II/ Lịch sử pháp luật Hoa Kỳ: 1/ Thời kỳ thuộc địa hoá Châu Mỹ của người Anh: Ngay từ giai đoạn khởi đầu của quá tình thuộc địa hóa của người Anh ở châu Mỹ, hệ thống pháp luật Anh đã tỏ
Trang 1Lịch sử pháp luật Hoa Kỳ I/ Giới thiệu khái quát:
Pháp luật của Mỹ thực sự là pháp luật của Anh được thực dân Anh du nhập vào từ thế kỷ XVII - XVIII Ý thức pháp luật với tất cả các nét đặc trưng của nó cùng với các chế định cơ bản của pháp luật Anh đã được thực dân Anh áp đặt cho khu vực Bắc Mỹ
Do đó, về nguồn gốc pháp luật Mỹ nằm trong khuôn khổ hệ thống pháp luật án lệ nhưng có những đặc điểm riêng Mô hình pháp luật án lệ Anh đã được bổ sung, phát triển theo những cách thức đặc thù của nước Mỹ
II/ Lịch sử pháp luật Hoa Kỳ:
1/ Thời kỳ thuộc địa hoá Châu Mỹ của người Anh:
Ngay từ giai đoạn khởi đầu của quá tình thuộc địa hóa của người Anh ở châu
Mỹ, hệ thống pháp luật Anh đã tỏ ra không phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của các thuộc địa ở châu Mỹ Nhiệm vụ chủ yếu của thực dân Anh ở châu Mỹ trong những ngày đầu đăth chân lên mảnh đất này là chống chọi với thiên nhiên và
sự tân công của người da đỏ vì vậy nhu cầu về tòa án và luật sư hầu như không nảy sinh
Thời kỳ này phần lớn dân di cư tới Mỹ vào thế kỷ XVII là người Anh,
nhưng cũng có cả người Hà Lan, Thụy Điển và Đức ở miền Trung, một số người Pháp theo đạo Tin Lành ở bang Nam Carolina và một số nơi khác, nô lệ châu Phi chủ yếu ở miền Nam, và rải rác những nhóm nhỏ người Tây Ban Nha, người Italia, người Bồ Đào Nha sống ở khắp các thuộc địa
Ở thời kỳ này, quyền lực chính trị tập trung trong tay thống đốc do Hoàng đế nước Anh chỉ định Do các thống đốc thực hiện toàn bộ các chức năng hành pháp, lập pháp và tư pháp, nên không cần đến một hệ thống tòa án quá chi tiết
Cấp tư pháp thuộc địa nhỏ nhất là các thẩm phán địa phương được gọi là thẩm phán hòa giải hoặc thẩm phán tiểu hình Các thẩm phán này được thống đốc khu vực thuộc địa bổ nhiệm Cấp tiếp theo của hệ thống là các tòa án tỉnh; đây là các tòa sơ thẩm chung của các khu vực thuộc địa Các kháng cáo kháng nghị từ tất
cả các tòa án được đưa lên cấp cao nhất, đó là thống đốc và hội đồng thống đốc
Trang 2Đại bồi thẩm và tiểu bồi thẩm cũng xuất hiện trong thời kỳ này, và hiện nay vẫn là một đặc điểm nổi bật của hệ thống tư pháp bang Một vài thuộc địa của Anh ở Mỹ như Pennsylvania và Massachusetts đã xây dựng chế độ thần quyền trong đó mọi tranh chấp đều được giải quyết bởi các giáo sĩ cơ đốc giáo dựa trên kinh thánh chứ không cần dùng tới luật sư, thẩm phán và án lệ Anh quốc Mỗi thuộc địa có sự phát triển riêng do chế độ cai trị khác nhau, phụ thuộc vào chính quốc
Trong thời kỳ này không có các trường luật để đào tạo những người quan tâm đến chuyên ngà nh luật Một số người trẻ tuổi đã đến Anh để theo học luật và tham gia vào các hội quán của Hội luật gia Anh Những hội quán này không phải là các trường luật chính thứ c, nhưng chúng là một phần của văn hóa pháp lý Anh quốc và giúp cho các sinh viên gần gũi hơn với luật pháp Anh Những người mong muốn theo nghề luật trong thời kỳ này thường làm thư ký hoặc người học việc cho một luật sư danh tiếng
