Trong phơng pháp dạy học tích cực; Môn hoá học , sử dụng đồ dùng làm các thí nghiệm trong giờ học là phơng pháp dạy học trực quan, tạo cho học sinh khả năng chiếm lĩnh kiến thức một cách
Trang 1A/ Mở đầu
I Lý do chọn đề tài.
Trong phơng pháp dạy học tích cực; Môn hoá học , sử dụng đồ dùng làm các thí nghiệm trong giờ học là phơng pháp dạy học trực quan, tạo cho học sinh khả năng chiếm lĩnh kiến thức một cách chủ động, hứng thú
và hình thành thái độ trong học tập là hết sức cần thiết và có tính chất quyết định về kết quả học tập của học sinh
Qua thực tế tình hình sử dụng đồ dùng dạy học trong nhà trờng nói chung, của môn hoá học nói riêng đặc biệt các giờ học có thí nghiệm và các giờ thực hành thí nghiệm ở trờng chúng tôi những năm qua còn nhiều hạn chế , có nhiều lý do: Đó là về cơ sở, về thời gian thực hiện (cha có phụ tá thí nghiệm) đặc biệt số giáo viên mới ra trờng còn vớng mắc về phơng pháp thực hiện các thí nghiệm dẫn đến chất lợng môn hoá học còn cha cao
Là một giáo viên làm công tác quản lý chuyên môn, và có chuyên môn hoá học tôi thực sự trăn trở điều này vì vậy tôi đã chọn “Phơng pháp tiến hành các thí nghiệm ở trờng THCS” để phần nào khắc phục những khó khăn hiện tại sao cho việc dạy học theo phơng pháp mới môn hoá học có hiệu quả hơn
II Mục đích nghiên cứu
- Tận dụng tối đa việc sử dụng đồ dùng hiện có
- Cải tiến một số sản phẩm thải trong sinh hoạt làm đồ dùng cho học sinh thực hiện hoạt động ngoại khoá , hoặc ở nhà
- Nâng cao ý thức của học sinh trong việc nâng cao chất lợng môn hoá học
III Đối tợng nghiên cứu
- Giáo viên dạy môn hoá học ở trờng THCS
- Học sinh khối 8,9 THCS
- Đồ dùng dạy học môn hoá học
Nhiệm vụ: Phục vụ việc dạy học của giáo viên, và bản thân trong
việc quản lý chuyên môn
IV Phạm vi nghiên cứu
1, Một số thí nghiệm ở các bài học lớp 8, 9
2, Thời gian nghiên cứu:Tháng 9/2005 đến tháng 2/2006
Trang 2V Phơng pháp nghiên cứu
- Thực nghiệm
- Kiểm tra đánh giá
B/ Giải quyết vấn đề
I cơ sở lý luận:
Thực hiện nghị quyết TW II khóa VIII về việc đổi mới phơng pháp dạy học, theo chơng trình thay sách giáo khoa Năm học 2005-2006, đối với THCS đã cơ bản hoàn thành việc thay sách giáo khoa Mục tiêu trong cải cách giáo dục là đổi mới phải đổi mới một cách đồng bộ chính vì vậy trong
đổi mới phơng pháp dạy học là một vấn đề hết sức đợc coi trọng Trong đó phơng pháp dạy học tích cực thực sự là một trong phơng pháp có tính u việt trong dạy học hiện nay:
Tính tích cực trong học tập là trạng thái hoạt động của học trng trong sự khát vọng trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức
Chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức kỹ năng đã có để nhận thức vấn đề mới
Mong muốn đợc đóng góp với thầy với bạn những thông tin mới lấy từ các nguồn khác nhau có khi không có trong nội dung ( ngoài môn học)
Phơng pháp dạy học tích cực là một quá trình dạy học coi trọng hoạt động của học sinh Ngời học không thụ động tiếp thu kiến thức mà ngời giáo viên
tổ chức hớng dẫn cho học sinh tự phát hiện kiến thức bằng hoạt động của chính mình
+ Dạy học thông qua các tổ chức hoạt động: Học sinh phải đợc hoạt động
độc lập và hợp tác; tự nghiên cứu, quan sát làm bài tập, thảo luận thông qua các hoạt động đó mà trò hiểu đợc kiến thức phát triển năng lực hình thành thái độ đến nay mục tiêu dạy học đã đợc định hớng ra chỗ dạy cho học sinh biết gì, làm đợc gì?
