Do đó, con người làmột thực thể sinh học – xã hội, theo quan điểm của nhân học hiện đại, ngườiđược xếp vào loài động vật bậc cao, phân cấp dưới loài là các chủng tộctương đương cấp chủng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 2MỤC LỤC
DANH SÁCH SƠ ĐỒ
DANH SÁCH BẢN ĐỒ
DANH SÁCH BẢNG BIỂU
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Các đặc điểm khác nhau rõ rệt về vóc dáng và hình thức bên ngoài (màu
da, màu tóc, màu mắt, hình dáng ,mũi, mặt…) giữa người với người đã làmnên một xã hội loài người vô cùng phức tạp Chính điều này đã làm cho người
ta nghĩ rằng những nhóm người khác nhau có nguồn gốc khác nhau Tuynhiên, khoa học đã chứng minh, về mặt sinh học, toàn thể nhân loại hiện naytrên Trái Đất, dù có màu da, màu tóc, hình dáng khác nhau nhưng đều cóchung một nguồn gốc, xuất phát từ một loài duy nhất – Homo Sapiens - trảiqua quá trình tiến hóa lâu dài hình thành Nhờ có quá trình lao động với đôibàn tay khéo léo mà con người vươn lên làm chủ thế giới Do đó, con người làmột thực thể sinh học – xã hội, theo quan điểm của nhân học hiện đại, ngườiđược xếp vào loài động vật bậc cao, phân cấp dưới loài là các chủng tộc(tương đương cấp chủng loài trong hệ phân loại động thực vật)
Các chủng tộc trên thế giới được phân biệt thông qua một số tiêu chí vềmặt sinh học, có những nét đặc trưng riêng do ảnh hưởng bởi nhiều nhân tốđịa lí Chính vì sự khác nhau này mà trong xã hội tồn tại một số tư tưởng về
sự phân biệt các chủng tộc có nguồn gốc khác nhau, có những chủng tộc sinh
ra thông minh hơn để làm chủ và những tộc người thấp hèn phải là nhữngngười nô lệ Đây là một trong những nguyên nhân tạo ra những bất công trong
xã hội, những xung đột giữa các nhóm người, gây ảnh hưởng đến quá trìnhphát triển kinh tế, những bất ổn chính trị - xã hội, chất lượng cuộc sống củamột số nhóm người vẫn đang tồn tại ở nhiều nơi trên thế giới
Đối với địa lí, việc tìm hiểu và nhìn nhận đúng đắn vai trò, đặc điểm,tầm quan trọng của con người trong tự nhiên và trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội là một nhiệm vụ quan trọng Nhất là khi sự phân biệt chủng tộc vẫntiếp tục tạo nên nhiều vấn đề bất ổn về chính trị - xã hội như hiện nay, việcchỉ ra các chủng tộc chỉ là sự khác nhau thuần túy theo đặc tính sinh học dựatrên những đặc điểm thân thể bên ngoài, kết quả của quá trình thích ứng lâudài của con người với hoàn cảnh tự nhiên chứ không phải là sự chênh lệch vềtrình độ trí tuệ là một trong những minh chứng quan trọng góp phần làm thayđổi quan điểm phân biệt sai lầm Đây là một trong những cơ sở để chứngminh cho sự bình đẳng giữa các cộng đồng người và việc đảm bảo công bằng
Trang 4về quyền con người trong xã hội, đấu tranh chống lại sự phân biệt và kì thịchủng tộc trong xã hội
Trong quá trình xây dựng và phát triển các chính sách kinh tế - chínhtrị - xã hội cần đặt trong nhiều mối liên hệ, trong đó có sự quan tâm liên quanđến vấn đề chủng tộc bằng quan điểm tôn trọng và bình đẳng Nắm vững kiếnthức này còn giúp mỗi chúng ta có cái nhìn nhân văn hơn trong cuộc sống củamình, nhất là đối với những vấn đề về chủng tộc – dân tộc ở trên thế giới, khu
vực và ở Việt Nam chính vì vậy nhóm chúng em chọn: “Chủng tộc dưới góc
độ địa lý” làm vấn đề nghiên cứu.
2 Mục tiêu đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định là: Nghiên cứu vấn đềchủng tộc, nhằm mục đích khái quát hóa một số vấn đề liên quan đến chủngtộc để thấy được bức tranh toàn cảnh về vấn đề này trên thế giới và ViệtNam, có cái nhìn đúng đắn và hành động đúng khi gặp những người khácmàu da và sắc tộc
3 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của các vấn đề liên quan đếnchủng tộc
- Xác định được đặc điểm và sự phân bố của các chủng tộc trên thế giới
- Liên hệ các chủng tộc ở khu vực Đông Nam Á và Việt Nam
- Tìm hiểu các vấn đề liên quan đến chủng tộc, trong đó tập trung vào vấn đềphân biệt chủng tộc với nhiều hình thức đa dạng, diễn biến phức tạp như hiệnnay, phân tích một số trường hợp cụ thể
Trang 54 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu đề tài
Phạm vi nghiên cứu: trên toàn thế giới liên hệ với khu vực Đông Nam Á vàViệt Nam
Giới hạn về nội dung: Chủ yếu nghiên cứu về một số vấn đề chủng tộctrên thế giới và Việt Nam, những nỗ lực của thế giới đối với vấn đề chủng tộc
và phân biệt chủng tộc Đề tài không đi sâu vào việc giải quyết toàn bộ cácnội dung liên quan đến vấn đề chủng tộc, các vấn đề nêu ra chỉ mang tính kháiquát, trong đó vấn đề phân biệt chủng tộc được quan tâm đặc biệt
Giới hạn về không gian: Do địa bàn nghiên cứu tương đối rộng về mặtlãnh thổ nên trong quá trình nghiên cứu, đề tài chỉ đề cập mức độ tổng quan
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Các quan điểm nghiên cứu
5.1.1 Quan điểm tổng hợp:
Đây là hệ quan điểm quan trọng nhất trong nghiên cứu địa lý Quanđiểm này yêu cầu phải phân tích đối tượng được nghiên cứu như một hệthống động trong các mối liên hệ biện chứng giữa đối tượng và chỉnh thể
mà bản thân nó là yếu tố cấu thành
Khi nghiên cứu bất cứ một đối tượng, hiện tượng tự nhiên hay kinh tế
-xã hội đều phải gắn với một lãnh thổ cụ thể nào đó, với đầy đủ các điều kiện
và đặc điểm riêng biệt, hoàn toàn khác các lãnh thổ xung quanh Chính cácđặc điểm này có tác động đến sự phát sinh, phát triển và biến động của cáchiện tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội của lãnh thổ đó Các hiện tượng địa líkinh tế- xã hội rất phong phú và đa dạng Chúng có quá trình hình thành, pháttriển trong mối liên hệ nhiều chiều giữa bản than các hiện tượng đó với nhau
và giữa chúng với các hiện tượng khác Để có kết quả nghiên cứu khách quankhoa học, trong các nghiên cứu địa lí kinh tế- xã hội nhất thiết phải sử dụngquan điểm tổng hợp
Trên thế giới và Việt Nam đề tài chủng tộc cần được nghiên cứu từnhiều góc độ từ lịch sử hình thành, vị trí địa lí đến điều kiện tự nhiên và kinh
tế - xã hội ảnh hưởng tới các chủng tộc trên thế giới
Trang 65.1.2 Quan điểm hệ thống
Quan điểm hệ thống trong vài thập kỉ gần đây thường được sử dụngtrong nghiên cứu địa lí kinh tế- xã hội phần cốt lõi của quan điểm này là đốitượng nghiên cứu được coi là một hệ thống Quan điểm hệ thống cho phépnghiên cứu bản chất của các sự vật bởi theo quan điểm của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng, các sự vật trong tự nhiên tồn tại như một hệ thống bao gồm cácthành phần cấu tạo có quan hệ tác động với nhau rất chặt chẽ Khi có sự tácđộng làm thay đổi một trong các thành phần của hệ thống sẽ kéo theo sự thayđổi của các thành phần khác trong tổng thể và toàn bộ hệ thống
Vận dụng quan điểm hệ thống trong việc thực hiện đề tài đòi hỏi phảixem xét vấn đề chủng tộc trên nhiều phương diện với thành phần và bộ phậnkhác nhau Trong hệ thống đó có sự tác động qua lại giữa các thành phần làmcho hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng động, tồn tại phản ứng dây chuyềntrong sự tương tác giữa các thành phần hệ thống.Theo quan điểm hệ thống,các chủng tộc trên thế giới được hình thành và phát triển dựa trên các yếu tốlịch sử và yếu tố kinh tế- xã hội
5.1.3 Quan điểm thực tiễn
Mọi vấn đề kinh tế - xã hội đều phải xuất phát từ hiện tượng thực tế,gắn liền với thực tiễn, phục vụ cho thực tiễn phát triển xã hội
Dựa trên quan điểm này đề tài đã chỉ ra được tính cấp thiết của vấn đề,những mâu thuẫn, khó khăn, những trì trệ yếu kém của vấn đề chủng tộc, tìm
ra được nguyên nhân, bản chất của vấn đề từ đó tìm ra phương thức giảiquyết
5.1.4 Quan điểm lịch sử- viễn cảnh
Mỗi một hiện tượng địa lí kinh tế- xã hội đều tồn tại trong một thờigian, không gian nhất định Nói cách khác các hiện tượng này có quá trìnhphát sinh, phát triển, tiêu vong.Quan điểm nàu đòi hỏi phải nhìn nhận quá khứ
để lí giải ở mức độ nhất định cho hiện tại và dự báo tương lai phát triển củahiện tượng đó Nếu tách rời quá khứ khỏi hiện tại thì khó có thể giải thíchthỏa đáng sự phát triển ở thời điểm hiện tại và nếu không chú ý đến tương laithì ngành khao học này sẽ mất đi khả năng dự báo
Trang 7Bất kỳ một đối tượng, hiện tượng nào đều có quá trình phát triển riêngcủa nó và để đánh giá được bản chất, định hướng tương lai vận động chochúng ta đề phải nhìn nhận trong một khoảng thời gian nhất định Đối với đềtài nghiên cứu này cũng vậy, nó cần được xem xét trong một giai đoạn đềkhông những đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà còn có kiến nghị và nhữnggiải pháp khả thi trong tương lai.