Từ nửa đầu thế kỉ XVII các thuộc địa đã có xu hướng coi trọng luật thành văn thể hiện ở hoạt động pháp điển hóa và ban hành bộ luật ở Massachusetts năm
1634 và Pennsylvania năm 1682 Tuy nhiên, hoạt động pháp điển hóa này hoàn toàn không có mối liên hệ nào với kỹ thuật pháp điển hóa hiện đại của người La Mã
Nguyên nhân khiến pháp luật Anh không được chấp nhận dễ dàng :
- Do bất mãn của đa số dân thuộc địa với nền công lý của Anh
- Thiếu những luật gia thành thạo, nên kìm hãm sự phát triển suốt thế kỷ 17
- Sự khác biệt về điều kiện sống, nên nhiều án lệ ở Anh không thích hợp : Anh duy trì chế độ trưởng nam, còn Hoa Kỳ thì bình đẳng
2/ Giai đoạn thế kỷ XVIII- Hoa Kỳ giành độc lập và bản Hiến pháp đầu tiên
ra đời:
Bước sang thế ki XVIII, tình hình kinh tế xã hội của các thuộc địa của Anh ở Mỹ
đã có những biến chuyển lên do nhu cầu giao lưu thương mại giữa các thuộc địa này với nước ngoài và với nước mẹ Anh quốc đã tăng lên Trước tình thế đó, chính trị thần quyền đã mất dần chỗ đứng ở các thuộc địa này, đồng thời một tầng lớp luật sư gồm những người đã từng tốt nghiệp các cơ sở đào tạo luật sư ở London từ
Trang 3trước khi di cư sang châu Mỹ đã bắt đầu hành nghề ở các thuộc địa mới này Cùng với sự hiện diện và hoạt động của các luật sư Anh, sách luật từ Anh quốc cũng dần dần được sử dụng phổ biến ờ các thuộc địa, đặc biệt là cuốn “Bình luận về pháp luật Anh” của Blackstone
Giữa thế kỷ 18, đế chế Anh Quốc đã mở rộng bờ cõi đến dải đất dọc theo bờ biển phía Đông của Bắc Mỹ Ngoài số ít thổ dân bản địa châu Mỹ, nước Mỹ thời
kỳ này, gồm 13 thuộc địa mà sau này trở thành 13 tiểu bang đầu tiên, chủ yếu gồm người châu Âu di dân sang định cư và nô lệ da đen Nhờ chính sách thả lỏng từ nước Anh mẫu quốc, 13 thuộc địa được phép thành lập các chính quyền của riêng mình với nghị viện do dân địa phương bầu ra để biểu quyết về thuế và làm luật Năm 1765, Quốc hội Anh thông qua Đạo luật Tem (Stamp Act), theo đó áp đặt một loại thuế mới lên vùng thuộc địa Bắc Mỹ mà không thông qua các nghị viện thuộc địa Căng thẳng bắt đầu leo thang giữa 13 thuộc địa và mẫu quốc khi những người dân định cư từ chối đóng thuế với lý do Quốc hội Anh không được quyền đánh thuế dân thuộc địa khi mà họ không có đại diện ở Quốc hội Đến tháng 4 năm
1775, xung đột vũ trang nổ ra giữa nhân dân thuộc địa và quân đội Anh, mở đầu cho Cách mạng Mỹ – cuộc chiến giành độc lập từ Anh Quốc kéo dài trong 9 năm của người dân thuộc địa Ngày 4 tháng 7 năm 1776, 13 thuộc địa tuyên bố độc lập bằng một văn bản mà ngày nay được xem là Tuyên ngôn Độc lập (Declaration of Independence) của nước Mỹ
