Người ta đã cố gắng diễn đạt truyền thống này một cách Việt hoá, bằng các tên gọi như: truyền thống luật anglo -saxon, luật Anh - Mỹ, luật chung, luật chung Anh - Mỹ, thông luật, luật c
Trang 1HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CỦA CÁC NƯỚC
THEO TRUYỀN THỐNG COMMON LAW
Truyền thống common law là một truyền thống pháp luật, bao gồm
tổng thể các hệ thống pháp luật của các nước có mối liên hệ chặt chẽ với hệthống pháp luật của nước Anh Người ta đã cố gắng diễn đạt truyền thống
này một cách Việt hoá, bằng các tên gọi như: truyền thống luật anglo
-saxon, luật Anh - Mỹ, luật chung, luật chung Anh - Mỹ, thông luật, luật
công đồng, truyền thống luật án lệ, Tuy nhiên, các tên gọi này đều không
chính xác Cuối cùng, chúng ta nên quy ước sử dụng thuật ngữ common law
để nói về truyền thống luật này
Lịch sử hình thành và phát triển của common law phải được bắt đầu từ
sự hình thành và phát triển của pháp luật Anh Tương tự như civil law, quá
trình thuộc địa hoá chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự ảnh hưởng củapháp luật Anh ra ngoài phạm vi châu Âu Rất nhiều nước trên thế giới chịu
sự ảnh hưởng của pháp luật Anh, mà điển hình là trường hợp của Mỹ,Australia, Canada, New Zealand, để từ đó các nước này được gọi là các
PHẦN I
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRUYỀN THỐNG COMMON LAW
CHƯƠNG I
LỊCH SỬ PHÁP LUẬT NƯỚC ANH
Hệ thống pháp luật nước Anh được hiểu là hệ thống pháp luật được ápdụng ở nước Anh và Xứ Wales Hệ thống pháp luật này không được áp dụng
ở Bắc Irland, Scotland, vùng eo biển Manche, và đảo Man
Lịch sử pháp luật nước Anh trải qua 4 giai đoạn:
1() M t s ngột số người gọi truyền thống ố người gọi truyền thống ười gọi truyền thống ọi truyền thống i g i truy n th ng ền thống ố người gọi truyền thống common law l truy n th ng lu t Anh - M Cách g i n y khôngà truyền thống luật Anh - Mỹ Cách gọi này không ền thống ố người gọi truyền thống ật Anh - Mỹ Cách gọi này không ỹ Cách gọi này không ọi truyền thống à truyền thống luật Anh - Mỹ Cách gọi này không
ho n to n chính xác, b i vì truy n th ng lu t n y không ch t n t i Anh v M , m còn t n t i à truyền thống luật Anh - Mỹ Cách gọi này không à truyền thống luật Anh - Mỹ Cách gọi này không ền thống ố người gọi truyền thống ật Anh - Mỹ Cách gọi này không à truyền thống luật Anh - Mỹ Cách gọi này không ỉ tồn tại ở Anh và Mỹ, mà còn tồn tại ở ồn tại ở Anh và Mỹ, mà còn tồn tại ở ại ở Anh và Mỹ, mà còn tồn tại ở à truyền thống luật Anh - Mỹ Cách gọi này không ỹ Cách gọi này không à truyền thống luật Anh - Mỹ Cách gọi này không ồn tại ở Anh và Mỹ, mà còn tồn tại ở ại ở Anh và Mỹ, mà còn tồn tại ở
r t nhi u n ất nhiều nước trên thế giới ền thống ước trên thế giới c trên th gi i ế giới ớc trên thế giới.
Trang 2- Thời kỳ anglo - saxon: Đây là thời kỳ trước khi có sự xâm lược của
người Normande năm 1066 (I);
- Thời kỳ từ năm 1066 đến năm 1485 (triều đại Tudors): Đây là thời
kỳ hình thành common law, với tư cách một hệ thống luật mới, hệ thống luật
áp dụng chung cho toàn Vương quốc, thay thế cho tập quán địa phương (II);
- Thời kỳ từ năm 1485 đến năm 1832: thời kỳ xuất hiện “pháp luật
công bằng” (equity), bên cạnh common law (III);
- Thời kỳ từ năm 1832 đến nay: thời kỳ xuất hiện luật thành văn, thời
kỳ pháp luật Anh hiện đại (IV)
- I -
THỜI KỲ ANGLO - SAXON (TRƯỚC NĂM 1066)
Đây là thời kỳ kéo dài từ khoảng năm 600 đến năm 1066 Nước Anh
đã bị người germain (người angles và người saxes) và người scandinaves
(người Đan Mạch) xâm lược Có rất ít tư liệu về pháp luật thời kỳ này ỞAnh thời đó đã có luật thành văn tương tự như ở châu Âu lục địa, nhưng
được soạn thảo bằng ngôn ngữ anglo - saxon, chứ không phải bằng tiếng
latin Pháp luật thời kỳ này chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội rất hạn chế,
mang tính địa phương
- II -
THỜI KỲ HÌNH THÀNH COMMON LAW (1066 - 1485)
Sau đó, người Normande (sống ở Pháp) xâm lược nước Anh vào năm
1066 Guillaume - người Pháp - đã trở thành vua nước Anh (người Anh gọi
là William) Ông tuyên bố duy trì pháp luật anglo - saxon Đây là thời kỳ
nước Anh chuyển sang chế độ phong kiến Chế độ phong kiến ở nước Anhmang tính tập quyền cao, khác với chế độ phong kiến phân quyền cát cứ ởchâu Âu lục địa Điều này chính là một trong các yếu tố dẫn tới sự hình
thành common law Thời kỳ này, người ta gọi common law là comune ley,
theo nghĩa là: loại pháp luật này đối lập với tập quán địa phương, và nó được
áp dụng chung cho toàn bộ nước Anh Common law do Toà án Hoàng gia
Ban đầu, Toà án Hoàng gia chỉ can thiệp trong phạm vi rất hạn chế,sau này thẩm quyền được mở rộng Trong khi đó, luật địa phương vẫn được
áp dụng ở mọi miền của nước Anh Tình trạng tổ chức toà án phân tán như
(2)(2) To án Ho ng gia còn à truyền thống luật Anh - Mỹ Cách gọi này không à truyền thống luật Anh - Mỹ Cách gọi này không được gọi là Toà án Westminster c g i l To án Westminster ọi truyền thống à truyền thống luật Anh - Mỹ Cách gọi này không à truyền thống luật Anh - Mỹ Cách gọi này không
Trang 3vậy dẫn đến việc mỗi toà án áp dụng một kiểu luật Cuối cùng, ngày càngnhiều những vụ việc phức tạp mà toà án địa phương không giải quyết nổiđược gửi lên Toà án Hoàng gia Phải đợi đến thế kỷ XIX, các Toà án Hoànggia mới trở thành “cơ quan tài phán luật chung” Dần dần, các nguyên tắcchung mà Toà án Hoàng gia áp dụng đã thay thế luật địa phương, và áp dụngtrên toàn bộ nước Anh Như vậy, pháp luật Anh được hình thành ngay tại toàán.