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Phương pháp thu thập tài liệu là phương pháp truyền thống được sửdụng trong các nghiên cứu nói chung và nghiên cứu địa lí kinh tế- xã hội nóiriêng Khoa học không thể phát triển nếu thiếu tính kế thừa, thiếu sự tích lũynhững thành tựu của quá khứ
Các nguồn tài liệu cần thu thập tương đối đa dạng, phong phú: Số liệuđược thu thập bằng cách lấy từ những nguồn đáng tin cậy: hợp tài liệu, sáchbáo và các tạp chí lý luận nghiên cứu giáo trình … và các trang web uy tín cóliên quan đến việc xây dựng những cơ sở lý luận và thực tiễn Các tài liệu baogồm các tài liệu đã được xuất bản, của các cơ quan lưu trữ, tài liệu trên mạngInternet…
Đối với nghiên cứu vấn đề chủng tộc, nhóm chúng tôi quan tâm đếncác dạng thông tin sau:
- Trình bày bằng các văn bản ( bách khoa toàn thư, sách, tạp chí, kết quả cácchương trình, đề tài nghiên cứu có liên quan…)
- Số liệu thống kê
- Bản đồ, ảnh
- Các dạng khác ( trên mạng…)
Trang 85.2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
Tiến hành xử lí các thông tin thu thập được từ các tài liệu, số liệu từcác nguồn kết hợp với việc tham khảo các công trình nghiên cứu khoa học cóliên quan Phân tích, đánh giá tổng hợp các thông tin thu thập được để đưa rakết quả nghiên cứu chính thức theo mục đích, nội dung nghiên cứu của đề tàiđược sử dụng để xử lý, tính toán các số liệu thống kê
Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã vận dụng triệt để cácphương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, sách báo và các tạp chí lý luậnnghiên cứu giáo trình và các vấn đề có liên quan đến việc xây dựng những cơ
sở lý luận và thực tiễn của các vấn đề liên quan tới chủng tộc trên thế giới vàViệt Nam
5.2.3 Phương pháp bản đồ
Phương pháp bản đồ là một phương pháp rất đặc trưng cho các nghiêncứu về địa lí học nói chung và địa lí kinh tế- xã hội nói riêng bởi vì mọinghiên cứu thuộc lĩnh vực này đều mở đầu và kết thúc bằng bản đồ
Đối với địa lí kinh tế- xã hội, ý nghĩa to lớn của bản đồ là góp phần giảiquyết nhiều nội dung nghiên cứu như đánh giá các nguồn lực, phân tích hiệntrạng theo ngành và theo lãnh thổ cũng như đề xuất các định hướng phát triểntrong tương lai Ngày nay phương pháp bản đồ ngày càng hoàn thiện và đemlại hiệu quả trong nghiên cứu nhờ kĩ thuật viễn thám về hệ thống thong tin địa
lí (GIS)
Sử dụng những bản đồ như những tài liệu tham khảo bổ ích cho việcnghiên cứu đề tài “Chủng tộc dưới góc độ địa lí”
Trang 96 Cấu trúc đề tài
Đề tài bao gồm những nội dung sau:
Phần mở đầu
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
1 Khái niệm chủng tộc và các vấn đề liên quan
Trang 10Thuật ngữ chủng tộc (race) có sự giải thích khác nhau Có người cho
rằng nguồn gốc thuật ngữ bắt nguồn từ Ả Rập “ras” nghĩa là “ xuất xứ”, “banđầu” Một số khác giait thích từ chữu “Razza” của Ý có nghĩa là “bộ lạc” Từ
“chủng tộc- race” với ý nghĩa như ngày nay lần đầu tiên được sử dụng từ nhàbác học người Pháp Phowrranxoa Bécnê (Francois Berniêr) được ra và ápdụng từ năm 1684 Theo đó: khi nhìn vào một người châu Âu, châu Á, châuPhi chúng ta có thể dễ dàng phân biệt được người đó thuộc kiểu chủng tộcnào Do giữa các chủng tộc có những đặc điểm hình thái nhue màu mắt, màutóc rất khác nhau mà chúng ta không thể nhầm lẫn được đó là những đặcđiểm di truyền về hình thái, sinh lí mà tùy vùng địa lí nhất định mà có sựukhác nhau đó Từ đó có một số khác niệm được đưa ra để giải nghĩa :chủngtộc”:
Theo quan điểm của các nhà địa lí: Chủng tộc là một quần thể (hay tập hợp
quần thể mà ta quen gọi là những nhóm người) đặc trưng bởi những đặc điểm
di truyền về hình thái – sinh lý mà nguồn gốc và quá trình hình thành củachúng liên quan đến một vùng địa vực nhất định Hay nói cách khác, chủngtộc là những nhóm người hình thành trong lịch sử ở một vùng địa lý nhấtđịnh, có một số đặc trưng hình thái giống nhau, mang bản tính di truyền.Chủng tộc là yếu tố sinh vật học, không phải là yếu tố xã hội
Các nhà sinh vật học cho rằng: Chủng tộc thường dùng để chỉ những phân
loại của con người trong quần thể hoặc dựa vào nhóm tổ tiên, trên cơ sở tậphợp khác nhau của đặc tính di truyền Những đặc điểm lý học thường thấy lànhững đặc điểm nổi bật về thị giác như màu da ,sọ hoặc các đặc tính củakhuôn mặt và kiểu tóc
Theo tài liệu của Ủy ban dân số và dân tộc quốc tế: chủng tộc là những
nhóm người hình thành trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định có một sốđặc điểm chung trên cơ thể mang tính di truyền
Theo bách khoa tri thức: thuật ngữ “chủng tộc” chỉ là khái niệm thuộc phạm
trù phân loại về sinh học Và đây chỉ là phương pháp để phân loại các phụchúng loài người thành những đơn vị nhỏ hơn căn cứ trên đặc điểm sinh học
đã được xác định
Trước đây nhân học coi chủng tộc là một tập hợp cá thể có những đặc
điểm tương đồng Do đó, đã hình thành nguyên tắc loại hình trong phân loạicác chủng tộc mà nội dung chủ yếu là chỉ dựa vào sự kết hợp trừu tượng các
Trang 11đặc điểm hình thái Cách phân loại đó không phải là sự tập hợp đúng đắn cácchủng tộc căn cứ trên quan hệ gần gũi thực giữa chúng.