Sau khi tuyên bố độc lập, các thuộc địa lập thành nên liên minh các tiểu bang, được gọi là Liên hợp bang (Confederation) Năm 1781, các bang cùng thông qua Các Điều khoản Liên hợp bang, hay Hiến chương Liên hợp bang (Articles of Confederation), được xem là hiến pháp đầu tiên của Hoa Kỳ Theo quy định của Hiến chương, chính quyền quốc gia chỉ có duy nhất một cơ quan là Quốc hội (Congress of the Confederation) với chức năng lập pháp Hiến chương cũng cho phép Quốc hội quyết định các vấn đề đối ngoại, tuyên bố chiến tranh và thiết lập quân đội Tuy nhiên, vì mỗi bang vẫn giữ quyền tự quyết (sovereignty) trong phạm vi lãnh thổ của mình nên trên thực tế Quốc hội không thể bắt buộc bất kỳ bang nào cung cấp quân lực hay khí tài Bên cạnh đó, Quốc hội phải dựa vào các bang để có nguồn tài chính cho các hoạt động của mình, nhưng lại không thể áp dụng chế tài khi một bang nào đó từ chối đóng góp vào ngân sách liên hợp bang
Trang 4Đến tháng 9/1787, Ủy ban soạn thảo Hiến pháp gồm 5 thành viên (trong đó có James Madison) đã hoàn thành phiên bản cuối cùng của Hiến pháp Mỹ hiện tại gồm 4200 chữ Hội nghị Lập hiến kết thúc khi có 39 trên tổng số 55 đại biểu tham
dự ký tên đồng ý bản dự thảo hiến pháp George Washington là người đã đặt bút
ký đầu tiên Tuy nhiên, để Hiến pháp được thông qua trên toàn nước Mỹ, cần có ít nhất 9 trên 13 bang phê chuẩn dự thảo Với dư âm từ những bất đồng tại Hội nghị Lập hiến, người dân Mỹ vẫn còn nhiều chia rẽ trong quan điểm liên quan đến các vấn đề như quyền tự trị của mỗi bang và nguy cơ chính quyền trung ương với quyền lực tuyệt đối sẽ nuốt chửng các bang nhỏ Trong nỗ lực tìm kiếm sự ủng
hộ từ công chúng đối với dự thảo Hiến pháp, James Madison cùng Alexander
Hamilton và John Jay đã lập nên một nhóm làm việc với bút danh Publius để viết
một loạt bài nhằm giải thích chi tiết mô hình nhà nước theo Hiến pháp mới và tính hiệu quả của nó Tập hợp gồm 85 bài chính luận, gọi chung là Luận cương Thể chế Liên bang (The Federalist/The Federalist Papers) được đăng trên nhiều tờ báo khắp các tiểu bang từ tháng 10/1787 đến tháng 5/1788 Tháng 12/1787, 5 tiểu bang Delaware, Pennsylvania, New Jersey, Georgia và Connecticut lần lượt thông qua bản Hiến pháp mới Đến tháng 2 năm 1788, Massachusetts và các bang còn lại đồng ý phê chuẩn Hiến pháp mới sau thỏa thuận cam kết rằng yêu cầu của những bang này sẽ được nhanh chóng bổ sung vào đề xuất sửa đổi Hiến pháp sau khi nó được thông qua Nhờ vậy có thêm 3 tiểu bang gia nhập danh sách phê chuẩn gồm Massachusetts, Maryland và Nam Carolina
Ngày 21/6/1788, New Hampshire trở thành bang thứ 9 thông qua Hiến pháp, mở đường cho guồng máy nhà nước theo Hiến pháp mới chính thức vận hành vào ngày 4/3/1789 Ngày 30/4/1789, George Washington tuyên thệ trở thành vị tổng thống đầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
Cũng trong năm 1789, James Madison lúc này với cương vị là một dân biểu của