Việc đem vụ việc của mình ra kiện trước Toà án Hoàng gia khôngphải là quyền, mà là một ưu đãi mà Toà án có thể ban phát hoặc không banphát Về thủ tục, người nào muốn xin sự ưu đãi này phải gửi đơn đến một
quan chức cao cấp của nhà vua - gọi là đại pháp quan (Chancellor) - xin cấp một văn bản gọi là writ (breve) (tương tự như lệnh hầu toà hoặc giấy triệu
tập của toà án), theo đó Toà án Hoàng gia có thẩm quyền xử kiện Bên cạnhcon đường này, người ta còn có thể yêu cầu trực tiếp các thẩm phán, thông
qua đơn khiếu nại hoặc đơn kiến nghị (querela, billa) Tuy nhiên, hồi thế kỷ XIII, không phải là trong mọi trường hợp đại pháp quan đều có thể cấp writ
hoặc thẩm phán có thể chấp nhận xét xử Có danh sách những trường hợp
điển hình do luật quy định (brevia de cursu) Danh sách năm 1227 liệt kê
Trong thời kỳ này, pháp luật nước Anh có những đặc điểm sau đây:
- Các luật gia Anh nhấn mạnh pháp luật tố tụng (Remedies precede
rights);
- Nhiều khái niệm pháp lý được hình thành từ thời kỳ này;
- Sự phân biệt giữa luật công và luật tư bị loại bỏ;
- Nước Anh không thể tiếp nhận các khái niệm của luật La Mã
1 Các luật gia Anh nhấn mạnh pháp luật tố tụng (Remedies precede
rights)
Thủ tục tố tụng tại Toà án Hoàng gia phụ thuộc vào cách thức khởi
kiện Mỗi một cách thức khởi kiện tương ứng với một loại lệnh hầu toà nhất định (writ), trong đó xác định những hành vi phải thực hiện, cách thức điều
chỉnh các vấn đề xảy ra, khả năng đại diện của các bên, điều kiện chấp nhậncác chứng cứ, biện pháp bắt buộc thi hành quyết định của Toà án Có hoạtđộng tố tụng đòi hỏi có hội đồng xét xử, có hoạt động tố tụng lại không cầnhội đồng Có hoạt động tố tụng được xét xử vắng mặt bị đơn, có hoạt động
(3)(3) Theo pháp lu t hi n nay, vi c ật Anh - Mỹ Cách gọi này không ện nay, việc đề nghị Toà án cấp lệnh hầu toà ( ện nay, việc đề nghị Toà án cấp lệnh hầu toà ( đền thống ngh To án c p l nh h u to ( ị Toà án cấp lệnh hầu toà ( à truyền thống luật Anh - Mỹ Cách gọi này không ất nhiều nước trên thế giới ện nay, việc đề nghị Toà án cấp lệnh hầu toà ( ầu toà ( à truyền thống luật Anh - Mỹ Cách gọi này không writ) tr th nh à truyền thống luật Anh - Mỹ Cách gọi này không quy n ền c aủa nguyên đơn n.
Trang 4tố tụng khác lại không thể cho phép vắng mặt bị đơn khi xét xử Có những
thủ tục chỉ được áp dụng cho từng vụ việc riêng biệt (on the case) Loại thủ
Cần phải nhấn mạnh rằng vấn đề thủ tục tố tụng là rất quan trọng đốivới hoàn cảnh của nước Anh Trong khi ở châu Âu lục địa, các luật gia quantâm chủ yếu đến việc xác định quyền và nghĩa vụ của mỗi người, tức là quyphạm pháp luật nội dung, thì các luật gia Anh lại quan tâm đến các quy
phạm tố tụng Remedies precede rights nghĩa là: trước tiên phải quan tâm
đến thủ tục tố tụng Vấn đề là làm sao để Toà án Hoàng gia chấp nhận giải
quyết vụ việc Do đó, common law được bắt đầu từ pháp luật tố tụng.