Hiện nay, những hạn chế của định nghĩa cổ điển về chủng tộc đã được
bổ sung trên cơ sở những nhận thức mới Đó là vai trò của khu vực địa lýtrong quá trình hình thành chủng tộc Chủng tộc không phải là một tập hợp
cá thể gộp lại căn cứ vào những tương đồng mà là một tập hợp quần thể
Theo định nghĩa của ngành nhân chủng học: Chủng tộc là một quần thể dân
cư từ bẩm sinh đã có đầy đủ những yếu tố di truyền tổng hợp và biểu lộ thànhđặc điểm cơ thể
Quần thể dân cư là một tập hợp những người đã sinh sống với nhau từxưa cho đến nay trên một lãnh thổ nhất định Việc những quần thể dân cưchiếm ngữ một lục địa hay một khu vực địa lý riêng biệt mang theo những tácđộng lâu dài về sau, họ sinh sôi nảy nở và phát triển những dị biệt di truyềnqua những tiến trình vận động như sàng lọc tự nhiên, biến đổi di truyền và sựlai tạp chủng tộc [14]
Yếu tố bẩm sinh, di truyền nghĩa là những người cùng chung mộtchủng tộc thường giống nhau một số đặc điểm cơ thể vì họ sở hữu cùng một
số gien chung mà những quần thể dân cư khác không có hoặc có nhưng sốlượng có sự khác biệt lớn Các loại gien này được phân truyền qua việc giaophối thuần chủng hoặc giao phối tạp chủng trong phạm vi quần thể Mỗi quầnthể dân cư sở hữu một nguồn dự trữ gien và tính bẩm sinh là kết quả của sựtách biệt cô lập và biến đổi trong giới hạn Không gian và những yếu tố địavăn là tác nhân cơ bản của sự di truyền bẩm sinh Sự cô lập giữa những conngười với nhau thường có nguyên nhân do địa lý hoặc khoảng cách xã hội.Biến thiên về địa lý và xã hội có thể là nguyên nhân gây ra sự tan rã củachủng tộc trong khi đó sự cô lập về địa lý hay xã hội có thể là nguồn gốc phátsinh những chủng tộc mới
Đặc điểm cơ thể là một vấn đề còn khá nhiều tranh cãi, đặc điểm nào là
cơ bản, đặc điểm nào không cơ bản, đặc điểm nào cần xem xét và đặc điểmnào cần loại bỏ Có những đặc điểm đơn lẻ cùng tồn tại ở nhiều chủng tộc vàtoàn bộ các đặc điểm đan xen và kết nối với nhau tạo thành những đặc trưng
Trang 12của chủng tộc Hiếm có một cá nhân nào mang trong mình đầy đủ tất cả cácđặc điểm đặc trưng của chủng tộc và các đặc điểm của chủng tộc chỉ là những
mô thức lí tưởng mang tính trung bình cộng, phổ biến của nhiều cá nhân
Vì vậy, có thể hiểu một cách đơn giản: Chủng tộc là những nhóm người
hình thành trong lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, có một số đặc điểmchung trên cơ thể mang tính di truyền Những dấu hiệu cơ bản để phân loạichủng tộc là các đặc điểm hình thái bề ngoài cơ thể, trong đó những đặc điểm
dễ nhận thấy nhất là màu da, dạng tóc, hình dạng hộp sọ, sống mũi, môi, tầmvóc…[2] Hay nói một cách khác, chủng tộc là những nhóm người có các đặctrưng hình thái giống nhau, được di truyền từ này qua đời khác Chủng tộc làyếu tố sinh vật học, không phải yếu tố xã hội, tuy nhiên lại chịu ảnh hưởng vàtác động của yếu tố xã hội và không gian địa lý
Các khái niệm liên quan:
* Bộ lạc (xã hội Nguyên thuỷ), gồm hai loại hình:
Bộ lạc giai đoạn sớm (Loại hình cộng đồng người cổ nhất của những con người hiện đại, hình thành từ các bào tộc (cũng có thể là từ bầy người nguyên thủy) thông qua sự tự phân chia; các đặc trưng văn hoá, tổ chức xã hội cơ bản
là trùng khớp nhau; có tên gọi riêng, truyền thuyết về nguồn gốc riêng, lãnh thổ riêng, cung cách sinh sống riêng; các bộ lạc cùng liên minh thường ít có
sự cách biệt về ngôn ngữ (thổ ngữ), đặc trưng văn hoá, kinh tế và xã hội, )
Bộ lạc giai đoạn muộn (là tiền thân của các cộng đồng người của xã hội có giai cấp; đã hình thành các tổ chức tiền thân của bộ máy hành chính; đã hình thành các liên minh bộ lạc, hội đồng liên minh các thủ lĩnh quân sự; )
* Bộ tộc (các xã hội có giai cấp tiền Tư bản) Đó là cộng đồng gồm những
người có mối liên hệ về văn hoá, kinh tế, lãnh thổ, láng giềng Bộ tộc bao gồm bộ phận thống trị xã hội và bộ phận bị trị (phụ thuộc), tức là, đã có sự phân biệt rõ ràng về địa vị kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá
Trang 13*Tộc người: Thuật ngữ tộc người xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XIX, ban
đầu nó được dùng để chỉ các nhóm tộc người, hay đơn vị tộc người
Tộc người là khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng người được hìnhthành trong quá trình lịch sử với những đặc trưng chung: cùng tiếng nói, cùng
ý thức tự giác tộc người, cùng tên tự gọi, cùng bản sắc văn hóa
Tộc người lả một phạm trù lịch sử, ra đời, biến đổíf phát triển hoặc tiêu vong
gắn với những điều kiện lịch sử cụ thể nhất đinh.
Quá trình, tộc người là quá trình vận động, biến đổi của tộc người trong những điều kiện lịch sử, cụ thể và trong toàn bộ tiến trình lịch sử trước
sự tác động của các yếu tố tự nhiên và các nhân tố xã hội.
Nghiên cứu sự tác động của các yếu tố tự nhiên đến quá trình tộc ngườicho thấy các tộc người cư trú ớ những khu vực có điều kiện tự nhiên thuận lợi
sẽ tác động tích cực đến sự phát triển của tộc người Các đặc điểm quản cư.tính cộng đồng tập trung hay phân tán, trinh độ phát triền kinh tế-xã hội vảbản sắc văn hóa in đậm dấu ấn của các yếu tố tự nhiên Thực tế cho thấy, dotác động cùa hoàn cảnh, môi trường tự nhiên, có tộc người sớm định cư ổnđịnh, hình thành và phát triền nền văn minh rất rực rỡ, trình độ phát triển kinh
tế cao, sớm phát triền thành quốc gia dân tộc và ngày càng lớn mạnh Ngượclại, do yếu tố tự nhiên không thuận lợi, nhiều tộc người lâm vào tình trạng trìtrệ, chậm phát triển, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, phân tán, phải du canh du cư,hoặc thiên di đến lãnh thổ khác Sự tác động của yếu tố tự nhiên có ảnhhưởng rất lớn tới quá trình tộc người trong các thời đại lịch sử trước đây khi con người còn phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự nhiên
*Dân tộc: được hiểu theo hai nghĩa:
Nghĩa hẹp : Dân tộc chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền
vững, có chung sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng, có những nét đặc thù về văn hoá; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát triển cao hơn những nhân
tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó Theo nghĩa này dân tộc là một bộ phận của quốc gia, là dân tộc - tộc người
Trang 14Nghĩa rộng: Dân tộc chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân
một nước, có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có
ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Theo nghĩa này dân tộc là dân cưcủa một quốc gia nhất định, là quốc gia - dân tộc
Khái niệm tộc người và dân tộc có nhiều điểm tương đồng nhưng trongthực tiễn cũng như khoa học dân tộc và tộc người (Nation và Ethnie/Ethnic)không thể là một, mà đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Cần phânbiệt khái niệm "tộc người" với khái niệm "dân tộc" Khái niệm dân tộc dùng