Hạ viện vừa mới thành lập đã đề xuất 19 tu chính án (amendment) cho Hiến pháp theo như thỏa thuận trước đó Ngày 25/9 cùng năm, cả hai viện của Quốc hội Mỹ thông qua 12 trong số các tu chính án đề xuất trước khi chuyển đến các tiểu bang xem xét Ngày 10/12/1791, 10 trên 12 tu chính án đề xuất được các bang phê chuẩn để chính thức trở thành một phần của Hiến pháp
Mười tu chính án này, về sau thường được gọi chung là Tuyên ngôn Dân quyền (Bill of Rights), ghi nhận những đảm bảo cơ bản của nhà nước đối với công
Trang 5dân như tự do ngôn luận, tôn giáo và báo chí; quyền được sử dụng và cất giữ vũ khí; quyền được biểu tình ôn hòa; quyền được bảo vệ khỏi việc khám xét và tịch thu vô cớ; quyền được xét xử nhanh chóng và công khai bởi một tòa án độc lập
Vì những đóng góp và dấu ấn đậm nét trong quá trình soạn thảo cũng như thông qua Hiến pháp, James Madison đã đi vào lịch sử Hoa Kỳ với tên gọi trìu mến mà người Mỹ dành cho ông: “Father of the Constitution” – vị Cha đẻ của Hiến pháp nước này
James madison
Sau khi Hiến pháp được phê chuẩn, vấn đề tư pháp liên bang nhanh chóng được đưa ra xem xét Khi Quốc hội mới nhóm họp năm 1789, mối quan tâm chính đầu tiên của nó là tổ chức tư pháp Các cuộc thảo luận Dự luật số 1 của Thượng viện xoay quanh nhiều bên tham gia và lý lẽ giống hệt như trong cuộc tranh cãi tư pháp của Hội nghị lập hiến Một lần nữa, vấn đề đặt ra là nên thiết lập các tòa án liên bang cấp dưới hay trao toàn quyền sơ thẩm cho tòa án bang Nỗ lực giải quyết vấn
đề tranh cãi này đã chia Quốc hội thành các nhóm riêng rẽ
Trang 6Một nhóm bao gồm những người tin rằng luật liên bang đầu tiên cần được xét xử tại các tòa án bang, và chỉ được xét xử tại Tòa án tối cao Hoa Kỳ theo trình tự phúc thẩm Những người này sợ chính quyền mới sẽ hủy bỏ quyền của các bang Nhóm còn lại gồm những nhà lập pháp nghi ngại các tòa án bang sẽ mang tính cục bộ địa phương, và sợ rằng những người khởi kiện từ các bang khác, hoặc nước khác sẽ bị đối xử bất công Nhóm thứ hai đương nhiên muốn có một hệ thống tư pháp có cả các tòa án liên bang cấp dưới Kết quả của cuộc tranh cãi này là sự ra đời của Đạo luật tư pháp năm 1789, thiết lập một hệ thống tư pháp bao gồm một Tòa án tối cao (bao gồm một chánh án và năm thẩm phán), ba tòa lưu động (bao gồm hai thẩm
HỆ THỐNG TÒA ÁN HOA KỲ
(*) Mười hai Tòa phúc thẩm vùng (hay còn gọi là Tòa phúc thẩm lưu động) còn thụ lý các vụ việc từ một số cơ quan liên bang
(**) Tòa phúc thẩm liên bang còn thụ lý các vụ từ Ủy ban thương mại quốc tế, Hội đồng bảo vệ hệ thống năng lực, Văn phòng bằng sáng chế
và thương hiệu và Hội đồng phúc thẩm hợp đồng
Trang 7phán của Tòa án tối cao và một thẩm phán hạt); và 13 toà án hạt (mỗi tòa án hạt do một thẩm phán chủ trì) Như vậy, quyền được thiết lập các tòa án liên bang cấp dưới đã được thực thi ngay lập tức Quốc hội không chỉ tạo ra một, mà đến hai nhóm tòa án cấp dưới
3/ Pháp luật Hoa Kỳ ngày nay:
Ngày nay hệ thống pháp luật ở Mỹ vẫn còn dựa trên những nguyên tắc pháp