2 Sự phân biệt giữa luật công và luật tư bị loại bỏ
Toà án Hoàng gia Anh mở rộng thẩm quyền của mình bằng cách pháttriển quan điểm cho rằng chính lợi ích của nhà vua sẽ chứng minh cho sựcan thiệp của Toà án Hoàng gia Các loại toà án khác chỉ giải quyết nhữngvấn đề liên quan đến lợi ích tư nhân Tuy nhiên, thẩm quyền của các tòa ánnày cũng dần dần bị thu hẹp, và thậm chí ý tưởng về luật tư cũng dần dầnbiến mất ở nước Anh Việc hầu hết các vụ kiện được xem xét ở Toà ánHoàng gia đã là sự xác nhận tầm quan trọng của luật công Khía cạnh “luậtcông” của pháp luật Anh được thể hiện trong một kỹ thuật rất đặc biệt được
gọi là writ Writ không phải chỉ là sự cho phép nguyên đơn hành động Mà
về mặt chuyên môn, writ giống như một tờ lệnh của vua ban cho quan chức
của mình, để quan chức nhà nước ra lệnh cho bị đơn hành động đúng luật,đáp ứng yêu cầu của nguyên đơn Nếu bị đơn từ chối tuân lệnh, nguyên đơn
sẽ hành động chống lại bị đơn
3 Nước Anh đã không thể tiếp nhận luật La Mã
Toà án Hoàng gia chỉ có thẩm quyền đối với từng trường hợp đặc biệt.Thủ tục của pháp luật Anh mang sắc thái rất cổ Chỉ có thể học được sựphức tạp và tính kỹ thuật của các thủ tục này thông qua thực tiễn Kiến thức
ở trường đại học, dựa trên nền tảng luật La Mã, có thể cho phép tìm ra cácgiải pháp đúng cho cuộc tranh chấp, nhưng chưa chắc cho phép thắng kiện.Chính pháp luật tố tụng Anh đã cản trở sự ảnh hưởng của luật La Mã Sự
phức tạp về lý thuyết của civil law đã làm nản lòng các luật gia common law
khi họ học các kiến thức đó ở trường đại học - những kiến thức không phục
(4)(4) Trespass được gọi là Toà án Westminster c hi u l s vi ph m pháp lu t dân s mang tính ểu là sự vi phạm pháp luật dân sự mang tính đặc biệt à truyền thống luật Anh - Mỹ Cách gọi này không ự vi phạm pháp luật dân sự mang tính đặc biệt ại ở Anh và Mỹ, mà còn tồn tại ở ật Anh - Mỹ Cách gọi này không ự vi phạm pháp luật dân sự mang tính đặc biệt đặc biệt c bi t ện nay, việc đề nghị Toà án cấp lệnh hầu toà (
Trang 5vụ cho các hoạt động thực hành Các luật gia Anh được đào tạo từ thực tiễn.Trong thực tiễn đó không hề có chỗ cho luật La Mã, mà thiên về vấn đề thủtục tố tụng và chứng cứ - nhờ những cái đó mà một hành vi khởi kiện có thểđược thụ lý và thắng kiện
- III -
THỜI KỲ XUẤT HIỆN “LUẬT CÔNG BẰNG” (EQUITY),
BÊN CẠNH COMMON LAW (1485 - 1832)
Sự hình thành common law phụ thuộc nhiều vào thủ tục tố tụng mang tính hình thức Hơn nữa, sự không đầy đủ của common law dẫn tới sự xuất hiện một hệ thống pháp luật mới, gọi là equity (“luật công bằng”) Sự xuất hiện của equity làm hệ thống pháp luật Anh mang cấu trúc nhị nguyên.
Bên cạnh các quy phạm common law - sản phẩm của Toà án Hoàng gia (còn gọi là Toà án common law), còn có các quy phạm equity - cho phép
bổ sung và sửa chữa các quy phạm common law Cho tới năm 1895, equity chỉ được áp dụng tại một cơ quan tài phán đặc biệt - gọi là Chancery Court Các quy phạm equity cũng có tính pháp lý và chặt chẽ như quy phạm
common law, và nó cũng không công bằng hơn quy phạm common law.
Theo các luật gia Anh, trước đây equity là tổng thể các quy phạm cho phép
bổ sung pháp luật Anh, ngày nay nó là một bộ phận không thể tách rời củapháp luật Anh
Nếu equity bị lạm dụng, thì sẽ gây ra sự mất ổn định của các mối quan
hệ pháp lý và tính tối cao của pháp luật, bởi vì trong các trường hợp này cácthẩm phán chấp nhận việc xem xét lại các quy phạm pháp luật đã được thiếtlập
Có người dịch từ equity ra tiếng Việt là công bằng hay công lý Nhưng theo người Anh, khi diễn tả vấn đề công bằng, người ta tránh dùng từ equity,
mà dùng từ justice, fairness hoặc good conscience.
Thế kỷ XIII (thời kỳ hình thành common law) và thế kỷ XVI (thời kỳ phát triển equity) là các mốc quan trọng trong lịch sử pháp luật Anh Thế kỷ XVII là thời kỳ có nhiều xung đột giữa common law và equity Sau đó, thế
kỷ XVIII lại hoà hợp 2 loại luật này, và tạo ra thời kỳ phát triển của phápluật Anh Vào nửa cuối thế kỷ XVIII, có một sự kiện quan trọng cần lưu ý
Đó là: luật thương mại trở thành một bộ phận của common law Cho tới
trước thời điểm đó, ở Anh, luật thương mại là một bộ phận nằm ngoài
Trang 6common law, nó mang tính quốc tế và chỉ áp dụng đối với thương gia Cùng
với thời gian, tài phán dành riêng cho thương mại đã bị mất đi tính độc lậpcủa mình Dần dần xuất hiện sự thống nhất giữa luật dân sự và luật thương
mại Luật thương mại đã hội nhập vào common law, và nó không còn chỉ
được áp dụng cho thương gia
- IV - THỜI KỲ HIỆN ĐẠI (TỪ NĂM 1832 ĐẾN NAY)
1 Cuộc cải cách pháp luật thế kỷ XIX
Đây là thời kỳ cải tổ cơ bản trong lịch sử pháp luật Anh Việc cải cáchpháp luật tố tụng diễn ra vào những năm 1832 - 1833 và 1852 Tổ chức tưpháp được cải cách năm 1873 - 1875 trên cơ sở Luật về cải cách tổ chức tư
pháp (Judicature Acts) Luật này huỷ bỏ sự phân biệt mang tính hình thức giữa Toà án common law và Toà án equity Trước đây, người ta phải đến Toà án Hoàng gia để áp dụng common law, phải đến Chancery Court để áp dụng equity Kể từ sau Judicature Acts, tất cả các toà án đều sẽ có thẩm quyền áp dụng quy phạm common law và quy phạm equity Về pháp luật nội
dung, sự cải cách đã loại bỏ khỏi pháp luật Anh các giải pháp cổ điển và cốgắng trình bày nó thành các quy phạm một cách có hệ thống Nhưng côngviệc này không làm mất đi nét truyền thống của pháp luật Anh, và nó không
hề giống pháp điển hoá theo kiểu Pháp Pháp luật Anh được ghi chép trong
các tập Law Reports (bắt đầu từ năm 1865) hoặc Bách khoa toàn thư Laws
of England.