+ Dạy học phơng pháp tự học tự nghiên cứu: Việc rèn luyện phơng pháp tự học, tự nghiên cứu không chỉ là phơng tiện nâng cao hiệu quả dạy học đó là mục tiêu dạy học trong xã hội hiện đại khoa học công nghệ phát triển nhanh thì việc dạy phơng pháp học, tự học đóng vai trò quan trọng
+ Phơng pháp tích cực giáo viên không truyền đạt những kiến thức có sẵn, không cung cấp ngay kiến thức cho ngời học mà để học sinh tự phát hiện ra + Cốt lõi của việc hình thành phơng pháp tự học là rèn luyện cho học sinh
kỹ năng, phơng pháp thói quen tự học biết ứng dụng những điều đã học vào
Trang 3hớng mới biết tự lực phát hiện nảy sinh cuối cùng kiểm tra đánh giá Phơng pháp tiến hành các thí nghiệm hóa học ở trờng THCS phần nào phản ánh đợc phơng pháp dạy học tích cực theo tinh thần đổi mới trong dạy học hiện nay
II Tầm quan trọng của thí nghiệm hóa học
Thí nghiệm giữ vai trò rất quan trọng nh một bộ phận không thể tách rời của quá trình học tập hóa học Ngời ta coi thí nghiệm là cơ sở của việc học hóa học và để rèn luyện kỷ năng thực hành.Thông qua thí nghiệm hóa học học sinh nắm kiến thức một cách hứng thú, vững chắc và sâu sắc hình thành thái độ
III Cơ sở thực tiễn.
1) Thuận lợi:
- Học sinh ham học, có nề nếp tốt
- Đã đợc cấp 2 bộ đồ dùng đến lớp 9, đủ chủng loại
- Đã có phòng học thực hành chung cho các môn, (nhng cha đủ tiêu chuẩn.)
- Số lợng giáo viên dạy hoá học đã đủ
2) khó khăn:
- Thiệu Nguyên là một xã thuần nông, dân số đông, kinh tế còn rất nhiều khó khăn
- Điều kiện cơ sở vật chất mới có 1 phòng tạm làm chung cho tất cả các môn song cha đủ tiêu chuẩn qui cách
- Đồ dùng thí nghiệm tuy đã đợc cấp về nhng cũng cha đủ về số lợng để dàn trải cho tất cả học sinh đợc làm thực hành thí nghiệm
- Trờng THCS Thiệu Nguyên chúng tôi là 1 trong những trờng có số lợng học sinh đông toàn trờng có 873 học sinh trong năm học này Trong đó khối 9 có tới 6 lớp, khối 8 có 5 lớp Vì vậy rất khó khăn cho việc tiến hành các thí nghiệm trên lớp đặc biệt là các tiết thực hành.Vì vậy việc hớng dẫn cho các em làm thí nghiệm ngoại khoá ( việc làm thí nghiệm ở nhà) là hết sức cần thiết
- Giáo viên thực hành thí nghiệm trờng tôi cha có, giáo viên bộ môn thì không đủ điều kiện thời gian chuẩn bị vì phân lịch dạy nhiều buổi không thể cùng môn, cùng khối đợc dẫn đến GV ngại làm thí nghiệm
Trang 4- Mặc dù Giáo viên bộ môn hoá học đã học phơng pháp tiến hành các thí nghiệm ở trờng chuyên nghiệp, học chuyên đề thay sách, học sử dụng dồ dùng thiết bị dạy học do phòng giáo dục tổ chức Nhng do điều kiện thực tế các giáo viên hầu hết trờng tôi vẫn cha đáp ứng đợc nh yêu cầu hiện nay
C Nội dung : Phần 1 : Phơng pháp tiến hành các thí nghiệm:
Phần thứ nhất :
Có hai loại thí nghiệm ở trờng THCS
Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên
Thí nghiệm của học sinh
Tùy theo mục đích sử dụng thí nghiệm trong quá trình học tập (để nghiên cứu bài mới hay để củng cố, kiểm tra kiến thức, kỹ năng kỹ xảo) mà thí nghiệm của học sinh đợc chia thành các dạng khác nhau
- Thí nghiệm nghiên cứu bài mới
- Thí nghiệm luyện tập
- Thí nghiệm thực hành
Ngoài các hình thức trên đợc dùng trong nội khóa còn những thí nghiệm ngoại khóa đợc thực hiện ở trờng, quan sát ở nhà
I Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên :
Thí nghiệm biểu diễn dùng làm cơ sở để cụ thể hóa những khái niệm về chất và phản ứng hóa học Trong quá trình biểu diễn thí nghiệm, giáo viên là ngời thực hiện sự biến đổi các chất, điều khiển các quá trình biểu diễn thí nghiệm, học sinh theo dõi quan sát và có nhận xét về quá trình đó
Vai trò của các thí nghiệm trong giờ Hóa học có thể không giống nhau Chúng có thể dùng để minh họa các kiến thức do giáo viên trình bày, có thể
là nguồn những kiến thức mà học sinh tiếp thu dới sự hớng dẫn của giáo viên trong quá trình quan sát thí nghiệm Vì vậy các thí nghiệm biểu diễn có thể
đ-ợc tiến hành bằng 2 phơng pháp :
- Phơng pháp minh họa
- Phơng pháp nghiên cứu
Trang 5Phơng pháp thứ 2 có giá trị lớn hơn vì nó có tác dụng kích thích học sinh làm việc tích cực hơn và đặc biệt tạo điều kiện phát triển khả năng nhận thức của học sinh Khi tiến hành thí nghiệm biểu diễn cần chú ý những yêu cầu sau đây :
1 Đảm bảo an toàn thí nghiệm :
An toàn thí nghiệm là yêu cầu trớc hết đối với mọi loại thí nghiệm, trong đó
có thí nghiệm biễu diễn của giáo viên Để đảm bảo an toàn thí nghiệm và tính mạng của học sinh trong giờ học Mặt khác giáo viên cần nắm vững kỹ thuật
và phơng pháp tiến hành các thí nghiệm cụ thể
Ví dụ :
- Trong bất cứ trờng hợp nào, trớc khi đốt H2 đều phải thử độ tinh khiết của nó
- Khi làm việc với chất độc hại phải có biện pháp bảo hiểm
- Không dùng quá liều lợng hóa chất dễ cháy và dễ nổ
- Các thí nghiệm tạo thành chất bay hơi cần tiến hành ở phía
cuối chiều gió để tránh tạt khí độc về phía học sinh
2, Đảm bảo kết quả và tính khoa học của thí nghiệm :
Thí nghiệm hóa học nh “con dao hai lỡi” :
Kết quả tốt đẹp của các thí nghiệm có liên quan chặt chẽ đến chất lợng dạy học và củng cố lòng tin của học sinh vào khoa học
Muốn đảm bảo kết quả trớc hết giáo viên phải nắm vững kĩ thuật và kĩ năng tiến hành thí nghiệm, giáo viên phải chuẩn bị cẩn thận các thí nghiệm, thử nhiều lần trớc khi biểu diễn trên lớp Các dụng cụ hóa chất cần chuẩn bị chu đáo và đồng bộ Nếu chẳng may thí nghiệm không thành công, giáo viên cần bình tĩnh, tìm ra nguyên nhân để giải thích cho học sinh
3, Đảm bảo trực quan:
- Trực quan là một trong những yêu cầu cơ bản của thí nghiệm biểu diễn Để đảm bảo tính trực quan khi chuẩn bị thí nghiệm giáo viên cần suy
nghĩ đến kích thớc các dụng cụ thí nghiệm và sử dụng lợng hóa chất thích hợp Các dụng cụ thí nghiệm cần có kích thớc và màu sắc hài hòa Bàn để biểu diễn thí nghiệm phải có độ cao cần thiết và các dụng cụ thí nghiệm cần
Trang 6phải bố trí sao cho mọi học sinh trong lớp đều nhìn rõ Đối với các thí nghiệm có kèm theo sự đổi màu sắc, có các khí sinh ra hoặc có các chất kết tủa tạo thành thì phải dùng các phông có màu sắc thích hợp
- Số lợng thí nghiệm trong một bài nên chọn vừa phải Cần chọn những thí nghiệm phục vụ trọng tâm bài học và phù hợp với thời gian của tiết dạy để
đảm bảo việc thực hịên các bớc lên lớp Mặt khác nếu chúng ta sử dụng nhiều thí nghiệm với những phản ứng hóa học có bản chất giống nhau sẽ giảm hứng thú học tập của học sinh
- Ngoài những yêu cầu trên, để nâng cao chất lợng các thí nghiệm biểu diễn
