pháp mà pháp luật không quy định.Theo khoản 2 Điều 97 BLTTDS, khi xác định đủ các điều kiện để thu thập chứng cứ theo yêu cầucủa đương sự, Thẩm phán có quyền áp dụng một hoặc một số biện pháp thu thập sau đây: (1) Lấy lờikhai của đương sự, người làm chứng; (2) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự vớingười làm chứng; (3) Trưng cầu giám định; (4) Quyết định định giá tài sản; (5) Xem xét, thẩm định tại
Trang 15chỗ; (6) Ủy thác thu thập chứng cư; (7) Yêu cầu cá nhân cơ quan tổ chức cung cấp tài liệu đọc được,nghe được, nhìn được hoặc hiện vật liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự; (8) Xác minh sự cómặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú.
Khi áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ, cần thực hiện các kỹ năng sau:
1.3.6.1 Lấy lời khai của đương sự
a/ Xác định điều kiện lấy lời khai của đương sự
Các đương sự là những người có quyền lợi và nghĩa vụ gắn liền với vụ án Họ là người trực tiếpliên quan đến các tình tiết trong vụ án Vì vậy, việc lấy lời khai của các đương sự có một ý nghĩa hếtsức quan trọng trong việc làm sáng tỏ nội dung vụ án, yêu cầu của các đương sự và là cơ sở để xác địnhđược đường lối giải quyết vụ án Về nguyên tắc, lời khai của đương sự do đương sự tự cung cấp, tự viết
và ký tên Điều 98 BLTTDS quy định “Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương
sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng Đương sự phải tự viết bản khai và kýtên của mình Trong trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đươngsự”
Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 3/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tốicao hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS, thì khi đương sự chưa có bản khai hoặc nộidung của bản khai chưa đầy đủ, Thẩm phán yêu cầu đương sự phải tự viết bản khai hoặc bản khai bổsung và ký tên của mình Chỉ trong trường hợp đương sự không thể tự viết được, thì Thẩm phán tựmình hoặc thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản
b/ Phương pháp lấy lời khai của đương sự
Việc lấy lời khai của đương sự do Thẩm phán tiến hành Thư ký Tòa án chỉ có thể giúp Thẩmphán ghi lời khai của đương sự vào biên bản
Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ,
rõ ràng Thẩm phán tự mình hoặc thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản Để việc lấylời khai của các đương sự phục vụ tốt cho quá trình giải quyết các vụ án, Thẩm phán phải nắm chắc cáctình tiết có ý nghĩa quan trọng của vụ án, các quy định của pháp luật nội dung cần áp dụng giải quyết
vụ án Lời khai của đương sự phải tập trung làm rõ nội dung cơ bản của vụ án, yêu cầu của các bênđương sự, các căn cứ pháp lý và chứng cứ thực tế để bảo vệ yêu cầu của các đương sự
Về địa điểm lấy lời khai, Thẩm phán phải tiến hành lấy khai của đương sự tại trụ sở Tòa án.Trong những trường hợp vì lý do khách quan, chính đáng như đương sự đang bị tạm giam, chấp hành
Trang 16hình phạt tù, ốm đau, bệnh tật v.v…Tòa án không thể lấy lời khai của đương sự tại trụ sở thì Thẩmphán có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở.