2 Tầm quan trọng của luật thành văn vào thế kỷ XX
Trào lưu XHCN thay thế trào lưu tự do chủ nghĩa - vốn đã thịnh hành
ở Anh cho tới năm 1914 Ảnh hưởng của trào lưu này đã tạo ra một cuộc
khủng hoảng nghiêm trọng cho common law Luật thành văn trở nên quan
trọng một cách quá mức, so với tình trạng trước đây Sự ra đời các văn bảnhành chính và việc áp dụng nó đặt ra nhiều vấn đề mới, gây ra nhiều tranhchấp giữa chính quyền và công dân Cũng như ở Pháp và các nước khác, ởAnh cũng có nhu cầu về toà án hành chính Nhưng ở Anh, toà án hành chínhkhông phải là cơ quan tài phán độc lập
Để giải quyết vấn đề này, dường như civil law có giải pháp thích hợp
hơn, bởi vì nguồn chủ yếu của nó là luật thành văn và học thuyết Từ đó xuất
hiện sự xích lại gần nhau giữa common law và civil law Điều này còn có
Trang 7những nguyên nhân khác Đó là nhu cầu về thương mại quốc tế, và phảicủng cố văn minh phương Tây Tiếp đó, việc nước Anh gia nhập EEC năm
1972 đã tạo ra động lực mới cho sự giao lưu pháp luật
CHƯƠNG II
LỊCH SỬ PHÁP LUẬT NƯỚC MỸ
Người Anh xuất hiện lần đầu tiên ở Bắc Mỹ vào thế kỷ XVII, tạo cácthuộc địa ở James Town (bang Virginia) (thuộc địa đầu tiên) năm 1607, ởPlymouth, Massachusetts năm 1620, ở Maryland năm 1632, thuộc địa NewYork - vốn của người Hà Lan - đã về tay người Anh năm 1664, thuộc địaPennsylvania - vốn của người Thuỵ Điển, đã về tay người Anh năm 1681.Đến năm 1722, ở Bắc Mỹ có 13 thuộc địa của Anh
Ở các thuộc địa này người ta áp dụng luật nào? Về nguyên tắc, người
ta áp dụng common law của nước Anh (còn gọi là nguyên tắc Calvin’s case) (Calvin’s case - năm 1608) Bên cạnh đó, người ta còn áp dụng luật thành văn (statute law), với điều kiện nó phù hợp với hoàn cảnh của thuộc địa.
Vào thế kỷ XVII, trên thực tế, common law của Anh không phù hợp
với hoàn cảnh của nước Mỹ Thủ tục tố tụng của pháp luật Anh vốn rất phứctạp, đòi hỏi sự thao tác của các luật gia rất chuyên nghiệp Trong khi đó, trênthực tế, thời kỳ đó ở Mỹ không hề có một luật gia nào Mặt khác, các quy
phạm common law được ra đời và để phục vụ cho một xã hội phong kiến,
không hề giống xã hội Mỹ, một xã hội với hàng loạt các vấn đề mới nằm
ngoài giải pháp của common law Do đó những người nhập cư không thích
common law của nước Anh.
Vậy thì người ta phải áp dụng luật gì ở Mỹ? Đó là: các quy định riêngcủa quan chức địa phương, và một loại pháp luật khá sơ khai trên cơ sở KinhThánh, từ đó tạo ra quyền tuỳ ý quyết định (tuỳ tiện) của quan toà Để chốnglại sự tuỳ tiện nói trên, người ta đã phải “pháp điển hoá” Những Bộ luật đơngiản đã được soạn thảo từ năm 1634 (bang Massachusetts) đến năm 1682(bang Pennsylvania) Tuy nhiên nó không giống như pháp điển hoá với kỹnăng hiện đại Đây là kiểu tư duy pháp lý hoàn toàn khác người Anh
Đến thế kỷ XVIII thì sự việc đã thay đổi Mức sống của người nhập
cư đã được cải thiện, nền kinh tế và tình cảm cũng đang có sự chuyển đổi
Người ta cần một loại pháp luật phát triển hơn Mặt khác, common law bắt đầu được đề cập đến theo cách khác Common law được coi như biểu hiện
Trang 8của sự đoàn kết giữa những người Anh ở Bắc Mỹ, để đối mặt với mối đe doạ
từ vùng Louisiana và vùng Canada thuộc Pháp Các toà án Mỹ đã ủng hộviệc áp dụng luật thành văn của Anh, như Luật về sự gian lận năm 1677
(Statute of Frauds) Các sách bình luận common law của Blackstone đã được
in tại Philadelphia từ năm 1771 - 1772 Tuy nhiên, nước Mỹ vẫn trong tìnhtrạng thiếu luật gia, rất ít quan toà được đào tạo về pháp lý
Sự kiện nước Mỹ độc lập năm 1776 đã tạo ra những điều kiện mới.Không còn mối đe doạ từ vùng Canada thuộc Pháp (năm 1763) và vùngLouisiana (năm 1803) Nước Pháp đã trở nên thân thiện với Mỹ Nước Mỹchỉ còn đối đầu với nước Anh Ý tưởng về một hệ thống pháp luật độc lập làhoàn toàn phù hợp với nền độc lập về chính trị vừa mới giành được ở nước
Mỹ Mặt khác, lý tưởng về về một nền cộng hoà và sự hâm mộ dành chopháp luật tự nhiên đã làm người Mỹ ủng hộ pháp điển hoá Ở bang New
Orleans còn có cả một Bộ luật dân sự năm 1808 theo kiểu civil law Ở một