ta cần chú ý những nội dung sau đây:
Trong thí nghiệm nên sử dụng những hóa chất học sinh đã quen biết Đơng nhiên nếu mục đích thí nghiệm là nghiên cứu chất mới thì chất đó phải là mới
đối với học sinh Nhng khi sử dụng các chất để rút ra những kết luận lí thuyết nào đó, tức là dùng làm tài liệu giáo khoa thì cố gắng dùng các chất quen thuộc
- Để giúp học sinh tập trung tuyệt đối vào các phản ứng hóa học diễn ra trong các dụng cụ thí nghiệm, trớc khi thực hiện thí nghiệm giáo viên nên giúp học sinh tìm hiểu về các dụng cụ thí nghiệm theo các trình tự sau: + Tên của dụng cụ
+ Công dụng của dụng cụ
+ Hình dạng bên ngoài và cấu tạo bên trong
+ Công dụng của từng bộ phận
+ Bộ phận quan trọng nhất ( tuỳ theo từng nội dung thí nghiệm)
+ Dụng cụ đợc cấu tạo và hoạt động dựa trên những nguyên lý nào
+ Cách sử dụng dụng cụ
Trong một số trờng hợp thì cần có thể dùng hình vẽ hoặc tháo rời từng bộ phận rồi giới thiệu và lắp dụng cụ theo 1 trình tự cần thiết
Nên lựa chọn các dụng cụ thí nghiệm đơn giản, gọn nhẹ đảm bảo tính khoa học, s phạm, mỹ thuật Chọn phơng án thí nghiệm đơn giản, tiết kiệm , dễ thành công và đảm bảo an toàn cho học sinh
Trớc khi tiến hành thí nghiệm, giáo viên cần phải giải thích mục đích, yêu cầu và cách tiến hành thí nghiệm
Trong thời gian tiến hành thí nghiệm sự chú ý của học sinh vào việc quan sát các hiện tợng sảy ra nh đặt các câu hỏi để học sinh chú ý theo dõi thí nghiệm và trả lời Điều này đặc biệt chú ý ở lớp 8 vì khả năng quan sát của
Trang 7học sinh còn phát triển lu ý học sinh quan sát việc thực hiện đúng đắn các thao tác thí nghiệm nh: cách lấy hoá chất rắn và lỏng, cách đun , cách sử dụng đèn cồn, đặc biệt cách lắp và kiểm tra dụng cụ, …
II Thí nghiệm của học sinh.
1) Thí nghiệm để nghiên cứu bài mới:
Tuy có nhiều u điểm nhng do khả năng nhận thức của học sinh có hạn ( chỉ bằng thị giác và thính giác) nên thí nghiệm biểu diễn còn có những mặt hạn chế Dù sao khi học sinh đợc trao dụng cụ tận tay và đợc thực hiện làm thí nghiệm thì việc làm quen với các dụng cụ , các chất và quá trình sẽ đầy đủ hơn ở đây học sinh tự tay điều khiển các quá trình và làm biến đổi các chất nên có sự phối hợp giữa hoạt động, trí óc với hoạt động chân tay trong quá trình nhận thức của học sinh Phơng pháp này có khả năng phát triển tốt nhất năng lực trí tuệ của học sinh , kích thích hứng thú của học sinh đối với hoá học, vì nó rèn luyện cho học sinh nhận thức và phân tích những dấu hiệu và hiện tợng cụ thể bằng kinh nghiệm riêng của chính mình , và thu hút của học sinh vào nhận thức đối tợng
Việc tổ chức cho học sinh làm thí nghiệm để nghiên cứu bài mới có thể thực hiện bằng 2 cách: Toàn lớp cùng làm một thí nghiệm hoặc từng nhóm những thí nghiệm khác nhau
Khi tiến hành thí nghiệm học tập theo nhóm, giáo viên cần theo dõi để các học sinh trong nhóm lần lợt đợc học, nếu không thì thí nghiệm của học sinh sẽ biến thành thí nghiệm biểu diễn trong đó chỉ do một số em khá phụ trách Nếu thí nghiệm phức tạp cần có sự phân công giữa các học sinh trong nhóm
Ví dụ: Trong thí nghiệm điều chế và thử tính chất của Oxi ở lớp có
thể 1 học sinh lắp dụng cụ điều chế và thu Oxi Các học sinh khác làm các thí nghiệm đốt cháy C,S, kim loại trong Oxi
