1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Dự thảo luật sử dụng vỉa hè

15 223 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 261,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chính sách, dự án hỗ trợ DNNVV trong Nghị định 56/2009/NĐ-CP vẫn còn gặp nhiều vướng mắc, bất cập như: - Một là, về tiếp cận vốn vay: Chính phủ đã triển khai các chính sách, chương trình

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÀI TẬP NHÓM 10:

MÔN XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT

Giảng viên: GS.TS Nguyễn Đăng Dung

Đề bài

XÂY DỰNG DỰ THẢO NỘI DUNG HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

Năm học 2016 - 2017

Trang 2

Thành viên nhóm:

viên

Phân công công việc

Nguyễn Hương Lan 14060042 Nội dung chủ yếu của dự thảo Luật

Trang 3

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU

TƯ Số: /TTr-BKHĐT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 04 tháng04 năm 2017

TỜ TRÌNH

Về dự thảo Nội dung về hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ

Kính gửi: Chính Phủ

Thực hiện Nghị quyết số 89/2015/QH13 của Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 09/6/2015 về điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, năm 2015 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016 và Quyết định số 1273/QĐ-TTg ngày 07/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ về phân công cơ quan chủ trì soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh được điều chỉnh trong Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh khóa XIII, năm 2015 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Chính phủ

Dự án Luật Nội dung hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV)

I SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ DNNVV

1 Một số hạn chế, bất cập trong triển khai chính sách hỗ trợ DNNVV

DNNVV là một thành phần rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều quốc gia trên thế giới Ở nhiều quốc gia, DNNVV chiếm một tỷ lệ cao trong tổng số doanh nghiệp (lên tới 90% như các quốc gia Mỹ, Nhật, Đức, ) và được coi là “động lực tăng trưởng”, là “xương sống” của nền kinh tế Và từ sớm, các quốc gia này đã có những chính sách pháp luật hợp lý để hỗ trợ phát triển các DNNVV

Còn ở Việt Nam, do hoàn cảnh lịch sử khó khăn và một thời kỳ thực hiện chính sách kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp nên vấn đề sở hữu tư nhân cũng như kinh tế tư nhân không được khuyến khích phát triển Phải đến năm

1986 với chính sách đổi mới toàn diện về kinh tế - xã hội thì kinh tế tư nhân mới được quan tâm và có cơ hội phát triển Tuy nhiên, sự quan tâm và các công tác hỗ trợ các DNNVV thì phải đến năm 2001 mới được ghi nhận và thực hiện thích đáng, đánh dấu bằng sự ra đời của Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV Và sau đó được thay thế bởi Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ Trên cơ sở này, nhiều chính sách, chương trình sự án hỗ trợ DNNVV đã được ban hành và triển khai thực hiện trong thời gian qua Các chính sách, chương trình, dự án này

đã và đang dần đi vào cuộc sống và đã đạt được những kết quả nhất định trong công tác hỗ trợ DNNVV Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện các

Trang 4

chính sách, dự án hỗ trợ DNNVV trong Nghị định 56/2009/NĐ-CP vẫn còn gặp nhiều vướng mắc, bất cập như:

- Một là, về tiếp cận vốn vay:

Chính phủ đã triển khai các chính sách, chương trình hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ như bảo lãnh tín dụng và hỗ trợ tín dụng Tuy nhiên, trên thực

tế mới có một số lượng nhỏ các doanh nghiệp được thụ hưởng chính sách hỗ trợ Phần lớn các doanh nghiệp còn lại gặp các trở ngại như sau: 55% trở ngại do thủ tục vay (hồ sơ vay vốn phức tạp, không đủ thủ tục vay vốn đơn giản cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ); 50% trở ngại yêu cầu thế chấp (thiếu tài sản có giá trị cao để thế chấp, ngân hàng không đa dạng hóa tài sản thế chấp như hàng trong kho, các khoản thu…); 80% tỷ lệ lãi suất chưa phù hợp; các điều kiện vay vốn hiện nay chưa phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa Khó khăn nhất vẫn là thiếu vốn cho sản xuất, kinh doanh Hiện nay, chỉ có 30% các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được vốn từ ngân hàng, 70% còn lại phải sử dụng vốn tự có hoặc vay từ nguồn khác (trong số này có nhiều doanh nghiệp vẫn phải chịu vay ở mức lãi suất cao 15 - 18%) Điều kiện vay vốn hiện nay chưa phù hợp với doanh nghiệp vừa

và nhỏ, rất ít các doanh nghiệp đáp ứng được điều kiện không được nợ thuế quá hạn, không nợ lãi suất quá hạn