số bang còn cấm viện dẫn án lệ Anh kể từ sau năm 1776 Còn một số vùnglãnh thổ khi sáp nhập vào nước Mỹ vẫn duy trì việc áp dụng luật của Pháp
hoặc Tây Ban Nha Và sự xung đột giữa common law và civil law đã diễn ra
suốt hơn 1/2 thế kỷ
Rất nhiều quy phạm common law không bao giờ được áp dụng ở Mỹ,
bởi vì nó không phù hợp với hoàn cảnh của nước Mỹ Một số quy phạmkhác lại không thể được áp dụng bởi vì đây không phải là những quy phạmphát sinh từ án lệ Theo pháp luật Anh, những luật thành văn được thông quatại Nghị viện Westminster chỉ được áp dụng ở ngoài nước Anh nếu Nghịviện Westminster quy định rõ điều này
Tuy nhiên, một điều quan trọng nhất phải ghi nhận ở đây là: pháp luậtAnh mà nước Mỹ tiếp nhận là pháp luật đã có hiệu lực ở Anh trong thời kỳ
mà người Anh thống trị Bắc Mỹ Đương nhiên, người Mỹ không áp dụngluật Anh sau năm 1776 Sau năm 1776, pháp luật Anh và pháp luật Mỹ trởthành hai hệ thống pháp luật độc lập và phát triển theo những hướng khácnhau Pháp luật Anh cũng có thay đổi lớn so với pháp luật thế kỷ XVIII Còn
ở Mỹ, lối sống, cách tư duy, sự phát triển kinh tế đã sản sinh ra những điềukiện hoàn toàn khác thời kỳ thuộc địa, và khác nước Anh Pháp luật Mỹkhông thể giống pháp luật Anh
Song, trong một thời gian dài, đối với các luật gia Mỹ, pháp luật Anhvẫn là một hình mẫu, bởi vì thời đó các trường đại học và học thuyết ở nước
Mỹ chưa phát triển Đồng thời, sự cải cách pháp luật nước Anh thế kỷ XIX
Trang 9cũng gây tác động lớn đối với đối với nước Mỹ Đến thế kỷ XX, cả ở Anh
và Mỹ, người ta đều muốn sử dụng pháp luật để tổ chức và cải tổ xã hội Lúcnày, pháp luật không chỉ đơn giản là một công cụ để giải quyết tranh chấp,
mà dần dần trở thành một công cụ đặc thù để tạo ra một xã hội mới “Quyềnlực hành chính” bắt đầu phát triển cả ở phạm vi Liên bang lẫn phạm vi cácbang, bên cạnh 3 loại quyền lực truyền thống (lập pháp, hành pháp, tư pháp)
Có thể nói, từ sau khi nước Mỹ độc lập (năm 1776), hai hệ thống pháp luậtAnh và Mỹ có sự phát triển tương tự nhau
Tuy nhiên, cần khẳng định rằng pháp luật Anh và pháp luật Mỹ tồn tạirất độc lập, bởi vì hoàn cảnh của nước Anh và nước Mỹ có sự khác nhau rất
cơ bản:
- Nước Anh là một đảo quốc ở châu Âu, còn nước Mỹ ở vị trí một lụcđịa rộng lớn;
- Nước Anh là một quốc gia có bề dày truyền thống, còn nước Mỹ lại
tự hào về ông cha mình là những người đã chống lại ách thuộc địa, là nhữngngười nhập cư với nhiều chủng tộc, đã đến đây để tìm một Tổ quốc mới,kiên quyết quay lưng với những truyền thống quá cũ kỹ;
- Nước Anh là một nước quân chủ nghị viện, còn nước Mỹ là mộtnước cộng hoà tổng thống;
- Nước Anh luôn luôn là một quốc gia đơn nhất, rất tập quyền tronglĩnh vực quản lý tư pháp, còn nước Mỹ là một quốc gia Liên bang, trong đó
có sự dung hoà lợi ích của các bang;
- Giữa nước Anh và nước Mỹ có sự khác nhau rất lớn về cơ cấu kinh
tế, cơ cấu chủng tộc, tôn giáo, mức sống, tư tưởng tình cảm, giáo dục, thậmchí tiếng Anh của người Mỹ cũng có điểm khác biệt với người Anh
Do đó, về mặt pháp lý, những vấn đề đặt ra và cách giải quyết vấn đềcủa người Mỹ cũng rất khác người Anh Các quy phạm pháp luật, khái niệmpháp lý, cấu trúc pháp luật cũng khác nhau Các luật gia Mỹ được đào tạo và
tổ chức hoạt động một cách rất chuyên nghiệp, khác với các luật gia Anh.Thái độ của các luật gia Mỹ đối với pháp luật cũng rất khác các luật giaAnh Lý thuyết về nguồn luật và thực tiễn ở hai nước cũng rất khác nhau
Tất cả những điều trên làm cho common law ở Mỹ có nét đặc thù so với common law ở Anh Tuy nhiên, chắc chắn là không nên phóng đại sự khác biệt giữa common law ở Mỹ và common law ở Anh Dù có sự khác
biệt, giữa hai hệ thống pháp luật vẫn có một nền tảng chung, và đây là điềurất quan trọng để các luật gia Mỹ nhận thức rằng pháp luật Mỹ thuộc về
Trang 10truyền thống common law Mặc dù sự thắng lợi của common law ở nước Mỹ
đã diễn ra một cách rất khó khăn, và nó cũng không hoàn chỉnh, nhưng pháp
luật Mỹ vẫn thuộc về truyền thống common law, bởi vì: pháp luật Mỹ nói