Cũng nh thí nghiệm biểu diễn, thí nghiệm của học sinh có thể tiến hành theo phơng pháp minh hoạ và nghiên cứu
Ví dụ: Để nghiên cứu tính khử của H2 ở lớp 8 có thể cho học sinh tiến hành thí nghiệm khử CuO nhờ H2 bằng 2 phơng pháp trên nh sau :
+ Phơng pháp minh hoạ : Giáo viên cho biết Hiđo không những có thể hoá hợp với đơn chất Oxi của các hợp chất nh các oxít Nếu cho H2 qua CuO nung nóng nó sẽ chiếm Oxi của hợp chất này và tạo ra nớc , CuO màu đen tạo ra Cu đơn chất màu đỏ
Trang 8Học sinh thành lập PTHH: H2+ CuO Cu + H2O
Sau đó giáo viên cho học sinh tiến hành thí nghiệm vừa đợc mô tả Sau khi làm thí nghiệm, học sinh lấy những điều giáo viên trình bày đợc khẳng
định về mặt thực nghiệm
Phơng pháp nghiên cứu : Giáo viên đặt vấn đề : H2 có thể chiếm oxi của các oxit không ? Giáo viên hớng dẫn HS lắp dụng cụ và sử dụng các hoá chất ( đã chuẩn bị sẵn ) Trong quá trình GV hớng dẫn HS quan sát hiện t-ợng sảy ra , đặc biệt quan sát của CuO trớc và sau khi dẫn H2 qua CuO đun nóng (màu đen thành đỏ) đồng thời xuất hiện những giọt lỏng trên thành ống nghiệm và đáy ống nghiệm Từ đó rút ra kết luận H2 đã chiếm oxi của CuO tạo thành nớc và giải phóng kim loại Cu (màu đỏ)
Học sinh viết phơng trình hoá học : H2 + CuO H2 O + Cu
Phơng pháp nghiên cứu kích thích hoạt động tích cực của học sinh trong giờ hoá học hơn và tạo điều kiện phát triển kỹ năng làm việc độc lập
2) Thí nghiệm thực hành :
Hình thức thí nghiệm do học sinh tự làm khi hoàn thiện kiến thức nhằm minh hoạ , ôn tập , củng cố kiến thức đã học và rèn luyện kỹ năng , sử dụng dụng cụ và hoá chất Rèn luyện kỹ năng và kỹ thuật tiến hành thí nghiệm hoá học
Một trong những điều kiện giúp học sinh thực hiện thành công các thí nghiệm thực hành là học sinh đã đợc chuẩn bị trớc về mục đích của thí nghiệm , học sinh cần làm gì và làm nh thế nào , giải thích các hiện tợng xảy ra trong thí nghiệm, rút ra những kết luận đúng đắn dới sự hớng dẫn của giáo viên HS cần ôn lại những nội dung cần thiết trong SGK và đọc
tr-ớc bài thực hành GV cần xác định nội dung và phơng pháp tiến hành sao cho phù hợp với đặc điểm về nội dung và cơ sở vật chất thiết bị liên quan , phổ biến cho học sinh những việc cần chuẩn bị , dự kiến những tình huống xảy ra cần giải thích về lý thuyết … Các thí nghiệm đợc lựa chọn phải
đơn giản ở mức độ tối đa nhng phải rõ , dụng cụ đơn giản giá thành hạ , nhng vẫn đảm bảo các yêu cầu về khoa học và s phạm
Một giờ thực hành thờng đợc thực hiện theo trình tự sau đây : Đầu giờ giáo viên kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh , giải thích ngắn gọn cách tiến hành thí nghiệm , cách quan sát và ghi chép để làm tờng trình thí nghiệm
Lu ý học sinh những qui tắc , thao tác … đặc biệt là đảm bảo an toàn trong thí nghiệm Khi HS làm thí nghiệm , GV theo dõi và uốn nắn những
Trang 9sai sót khi cần thiết nhng tránh không làm thay HS Trong điều kiện hiện nay , do khả năng trang bị hoá chất còn hạn chế , nội dung giờ thực hành thờng phải chia thành từng nhóm lớn nên cần có sự phân công việc làm rõ ràng giữa các học sinh trong nhóm , nhng tránh không nên để HS chỉ chuyên làm 1 nhiệm vụ mà phải thay đổi trong mỗi buổi , hay giờ làm thí nghiệm Cuối giờ thực hành mỗi HS phải hoàn thành bản tờng trình thí nghiệm Các mẫu tờng trình nên đơn giản và thờng làm các mục sau:
- Tên thí nghiệm
- Mô tả thí nghiệm và hình vẽ ( nếu cần)
- Mô tả những hiện tợng quan sát đợc
- Giải thích và kết luận viết phơng trình hoá học
Sau cùng GV hớng dẫn HS rữa sạch các dụng cụ thí nghiệm xắp xếp ngăn nắp các hoá chất và dụng cụ thí nghiệm vào đúng nơi qui định
3) Thí nghiệm ngoại khoá hoá học
Trong dạy – học hoá học không những chỉ yêu cầu HS tiếp thu kiến thức
cụ thể một cách vững chắc về cơ sở khoa học , mà còn yêu cầu các em từng bớc có kỹ năng kỹ xảo vận dụng kiến thức đã học để giải thích các hiện t ợng trong tự nhiên, trong đời sống lao động và sản xuất Vì vậy để đáp ứng yêu cầu trên bên cạnh các thí nghiệm trong lớp, còn có thí nghiệm ngoài lớp học (thí nghiệm ngoại khoá) Thí nghiệm ngoại khoá bao gồm ngoài lớp học thực hiện ở trờng dới hình thức các tổ ngoại khoá hoá học và thí nghiệm quan sát thực hành ở nhà
a) Thí nghiệm ngoài lớp học thực hiện ở trờng
Bao gồm:
Các thí nghiệm vui giúp HS hứng thú áp dụng kiến thức vào thực tiễn
Ví dụ: + Th viết bằng “ mực bí mật” từ dung dịch xáccarorơ ( C12H22O11) + Th viết bằng nớc cơm ( dung dịch hồ tinh bột)
Các thí nghiệm nhận biết các chất nh nhận biết về các loại phân hoá học , các loại len tơ lụa….….….….….….….….….…
….….…
Tuy nhiên do cơ sở vật chất các trờng nói chung còn hạn chế nên các thí nghiệm này ít đợc thực hiện
Tiến hành thí nghiệm thực hiện ở nhà là một hình thức làm lập của HS,giúp các em tiếp thu 1 cách tự giác hứng thú đối với môn học Mặt khác góp phần
Trang 10phát triển t duy, rèn luyện kỷ năng thực nghiệm và tạo điều kiện thiết lập việc liên hệ giữa các hiện tợng hoá học, giữa những thuyết và định luật đã học với thực tiễn cuộc sống hàng ngày
Muốn vậy giáo viên phải hớng dẫn HS tự chế tạo 1 số dụng cụ và tự kiếm
1 số hoá chất sẵn có trong tự nhiên , gia đình và xã hội Các hoá chất đó phải
là những chất không độc, không dễ cháy, không làm hỏng quần áo
Giáo viên có thể hớng dẫn HS làm 1 số đề tài thực hành sau :
Thí nghiệm 1: Lọc nớc đục
Yêu cầu HS quan sát và trả lời câu hỏi Sau mỗi tuần ma rào nớc ở hồ, ao
có những biểu hiện thay đổi nh thế nào ? nguyên nhân ?
GV hớng dẫn HS cách lọc nớc đục Có thể dùng phễu lọc qua bông hoặc vải Ghi chép kết quả thí nghiệm và giải thích
Thí nghiệm 2: Độ hoà tan của không khí trong nớc.
- Đặt cốc nớc lạnh vào cạnh bếp nóng Quan sát sự xuất hiện các bọt khí
ở thành cốc Giải thích hiện tợng
- Quan sát khi nớc đợc đun nóng trong các xoang , nồi trên xoang nồi xuất hiện ngày càng nhiều bọt khí Hãy giải thích đó là những khí gì và tại sao chúng thoát khỏi nớc dới dạng bọt khí khi đun nóng
Thí nghiệm 3: Chứng minh không khí là 1 hỗn hợp
Gắn chân cây nến vào giữa 1 đĩa con Rót nớc vào đỉa cho gần đầy đến mép
Đốt nến đồng thời đậy bằng cốc úp ngợc Lắc nhẹ cốc nhng không nhấc cốc lên khỏi mặt nớc trong đĩa , sau khi nến trong cốc tắt 1 thời gian quan sát mực nớc trong cốc Giải thích hiện tợng
Thí nghiệm 4: Cất nớc
Đun nớc trong 1 ấm nhôm , khi nớc sôi hãy để nghiêng miệng 1 chén sứ hoặc cốc thuỷ tinh phía trên vòi ấm chỗ hơi nớc bay ra Sau chừng 2 đến 3