- Hai là, về công nghệ:

Đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam chưa tham gia vào được chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, trình độ khoa học công nghệ và năng lực đổi mới trong doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam còn thấp Số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ còn rất ít Số lượng nhà khoa học, chuyên gia làm việc trong các doanh nghiệp chỉ chiếm 0,025% trong tổng số lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp Khoảng 80 - 90% máy móc và công nghệ sử dụng trong các doanh nghiệp của Việt Nam là nhập khẩu và 76% từ thập niên 1980 - 1990, 75% máy móc và trang thiết bị đã hết khấu hao

- Ba là, năng lực tiếp cận với các chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế trong kinh doanh:

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn chưa tiếp cận được hiệu quả trong quá trình hội nhập quốc tế Để từng bước phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam gia nhập tổ chức WTO, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các chính sách pháp luật, có thể nói hệ thống pháp luật trong kinh doanh ngày càng hoàn thiện, tuy nhiên, năng lực tiếp cận với các văn bản và hệ thống chính sách pháp luật của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn nhiều hạn chế Việc tiếp cận hạn chế này bắt nguồn

từ nhiều nguyên nhân, cả chủ quan và khách quan, phần khách quan do nội tại nền kinh tế nước ta như cải cách hành chính diễn ra còn chậm, chính sách kinh tế

vĩ mô thiếu ổn định, gây mất lòng tin cho doanh nghiệp , tuy nhiên, phần lớn là

do chủ quan các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa thực sự tìm hiểu các chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế để nâng cao năng lực của chính mình trong kinh doanh Đây là vấn đề rất đáng lưu tâm, đòi hỏi cả Nhà nước và doanh nghiệp phải

có những giải pháp nhằm thay đổi tăng cường năng lực tiếp cận với các thông tin, chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế trong kinh doanh cho doanh nghiệp

- Bốn là Rào cản về chính sách, thủ tục:

Trang 5

Trên thực tế số doanh nghiệp khởi nghiệp và thành công vẫn còn khá thấp Thủ tục hành chính, các quy định về thuế, quy định trong cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài, khó khăn trong tiếp cận vốn… là những rào cản khi các doanh nghiệp bắt tay khởi nghiệp Điều kiện khởi nghiệp được hình thành tương đối đầy đủ trên các khía cạnh chính sách hỗ trợ tài chính, công nghệ, pháp lý… nhưng hoạt động khá rời rạc, chưa có cơ chế thống nhất trong việc kết nối chúng với nhau, chưa tạo được hiệu ứng tích cực cho hoạt động khởi nghiệp

Có những nguồn hỗ trợ của các cơ quan nhà nước nhưng không biết làm thế nào để tiếp cận các nguồn vốn đó, vì có quá nhiều thủ tục phức tạp Thời gian thực hiện các trình tự thủ tục đầu tư còn kéo dài và quản lý tài chính khá phức tạp

là một trong những cản trở đối với việc triển khai nhanh các dự án cũng như mở rộng quy mô của nó cho phù hợp với sự chuyển biến năng động và liên tục của thị trường và của doanh nghiệp