chung vẫn sử dụng những khái niệm, cách thức lập luận, lý thuyết về nguồn
Lý do mà người Mỹ lựa chọn common law của Anh rất đơn giản Sự
tồn tại của tiếng Anh và người nhập cư gốc Anh ở Mỹ đã làm cho pháp luật
nước Mỹ thuộc về truyền thống common law
Tuy nhiên, sự khác biệt trên thực tế giữa pháp luật Anh và pháp luật
Mỹ đem lại hệ quả sau: một luật gia Mỹ có thể dễ dàng tiếp cận luật Anh,nhưng ngược lại một luật gia Anh sẽ khó khăn khi tiếp cận luật Mỹ
CHƯƠNG III
SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN THỐNG COMMON LAW
ĐỐI VỚI HỆ THỐNG PHÁP LUẬT CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
nhân chịu hình phạt đi đày Đến năm 1828, Luật về Nghị viện (Act of
Parliament) quy định: luật áp dụng ở thuộc địa Australia là common law và
luật thành văn (statute) có hiệu lực của nước Anh Thời kỳ này, ở Australia
đã có tổ chức chính trị ở cấp địa phương (hội đồng địa phương ra đời từ bầucử) Đến năm 1860, người ta phát hiện ra mỏ vàng ở Australia Ngày càngnhiều người nhập cư đến mảnh đất này Nước Anh không cần thiết phải đầyphạm nhân đến Australia nữa Lúc này, nước Australia đang tiến tới một nhà
nước Liên bang Luật về Hiến pháp Liên bang Australia năm 1900 (The
Commonwealth of Australia Constitution Act) ghi nhận sự tồn tại của 6
bang: New South Wales, Victoria, Queensland, Tasmania, South Australia
và West Australia Mỗi bang có Hiến pháp và hệ thống pháp luật riêng Nộidung pháp luật của các bang tương tự nhau, vì đều theo khuôn mẫu của phápluật Anh Án lệ của Australia có thể có giá trị tham khảo đối với toà án Anh
Ở Australia có tổ chức tư pháp tương tự như ở Anh
(5)(5) Tr bang New Orleans ( đế giới n n m 1812 tr th nh bang Louisiana) Còn các bang Texas, California ch ch u à truyền thống luật Anh - Mỹ Cách gọi này không ỉ tồn tại ở Anh và Mỹ, mà còn tồn tại ở ị Toà án cấp lệnh hầu toà (
nh h ư ng c a lu t Pháp, Tây Ban Nha, Mexico m t s ch ủa ật Anh - Mỹ Cách gọi này không ột số người gọi truyền thống ố người gọi truyền thống ế giới đị Toà án cấp lệnh hầu toà ( nh đặc biệt c thù (ch ế giới đột số người gọi truyền thống à truyền thống luật Anh - Mỹ Cách gọi này không t i s n v ch ng, ch ợc gọi là Toà án Westminster ồn tại ở Anh và Mỹ, mà còn tồn tại ở ế giới đột số người gọi truyền thống
ru ng ột số người gọi truyền thống đất nhiều nước trên thế giới t).
Trang 11- II -
SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN THỐNG COMMON LAW
Ở CANADA
Nhà nước tự trị Canada (Dominion of Canada) được thành lập từ năm
1867 trên cơ sở Luật về vấn đề Bắc Mỹ thuộc Anh (British North America
Act) Vào thời điểm này, nhà nước Liên bang Cadana bao gồm 4 “tỉnh”
(tương đương nhà nước thành viên của Liên bang): Québec, Ontario, NewBrunswick, Nova Scotia Đến năm 1869 mua thêm lãnh thổ của Công ty
Vịnh Hudson (Hudson’s Bay Company) Sau này một số tỉnh mới được
thành lập: British Columbia (năm 1871), Manitoba (năm 1879),Saskatchewan và Alberta (năm 1905), New Land (năm 1949)
Về tổ chức tư pháp: ở mỗi tỉnh có một hệ thống tư pháp riêng Toà ántối cao Canada là toà án cấp phúc thẩm, bao gồm 9 thẩm phán, trong đó có 3
thẩm phán đến từ Québec - với tư duy pháp lý theo kiểu civil law Do đó, đôi khi có tình trạng civil law được các luật gia common law (common lawyers) giải thích và biểu quyết theo đa số (vụ án Taillon v Donaldson).
- III -
SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN THỐNG COMMON LAW
Ở ẤN ĐỘ
Công ty Đông Ấn của Anh (East India Company) đến Ấn Độ từ năm
1600 và có quyền lập pháp để bảo đảm việc quản lý các hoạt động của mìnhtrên đất Ấn Độ Những quan chức cao cấp có thể trừng phạt tội phạm hình
sự Đây chính là tiền thân của các toà án thị trưởng (Mayor’s Court) ở
Bombay, Madras, Calcutta Pháp lệnh của triều đình Anh năm 1726 trao cho
họ quyền xét xử theo công lý và pháp luật, nghĩa là theo common law và luật
thành văn của nước Anh, nếu nó không mâu thuẫn với tập quán địa phương.Các toà án thị trưởng trở thành toà án tối cao ở các bang của Ấn Độ Tại
đây, common law được áp dụng với tư cách “pháp luật chung”.