lí truyền thống của luật án lệ của Anh, nhưng vốn là quốc gia đa sắc tộc, đa tôn giáo với nền văn hóa đa dạng và lãnh thổ rộng lớn cùng với những thay đổi nhanh chóng về xã hội và kinh tế, Mỹ đã và đang xây dựng và phát triển một hệ thống pháp luật không hoàn toàn theo hệ thống pháp luật của Anh
Nhà nước Mỹ được tổ chức dưới hình thức liên bang từ các bang được hình thành trước từ các thuộc địa của Anh nên ở Mỹ, với nhiều lĩnh vực và nhiều người thì pháp luật của bang quan trọng hơn pháp luật liên bang
Hệ thống pháp luật hiện hữu của Mỹ hình thành cùng với việc soạn thảo, phê chuẩn và thi hành hiếp pháp Mỹ năm 1787-1789, theo đó cơ cấu tổ chức của liên bang và mối quan hệ giữa chính phủ liên bang và chính phủ bang được quy định
rõ Chính phủ liên bang được tổ chức thành ba ngành: lập pháp, hành pháp và tư pháp, mỗi ngành được cơ cấu thành những đơn vị khác nhau Cơ quan lập pháp liên bang – Quốc hội – được chia thành 2 bộ phận là Hạ nghị viện và Thượng nghị viện Cơ quan hành pháp do Tổng thống đứng đầu với nhiệm kì 4 năm và không được giữ ghế quá 2 nhiệm kì, có quyền tham gia vào quá trình làm luật và quyền phủ quyết đối với dự luật đã được thông qua, chịu trách nhiệm thi hành những đạo luật do Quốc hội thông qua và ban hành các văn bản pháp luật do Quốc hội ủy quyền Cơ quan tư pháp gồm Tòa án tối cao, các tòa án phúc thẩm và các tòa án quận, ngoài ra còn có các tòa án chuyên biệt trong hệ thống tòa án liên bang
Mỗi bang của Mỹ đều có chính phủ và hiến pháp riêng, hiến pháp soạn thảo theo mô hình hiến pháp liên bang, cơ cấu tổ chức chính phủ và các quyền dân sự quyền công dân giữa các bang là tương tự nhau, hệ thống tòa án bang cũng gồm 3 cấp Nếu có sự xung đột giữa luật của bang và luật Liên bang thì luật liên bang sẽ được ưu tiên áp dụng
Trang 8Nguồn của pháp luật Hoa Kỳ hiện nay gồm: Hiến pháp, các đạo luật, quyết định của các cơ quan chuẩn lập pháp và chuẩn tư pháp, các văn bản dưới luật của
cơ quan hành pháp ban hành, các quyết định tư pháp (Án lệ), ngoài ra còn có các tác phẩm của các học giả pháp lý
a Luật Liên Bang
Hiến pháp là văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất ở các nước lập hiến Điều này đồng nghĩa với tất cả các văn bản pháp lý khác( kể cả điều ước quốc tế) phải tuân thủ các quy định của Hiến pháp Việc xây dựng và phê chuẩn Hiến pháp thể hiện ngày càng có sự đồng thuận trong vấn đề cần phải củng cố nhà nước liên bang Hệ thống pháp luật là một trong những lĩnh vực thực hiện được vấn đề đó Nội dung quan trọng nhất là “điều khoản tối cao”, trong Điều VI của Hiến pháp Mỹ:
“ Hiến pháp này, và các luật của Hợp chúng quốc được xây dựng trên cơ sở tuân thủ Hiến pháp, và tất cả các hiệp ước đã được ký kết hoặc sẽ được ký kết, với
tư cách thẩm quyền Hợp chúng quốc, sẽ là luật tối cao của tổ quốc; và mang tính ràng buộc đối với thẩm phán ở tất cả các bang, cho dù trong Hiến pháp và luật của các bang có bất cứ nội dung gì trái ngược.”