2 Kinh nghiệm và thông lệ quốc tế về hỗ trợ phát triển DNNVV trên thế giới

và khu vực

Trên thế giới, ở những quốc gia đã phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Châu Âu, OECD, APEC và các quốc gia mới nổi trong khu vực như Singapore, Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ… đều coi trọng khu vực DNNVV Với vai trò đó, công tác hỗ trợ DNVVV được xem như một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chính sách phát triển của các quốc gia Do đó, công tác hỗ trợ DNNVV đã được các quốc gia này luật hóa từ nhiều thập kỷ trước và sớm ban hành các Đạo luật cơ bản về hỗ trợ DNNVV nhằm thúc đẩy khu vực doanh nghiệp này đổi mới sáng tạo và phát triển, đóng góp ngày càng cao vào nền kinh tế Từ các quốc gia phát triển như Nhật Bản (Luật cơ bản DNNVV, ban hành năm 1963), Mỹ (Luật doanh nghiệp nhỏ, ban hành năm 1953), Canada (Luật tài trợ doanh nghiệp nhỏ), các nền kinh tế lớn như Nga (Luật phát triển doanh nghiệp nhỏ, ban hành năm 2008), Trung Quốc (Luật xúc tiến DNNVV, ban hành năm 2002) đến các nền kinh tế mới nổi như Hàn Quốc (Luật DNNVV, ban hành năm 1966), Đài Loan (Luật DNNVV, ban hành năm 1991), Ấn Độ (Luật hỗ trợ DNNVV, ban hành năm 2006) Các quốc gia trong khu vực ASEAN như Thái Lan (Luật hỗ trợ DNNVV, ban hành năm 2000), Indonesia (Luật doanh nghiệp nhỏ, ban hành năm 1995), Liên minh Châu Âu (EU) ban hành Luật doanh nghiệp nhỏ áp dụng chung cho các nước thành viên Thậm chí ở một số quốc gia, việc bảo vệ, hỗ trợ DNNVV được quy định trong Hiến pháp như Hàn Quốc, Đài Loan

Điểm chung của các đạo luật này là luật khung, luật cơ bản về hỗ trợ DNNVV, tạo cơ sở ban hành các luật hỗ trợ DNNVV cụ thể khác như luật hỗ trợ tài chính, luật bảo lãnh tín dụng, luật thúc đẩy hợp tác liên kết giữa các DNNVV và doanh nghiệp lớn, luật khuyến khích đầu tư, giảm thuế cho DNNVV, luật đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ, mua sắm chính phủ đối với sản phẩm của DNNVV

Trang 6

hoặc quy định hệ thống các chính sách, biện pháp hỗ trợ cụ thể cho DNNVV Các luật hỗ trợ DNNVV đã được điều chỉnh, sửa đổi theo từng thời kỳ phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia, tập trung giải quyết các thách thức đối với sự phát triển của các DNNVV, ưu tiên các ngành kinh tế chủ lực Bên cạnh đó, các 5 luật này cũng quy định hệ thống cơ quan chính phủ đầu mối về hỗ trợ DNNVV với vai trò điều phối triển khai thực hiện hỗ trợ DNNVV Các đạo luật cũng thể hiện rõ trách nhiệm của Chính phủ trong việc đảm bảo các nguồn lực tổ chức thực hiện hỗ trợ DNNVV…

Vì vậy, để giải quyết những hạn chế, bất cập nêu trên ở nước ta và xuất phát từ thông lệ của các quốc gia trên thế giới và khu vực trong hỗ trợ DNNVV, việc xây dựng và ban hành Luật Hỗ trợ DNNVV, cụ thể là các Nội dung hỗ trợ DNNVV của Việt Nam là rất cấp thiết và phù hợp với xu hướng chung của thế giới, đồng thời đảm bảo tính đồng bộ của chính sách, có tính hiệu lực pháp lý cao nhất cũng như thúc đẩy việc thực thi

II QUÁ TRÌNH SOẠN THẢO DỰ ÁN LUẬT

Quy trình soạn thảo văn bản pháp luật là các bước, các giai đoạn cần tiến hành theo một trật tự hợp lý, chặc chẽ, khoa học do luật quy định nhằm tạo ra các đạo luật có chất lượng tốt nhất;

- Tuân thủ nghiêm minh quy trình lập pháp là nguyên tắc của nhà nước pháp quyền

- Quy trình làm luật ở các nước gồm các bước sau:

- Phân tích từ góc độ chính sách đối với dự luật;

- Phê duyệt về mặt chính sách đối với dự luật;

- Soạn thảo dự luật;

- Thẩm định hoặc thẩm tra dự luật;

- Phê duyệt dự luật;

- Tham vấn nhân dân (nếu cần thiết),

- Xem xét và thông qua

1 Phân tích chính sách

Công đoạn đầu tiên của quy trình lập pháp ở nhiều nước là phân tích chính sách Phân tích chính sách bao gồm:

- Nhận biết vấn đề đang phát sinh trong xã hội;

- Tìm nguyên nhân của vấn đề;

- Đề ra giải pháp (nếu cần đến giải pháp ban hành luật thì mới ban hành);

- Nghiên cứu các vướng mắc về tính hợp hiến, hợp pháp;

- Đánh giá tác động của đạo luật dự kiến ban hành;

- Nghiên cứu khả năng tài chính để bảo đảm triển khai các quy định của văn bản pháp luật