để chỉ một cộng đồng người ổn định, hình thành trong lịch sử với những đặctrưng chung về ngôn ngữ, lãnh thổ, kinh tế, tâm lý, văn hóa, với tính cách làmột quốc gia dân tộc, có chế độ kinh tế, thể chế chính trị I xã hội nhất định.Thông thường trong một quốc gia dân tộc có nhiều tộc người sinh sống.Trongkhi Dân tộc (Nation) phải là một cộng đồng chính trị, bao gồm cư dân củamột quốc gia có chung một nhà nước, một chính phủ, có luật pháp thống nhất,
…thì Tộc người (Ethnic/Ethnie) là cộng đồng mang tính tộc người, khôngnhất thiết phải cư trú trên một cùng lãnh thổ, có chung một nhà nước, dưới sựquản lý điều hành của một chính phủ với những đạo luật chung thống nhất
Thực tiễn ở Việt nam cho thấy, các khái niệm dân tộc và tộc người đều
đã, đang và sẽ đồng thời tồn tại Khái niệm dân tộc được dùng để chỉ Dân tộc Việt Nam (tất cả những người là công dân Việt Nam, sinh sống trên đất Việt Nam và Việt kiều ở nước ngoài) Tuy thế, dân tộc cũng được dùng để chỉ các cộng đồng tộc người cụ thể như dân tộc Chăm, dân tộc Tày, dân tộc Việt (Kinh), dân tộc Mảng, dân tộc Sán Dìu,…
Với nhận thức trên, trong thế giới hiện đại của chúng ta ngày nay, đang tồn tại
các loại hình cộng đồng dân tộc và cộng đồng tộc người, [3] Trên thế giới,
đa số các quốc gia đều là Quốc gia đa dân tộc, tức là cộng đồng cư dân ở đógồm nhiều tộc người Trong những trường hợp này, khái niệm dân tộc và tộcngười trùng khớp nhau Tuy vậy cũng có quốc gia chỉ có một tộc người (TriềuTiên,…), trong trường hợp này dân tộc được hiểu là tộc người cũng khôngsai
Trang 15* Quốc gia dân tộc
Quốc gia dân tộc (Nation) là một cộng đồng người cùng sống trong một
thể chế chính trị, một chính phủ, một nhà nước, một pháp luật, sử dụng ngônngữ hành chính quốc gia và có chủ quyền về lãnh thổ Lãnh thổ của quốc gia
là bất khả xâm phạm từ đó hình thành nên sứ mệnh lịch sử đối với tổ quốc
Qua các khái niệm trên ta thấy rõ, khái niệm chủng tộc chỉ đề cập về
mặt sinh lý của con người, đó là tính chất di truyền về đặc điểm hình sinh lí, liên quan đến khu vực mà nó phát sinh Khái niệm quốc gia dân tộc thì
thái-đề cập chủ yếu về mặt chính trị, chủ quyền lãnh thổ Khái niệm tộc ngườinhấn mạnh về tính văn hóa của tộc người ấy Đó là bản sắc đặc trưng riêng của nền văn hóa là tiếng mẹ đẻ, ý thức tự giác tộc người Ví dụ:
- Chủng tộc Mongoloit ( da vàng) tập tủng phân bố ở vùng Đông Á, Nam Á,
Trung tâm châu Á, châu Mỹ… có những đặc điểm chung là da xám màu cóánh vàng hoặc ngăm đen, mắt và tóc đen, tóc thẳng, cứng, mũi tẹt… Trong một chủng tộc bao gồm nhiều quốc gia, nhiều tộc người khác nhau
- Quốc gia dân tộc là quốc gia đơn tộc với số dân thuần gốc chiếm đến 90% dân số ví dụ như Nhật Bản là quốc gia dân tộc lớn nhất với dân số thuần gốcNhật Bản là trên 120 triệu người Hay Việt Nam là quốc gia với 54 dân tộc
Trang 16anh em nhưng trong đó người Kinh (nguời Việt) chiếm đa số 90% 54 dân tộc
an hem cùng chung sống trên một lãnh thổ bất khả xâm phạm cùng một thểchế chính trị, có ngôn ngữ hành chính quốc gia (tiếng Việt)… Từ đó một quốcgia dân tộc có thể gồm một tộc người hoặc có nhiều tộc nguời cùng sinh sống
- Tộc người: Việt Nam có 54 tộc người đại diện cho 54 nền văn hóa đậm đà
bản sắc nói thứ ngôn ngữ riêng là tiếng mẹ đẻ như tiếng Ba Na, Ê Đê, Thái…
có ý thức tự giác tộc người
2 Nguồn gốc hình thành loài người và các đại chủng tộc
Các chủng tộc trên trái đất hiện nay có một thời gian và quá trình hìnhthành phức tạp Vấn đề quá trình hình thành các chủng tộc gắn bó mật thiếtvới vấn đề nguồn gốc loài người Hiện tại, có hai quan điểm lớn đó là:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng quá trình hình thành chủng tộc khác với quátrình hình thành loài người;
- Quan điểm khác lại cho rằng quá trình hình thành chủng tộc cũng đồng thờivới việc hình thành con người
Từ khi vấn đề chủng tộc được quan tâm nghiên cứu đến nay thì nguồngốc loài người và việc chuyển biến từ vượn thành người nhờ quá trình tác
động vào tự nhiên còn có nhiều tranh cãi Có hai giả thuyết được đưa ra nhằm
lý giải cho sự hình thành loài người [11]
Thuyết đa vùng ( multiregional theory) cho rằng người hiện đại homo sapiens
là hậu duệ của nhiều dòng người homo erectus ( sống cách đây khoảng 1-2
triệu năm) xuất hiện ở các châu lục khác nhau
Thuyết đơn nguồn (monogenesis theory) còn được gọi là thuyết ngoài châu
Trang 17Phi cho rằng người hiện đại đầu tiên xuất hiện ở châu Phi cách đây khoảng100.000-150.000 năm Họ đã di cư đến sinh sống ở các vùng khác nhau trêntrái đất và hình thành các chủng người khác nhau hiện nay.
Tuy nhiên, với sự ra đời của chủ nghĩa Mác thì vấn đề nguồn gốc loàingười đã được giải quyết đúng đắn và khoa học Trên cơ sở chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và duy vật lịch sử, Mác và Ănghen đã dựa vào tài liệu của sinh vậthọc và các khoa học xã hội, dựa vào các học thuyết về tự nhiên và xã hội đểgiải quyết vấn đề hình thành con người
Vai trò của lao động đã được Ănghen trình bày trong tác phẩm “Tác động của lao động trong sự chuyển biến từ vượn thành người” Mác trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” cũng chỉ ra rằng “Con người bằng lao động của mình đã tách ra khỏi trạng thái thú vật” Nguồn gốc hình thành loài người là
từ vượn thông qua lao động sản xuất Theo các nhà khoa học thì hiện nay trênthế giới có 4 loài vượn có thể liên quan đến nguồn gốc loài người là Gipbông
(vượn tay dài), Ôrăngôtăng (đười ươi), Simpangiê (vượn đen) và Gôrila.
Trong đó, loài Simpangiê về cấu tạo cơ thể là giống người hơn cả
Các nhà nhân học, khảo cổ học căn cứ vào sự biến đổi về đặc điểm cơ thể conngười đã chia quá trình hình thành con người như sau:
• Vượn người (tiền thân của con người)
• Người tối cổ (người vượn), Pitêcantrốp
• Người cổ: Nêanđéctan
• Người hiện đại: Hômôsapiens
Đặc điểm cơ bản nhất để phân biệt người với động vật là lao động.Con người trong quá trình tiến hóa và phát triển đã biết chế tạo và sử dụngcông cụ lao động theo những mục đích nhất định để đảm bảo sự sinh tồn vàphát triển, tự vệ, làm chủ thiên nhiên Bằng công cụ lao động con người đã tácđộng vào tự nhiên, cải tạo và làm biến đổi môi trường, khai thác tự nhiên đểphục vụ cho đời sống
Có 4 sự kiện quan trọng trong qua trình tiến hóa và phát sinh loài người:
+ Thứ nhất, bàn tay trở thành cơ quan chế tạo công cụ lao động và là sảnphẩm hoàn thiện do lao động
+ Thứ hai là sự phát triển tiếng nói có âm tiết
Trang 18+ Thứ ba, quan trọng nhất là sự phát triển bộ não và hình thành ý thức, tưduy Nhờ có trí khôn, tổ tiên loài người đã phát triển vượt lên tất cả các độngvật khác Đây là điểm căn bản phân biệt người với động vật.