Từ khi Ấn Độ độc lập năm 1950, Ấn Độ là một nhà nước Liên bangvới 15 bang thành viên Những quyền cơ bản được ghi nhận trong Hiếnpháp Còn án lệ Ấn Độ cũng theo mô hình của nước Anh
PHẦN II
Trang 12CẤU TRÚC PHÁP LUẬT VÀ NGUỒN LUẬT
CỦA CÁC NƯỚC THEO TRUYỀN THỐNG COMMON LAW
Các luật gia civil law rất quen thuộc với luật thành văn và pháp điển hoá Nhưng các luật gia common law lại không chấp nhận pháp điển hoá và
cho rằng án lệ là nguồn cơ bản của pháp luật Trên thực tế, luật thành văn và
án lệ không có cùng một vai trò trong common law và civil law Tuy nhiên,
trước khi nói về sự khác nhau này, cần đề cập tới sự khác nhau về cấu trúccủa 2 truyền thống pháp luật Đây là sự khác nhau cơ bản nhất, từ đó giảithích tại sao các luật gia Anh quan niệm về nguồn luật rất khác so với các
luật gia civil law, tại sao pháp luật Anh không chấp nhận hoặc rất khó chấp nhận mô hình pháp điển hoá của civil law.
Sự khác nhau nổi bật nhất về cấu trúc pháp luật là: người Anh khôngphân chia pháp luật thành luật công và luật tư, tiếp đó là luật dân sự, luậtthương mại, luật hành chính, luật về an toàn xã hội, mà phân chia thành
common law và equity Tiếp đó là các khái niệm mà các các luật gia sẽ hoàn
toàn bị mất phương hướng khi cố gắng dịch nó ra tiếng của nước mình, như:
trust, bailment, estoppel, consideration, trespass, Các khái niệm này
không có trong tư duy pháp lý của các luật gia civil law Không thể dịch các
thuật ngữ của pháp luật Anh, bởi vì các truyền thống pháp luật khác không
có khái niệm tương đương Các thuật ngữ này cũng giống như các thuật ngữ
về động vật và thực vật ở các vùng khí hậu khác nhau Nếu cố dịch, thì
chúng ta sẽ chỉ bóp méo ý nghĩa của thuật ngữ Về mặt pháp lý, contract trong pháp luật Anh không phải là contrat trong pháp luật Pháp, equity không phải là équité, administrative law không phải là droit administratif,
civil law không phải là droit civil, common law không phải là droit commun.
Khi so sánh cấu trúc pháp luật, không chỉ sự phân loại pháp luật vàcác khái niệm pháp lý rất khác nhau, mà cả quy phạm pháp luật cũng khác
nhau Quy phạm pháp luật sinh ra từ án lệ theo pháp luật Anh (Legal rule)
không giống quy phạm pháp luật sinh ra từ luật thành văn hoặc học thuyết
theo luật Pháp (règles de droit) Legal rule không tổng quát bằng règles de
droit Do đó, trong pháp luật Anh sẽ không có sự phân biệt giữa quy phạm
mệnh lệnh và quy phạm bổ sung như trong pháp luật Pháp - vốn là sự phânbiệt mang tính cơ bản Và trong pháp luật Anh cũng sẽ không có pháp điểnhoá theo cách của người Pháp
CHƯƠNG I
PHÂN LOẠI PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ CHẾ ĐỊNH PHÁP LÝ
Trang 13Pháp luật Anh phân chia thành common law và equity, luật nội dung (substantive law) và luật tố tụng (bao gồm vấn đề thủ tục và chứng cứ) (adjective law) Tại sao lại có sự khác nhau giữa pháp luật Anh và pháp luật
Pháp? Rất dễ giải thích
Truyền thống civil law là một truyền thống tương đối lý tưởng và
logic, bởi vì nó là sản phẩm của các trường đại học và nhà lập pháp Ngượclại, pháp luật Anh lại chịu sự áp đặt của thủ tục tố tụng Chỉ trong thời giangần đây, thủ tục cũ kỹ mới bị loại trừ Tuy nhiên, nó vẫn giữ lại các đặcđiểm truyền thống
- I -
COMMON LAW VÀ EQUITY
Sự phân biệt giữa common law và equity trong pháp luật Anh cũng
tương tự như sự phân biệt giữa luật công và luật tư trong pháp luật Pháp Từ
sự phân biệt này, có sự phân biệt giữa các luật gia common law (common
lawyers) và luật gia equity (equity lawyers).
1 Các đặc trưng của equity
Equity được áp dụng theo nguyên tắc: equity tôn trọng pháp luật
(equity follows the law) Sự can thiệp của Chancery Court không tạo ra quy phạm pháp luật mới, không thay đổi nội dung pháp luật Equity tôn trọng
pháp luật không có nghĩa là bỏ qua đòi hỏi đạo đức
Toà án equity can thiệp vì “sự công bằng”, mà không làm thay đổi quy phạm pháp luật được toà án common law áp dụng Sự can thiệp của Toà
án equity được chứng minh bằng sự đòi hỏi của lương tâm, khi mà các giải
pháp của pháp luật trở nên không hoàn hảo Nếu một người xử sự không tốtbằng cách lợi dụng sự không hoàn hảo của pháp luật, thì đó là một xử sự tráivới lương tâm
Thẩm phán equity hành động bằng cách ra lệnh cho bị đơn: cấm bị
đơn xử sự theo cách này hay cách khác, và áp đặt cho bị đơn một cách xử sựphù hợp với đòi hỏi của đạo đức và lương tâm, để cứu rỗi tâm hồn bị đơn
(bởi vì thẩm phán equity xuất thân từ một nhà tu hành) Nếu bị đơn không tuân lệnh thì sẽ bị bỏ tù hoặc tịch thu tài sản Thẩm phán equity chỉ can thiệp
nếu ông xét thấy có thể đe doạ bị đơn một cách có hiệu quả việc áp dụng các
Trang 14chế tài nói trên Nội dung nói trên được các luật gia common law diễn đạt bằng thuật ngữ equity acts in personam.
Các giải pháp equity thường mang tính độc đoán, tuỳ ý Bên cạnh đó, thẩm phán equity chỉ can thiệp nếu hành động của bị đơn bị coi là trái với
lương tâm, đồng thời nguyên đơn phải có tư cách đạo đức tốt, có “bàn tay
sạch” (“clean hands”).