Quy định này đã thiết lập nguyên tắc tiên quyết của luật Hoa Kỳ: Một khi Hiến pháp đã quy định, không bang nào được quyền làm trái Có một điểm vẫn chưa rõ, là điều cấm này sẽ được áp dụng cho bản thân chính quyền liên bang như thế nào, và hệ thống pháp luật từng bang có vai trò như thế nào trong những lĩnh vực mà Hiến pháp không quy định rõ Các tu chính án Hiến pháp đã phần nào trả lời vấn đề này; lịch sử còn nhiều thăng trầm, và thậm chí đến nay, người Mỹ vẫn tiếp tục vật lộn để định ra đường phân giới rõ ràng giữa thẩm quyền liên bang với thẩm quyền bang
Lập pháp: Hiến pháp Hoa kỳ trao quyền thông qua luật cho Quốc hội Một
đề xuất được Quốc hội xem xét được gọi là một dự luật (bill) Nếu đa số thành
viên mỗi viện (Thượng viện và Hạ viện) thông qua (trong trường hợp Tổng thống phủ quyết, thì tỷ lệ đa số phải là hai phần ba), thì dự luật sẽ trở thành luật Luật liên
bang được gọi là đạo luật (statute) Còn Bộ luật Hoa Kỳ (United States Code) là kết quả của việc “pháp điển hoá” các đạo luật liên bang Bản thân Bộ luật không
phải là một luật, mà nó chỉ là các đạo luật được sắp xếp theo trật tự lôgích Ví dụ,
Trang 9Tiêu mục (Title) 20 bao gồm các đạo luật về Giáo dục, còn Tiêu mục 22 bao gồm các đạo luật về Đối ngoại
Quyền làm luật của Quốc hội bị giới hạn Nói chính xác hơn, nó được người dân Mỹ ủy quyền thông qua Hiến pháp, trong đó quy định những lĩnh vực mà Quốc hội có quyền hoặc không có quyền làm luật Điều I, Mục 9 của Hiến pháp cấm Quốc hội thông qua một số loại luật Ví dụ, Quốc hội không được thông qua một đạo luật hồi tố “ex post facto” (luật áp dụng hồi tố, “sau khi sự kiện đã diễn ra”), hoặc áp đặt thuế xuất khẩu Điều I, Mục 8 liệt kê các lĩnh vực Quốc hội được làm luật Một số nội dung khá là cụ thể (như “Xây dựng Bưu điện”), nhưng nhiều nội dung khác thì lại rất chung chung, nổi bật nhất là quy định “được điều chỉnh thương mại với nước ngoài, và giữa các bang” Tất nhiên, quyền diễn giải các quy định thẩm quyền kém chính xác là cực kỳ quan trọng Do đó, trong giai đoạn đầu của lịch sử nền cộng hòa, nhờ nắm được vai trò diễn giải, nên ngành tư pháp đã nắm thêm một vai trò cực kỳ quan trọng trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ
Tư pháp: Cũng như các ngành khác, quyền của ngành tư pháp Hoa Kỳ được
quy định trong Hiến pháp Hiến pháp chỉ quy định thẩm quyền xét xử liên bang trong một số loại tranh chấp nhất định Hai loại tranh chấp quan trọng nhất là các
vụ việc liên quan đến nghi vấn luật liên bang (“Tất cả các vụ việc về luật và công bằng, phát sinh từ Hiến pháp, các đạo luật của Hợp chúng quốc và các hiệp ước đã
ký kết ”) và các vụ việc “đa chủng”, tức là các vụ tranh chấp giữa công dân của hai bang khác nhau Thẩm quyền xét xử này cho phép mỗi bên có thể tránh đưa vấn đề ra trước các tòa án của bang của nhau
Cơ quan tư pháp cua Mỹ là các tòa án Về cơ cấu tổ chức và hoạt động, thẩm quyền của tòa án chúng ta sẽ tìm hiểu ở chủ đề sau