+ Thứ tư chính là sự hình thành đời sống văn hoá làm cho loài người thoátkhỏi đời sống bầy đàn chuyển sang đời sống xã hội
Cách đây trên dưới 2 triệu năm, người hiện đại Hômôsapiens đượchình thành từ quá trình tiến hoá của người Nêanđéctan Theo các tài liệu cổnhân học cho biết, người Nêanđéctan đã cư trú trên một phạm vi rất rộng ởChâu Á, Châu Phi và Châu Âu Tuy nhiên vấn đề đặt ra là chuyển biến từngười cổ Nêanđéctan thành người hiện đại đã diễn ra như thế nào, có nhiềuquan điểm khác nhau về vấn đề này
2.1 Thuyết nhiều trung tâm
Thuyết nhiều trung tâm chủ trương các chủng tộc hiện nay không phải
là kết quả của sự tiến hoá nội tại từ một giống người tối cổ duy nhất mà là kếtquả tiến hoá đồng thời và biệt lập của từng loại người tối cổ khác nhau.Thuyết này do một nhà nhân chủng học người Mỹ đề xướng năm 1939 Theoông có 4 trung tâm là Đông Nam Á, Đông Á, Tây Nam Á và Nam Phi Theothuyết này, các chủng tộc loài người hiện nay không phải là kết quả của sựtiến hoá nội tại từ một giống người tối cổ duy nhất mà là kết quả tiến hoáđồng thời và biệt lập của từng loại người tối cổ khác nhau Quan điểm này cóthể thể hiện bằng sơ đồ:
Trang 19
Sơ đồ 1.1: Các trung tâm phát sinh chủng tộc
Tuy nhiên có nhiều quan điểm cho rằng thuyết nhiều trung tâm không
có cơ sở khoa học, không phù hợp với thực tế
2.2 Thuyết một trung tâm
Thuyết một trung tâm thì cho rằng loài người hình thành từ một vùngnhất định ở Tiểu Á, Châu Phi, Nam Á và có thể cả Đông Nam Á, do kết quảXapiêng hoá từ một giống người tối cổ Từ đó mới bành trướng và phân hoáthành các chủng tộc khác nhau
Thuyết một trung tâm được đưa ra bởi các nhà khoa học Liên Xô Quanđiểm này cho rằng, các chủng tộc hiện nay là do kết quả của một quá trìnhtiến hoá nội tại, ngày càng hoàn thiện của một dòng người cổ trước đó Từngười khéo léo đến người Pitêcantrôp, đến người Nêanđéctan, đến ngườiHômôsapiens và từ đó phân hoá thành các chủng tộc như hiện nay Ban đầu,
Trang 20người hiện đại chỉ xuất hiện trong một khu vực nhất định rồi từ đó lan toả đikhắp nơi.
Bản đồ 1: Đường di chuyển của Homo Sapiens
Theo Lêvin và Kôghinxki khu vực đó bao gồm Tiền Á, Nam Á, mộtphần Đông Bắc Châu Phi Ban đầu ở đó xuất hiện 2 chủng tộc cơ bản là TâyNam và Đông Bắc Hai nhóm người này bị ngăn cách bởi dãy Himalaya Từ 2
nhóm đó đã phân hoá thành các đại chủng Nhóm Tây Nam phân thành haiđại chủng: Đại chủng xích đạo và Ơrôpêôit Nhóm Đông Bắc phân thành mộtđại chủng là Môngôlôit
Sơ đồ 1.2: Trung tâm phát sinh chủng tộc
Trang 21Sơ kì đá cũ
Phương Đông
Phương Tây
Môngôlôit Ôxtralôit
Ơrôpêôit Nêgrôit
2.3 Thuyết hai trung tâm
Thuyết hai trung tâm thì lại chủ trương cho rằng quá trình hình thànhloài người xuất phát từ 2 trung tâm lớn là phương Đông và phương Tây Đâyđồng thời cũng là hai trung tâm hình thành chủng tộc hai nhóm nhân loại Sau
đó từ hai nhóm này mới phân hoá thành các chủng tộc như ngày nay: nhómphương Tây hình thành chủng tộc Ơrôpôit và Nêgrôit (Negroid), nhómphương Đông hình thành chủng tộc Môngôlôit và Ôxtralôit
Thuyết hai trung tâm cho rằng, ngay từ thời đá cũ đã xuất hiện 2 trungtâm hình thành chủng tộc, sớm nhất là Đông Bắc Phi và Tây Nam Á Và trên
cơ sở đó hình thành các chủng tộc người hiện nay Điều đó được đưa ra dựatrên việc căn cứ vào đặc điểm chủng tộc hiện nay, đặc biệt các đặc điểmkhông có tính thích nghi như nhóm máu, hình thái răng, đường vân bàn tay thìngười ta thấy sự gần gũi giữa người Môngôlôit và Ôxtralôit, giữa ngườiƠrôpêôit và Nêgrôit
Sơ đồ 1.3: Trung tâm hình thành chủng tộc
Cũng theo các tác giả của quan điểm này, dù xuất hiện ở 2 trung tâmvới thời gian sớm muộn chút ít, nhưng ở cả hai đã thuộc về loài hiện đại
Trang 22Hômôsapiens dần dần phân bố rộng khắp nơi trên Trái đất, tiếp tục thích nghivới các điều kiện tự nhiên khác nhau để phân hoá thành các chủng tộc hiệnnay.
Quan điểm này có nhiều điểm trùng với những phát hiện mới về cổnhân học và dần có sức thuyết phục hơn, nhưng vấn đề hiện nay chưa thốngnhất là thời gian hình thành và phân hoá chủng tộc
Các nhân tố sinh học và các nhân tố xã hội đóng vai trò khác nhautrong quá trình hình thành loài người và các chủng tộc người Các nhân tốsinh học đã đóng vai trò chủ đạo trong giai đoạn vượn người hoá thạch.Những biến đổi trên cơ thể các dạng vượn người hoá thạch là kết quả sự tíchluỹ các đột biến và biến dị tổ hợp dưới tác dụng của chọn lọc tự nhiên hìnhthành loài người và là các nhân tố cơ bản trong việc phân biệt các chủng tộcngười với nhau Từ giai đoạn người tối cổ trở đi, vai trò chủ đạo thuộc về cácnhân tố xã hội Các nhân tố này đã chi phối sự hình thành nhiều đặc điểm trên
cơ thể người khác với động vật Lao động có mục đích đã quyết định hướngtiến hoá của họ người
Ngày nay, tất cả các quy luật sinh học đặc trưng cho động vật có vú vẫnphát huy tác dụng đối với cơ thể con người nhưng xã hội loài người phát triểndưới tác dụng chủ đạo của các qui luật xã hội Con người thích nghi với môitrường không phải chỉ bằng những biến đổi hình thái, sinh lý trên cơ thể, bằng
sự phân hoá và chuyên hoá các cơ quan như ở động vật mà bằng lao động sảnxuất, cải tạo hoàn cảnh Động lực quá trình phát triển xã hội loài người là việccải tiến công cụ lao động, phát triển lực lượng sản xuất, cải tạo quan hệ sảnxuất
Vì loài người có khả năng thích nghi với mọi điều kiện sinh thái đadạng, không phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và cách li địa lý cho nên về mặtsinh học loài người sẽ không biến đổi thành một loài nào khác nhưng xã hộiloài người vẫn không ngừng phát triển
3 Nguyên nhân dẫn đến việc hình thành các chủng tộc.
Ngành di truyền học hiện đại đã chứng tỏ khi một nhóm dân lớn được
tự do giao phối với nhau bất thình lình bị chia cắt thành nhiều nhóm nhỏ hơn,
và trong các nhóm đó chỉ có sự giao phối trong nội bộ của mình, thì những
Trang 23đặc điểm khác biệt chủng tộc sẽ xuất hiện rất nhanh chóng Một bài học đơngiản trong tính di truyền cho thấy rằng một cặp cha mẹ màu nâu trung bình cóthể sản sinh ra đủ mọi sắc thái màu, từ rất trắng đến rất đen, và chỉ trong Mộtthế hệ.