Trang 7

- Để xác định nội dụng quy định của pháp luật, cần nghiên cứu khách quan, toàn diện và đầy đủ những tình tiết của quan hệ xã hội, các đặc trưng của quan hệ

đó để xác định hướng tác động của pháp luật phù hợp với bản chất, đặc trưng của từng loại quan hệ Những vấn đề đang phát sinh và sự cần thiết cần có biện pháp

để điều chỉnh phù hợp và sự cần thiết để ban hành luật, xây dựng các phương án giải quyết, tham mưu đề xuất các phương án Giai đoạn này cũng chính là thể hiện tinh thần của luật và chính sách của nhà làm luật Như hiện nay ở nước ta một số công việc của công đoạn phân tích chính sách được quy định tại các Điều

26, 61 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật gồm những việc sau đây:

“tổng kết tình hình thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến dự án; khảo sát, đánh giá các quan hệ xã hội liên quan đến dự án” Theo quy định của các Điều 26, 61 thì những công việc này phải được tiến hành trong giai đoạn soạn thảo dự án văn bản pháp luật Các quy phạm pháp luật phải được thể hiện ở phần nội dung văn bản, đây là phần thể hiện mục đích của văn bản luật cũng có phần đặc thù khác với văn bản thông thường khác

- Về thể thức văn bản cũng có cấu tạo từ các bộ phận tiên đề, thượng đề, chính đề, hậu đề

2 Soạn thảo văn bản pháp luật

- Trong giai đoạn soạn thảo các thành viên trong ban soạn thảo có thể nêu trở lại các vấn đề chính sách pháp lý để thảo luận Ở giai đoạn này có thể là thảo luận nội bộ trong ban soạn thảo

- Việc soạn thảo dự án luật là công việc rất nặng nề và phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức, trước hết người viết dự án phải là người am hiểu luật pháp, nhất là kỹ thuật lập pháp, kỹ thuật viết các quy phạm pháp luật Các quy phạm pháp luật phải được thể hiện ở phần nội dung văn bản, đây là phần thể hiện mục đích của văn bản luật cũng có phần đặc thù khác với văn bản thông thường khác

- Về thể thức văn bản cũng có cấu tạo từ các bộ phận tiên đề, thượng đề, chính đề, hậu đề Nhưng có hai phần có tính chất đặc biệt làm dấu ấn đặc thù cho việc phân biệt giữa luật với văn bản khác , đó là phần thượng đề và chính đề Phần thượng đề nêu căn cứ Hiến pháp của việc ban hành đạo luật

- Nội dung của văn bản là phần chủ yếu và quan trọng nhất của văn bản luật

Ở phần này, văn bản pháp quy chứa đựng những quy phạm pháp luật nội dung những quyết định có tính chất quyền lực, pháp lý có tính chất bắt buộc thi hành của Nhà nước có thẩm quyền

- Những chủ trường, chính sách, phương hướng, quyền và nghĩa vụ những tiêu chuẩn xử sự khác của các đối tượng trong các quan hệ xã hội ở từng linh vực, từng ngành trong cả nước, từng địa phương, từ đơn vị cơ sở Chỉ ở phần này văn bản pháp luật mới thực hiện chức năng nhiệm vụ chủ yếu của nó là sáng tạo pháp luật

Trang 8

- Việc soạn thảo văn bản luật: người viết phải dùng lời văn, câu chữ để cụ thể hóa những ý tưởng, những dự kiến xác lập ở đề cương Khi viết bản thảo cần phải bám sát đề cương, phân chia dung lương trọng từ chương, mục, đoạn cho hợp lý

Sử dụng linh hoạt các từ, cụm từ, liên kết các câu, đoạn để văn bản trở thành thể thống nhất, trọn vẹn về nội dung và hình thức

- Kiểm tra rà soát về bản thảo , kiểm tra bố cục nội dung, đã logic chưa đầy

đủ các ý cần trình bay chưa, các ý trình bay đã phù hợp với mục đích ban hành văn bản hay chưa, ý trọng tâm của văn bản đã nổi bật hay chưa Đồng thời kiểm tra về thể thức, ngôn ngữ diễn đạt trình bày

III MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG LUẬT

1 Mục tiêu

Việc xây dựng và ban hành Luật Hỗ trợ DNNVV với chương Chương trình hỗ

trợ khởi nghiệp nhằm mục tiêu sau:

- Tạo cơ sở pháp lý ổn định, vững chắc để hỗ trợ DNNVV Trên cơ sở này ban hành các văn bản luật, văn bản dưới luật để cụ thể hóa việc thực hiện các nội dung hỗ trợ DNNVV

- Thiết lập đồng bộ các chính sách hỗ trợ DNNVV trên mọi mặt tổ chức, hoạt động Từ đó đưa ra các biện pháp hỗ trợ cụ thể, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế đất nước, nguồn lực quốc gia, điều kiện cụ thể của từng địa phương trong từng giai đoạn phát triển của DNNVV

2 Quan điểm

Thứ nhất, thể chế hóa các chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân (trong đó chủ yếu là các DNNVV), đặc biệt là Nghị quyết số 14-NQ/TW (khóa IX) ngày 18/3/2002 về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân và kết luận số 64- KL/TW ngày 09/2/2010 của Ban Bí thư về kết quả kiểm tra tình hình thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TW

Thứ hai, bảo đảm quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền kinh tế của doanh nhân và doanh nghiệp và bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật; bảo đảm tính khả thi và không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc

tế mà Việt Nam là thành viên

Thứ ba, kế thừa những quy định phù hợp và khắc phục các hạn chế, bất cập của Nghị định 56/2009/NĐ-CP và các văn bản pháp luật có liên quan Đồng thời, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm, thực tiễn tốt của các quốc gia trên thế giới về

Trang 9

hỗ trợ DNNVV, phù hợp với đặc điểm, nguồn lực và điều kiện kinh tế-xã hội của Việt Nam

Thứ tư, tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân, cộng đồng doanh nghiệp

và phát triển dịch vụ hỗ trợ DNNVV trong công tác hỗ trợ DNNVV

IV BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA DỰ THẢO

1 Bố cục của dự thảo Luật

Nội dung hỗ trợ DNNVV gồm 9 điều, cụ thể như sau:

Điều 9 Cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách hành chính

Điều 10 Hỗ trợ tiếp cận tín dụng tại ngân hàng thương mại

Điều 11 Hỗ trợ tiếp cận tín dụng tại quỹ và các định chế tài chính khác

Điều 12 Hỗ trợ thuế thu nhập doanh nghiệp

Điều 13 Hỗ trợ nâng cao năng lực công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Điều 14 Hỗ trợ đào tạo, tư vấn và thông tin

Điều 15 Hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh

Điều 16 Hỗ trợ tham gia mua sắm công

Điều 17 Hỗ trợ xúc tiến, mở rộng thị trường

Nội dung chủ yếu của dự thảo Luật

Chương này quy định về các biện pháp cơ bản hỗ trợ DNNVV, bao gồm: môi trường kinh doanh; tiếp cận tín dụng tại ngân hàng và các định chế quỹ; hỗ trợ thuế; nâng cao năng lực công nghệ; đào tạo, tư vấn và thông tin; mặt bằng sản xuất kinh doanh; xúc tiến, mở rộng thị trường và mua sắm công

a) Về cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách hành chính tạo thuận lợi cho DNNVV: Với những nỗ lực của Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương, vài năm gần đây, môi trường kinh doanh của Việt Nam đã có sự thay đổi đáng khích lệ Tuy môi trường kinh doanh nước ta có cải thiện, nhưng nói chung còn thấp cả về thứ hạng và điểm số Một số chỉ tiêu còn thấp khá xa so với trung bình của các nước ASEAN 6 và ASEAN 4 Nhằm tiếp tục tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, an toàn và thân thiện cho doanh nghiệp phát triển và trở thành động lực của nền kinh tế, cụ thể hoá chủ trương “Nhà nước kiến tạo, lấy doanh nghiệp là đối tượng phục vụ” quy định tại Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ, ngoài việc quy định Nhà nước tạo môi trường, điều kiện thuận lợi nhất về cơ chế, chính sách để DNNVV thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng, bền vững và cạnh tranh lành mạnh, dự thảo Luật còn quy định việc nghiêm cấm

cơ quan, tổ chức ban hành quy định phân biệt đối xử về điều kiện kinh doanh, thực hiện thủ tục hành chính, tiếp cận các nguồn lực dựa trên các tiêu chí về quy

mô kinh doanh, trừ khi các quy định này được luật quy định và có hành vi phân biệt đối xử, sách nhiễu, gây khó khăn cho DNNVV

b) Hỗ trợ tiếp cận tín dụng tại ngân hàng thương mại (NHTM)