Hành pháp: Điều II, Hiến pháp Hoa Kỳ, trao “Quyền hành pháp” cho Tổng
thống Hợp chúng quốc Trong nhiệm kỳ của Tổng thống George Washington, toàn
bộ ngành hành pháp bao gồm một Tổng thống, một Phó tổng thống, và các bộ Ngoại giao, Ngân khố, Chiến tranh và Tư pháp Nhưng khi đất nước lớn mạnh lên, ngành hành pháp cũng phát triển thêm Ngày nay, có đến 15 bộ cấp nội các Mỗi
bộ có một số tổng cục, cục và các cơ quan khác Ngoài ra còn có một phần ngành hành pháp nằm ngoài các bộ Tất cả đều thực thi quyền hành pháp do Tổng thống
ủy nhiệm và chịu trách nhiệm cuối cùng trước Tổng thống
Trang 10Nguồn rõ ràng nhất của luật pháp Mỹ là các đạo luật do Quốc hội thông qua, được bổ sung bằng các quy định hành chính Đôi khi những nguồn này quy định rõ ràng ranh giới giữa hành vi hợp pháp và phạm pháp, nhưng không có nhà nước nào
có thể ban hành đủ luật để khép kín được tất cả các tình huống Rất may là đã có một thực thể khác quy định các nguyên tắc và chuẩn mực pháp lý giúp lấp các chỗ trống, như trình bày dưới đây:
Thông luật
Khi không có sự khống chế của các quy định hiến pháp và đạo luật, các tòa
án liên bang và bang thường đối chiếu với thông luật; đó là một tuyển tập các quyết định tư pháp, thông tục và quy tắc chung có từ nhiều thế kỷ trước ở nước Anh và vẫn tiếp tục phát triển cho đến nay Ở nhiều bang, thông luật tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong tranh chấp hợp đồng, do các nhà làm luật của bang thấy không cần thiết phải thông qua các đạo luật quy định tất cả những trường hợp bất thường về hợp đồng có thể xảy ra
Tiền lệ tư pháp
Trong hệ thống pháp luật Mỹ, án lệ là nguồn pháp luật có tính nổi trội Các phán quyết của toà án, các quyết định của toà án được phán xử trên cơ sở các quy tắc, quy chế là nguồn luật đặc biệt quan trọng Thông qua những quyết định này toà án thực sự tham gia đắc lực vào việc làm luật (tạo ra quy phạm pháp luật) Các thẩm phán có quyền đưa ra các sáng kiến pháp luật khi họ giải thích luật và họ cố gắng tìm cách giải thích một văn bản pháp luật theo hướng có lợi nhất cho họ Và trong thực tế, nếu họ không thích một văn bản pháp luật nào thì họ sẽ tìm cách vô hiệu hoá nó theo cách giải thích riêng của họ Thậm chí họ còn có quyền quyết định xem một văn bản pháp luật nào đó có hợp hiến hay không Nếu không hợp hiến thì văn bản pháp luật đó sẽ không được giải thích
Các tòa án xét xử các hành vi vi phạm luật và các tranh chấp nảy sinh từ luật Thông thường, tòa án cần phải diễn giải luật Để làm điều đó, các tòa án tự ràng buộc bởi cách giải thích luật trước đó của các toà án cùng cấp hoặc cao hơn Đây được gọi là nguyên tắc “theo quyết định trước”, hay đơn giản gọi là tiền lệ Nó giúp bảo đảm sự nhất quán và có thể lường trước Nếu phải đối mặt với các tiền lệ hoặc luật án lệ (case law) bất lợi, bên bị thường tìm cách phân biệt sự khác nhau giữa những yếu tố khách quan của vụ việc đang xem xét với các sự kiện đã dẫn đến quyết định trước đó