Việc lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án phải đảm bảo đúng quy định của pháp luật,quy định đối với cán bộ công chức của ngành Tòa án nhân dân và bảo đảm khách quan Ví dụ, lấy lờikhai của đương sự đang bị tạm giam phải được thực hiện tại trại giam theo bố trí của Ban giám thị trạitạm giam; lấy lời khai của đương sự bị ốm đau nhưng không đi điều trị tại cơ sở y tế phải được thựchiện tại nơi họ đang điều trị và nếu xét thấy cần thiết thì mời người chứng kiến
Đối với đương sự quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 69 BLTTDS, tức là đương sự chưa đủ 6tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, đương sự từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi thì việc bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thựchiện Trong trường hợp lấy lời khai của họ thì phải có mặt người đại diện hợp pháp của họ và người đạidiện hợp pháp của họ phải ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào biên bản lấy lời khai
Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể tiến hành lấy lời khaicủa người làm chứng Phương pháp, địa điểm lấy lời khai người làm chứng được thực hiện như việclấy lời khai của đương sự Việc lấy lời khai của người làm chứng chưa đủ 18 tuổi, người bị hạn chếnăng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được tiến hànhvới sự có mặt của người đại diện theo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lý, trông nomngười đó (Khoản 3 Điều 99 BLTTDS)
c/ Cách ghi biên bản lấy lời khai:
Khi ghi biên bản lấy lời khai của đương sự, Thẩm phán tự mình hoặc thư ký ghi biên bản phải thểhiện rõ ngày, giờ, tháng, năm ghi biên bản, địa điểm lấy lời khai, người tiến hành lấy lời khai, họ tên,tuổi, địa chỉ nghề nghiệp của người được lấy lời khai khai, nội dung khai Biên bản phải phải ghi đầy
đủ chính xác nội dung khai báo Nếu là những lời khai quan trọng phải ghi đúng cả lời văn của ngườikhai
Khi người khai có thái độ đáng chú ý trong quá trình lấy lời khai cũng cần phản ánh vào biên bản(ví dụ thái độ ngập ngừng, luống cuống, khóc.v.v…)
Mỗi chữ mỗi câu thêm vào hoặc bỏ đi trong biên bản phải được cả người lấy lời khai và ngườikhai xác nhận Những dòng trống phải gạch đi
Trang 17Các biên bản lấy lời khai được người khai tự đọc hoặc đọc lại cho họ nghe Đương sự có quyềnyêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai Chữ viết trong biên bản phải rõ ràng, dễđọc, không được viết tắt.
Người khai ký vào biên bản xác nhận Nếu người khai không biết chữ thì cho điểm chỉ xác nhận.Nếu người khai không ký thì yêu cầu họ phải ghi rõ lý do vì sao không ký Nếu đã giải thích họ vẫnkhông ký, không ghi lý do vì sao không ký thì Thẩm phán yêu cầu mời người làm chứng đến xác nhận
sự việc và ký tên vào biên bản
Trường hợp biên bản lấy lời khai của đương sự được lập ngoài trụ sở của Tòa án thì có người làmchứng hoặc xác nhận của ủy ban nhân dân, công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi lậpbiên bản
Biên bản phải có chữ ký của người lấy lời khai, người ghi biên bản và đóng dấu của Tòa án
1.3.6.2 Lấy lời khai người làm chứng
a/ Xác định điều kiện để lấy lời khai người làm chứng
Người làm chứng là người được đương sự mời đến hoặc do cơ quan tiến hành tố tụng triệu tậpđến để khai báo những tình tiết có liên quan đến vụ án mà họ được biết, người làm chứng là ngườikhông có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lời khai của người làm chứng chứa đựng nhiềuchứng cứ về những tình tiết cần chứng minh nhằm giúp Tòa án tìm ra sự thật khách quan của vụ án.Tuy vậy, lời khai của người làm chứng cũng có thể bị sai lệch và không phù hợp với sự thật khách quannhư trong trường hợp người làm chứng bị mua chuộc, dụ dỗ, đe dọa, người làm chứng cố tình khai báosai sự thật, người làm chứng không nhớ kỹ đúng sự việc đã chứng kiến Trong các trường hợp đó lờikhai của nhân chứng không mang tính khách quan Các lời khai của nhân chứng lúc đó phải được đánhgiá với các chứng cứ khác của vụ án
BLTTDS quy định trường hợp cần lấy lời khai của người làm chứng tại Điều 99, đó là trườnghợp “theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết” Nghị quyết số 04/NQ-HĐTP ngày3/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định củaBLTTDS giải thích rõ các trường hợp Tòa án tiến hành lấy lời khai của người làm chứng: Khi đương
sự có yêu cầu bằng văn bản lấy lời khai của người làm chứng, thì Tòa án tiến hành lấy lời khai củangười làm chứng đó Trong trường hợp này, Thẩm phán phải yêu cầu đương sự có văn bản yêu cầutheo cách thức đã nêu ở trên