Như vậy, loài người đã bị chia cắt thành những nhóm "giao phối - sinhsản" nhỏ hơn và bởi vậy đã bắt đầu phát triển những sự khác biệt về thực thể(màu da, thân thể, khuôn mặt, ) trong một thời gian rất ngắn
Trước hết căn cứ vào một số đặc điểm chung về hình thái bên ngoài củacác chủng tộc này như: có màu da sẫm, tóc xoăn, mũi rộng và không cao, môidày…và căn cứ vào sự phân bố rải rác dọc theo vùng xích đạo của họ Tuygiữa các chủng tộc này có một số sự khác biệt nhau: tóc ở người Ôxtralôit ítxoăn hơn, lông trên cơ thể phát triển hơn, mũi gãy hơn, gờ trên ổ mắt nổi rõhơn…nhưng các nhà chủng tộc cho rằng sự khác biệt đó không đáng kể, cóthể giải thích được do sự phát triển khác nhau trong một thời gian dài của họ
ở các lục địa cách xa nhau
Gần đây các nhà nhân chủng học đã căn cứ vào một số đặc điểm cótính di truyền bền vững hơn những đặc điểm vân tay, các nhóm máu và huyếtsắc tố để chứng minh đại chủng tộc Nêgrôit – Ôtralôit là hai chủng tộc khácnhau, đại diện là nhà nhân chủng học người Nga V P Alécxeep đưa ra năm
1973 Các nhà nhân chủng học đã chứng minh rằng, về mặt địa lý, ngườiNêgrôit ở châu Phi vào thời kì đồ đá không thể dùng các phương tiện đi biểnthô sơ để đến được các đảo ở châu Ðại dương, vì các dòng hải lưu không chảy
từ Tây sang Ðông mà thường theo hướng ngược lại
Do đó, chủng tộc là những nhóm người hình thành trong lịch sử trênmột lãnh thổ nhất định, có một đặc điểm chung trên cơ thể mang tính ditruyền Nhiều nhà khoa học cho rằng trong quá trình hình thành, chủng tộcxuất hiện do kết quả của sự sống cách biệt của một nhóm người đối với 1nhóm người khác Nói đến sự sống cách biệt chính là đề cập đến khu vực địa
lý và điều kiện tự nhiên Các cá thể cùng sống trong một vùng địa lý, có mộtquá trình phát sinh và phát triển hình thành nên những đặc trưng chung nhấtđịnh Căn cứ vào những tương đồng đó để hình 1 thành chủng tộc Cùng với
Trang 24sự phát triển của xã hội loài người, các chủng tộc đã dần dần chung sống khắpnơi trên Trái Đất [12].
Vấn đề phức tạp này không thể thuyết minh bằng một số nguyên nhângiản đơn Theo những kết quả nghiên cứu hiện nay có thể kể đến 3 nguyênnhân cơ bản sau:
1) Sự thích nghi môi trường địa lí tự nhiên
2) Trạng thái sống biệt lập giữa các nhóm người
3) Sự lai giống giữa các nhóm người
3.1 Sự thích nghi với hoàn cảnh tự nhiên
Các đặc điểm chủng tộc là kết quả sự chọn lọc tự nhiên và sự thích nghivới môi trường, vì thuở ban đầu loài người tiến hóa và phát triển dựa trên cácđiều kiện tự nhiên Trong những giai đoạn đầu, sức sản xuất thấp và trình độphát triển còn hạn chế, con người chưa đủ sức chống lại những điều kiện khắcnghiệt của thiên nhiên mà phải thích nghi dần với các điều kiện ấy
Màu da là một ví dụ rõ ràng về sự thích ứng tự nhiên Màu da ngườiđậm nhạt là do lượng sắc tố mêlanin trong da quyết định Sắc tố mêlanin cókhả năng hấp thụ tia tử ngoại mặt trời, do đó có tác dụng bảo vệ các kết cấuquan trọng trong da Người da đen sống ở vùng xích đạo Châu Phi và TâyThái Bình Dương quanh năm ánh sáng chói chang sẽ có nhiều mêlanin trong
da và da phải đen Tóc người da đen thường xoăn, là một hình thức thích ứng
để chấp nhận với môi rrường đó
Người Môngôlôit (Mông Cổ) khe mắt nhỏ thường là mắt một mí hay có
mí góc che hạch nước mắt Những đặc điểm đó có liên quan với điều kiệnsống trong vùng nhiều gió cát ở Trung Á và Xibia Cũng cần nói thêm rằng,hoàn cảnh tự nhiên chỉ có tác dụng đối với quá trình hình thành chủng tộc, khikinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật phát triển thì sự thích ứng tự nhiên khôngcòn là nguyên nhân xuất hiện chủng tộc nữa
Trang 253.2 Sự sống biệt lập giữa các nhóm người
Do dân số ít, mỗi quần thể ban đầu chỉ vài trăm người ở các môi trườngkhác nhau đã tạo nên sự khác biệt về một số đặc điểm cấu tạo bên ngoài của
cơ thể Theo các nhà dân tộc học, do sự sống biệt lập, họ tiến hành nội hôntrong nhóm (hôn nhân cùng huyết thống), điều đó đóng vai trò to lớn trongviệc hình thành chủng tộc Di truyền học cho biết nếu lấy nhau trong nội bộthì khoảng 50 thế hệ, mỗi thế hệ khoảng 25 năm thì 1250 năm có thể làm biếnđổi một số đặc điểm của chủng tộc ban đầu
3.3 Sự lai giống giữa các nhóm người.
Thời kỳ đầu, những đặc điểm chủng tộc được hình thành do sự thíchnghi với môi trường địa lý, do hôn nhân cùng huyết thống và được di truyền
từ đời này sang đời khác Khi điều kiện kinh tế xã hội phát triển thì các yếu tố
có tính chất xã hội càng được tăng cường, con người không chỉ thích nghi màcòn cải tạo và làm biến đổi môi trường tự nhiên, sự hòa huyết giữa các chủngtộc ngày càng phát triển, các yếu tố di truyền cũng có sự thay đổi… Đây cũng
là nhân tố đóng vai trò quan trọng trong quá trình hợp nhất, hình thành vàphát triển các loại hình nhân chủng mới
4 Phân loại các chủng tộc
4.1 Cơ sở phân loại và sự phân loại các chủng tộc
4.1.1 Các tiêu chí phân loại
Các nhà nhân chủng học đã dựa trên một số tiêu chí để phân biệt chủng tộcnày với chủng tộc khác Trước kia dựa trên các tiêu chí là: cấu tạo sắc tố (màu
da, màu mắt, màu tóc), dạng tóc, sự xuất hiện bộ lông thứ ba trên cơ thể, hìnhdạng khuôn mặt, mắt, mũi, môi, hình dạng đầu, tầm vóc người, tỉ lệ thân hình.Trong những năm gần đây đưa thêm tiêu chí như: Răng, vân tay, nhóm máu,gen để tìm ra những đặc điểm riêng biệt giữa các chủng tộc
*Cấu tạo của sắc tố: do lượng sắc tố mêlamin quyết định
* Màu da: thường chia làm ba dạng
Trang 26+ Da màu sáng (trắng hồng, trắng vàng).