Thủ tục của Toà án equity: Thẩm phán equity xem xét vụ việc trên cơ
sở writ of subpoena Do ảnh hưởng thủ tục của luật giáo hội, nên việc xét xử theo thủ tục equity không cần sự tham gia của hội thẩm, và theo thủ tục viết,
nghĩa là xem xét vấn đề trên hồ sơ bằng văn bản Với danh nghĩa đạo đức và
lương tâm, thẩm phán equity có thể sử dụng các biện pháp đặc biệt để làm sáng tỏ sự thật - các biện pháp mà thẩm phán common law không được phép
áp dụng Chẳng hạn, common law quan niệm rằng vụ án là một cuộc đấu,
trong đó thẩm phán đóng vai một trọng tài Mỗi bên phải đưa ra các chứng
cứ của mình, và bên này không thể bắt buộc bên kia xuất trình tư liệu mà họ
đang có Còn khi equity can thiệp, thì thẩm phán có thể ra lệnh cho một bên xuất trình tư liệu bằng một lệnh đặc biệt, gọi là discovery order.
Equity được áp dụng trong nhiều lĩnh vực: bồi thường thiệt hại khi
không thực hiện hợp đồng, trust, hoặc trong thủ tục xử án
2 So sánh equity và common law
Cho tới năm 1875, giữa equity và common law có sự khác nhau sau
Quy phạm được áp
dụng
Quy phạm equity - có
chức năng bổ sung cho
quy phạm common law
Quy phạm common law
- Việc xét xử phải cóhội đồng;
- Tranh luận bằng lời,theo nguyên tắc tố tụngđối kháng
Trang 15Giải pháp Thường mang tính độc
Các thuật ngữ mà Chancery Court sử dụng cũng khác với Toà án
common law:
Có thể thực hiện cùng một lúc 2 hoạt động khởi kiện đối với cùng một
vụ việc, trước toà án common law và toà án equity Tình trạng này được
chấm dứt vào năm 1873 - 1875, với Luật về cải cách tổ chức tư pháp
(Judicature Acts) Theo Luật này, Toà án tối cao nước Anh được thành lập,
bao gồm:
- Toà án Nữ Hoàng (Queen’s Bench Court) có thẩm quyền về
common law;
- Chancery Court có thẩm quyền về equity.
Mọi cơ quan tài phán đều có thể áp dụng các quy phạm equity và
common law Đứng trên phương diện này, người ta nói rằng có sự thống
nhất giữa common law và equity.
Trang 16- II - MỘT SỐ NGÀNH LUẬT
1 Ngành luật hiến pháp: tự do công cộng và habeas corpus (6)
Chế độ tự do của nước Anh đã được khẳng định từ thời Đại Hiến
chương (Magna Carta) năm 1215 Trên thực tế, nước Anh không có Hiến
pháp thành văn bởi vì người Anh không muốn có Người Anh quan niệmrằng sự tồn tại của Hiến pháp thành văn sẽ làm pháp luật trở nên cứng nhắc,
do đó không tốt Họ cho rằng mọi vấn đề đều phải được giải quyết bằngphương pháp mềm dẻo và đặt trong tổng thể hài hoà
Luật Hiến pháp Anh bao gồm vấn đề:
- Tổ chức quyền lực công cộng (Vương quyền, Nghị viện, quyền hànhpháp);
- Mối quan hệ giữa cơ quan quyền lực công cộng và công dân
Nước Anh là một nước trong đó tự do công cộng được bảo vệ từ lâuđời nhất, có thủ tục pháp lý hữu hiệu để bảo vệ tự do công cộng, và chínhnhững thủ tục này cấu thành bộ phận của Hiến pháp Vấn đề tự do côngcộng được thể hiện trong nội dung cơ bản sau đây: bảo đảm sao cho công
dân không bị bắt một cách tuỳ tiện (freedom from arrest) Nội dung này được ghi nhận trong nhiều văn bản, như: Đại Hiến chương (Magna Carta) năm 1215, Tuyên bố về các quyền công dân (Bill of Rights), Habeas Corpus
Act năm 1679 Tuy nhiên, trên thực tế, Habeas Corpus không thể ngăn chặn
được sự độc đoán của các cơ quan nhà nước, do đó nó không đủ để bảo đảmquyền tự do của công dân Hiện nay, nó chỉ còn được sử dụng trong một sốlĩnh vực như: trừng phạt sự lạm dụng quyền lực trong gia đình, hoặc trongthủ tục dẫn độ
2 Ngành luật hành chính
a Luật hành chính Anh
Thuật ngữ luật hành chính của Anh không đồng nghĩa với luật hành
chính của các nước civil law Common law không quen sử dụng thuật ngữ
“nhà nước” và “chính quyền” mà quen sử dụng thuật ngữ “Triều đình”
(6)(6) Habeas Corpus ngh a l l nh bu c ph i em ngà truyền thống luật Anh - Mỹ Cách gọi này không ện nay, việc đề nghị Toà án cấp lệnh hầu toà ( ột số người gọi truyền thống đ ười gọi truyền thống i b b t ra to ị Toà án cấp lệnh hầu toà ( ắt ra toà để xem nhà nước có quyền à truyền thống luật Anh - Mỹ Cách gọi này không đểu là sự vi phạm pháp luật dân sự mang tính đặc biệt xem nh n à truyền thống luật Anh - Mỹ Cách gọi này không ước trên thế giới c có quy n ền thống giam gi ng ữ người ấy hay không, hoặc lệnh đình chỉ quyền giam giữ ười gọi truyền thống ất nhiều nước trên thế giới i y hay không, ho c l nh ình ch quy n giam gi ặc biệt ện nay, việc đề nghị Toà án cấp lệnh hầu toà ( đ ỉ tồn tại ở Anh và Mỹ, mà còn tồn tại ở ền thống ữ người ấy hay không, hoặc lệnh đình chỉ quyền giam giữ.