Trang 10

Thời gian qua, các NHTM đã có sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động cụ thể đối với nhóm khách hàng DNNVV Đồng thời, Ngân hàng nhà nước

đã điều hành chính sách lãi suất theo hướng giảm dần, phù hợp với diễn biến kinh

tế vĩ mô và tiền tệ góp phần tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế Tuy nhiên, kết quả cho vay đối với DNNVV vẫn còn khá khiêm tốn: tỷ lệ dư nợ cho vay đối với DNNVV trong giai đoạn 2011-2015 trung bình khoảng 25% tổng dư nợ cho vay toàn bộ nền kinh tế Do đó, để nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng, mở rộng quy

mô vốn vay của các DNNVV, Dự thảo Luật điều chỉnh cả từ hai phía: phía cung (các NHTM) và phía cầu (DNNVV) Từ phía DNNVV (phía cầu), dự thảo quy định: Nhà nước thông qua các tổ chức và cá nhân cung cấp các dịch vụ tư vấn xây dựng phương án sản xuất kinh doanh khả thi và quản trị doanh nghiệp làm cơ sở tiếp cận vay vốn của ngân hàng thương mại Từ phía cung (NHTM), cần tiếp tục thúc đẩy sự thay đổi nhận thức của NHTM về hoạt động tín dụng cho DNNVV;

hỗ trợ các ngân hàng điều chỉnh cơ cấu tín dụng hướng tới DNNVV thông qua việc Chính phủ sẽ dành một số ưu đãi cho các ngân hàng thương mại khi đạt được

tỷ lệ dư nợ tối thiểu cho DNNVV là 30% hoặc cho DNNVV vay với lãi suất ưu đãi theo các mục tiêu phát triển Các ưu đãi cụ thể như thực hiện các biện pháp tỷ

lệ dự trữ bắt buộc; chiết khấu, tái cấp vốn; khoanh nợ và xử lý rủi ro; trích lập dự phòng; xét khen thưởng và các biện pháp khác theo quy định của pháp luật, v.v

do Chính phủ quy định chi tiết Việc khuyến khích các NHTM cho vay DNNVV thông qua một số ưu đãi của Chính phủ dành cho NHTM cũng phù hợp với thông

lệ quốc tế Ví dụ, tại Đài Loan, Chính phủ đã thực hiện các biện pháp khuyến khích ngân hàng cung cấp tín dụng cho DNNVV như điều chỉnh lãi suất, quy định tỷ lệ cung cấp tín dụng cho DNNVV tăng lên hàng năm; Philippines cũng quy định tỷ lệ tín dụng nhất định dành cho DNNVV Ngoài ra, nhằm nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ của các NHTM đối với DNNVV, dự thảo Luật cũng đưa ra quy định NHTM thiết kế các quy trình cho vay phù hợp với DNNVV, đáp ứng yêu cầu đơn giản về thủ tục, thời gian giải ngân vốn nhanh, đảm bảo an toàn tín dụng Thông lệ quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia đã thiết lập được hệ thống cơ

sở dữ liệu kết nối giữa cơ quan đăng ký doanh nghiệp, cơ quan thuế và các tổ chức tín dụng để hỗ trợ DNNVV tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng Qua đó, các tổ chức tín dụng căn cứ trên lịch sử hoạt động của một DNNVV, cụ thể là việc tuân thủ nghĩa vụ đối với nhà nước để xem xét, ra quyết định cho DNNVV vay vốn Việc xem xét cho vay theo hình thức này giúp DNNVV có thể dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn mà không cần tài sản thế chấp, đồng thời khuyến khích các DNNVV trong việc minh bạch hóa thông tin hoạt động và sổ sách Vì vậy, dự thảo Luật quy định Nhà nước xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông giữa các cơ quan đăng ký doanh nghiệp, cơ quan thuế, tổ chức tín dụng để cho DNNVV vay dựa trên thông tin minh bạch và tuân thủ nghĩa vụ đối với nhà nước Nhằm tạo lập cơ chế cho các địa phương hỗ trợ DNNVV theo mục tiêu phát triển, dự thảo Luật

Ngày đăng: 09/06/2017, 02:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w