+ Da trung bình (da hơi nâu, da vàng)
+ Da sẫm màu hay tối (da nâu sẫm hoặc đen)
* Màu mắt: là màu của mống mắt thường được gọi là lòng đen Gồm
có:
+ Mắt màu sáng (xanh)
+ Màu trung bình (xám hay nâu nhạt)
+ Màu sẫm (hạt dẻ hoặc đen)
* Màu tóc: thường chia thành ba dạng
+ Tóc màu sáng (vàng)
+ Màu trung bình (tóc hung)
+ Màu sẫm (tóc nâu, đen)
* Dạng tóc: Gồm 2 dạng chủ yếu:
+ Tóc thẳng và tóc uốn làn sóng Tóc thẳng thì chân tóc mọc thẳng từ
da đầu, cắt ngang có tiết diện tròn
+ Tóc xoăn tít Chân tóc mọc xiên trong da đầu, cắt ngang có tiết diệnbầu dục
* Lớp lông thứ ba trên cơ thể: Lớp lông thứ 3 trên cơ thể là râu và lông chỉ
xuất hiện khi đến độ tuổi nhất định và tùy từng chủng tộc mà lớp lông nàyphát triển ở các mức độ khác nhau
* Hình dạng khuôn mặt (trắc diện mặt): Nhìn trực diện hình dạng khuôn
mặt có ba loại phụ thuộc sự phát triển của xương gò má:
Trang 27+ Khổ người dài: Mình ngắn, chân dài
+ Khổ người trung bình: mình và chân bằng nhau
Trang 28+ Khổ người lùn : Mình dài, chân ngắn
Phần lớn nhân loại thuộc khổ người trung bình và những người có tầmvóc cao đều thuộc người hình dài [7]
* Gen
Gen là một đơn vị di truyền nằm trong thể nhiễm sắc của nhân tế bào
có đặc tính di truyền đặc điểm di truyền theo cơ chế mã thông tin Mỗi cá thểmang một số gen nhất định Mỗi chủng tộc tức là một quần thể người gồmnhiều cá thể giống nhau về phương diện di truyền được định nghĩa như là mộtnhóm cư dân khác với các nhóm cư dân khác bởi tấn số gặp của một haynhiều gen và được gọi là các típ gen hay các loại gen Các chủng tộc có kiểugen đặc trưng riêng Biểu hiện ở bảng sau:
Bảng 1.1: Chủng tộc và các kiểu gen tương ứng
Chủng tộc Môn-gô-lô-it Ơ-rô-pê-ô-it Nê-grô-it Ô-xtra-lô-it
Kiểu gen Aabb, aaBb,
AaBb,…
aabb, aaBb,Aabb,…
AABB,AABb,AaBB
AABb,AaBb,…
( Nguồn: [11])
* Nhóm máu
Dựa trên kết quả nghiên cứu các nhóm máu người ta thu được nhiều kếtquả có giá trị về mặt nhân chủng học người ta đã có nhiều nhận xét về nguồngốc và phân loại các chủng tộc làm đảo lộn nhiều ý kiến phân loại trước kiachỉ dựa vào đặc điểm hình thái bên ngoài cơ thể
Ví dụ, nếu chỉ dựa vào hình thái bên ngoài, đặc biệt là màu da và hìnhtóc thì người ta có thể xếp hai đại chủng Phi và Úc vào làm một Song nếuphân tích nhóm máu thì thấy hai đại chủng Phi và Úc hoàn toàn khác hẳnnhau và hơn thế nữa đại chủng Phi còn gần gũi với đại chủng Âu nhiều hơn cảvới đại chủng Úc
Trang 29Qua phân tích nhóm máu người ta thấy ở các chủng tộc có đặc trưng vềnhóm máu như:
Bảng 1.2: Chủng tộc và nhóm máu tương ứng
Chủng tộc Môn-gô-lô-it Ơ-rô-pê-ô-it Nê-grô-it Ô-xtra-lô-it
Nhóm máu O,B, M, Fya, O,B,A, Rh,
Trong suốt quá trình nghiên cứu về chủng tộc, các nhà chủng học đãkhông ngừng đưa ra các cách phân loại đại chủng tộc khác nhau dựa trênnhững tiêu chí khác nhau Những quan điểm phân chia này luôn không ngừngthay đổi bởi sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật và xu thế của thời đại Dưới đây,
đề tài xin được trình bày một số quan điểm lớn như sau:
- Năm 1684: Francois Bernier là một trong những người đi đầu trong việcphân loại chủng tộc Theo ông có thể chia nhân loại thành 4 chủng tộc :
+ Chủng tộc cư trú ở châu Âu, Bắc Phi, Tiền Á, Ấn Độ
+ Chủng tộc cư trú ở phần còn lại của Châu Phi
+ Chủng tộc cư trú ở Đông Á và Nam Á
+ Êtiôpi (da đen) gồm người châu Phi, trừ Bắc Phi
+ Mỹ gồm người Anhđiêng
+ Mã Lai gồm những người sống trên các đảo phía Nam TháiBình Dương
Trang 30- Năm 1800: Cuvier cũng phân chia 3 chủng tộc (da trắng, da vàng, da đen)dựa vào các màu sắc của da Như vậy, một số chủng tộc chủ yếu trên trái đất
đã được phát hiện từ thế kỷ XVIII Đó là chủng Âu (hay Cápca hoặcƠrơpêôit), chủng Phi (Êtiôpi hay Nêgrôit), chủng Á (Mông Cổ hoặcMôngôlôit) và chủng Mỹ (Amêricanôit) Ngoài ra, người ta còn phát hiện mộtvài nhóm loại hình như Laplandi (cực Bắc) Nam Á hoặc Mã Lai Riêng chủng
Úc (Ôxtralôit) cho tới lúc này chưa có ai đề cập tới Năm 1870, chủng nàymới được Thôma Huxlay đưa vào hệ phân loại [2]
- Sang thế kỷ XX bắt đầu hình thành các hệ phân loại nhiều cấp Một trongnhững hệ phân loại có cơ sở khoa học và ra đời sớm là hệ phân loại củaJ.Deniker (1900) theo cách phân loại này, phân loại có 6 nhóm gồm 29 chủngtộc được sắp xếp như sau: theo thứ tự A,B,C,D,E,F
A.Nhóm chủng tộc có tóc bông, đen, mũi rộng gồm 4 chủng tộcBôsman, Nêgritô, Negơrơ, Mêlanêdiên
B.Nhóm tóc xoăn và uốn có 4 chủng tộc : Êtiôpien (Êtiôpi), Ôtralieen(Úc), Dravidieen, Axirôit
C.Nhóm tóc đen, uốn, mắt đen gồm 7 chủng tộc : Inđô Aphơgan, Arập,Bébe, Địa Trung Hải, Ibêrieen-đảo, Tây Nam Âu, Ađriatich
D.Nhóm tóc hung, thẳng hoặc uốn, mắt màu sáng có 2 chủng tộc : Bắc
Âu, Đông Âu
E Nhóm tóc đen, thẳng hoặc uốn, mắt đen có 4 chủng tộc : Ainu,Pôliêndiên, Anhđônêdiên, Nam Mỹ
F Nhóm tóc thẳng gồm 8 chủng tộc : Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Pâtgôn,Exkimoo, Lôparieen, Ugô-Exnixây, Turan, Mông Cổ
- Từ nửa sau thế kỷ XX nhiều hệ phân loại chủng tộc tiếp tục được công bố vàhoàn thiện Người có nhiều cống hiến trong lĩnh vực này là tiến sĩ nhân học
và dân tộc học Nga N.N.Tchêbôxarôv (1951) Theo hệ phân loại của ông,nhân loại được chia thành 3 đại chủng:
Bảng 1.3: Bảng phân loại các đại chủng
Trang 31Âu (Ơrôpêôit) Nam Ơrôpêôit (hay ấn
Độ-Địa Trung Hải)
Nam Ấn (Dravidiên)
Ấn Độ-PamiaTiền ÁĐịa Trung Hải-Ban CăngĐại Tây Dương-Biển Đen
Đông ÂuĐại Tây Dương- Ban Tích
UranNam XibêriTrung Tâm châu ÁXibêri (Baican)Địa CựcViễn Đông (Đông Á)
Pôlinêdiên
Bắc MỹTrung Mỹ
( Nguồn: [11])
Trang 32- V.P.Alêchxêép – Nhà nhân loại học người Nga đã đưa ra hệ thống phân loạidựa trên đặc điểm quần thể và dựa vào tập hợp những đặc điểm hình thái –sinh lí, đã chia chủng tộc thành 4 đại chủng lớn là:
Bảng 1.4: Phân loại chủng tộc
Môngôlôít
Bắc MôngôlôítNam MôngôlôítThổ dân châu Mĩ
Ơrôpêôít
Đông ÂuPhương Bắc
In đô – Pami rianĐịa Trung Hải – Bancanic
Tiền ÁAdriaticAnpi
Trang 33Xu Đăng
Ôxtralôít
TatsmaniaAinuXônđô – xâylanNêgriôMêlanêđiêng
Ô xtrađiêng
( Nguồn: [11])
CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM VÀ SỰ PHÂN BỐ CÁC CHỦNG TỘC
TRÊN THẾ GIỚI
1 Cơ sở phân loại và sự phân loại các chủng tộc
1.1 Các tiêu chí phân loại
Các nhà nhân chủng học đã dựa trên một số tiêu chí để phân biệt chủng tộcnày với chủng tộc khác Trước kia dựa trên các tiêu chí là: cấu tạo sắc tố (màu
da, màu mắt, màu tóc), dạng tóc, sự xuất hiện bộ lông thứ ba trên cơ thể, hìnhdạng khuôn mặt, mắt, mũi, môi, hình dạng đầu, tầm vóc người, tỉ lệ thân hình.Trong những năm gần đây đưa thêm tiêu chí như: Răng, vân tay, nhóm máu,gen để tìm ra những đặc điểm riêng biệt giữa các chủng tộc
*Cấu tạo của sắc tố: do lượng sắc tố mêlamin quyết định
* Màu da: thường chia làm ba dạng
+ Da màu sáng (trắng hồng, trắng vàng)
+ Da trung bình (da hơi nâu, da vàng)
+ Da sẫm màu hay tối (da nâu sẫm hoặc đen)
* Màu mắt: là màu của mống mắt thường được gọi là lòng đen Gồm
có:
+ Mắt màu sáng (xanh)
+ Màu trung bình (xám hay nâu nhạt)
+ Màu sẫm (hạt dẻ hoặc đen)
* Màu tóc: thường chia thành ba dạng
+ Tóc màu sáng (vàng)
+ Màu trung bình (tóc hung)
+ Màu sẫm (tóc nâu, đen)
* Dạng tóc: Gồm 2 dạng chủ yếu:
Trang 34+ Tóc thẳng và tóc uốn làn sóng Tóc thẳng thì chân tóc mọc thẳng từ
da đầu, cắt ngang có tiết diện tròn
+ Tóc xoăn tít Chân tóc mọc xiên trong da đầu, cắt ngang có tiết diệnbầu dục
* Lớp lông thứ ba trên cơ thể: Lớp lông thứ 3 trên cơ thể là râu và
lông chỉ xuất hiện khi đến độ tuổi nhất định và tùy từng chủng tộc mà lớplông này phát triển ở các mức độ khác nhau
* Hình dạng khuôn mặt (trắc diện mặt): Nhìn trực diện hình dạng
khuôn mặt có ba loại phụ thuộc sự phát triển của xương gò má:
Trang 35+ Khổ người dài: Mình ngắn, chân dài
+ Khổ người trung bình: mình và chân bằng nhau
+ Khổ người lùn : Mình dài, chân ngắn
Phần lớn nhân loại thuộc khổ người trung bình và những người có tầmvóc cao đều thuộc người hình dài [7]
* Gen
Gen là một đơn vị di truyền nằm trong thể nhiễm sắc của nhân tế bào
có đặc tính di truyền đặc điểm di truyền theo cơ chế mã thông tin Mỗi cá thểmang một số gen nhất định Mỗi chủng tộc tức là một quần thể người gồmnhiều cá thể giống nhau về phương diện di truyền được định nghĩa như là mộtnhóm cư dân khác với các nhóm cư dân khác bởi tấn số gặp của một haynhiều gen và được gọi là các típ gen hay các loại gen Các chủng tộc có kiểugen đặc trưng riêng Biểu hiện ở bảng sau:
Bảng 2.1: Chủng tộc và các kiểu gen tương ứng
Trang 36Chủng tộc Môn-gô-lô-it Ơ-rô-pê-ô-it Nê-grô-it Ô-xtra-lô-it
Kiểu gen Aabb, aaBb,
AaBb,…
aabb, aaBb,Aabb,…
AABB,AABb,AaBB
AABb,AaBb,…
( Nguồn: [11])
* Nhóm máu
Dựa trên kết quả nghiên cứu các nhóm máu người ta thu được nhiều kếtquả có giá trị về mặt nhân chủng học người ta đã có nhiều nhận xét về nguồngốc và phân loại các chủng tộc làm đảo lộn nhiều ý kiến phân loại trước kiachỉ dựa vào đặc điểm hình thái bên ngoài cơ thể
Ví dụ, nếu chỉ dựa vào hình thái bên ngoài, đặc biệt là màu da và hìnhtóc thì người ta có thể xếp hai đại chủng Phi và Úc vào làm một Song nếuphân tích nhóm máu thì thấy hai đại chủng Phi và Úc hoàn toàn khác hẳnnhau và hơn thế nữa đại chủng Phi còn gần gũi với đại chủng Âu nhiều hơn cảvới đại chủng Úc
Qua phân tích nhóm máu người ta thấy ở các chủng tộc có đặc trưng vềnhóm máu như:
Bảng 2.5: Chủng tộc và nhóm máu tương ứng Chủng tộc Môn-gô-lô-it Ơ-rô-pê-ô-it Nê-grô-it Ô-xtra-lô-it
Nhóm máu O,B, M, Fya, O,B,A, Rh,
đề tài xin được trình bày một số quan điểm lớn như sau:
Trang 37Năm 1684: Francois Bernier là một trong những người đi đầu trongviệc phân loại chủng tộc Theo ông có thể chia nhân loại thành 4 chủng tộc :
+ Chủng tộc cư trú ở châu Âu, Bắc Phi, Tiền Á, Ấn Độ
+ Chủng tộc cư trú ở phần còn lại của Châu Phi
+ Chủng tộc cư trú ở Đông Á và Nam Á
+ Êtiôpi (da đen) gồm người châu Phi, trừ Bắc Phi
Úc (Ôxtralôit) cho tới lúc này chưa có ai đề cập tới Năm 1870, chủng nàymới được Thôma Huxlay đưa vào hệ phân loại [2]
Sang thế kỷ XX bắt đầu hình thành các hệ phân loại nhiều cấp Mộttrong những hệ phân loại có cơ sở khoa học và ra đời sớm là hệ phân loại củaJ.Deniker (1900) theo cách phân loại này, phân loại có 6 nhóm gồm 29 chủngtộc được sắp xếp như sau: theo thứ tự A,B,C,D,E,F
A.Nhóm chủng tộc có tóc bông, đen, mũi rộng gồm 4 chủng tộcBôsman, Nêgritô, Negơrơ, Mêlanêdiên
B.Nhóm tóc xoăn và uốn có 4 chủng tộc : Êtiôpien (Êtiôpi), Ôtralieen(Úc), Dravidieen, Axirôit
C.Nhóm tóc đen, uốn, mắt đen gồm 7 chủng tộc : Inđô Aphơgan, Arập,Bébe, Địa Trung Hải, Ibêrieen-đảo, Tây Nam Âu, Ađriatich
Trang 38D.Nhóm tóc hung, thẳng hoặc uốn, mắt màu sáng có 2 chủng tộc : Bắc
Âu, Đông Âu
E Nhóm tóc đen, thẳng hoặc uốn, mắt đen có 4 chủng tộc : Ainu,Pôliêndiên, Anhđônêdiên, Nam Mỹ
F Nhóm tóc thẳng gồm 8 chủng tộc : Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Pâtgôn,Exkimoo, Lôparieen, Ugô-Exnixây, Turan, Mông Cổ
Từ nửa sau thế kỷ XX nhiều hệ phân loại chủng tộc tiếp tục được công
bố và hoàn thiện Người có nhiều cống hiến trong lĩnh vực này là tiến sĩ nhânhọc và dân tộc học Nga N.N.Tchêbôxarôv (1951) Theo hệ phân loại của ông,nhân loại được chia thành 3 đại chủng:
Bảng 2.6: Bảng phân loại các đại chủng
Âu (Ơrôpêôit) Nam Ơrôpêôit (hay ấn
Độ-Địa Trung Hải)
Nam Ấn (Dravidiên)
Ấn Độ-PamiaTiền ÁĐịa Trung Hải-Ban CăngĐại Tây Dương-Biển Đen
Đông ÂuĐại Tây Dương- Ban Tích
Uran
Trang 39Nam XibêriTrung Tâm châu ÁXibêri (Baican)Địa CựcViễn Đông (Đông Á)
Pôlinêdiên
Bắc MỹTrung Mỹ
( Nguồn: [11])
V.P.Alêchxêép – Nhà nhân loại học người Nga đã đưa ra hệ thống phânloại dựa trên đặc điểm quần thể và dựa vào tập hợp những đặc điểm hình thái– sinh lí, đã chia chủng tộc thành 4 đại chủng lớn là:
+ Đại chủng Môngôlôit
+ Đại chủng Ơrôpêôit
+ Đại chủng Nêgrôit
+ Đại chủng Ôtxtralôit
Trang 401 3 Sự phân loại chủng tộc
Dựa vào cơ sở phân loại trên, hiện nay người ta chia thành chủng tộcthành 4 đại chủng lớn Trong mỗi đại chủng với sự thích nghi điều kiện sinhthái khác nhau lại dẫn đến sự phân hóa thành các tiểu chủng
Bảng 2.7: Phân loại chủng tộc
Môngôlôít
Bắc MôngôlôítNam MôngôlôítThổ dân châu Mĩ
Ơrôpêôít
Đông ÂuPhương Bắc
In đô – Pami rianĐịa Trung Hải – Bancanic
Tiền ÁAdriaticAnpiNêgrôít
BusơmenNêgrillô
Xu Đăng
Ôxtralôít
TatsmaniaAinuXônđô – xâylanNêgriôMêlanêđiêng
sự tồn tại, phát triển và phân bố mỗi của chủng tộc